Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, June 17, 2013

MỘT SỐ CĂN BỆNH CẦN PHẢI TRÁNH KHI SÁNG TÁC THƠ ĐƯỜNG LUẬT - Hương Thu

Tác giả Hương Thu
Ảnh từ trang thoduongdatviet.com

                                          
Vừa qua có nhiều độc giả gửi thư hỏi về những căn bệnh trong thơ Đường luật với mục đích muốn nắm rõ để có những tác phẩm hay. Thế giới thơ Đường luật một lần nữa xin bàn về Những căn bệnh cần phải tránh khi sáng tác thơ Đường luật, bài viết này trước đây đã có đăng trên Thế giới thơ Đường luật bộ cũ. TGTĐL

Đến với thơ Đường luật, không phải chỉ cần thông qua niêm luật, đối ngẫu… là có thể xem như đã biết về thơ Đường luật. Để biết về thơ Đường luật, người làm thơ phải có một quá trình dài rèn luyện và làm quen thường xuyên với thể thơ khó tính này. Qua được ngưỡng niêm luật, đối ngẫu, chúng ta chỉ mới qua được bước thử thách thứ nhất, gọi là sạch nước cản – nói theo những người chơi cờ.

Thế giới thơ Đường luật là thế giới mênh mông đầy sự khám phá thú vị đối với những ai tìm đến nó. Ngoài niêm luật, đối ngẫu, chúng ta cần biết đến các thể loại thơ của Đường luật, từ chính thể đến biến thể… tuy nhiên, như thế vẫn chưa đủ! Để có một bài thơ hoàn hảo, người làm thơ Đường luật cần phải biết phòng ngừa một số căn bệnh thông thường của thơ Đường luật. Tại sao gọi là một số căn bệnh thông thường? Vì thật ra có rất nhiều căn bệnh cần phải tránh để có một bài thơ hoàn hảo về kỹ thuật, song chúng ta chỉ bàn đến một số căn bệnh cần thiết phải tránh khi sáng tác, vì nếu mắc phải những lỗi này, bài thơ của chúng ta sẽ mất nhạc điệu, lặp ý, lặp từ gây nhàm chán cho người đọc.

Sau đây là một số căn bệnh thường gặp:

1.    ĐIỆP TỰ:

Hay còn gọi điệp từ. Thơ Đường luật Thất ngôn bát cú chỉ có 56 từ, người xưa cho đó là 56 viên ngọc quý. Mỗi viên ngọc có giá trị riêng của nó. Do đó người làm thơ phải biết trân trọng, không thể cẩu thả tiêu hoang từ ngữ trong bài thơ Đường luật, uổng phí từ ngữ vốn phải được chắt lọc của thể thơ này.

Vậy điệp tự là gì? Là tác giả đã dùng lại hai hay nhiều lần một từ nào đó trong một bài thơ Đường luật.

Thí dụ:

Bài Khóc Thúy Kiều trang 83 thi tập Thắp sáng Đường thi 2, bốn câu cuối của bài thơ có hai từ “mệnh”:

Hồng nhan bạc mệnh thôi đành nhẽ
Sắc nước nghiêng thành liệu đến đâu?
Mới biết mệnh trời mà trói buộc
Đố ai lường trước được mai sau!

Như vậy là tác giả đã tiêu hoang mất một viên ngọc rồi, thật đáng tiếc lắm thay!

Trong trường hợp này ta có thể thay từ “mệnh” trong chữ “bạc mệnh” thành “bạc phận” vẫn giữ được nguyên ý câu thơ, lại tránh được bệnh điệp tự.

2. ĐIỆP THANH:

Trước khi tìm hiểu điệp thanh là gì, chúng ta phải tìm hiểu thanh là gì?

Thanh: là cách phát âm cao hoặc thấp, bổng hay trầm. tiếng Việt là tiếng đơn âm, nghĩa là mỗi tiếng chỉ có một âm, nhưng mỗi âm có nhiều thanh.

Nhiều người vẫn nghĩ rằng tiếng Việt có 6 thanh, dựa vào các dấu: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng và không dấu. Thật ra tiếng Việt có những tiếng có 6  Thanh, nhưng cũng có những tiếng có đến 8 thanh. Vậy làm sao để phân biệt tiếng nào có 6 thanh và tiếng nào có 8 thanh?

Những tiếng có 6 thanh là những tiếng khi viết có một hay nhiều nguyên âm (voyelles) ở phía sau.
Ví dụ : tiếng “ ha”: có một nguyên âm a ở phía sau, do đó có 6 thanh: ha, há, hà, hả, hã và hạ

Những tiếng có 8 thanh là những tiếng khi viết có một hay nhiều phụ âm (consonnes) ở phía sau.
Ví dụ: Tiếng “hiên ” có một phụ âm n ở phía sau, do đó có 8 thanh: hiên, hiến, hiền, hiển, hiện, hiết và hiệt.

Có lẽ chúng ta cũng nên liệt kê 8 thanh trong tiếng Việt để cùng nhau nghiên cứu, ứng dụng khi sáng tác thơ Đường luật, hầu tránh được bệnh điệp thanh.

Tám thanh đó là:

1.    Phù bình thanh: những tiếng không có dấu
2.    Trầm bình thanh: những tiếng có dấu huyền
3.    Phù thượng thanh: những tiếng có dấu ngã
4.    Trầm thượng thanh: những tiếng có dấu hỏi
5.    Phù khứ thanh: những tiếng có dấu sắc
6.    Trầm khứ thanh: những tiếng có dấu nặng
7.    Phù nhập thanh: những tiếng có dấu sắc mà đằng sau có: c, ch, p, và t.
8.    Trầm nhập thanh: những tiếng có dấu nặng, mà đằng sau có: c, ch, p và t.

Bệnh điệp thanh: là bệnh trong một câu có hai tiếng cùng thanh với nhau.

Đối với bài thơ Thất ngôn: những tiếng thứ 4 và thứ 7 trong các câu có vần (câu 1, 2, 4, 6 và 8) không được trùng thanh với nhau. Nghĩa là nếu chữ thứ 7 không dấu, thì chữ thứ 4 phải có dấu và ngược lại.

Thí dụ: Hoa nở xuân tươi ý mộng mơ 
            Mai khoe xuân thắm những mong chờ
                          (trích: Xuân thơ của Ng.M)

Trong hai câu thơ trên, câu đầu có chữ tươi và chữ mơ cùng không dấu, tức là cùng một thanh phù bình, làm câu thơ mất nhạc.

Nếu ta sửa lại: Hoa nở xuân cười ý mộng mơ. 

Câu thơ sẽ có nhạc vì không mắc bệnh điệp thanh

Cũng như vậy trong bài thơ ngũ ngôn, chữ thứ 5 và thứ 2 trong các câu có vần không được trùng thanh với nhau. Nghĩa là: nếu chữ thứ 5 không dấu, thì chữ thứ 2 phải có dấu hoặc ngược lại.

Thí dụ: Chia tay dạ thoáng đau
                                      (trích: Lời cuối của HH)

Trong câu thơ trên, chữ thứ 2 (tay) và thứ 5 (đau) cùng không dấu, nghĩa là bị bệnh điệp thanh, do đó câu thơ không nhạc.

Nếu ta sửa lại: Chia tay dạ thoáng sầu
Câu thơ sẽ có nhạc và dễ đọc hơn nhiều.

Thường thì người sáng tác hay dễ mắc bệnh điệp thanh ở những trường hợp chữ thứ tư là thanh bằng, (bài thất ngôn bát cú) song đối với những bài chữ thứ tư là thanh trắc, thì các bạn hãy chú ý chữ thứ 2 trong câu không nên trùng thanh với chữ thứ 7.

Ví dụ: Trăng nằm đáy nước, ánh trăng buồn. Chữ thứ 2 (nằm) và chữ thứ 7 (buồn) trong câu cùng dấu huyền do đó câu thơ đọc lên nghe âm nằng nặng, không nhẹ nhàng thanh thoát, song đây chỉ là một lỗi nhẹ, có thể bỏ qua.

3. ĐIỆP ÂM:

Âm là gì? Như trên đã nói, tiếng Việt là tiếng đơn âm, nghĩa là mỗi tiếng chỉ có một âm, nhưng mỗi âm lại có nhiều thanh.

Ví dụ: Mai và khai: có cùng một âm ai
           Tranh và danh: có cùng một âm anh.  

Nhưng âm “ai” lại có nhiều thanh: ai, ái, ài, ải, ãi, ại

Bệnh điệp âm: là bệnh trong một câu thơ chữ thứ 4 và thứ 7 ( thất ngôn), chữ thứ 2 và chữ thứ 5 (ngũ ngôn) có cùng một âm.
Ví dụ: Mưa gởi niềm đau giữa mắt nhau
Câu thơ trên có hai từ đau và nhau cùng âm au. Như vậy là mắc bệnh điệp âm.

4. ĐIỆP VẬN:

Vận hay vần của một bài thơ Đường luật thường nằm ở những chữ cuối của các câu:1,2,4,6 và 8. Như vậy mỗi bài thơ Đường luật thường có 5 vần.

Bệnh điệp vần (chữ Hán gọi là vận): là khi trong một bài thơ có hai vần trùng nhau.

Thí dụ: bài NÚI CÔ TIÊN của H.P

Cô tiên nằm xoãi ngắm mây trời
Mái tóc bồng bềnh lướt biển khơi
Cặp mắt mơ màng chan ánh sáng
Đôi chân mềm mại duỗi song đôi
Hai gò bồng đảo chờ trăng mộng
Nguồn suối đào nguyên đợi gió trời
Đời đã bao người dù gối mỏi
Thân gần run rẩy vẫn rong chơi.

Trong bài thơ trên có nhiều bệnh khác, song chúng ta chỉ xét đến bệnh điệp vần. Câu 1 và câu 6 cùng một vần Trời, như vậy là đã mắc bệnh điệp vận (hay vần).

5. ĐIỆP Ý:

Thường những người khi mới tập làm thơ Đường luật, do cố cấu trúc hai cặp trang, luận sao cho có đối ngẫu, nên thường chẻ đôi ý tưởng, làm thành cặp câu, ví dụ: trai thanh / gái lịch, trong họ/ ngoài làng, Sớm trông/ chiều đợi … thay vì triển khai thành một câu, một số tác giả đã chẻ đôi ý tưởng thành hai câu:

Sớm trông vời vợi đầu phai sắc
Chiều đợi xa xăm tóc ngã màu.

Hai câu thơ trên chỉ một ý: chờ đợi ai đó đến bạc đầu. nghĩa gom lại chỉ cần một câu là đủ: sớm trông, chiều đợi đầu phai sắc… và câu thứ hai phải tìm một ý tưởng khác để hoàn thành cặp đối, như vậy mới không mắc bệnh điệp ý, hay người ta còn gọi là bệnh nứa bổ, chẻ tre …

6. ĐIỆP THANH VẬN:

Tiết tấu của một bài thơ Đường luật vốn đã được nghiên cứu từ sự bỗng trầm của âm nhạc, có thăng, có trầm. Một câu cao, một câu thấp … lên xuống nhịp nhàng, do vậy nếu người sáng tác chịu khó vận dụng đúng tiết tấu qui định, bài thơ Đường luật đọc lên sẽ rất êm ái, nhẹ nhàng.

Thế nào là điệp thanh vận? bài thơ đường luật có 5 vần. Theo qui luật tiết tấu người sáng tác nên gieo một vần phù bình thanh, tiếp một vần trầm bình thanh, nghĩa là một vần không dấu và một vần dấu huyền, cứ như thế chen kẻ đến hết 5 vần, nếu người sáng tác gieo liên tiếp hai, ba thậm chí cả năm vần đều một thanh ( cùng không dấu hay cùng dấu huyền) sẽ mắc bệnh điệp thanh vận.   

7. PHẠM ĐỀ HAY MẠ ĐỀ:

Theo sách của Lạc Nam thì lỗi Mạ đề hay Phạm đề được qui định: Từ câu 3 đến câu 8 của bài thơ không được dùng lại từ đã dùng ở đầu đề. Ví dụ : đầu đề bài thơ là NHỚ NHÀ, thì từ câu 3 đến câu 8 của bài thơ không được dùng lại hai từ “Nhớ nhà” nữa.

Theo một số tài liệu khác và nhiều người sáng tác lâu năm, cặp trạng, luận vốn được xem là xương sống của bài thơ, do đó để tránh lỗi Mạ đề hay Phạm đề, chỉ cần không lập lại từ đã dùng ở đầu đề trong bốn câu trạng luận, nghĩa là từ câu 3 đến câu 6 là đủ.

Bệnh thì nhiều, song số trang có hạn, vã lại cũng chỉ nên chú ý đến một số căn bệnh chủ yếu có thể làm mất đi giá trị của bài thơ về tính thẩm mỹ thôi.

Điều cuối cùng người viết muốn bày tỏ cùng các bạn, đó là: luật là luật, song ý tình bài thơ vẫn là điều quan trọng nhất. Nếu chỉ vì tránh lỗi mà làm cho bài thơ khô cứng, nghèo nàn ý tình thì cũng không nên, chẳng hạn như: để tránh lỗi điệp tự, người sáng tác cố tìm một từ khác để thay thế: ví dụ: tổ quốc thế cho non sông, như thế chẳng phải tránh một lỗi này lại sa vào một lỗi khác là nghèo ý hay sao?

Một bài thơ Đường luật hoàn hảo, phải là một bài thơ giàu ý, khéo lời, và không mắc bệnh.

Chúc các bạn sáng tác thành công.


                                                                     HT

Nguồn: CHUYÊN ĐỀ THẾ GIỚI THƠ ĐƯỜNG LUẬT
Đăng với sự đồng ý của tác giả HƯƠNG THU.
READ MORE - MỘT SỐ CĂN BỆNH CẦN PHẢI TRÁNH KHI SÁNG TÁC THƠ ĐƯỜNG LUẬT - Hương Thu

TÌNH PHAI - thơ Trần Thị Quỳnh Hoa



Bao thương, bao nhớ, mấy u hoài ?
Cạn chén nhân tình nửa tỉnh say
Như thấy hồn hoang rơi xuống vực
Chừng nghe mộng tưởng vỡ bên tai
Ngày trôi khó giữ chiều xuân thắm
Ta nhớ  thêm buồn nét mực phai
Sầu lắc thành men sao chẳng thể
Chôn vùi dĩ vãng bóng hình ai

TTQH
READ MORE - TÌNH PHAI - thơ Trần Thị Quỳnh Hoa

THUỞ ẤY HỌC TRÒ - truyện ngắn Trạch An-Trần Hữu Hội

Trạch An-Trần Hữu Hội
  

*Cho tuổi học trò của tôi và những ai từng lớn lên nơi
 chốn ấy, với những kỷ niệm  ngọt ngào…                                                                                                                                                                                                                                                                       

  Hoạt đứng như trời trồng trước sân nhà đứa cháu ngoại. Hình ảnh Miên nổi bật lên trong đám người xôn xao ra vào cổng chợ, sang trọng và đẹp hẳn lên nơi vùng quê chân lấm tay bùn! Bao nhiêu năm xa cách, vẫn không khác xưa là bao. Tần ngần nửa muốn chào hỏi, nửa lại thôi!            

Nhưng Miên đã thấy, nhận ra anh một cách không ngờ:

-Anh Hoạt! Anh về khi mô ?

-Hôm qua, Miên về lâu chưa ?

-Em về hơn nửa tháng ni rồi. Lâu ni anh ở mô?

Hoạt suýt phì cười vì Miên cố gắng phát âm theo  tiếng mẹ đẻ. Ừ, dù gì cũng về quê mà! Mấy mươi năm sống bên ấy, chừ nói lại chắc Miên phải "vận dụng" trí nhớ lắm!

- Anh ở trong Ninh Thuận, về quê hoài. Mỗi lần về  nghe nói Miên cũng vừa về nhưng qua lại rồi! Như mặt trời mặt trăng vậy !

Mắt Miên chớp chớp, nhìn bâng quơ ra con kênh phía trước chợ! Hoạt cũng nghèn nghẹn trong cổ, anh tằng hắng mấy lần!

Chiếc xe gắn máy  nhẹ nhàng đến sau lưng Miên, một cậu trai trạc 18, chào anh rồi hỏi Miên:

- Về chưa O ?

- Anh về có việc gì không, khi mô vô lại trong nớ?

- Anh đưa cốt mạ về nhân tiện sữa lại lăng gia đình luôn!

- Mai em đi tỉnh mua ít đồ, anh có việc gì trên nớ không?

- Có lẻ phải lên hỏi mua vật liệu, vừa ra chưa tính toán gì cả !

Miên lục trong áo khoác, lấy chiếc điện thoại đưa cho đứa cháu:

- Con lưu số máy bác ấy cho O, anh đọc đi.

Hoạt đọc số máy, Miên chào anh  rồi lên xe, nhìn cử chỉ chậm chạp của Miên, Hoạt chợt đưa năm ngón tay lên vuốt mái tóc đã muối tiêu của mình, “Miên thua mình một lớp, cũng  không còn trẻ nửa để mà nhanh nhẹn!”                                                                          

*

Thủa ấy hai đứa thân nhau, mặc dù không cùng làng. Hai làng cách nhau một con khe nhỏ và một đám đất gọi là nương làng. Ngôi trường nằm gần chợ và thuộc đất của làng Hoạt. Hai nhà thân nhau vì hai ông bố cùng làm việc ở xã. Miên có một người anh hơn Hoạt một tuổi, nhưng Hoạt lại gắn bó với Miên hơn! Đi học, hái hoa khoai, chơi trốn tìm ở nương làng, đi dọc theo khe hái quả giành giành về làm mực màu...hai đứa luôn đi chung!

Tiếng đứa cháu gọi từ trong nhà làm cắt dòng hồi tưởng của Hoạt:

- Ừ, ăn cơm rồi à, cậu vào đây !

- Cậu có quen bà Miên à, Bà hay về lắm .

- Ừ, hồi ông ngoại và ba của  cô ấy cùng làm việc ở xã. Mấy đứa đi học về chưa?

Hai đứa cháu nhỏ dưới bếp bưng lên hai dĩa thức ăn đặt xuống bàn:

- Con chào ông khi hồi mà ông không nghe!

- À, rứa à, ông lớn rồi nên hơi nặng tai! Ngồi xuống đi  mấy con . Anh mỉm cười vì hai chử “nặng tai” ! Anh không nghe vì lúc đó anh không còn nghe gì ngoài giọng nói thân quen đến ngọt ngào của Miên, cũng không còn ai tồn tại quanh anh ngoài người phụ nữ có đôi mắt đen và hàng mi cong từ thơ ấu ấy! Ăn xong, anh nghỉ trưa trong muôn vàn hình ảnh của ký ức xôn xao!            

                                                    *

Quán không đông vì ở gần chợ, một vài người có vẻ chờ đón "phu nhân", nôn nóng với điếu thuốc lá. Nơi đây ngày xưa như trong bàn tay anh, vậy mà giờ lạ lẫm quá!

Năm 63 lên tỉnh, ở quê gọi là mất an ninh. Anh cùng gia đình ở nơi đây, căn nhà mang số . đường Gia long, bên cạnh Ty Xã Hội, đối diện là: Bến đò, bến giặt và cầu nhảy. Cây Ngô đồng cao to đầy chim ban đêm về ngủ, hai quán chè đá bào  nằm gọn trong bóng mát của tàn lá. Anh là một trong những chú nhóc cừ khôi vì có thể bơi qua lại ba vòng vào mùa nước không lớn. Chỉ cần thấy chiếc máy bay L 19 chao cánh sắp hạ xuống đám đất bằng bên sông là anh và lũ bạn nhảy ào bơi qua xem. Đã có lần anh được cho bay một vòng lên cầu Ga, về Sải,  vòng qua An Đôn... vừa thích thú vừa sợ hải!

Hàng Phượng ven sông cũng cho anh nhiều kỷ niệm.  Những ngày biểu tình và bưng bàn thờ ra đường,  bọn anh hái hoa phượng cột thành từng chùm bán, rồi cùng nhau ăn chè đá bào... Năm đầu lên tỉnh, anh học trường tranh (chi nhánh trường nam). Hàng cây nhãn nhiều bọ xít vẩn còn cái mùi khó chịu tận bây giờ! Được cái là kẹo sóc phía sau trường rẻ và ngon, mùi gừng ấm áp chi lạ. Năm sau qua trường Nam, ở giữa đường Trần Hưng Đạo va Gia Long. Qua đây anh thường gặp Miên hơn, cô ấy học Trường Nữ, ngang ngang với hội Cổ học. Nhưng "gặp" là "thấy nhau" chứ chẳng gì hơn! Lúc này không hiểu vì sao nhà Miên lại ở trong Trại Gà Cổ Thành?  Năm ấy nhà anh chuyển xuống đường Duy Tân, gần nghĩa địa. Cầm phiếu báo thí sinh chuẫn bị thi vào Trường Nguyễn Hoàng thì cùng lúc, trường Thánh Tâm gởi giấy báo tập trung. Bố anh muốn anh đi tu làm Sư Huynh.

                 
Đang miên man thì đứa cháu hôm qua cũng  vừa chở Miên đến. Nhìn quanh, Miên đề nghị bưng hai cái ghế ra gần mé sông hơn một chút. Thì ra Miên đã là khách quen của quán từ hồi nào rồi! Đứa cháu của Miên cũng vòng xe đi mất, bên nhau, Miên nhìn trân vào mặt anh:
                
- Không già, tóc anh ít bạc, có nhuộm không?
                 
- Không!
                
- Tóc em bạc nhiều lắm, nhuộm lâu rồi! Anh sống trong đó có ổn không?
                
-Tạm được, còn Miên?
                
- Từ ngày anh ấy mất, em làm cầm chừng, may mà mấy cháu đã học xong ,đi làm nên em cũng đỡ! Em có cháu nội rồi đó! 
                  
Miên thôi nhìn anh, đưa mắt qua bên kia sông, anh nhìn theo, Miên buột miệng hỏi:
                   
- Có nhớ gì bên đó không?
                 
- Có!
                  
- Nhớ gì? 
                  
- Chùa Sư Nữ, hái hoa bị bắt!
                  
- Hái cho ai?
                  
Hoạt cười, nụ cười chứa cả niềm vui của kỷ niệm lẫn cái xót xa mất mát của tuổi thơ! Ngày đó anh đã học lớp 9. cùng mấy đứa bạn rủ nhau qua chùa Sư Nữ chơi, gặp  Miên cùng các bạn học mặc nguyên áo dài trắng, cũng qua chơi chùa. Đò của Miên qua trước, anh qua chuyến sau và không biết có Miên. Đám áo dài cuốn cả tụi bạn anh theo như nam châm! Anh gặp Miên tần ngần nơi bến sông của chùa. Lúc này Miên Học lớp 8 Trường Nguyễn Hoàng.
                    
-Miên đi chơi chùa à?
                  
-Nghỉ hai giờ đầu Anh văn, bọn em "cúp cua" luôn hai giờ Sử-Địa! Hoa trong chùa đẹp quá!
                  
- Ừ, Mấy ni cô khó lắm, không xin được mô! Ngần ngừ một lúc, anh nói: - Miên chờ chút nghe.
                  
Hoạt quay vào chùa, tim anh đập thình thịch, mấy chậu thược dược đủ màu làm anh lòa mắt. Một đám học trò cả nam lẫn nữ vây quanh một ni cô trẻ, anh quay lưng che rồi ngắt một đóa!
                  
-Ấy, ấy, không được mô, ai lại ngắt hoa của chùa!
                  
Ni cô nói nhẹ lắm, chỉ trách thôi mà anh như bủn rủn vì gượng! Đã lỡ rồi, muốn dấu cũng chẵng được, anh lí nhí xin lỗi và đưa trả cánh hoa cho ni cô!
                   
-Thôi lở rồi, cầm về đi, lần sau đừng nữa nghe!
                  
Hoạt nhẹ người lí nhí cảm ơn, không hiểu vì mừng hay vì gượng, anh chạy biến ra nơi Miên đứng, đưa cho Miên cành thược dược mà không nói gì!       
            
72 với ly tán chia xa, kẻ đi người ở, rồi 75…                  

- Hôm qua anh có nhận ra Miên không ?
                  
- Ban đầu anh còn ngờ ngợ! Nhưng sau đó, khi Miên quay hẳn lại thì anh chắc chắn mình không nhầm!
                   
Tay Miên đặt nhẹ lên tay anh trên thành ghế, anh xúc động, mỉm cười nhìn vu vơ ra sông.
             
- Anh cười gì vậy?
                  
- Nhiều lúc kể chuyện thời thơ ấu ở quê cho vợ anh nghe, anh kể về Miên với những cái hoa khoai lang tím, khi nói Miên hay chìa má cho anh chà lên...Vợ anh hỏi: "Chị ấy có đẹp không?"
                   
- Anh nói sao ?
                   
Miên quay hẳn người qua nhìn vào mắt anh, chờ trả lời.  Hoạt chỉ mỉm cười bâng quơ không nói. Miên hỏi lại “Anh nói sao ?"
                   
-Anh nói "Cũng thường thôi!"
                  
- Vậy em "thường thôi" hay là "đẹp"
                  
- Thì anh cũng "thường thôi" mà, có đẹp đâu!
                  
- Anh có hay nhớ Miên không?
                  
- Lần nào về làng cũng nhớ!
                  
Bất ngờ Miên hỏi như từ đâu đó xa xăm lắm:
                  
- Nếu ngày đó mình lớn hơn chừng vài tuổi thì sao nhỉ ?
                  
Hoạt lắc đầu :
                  
- Anh không biết, Miên biết không?
                  
- Miên cũng không biết!
                  
- Khi nào Miên qua lại?
                
- Vài ngày nữa, em vô Sài gòn sắp xếp vài chuyện. Anh vô đưa em lên máy bay được không? 
                   
Mắt Miên như rươm rướm, Hoạt cũng đượm buồn. Anh lắc đầu nhè nhẹ:
                    
- Anh cố làm cho xong để còn vào đưa cháu thứ hai đi thi đại học!
                    
Bên sông nắng chuyển màu, Miên nói với anh :
                  
- Hồi xưa tụi em hay viết lưu bút, đứa nào cũng thích và ghi cho nhau mấy câu của một bài hát, em không nhớ tên và của ai! Em đọc xem anh có biết không ha:
                                  
"....Ấu thơ đi về đâu,
                                  
“ Đễ mưa bay mùa ngâu...
                                  
 “Lòng mình thì muốn níu ân tình mãi anh ơi,
                                   
“Mà đời là suối nước vô tình vẫn êm trôi 
                                   
“Tiếc gì cũng xa rồi!...
                    
Hoạt lắc đầu, anh biết nó nằm đâu đó trong những bản nhạc thường gọi là Bolero, với hoa phượng, sân trường, áo trắng... Anh ít biết vì con người anh vốn hơi khô! Nhưng nghe Miên đọc, anh thấy lồng ngực mình như có cái gì cồm cộm, nằng nặng và ... Anh lần tìm tay Miên, bóp nhè nhẹ, anh không buông ra, như cố níu giữ chút ấu thơ mà ai cũng có trong đời! Miên khép đôi mi cong trời cho, một giọt nước mắt lăn trên má!    

                                            Tháng III-2012


                                  Trạch An - Trần Hữu Hội
READ MORE - THUỞ ẤY HỌC TRÒ - truyện ngắn Trạch An-Trần Hữu Hội

Trang thơ giao lưu của người cao tuổi: Ô LÂU - Lê Sĩ Thu



LÊ SỸ THU
Sanh năm 1949
Quê quán :Văn Quỹ, Hải Tân, Hải Lăng, Quảng Trị.
Cựu học sinh trường Bồ Đề Quảng Trị.
Hiện thường trú tại Bình Ba, Bà Rịa, Vũng Tàu.
Xin trân trọng giới thiệu chùm thơ Đường luật: Ô LÂU của Lê Sĩ Thu
                       

Ô LÂU SÔNG QUÊ

Thừa Thiên Quảng Trị cùng dòng sông
Tình nghĩa xưa nay đọng cõi lòng
Uống nước mát lành cùng một cội
Ăn cơm thơm ngọt sẻ chung nguồn
Vấn vương cố xứ tình chan chứa
Lưu luyến tha hương nghĩa ấm nồng
Đi ở bao người luôn nguyện ước
Ô Lâu vương vấn mãi chờ mong.

                                      

CHẠNH LÒNG

Nhớ xưa xanh biếc nước ô lâu
Dòng chảy miên man đẹp nhiệm mầu
Mưa lũ phù sa thêm màu mỡ
Nắng nôi tưới mát thắm đồng sâu
Bình minh thôn nữ đùa gánh nước
Chiều xế trẻ thơ nghịch nhảy cầu
Năm tháng dân quê cùng bến nước
Hụp bơi tắm gội nghĩa ân sâu

 

HOÀI SÔNG XƯA

Bây chừ biến đổi khổ Ô Lâu
Nguồn nước trong xanh đã thẫm màu
Nuôi cá thức ăn ngày ô nhiễm
Làm vườn cây trái lắm cơ cầu
Nam nồm thơ thẩn chờ lên xuống
Trong đục quẩn quanh ngóng chảy đâu?
Thương cảm chỉ nhìn không tắm được
Ô lâu thoáng mát có còn đâu ?

                            

ĐỢI KHƠI DÒNG

Sao đành làm chết một con sông
Dòng chảy chặn ngang có xót lòng
Vì phải đắp đê ngăn nước mặn
Để rồi thông thoáng biến hồ nông
Văn minh khoa học mà như thế
Cuộc sống tốt lành còn mãi không
Đất nước ngàn sông đang mở rộng
Ô Lâu mong mỏi được khơi dòng                                       
                                          

                                   Lê Sỹ Thu


Lê Đăng Mành biên tập và gởi đăng

READ MORE - Trang thơ giao lưu của người cao tuổi: Ô LÂU - Lê Sĩ Thu

TRONG CÕI ĐỜI NHAU - thơ Nguyễn An Bình


           Bốn mươi năm mới về ngang ngõ vắng - Ngôi nhà xưa đã thay chủ bao người - Giàn thiên lý đong đưa chùm hoa tím- Hương hoàng lan vẫn thơm ngát tình tôi - Em đâu đó trong cuộc đời, góc khuất - Trôi bềnh bồng trong cõi mộng xa xôi.

*

          Người năm cũ chắc bây giờ lạ lẫm - Tóc hơi sương da lấm tấm đồi mồi - Nắng thu vàng nghe lá phong xào xạc - Gió đông tàn lặng lẽ ngắm tuyết rơi - Mây có bay gởi lòng về cố xứ - Có nhói lòng thấm vị đắng vòng môi?

*

         Sớm công viên một mình ngồi quạnh quẽ - Nhìn lũ chim đang ríu rít tự tình - Chiều lang thang quẩn quanh như khách lạ - Đêm lại về trên tàu điện lặng thinh - Ngày vẫn thế, bao mùa mưa vẫn thế - Ánh mắt buồn diệu vợi mãi chờ tin?

*

        Đời già cỗi trôi nghiêng như cánh võng - Chưa một lần phố cũ trở về thăm - Vẫn còn ai đi tìm hình của bóng - Ánh trăng ngà theo mãi cả trăm năm - Con chim rúc trong bờ lau bụi cỏ - Tiếng kêu buồn trong nỗi nhớ ăn năn.

*

       Em vẫn bước qua bao miền đất lạ - Biết đâu mùa nắng nhớ rụng hoa ngâu - Dù dấu chân thềm xưa rêu phủ kín - Có một thời ký ức đã hư hao - Nơi cõi tạm tình cờ còn gặp lại - Có lẽ nào ta chẳng nhận ra nhau?                                               

Tháng 6/2013

Nguyễn An Bình
READ MORE - TRONG CÕI ĐỜI NHAU - thơ Nguyễn An Bình

LỜI XIN LỖI MUỘN - thơ Nguyễn Thu



Anh gửi đến em lời xin lỗi muộn
Đừng hờn ghen, giận dỗi vu vơ
Những đêm trắng buồn cũng tại những vần thơ
Mang hình trái phá con tim kiều diễm

Thơ anh viết thường mang màu sắc tím
Mênh mang sầu, mênh mang nhớ, vấn vương
Mỗi một câu là một viên đắng bọc đường
Nên đang đông mà ngỡ mùa xuân đến

Không là tình nhân nên đâu hiểu hết
Hoa nào thơm, hoa nào nhạt đâu em
Chỉ duy nhất một điều anh biết được
Là yêu, là yêu, đơn giản thế thôi mà

Cho xin nhé, trăm lần cho xin nhé
Chỉ tại vô tình anh để lại nỗi đau
Chỉ tại những tính từ ngát hương, có cánh
Mang tình yêu đi và đến. Nào ngờ!


30/07/2011
READ MORE - LỜI XIN LỖI MUỘN - thơ Nguyễn Thu

Trang thơ giao lưu của người cao tuổi: Các bài họa của Hồ Trọng Trí


Họa y đề "ĐÊM TRĂNG CẢM TÁC” của Lê Đình Lộng Chương


Ánh trăng bàng bạc chiếu tầng không
Mặc khách neo thuyền cạnh bến sông
Khắc khoải canh thâu niềm trắc ẩn
Cảm hoài nhân thế nỗi chờ mong
Sương khuya buông nhẹ lên bờ cỏ
Trăng xế tỏa lan xuống cánh đồng
Trong sớm chèo ai khua động nước
Khiến dòng sông mộng vỡ vầng trăng


Họa thơ “Tự tình 80” của Phạm Minh Tâm (Thái Bình).
TỰ TÌNH U80

Tôi, bác đồng hàng u tám mươi
Vun trồng nhân đức để vui đời
Công danh chẳng vẹn do thời khiến
Sự nghiệp nửa chừng bởi thế khơi
Thời trẻ bôn ba vào cuộc sống
Tuổi già nhàn nhã kiếm đường chơi
Giao lưu thơ phú cùng thân hữu
Ngoạn cảnh du sơn ngẫm phận người



Họa thơ “Lạ lùng” của Trần Bình
TÌNH LỠ

Bâng khuâng anh nhớ tới em
Thiết tha hơn lúc làm quen buổi đầu
Dù nay tóc ngả hai màu
Trải bao nắng dãi mưa dầu ai hay
Mơ màng ôm ấp trong tay
Anh như sống lại chuổi ngày lãng du
Giờ em đâu của khi xưa
Sao hồn bỗng dậy vò tơ xé lòng
Tim anh như ứa giọt hồng
Truân chuyên vĩnh kiếp chất chồng niềm đau
Còn đâu ước vọng bên nhau
Thuyền quyên phận bạc héo nhàu kiếp hoa
Đôi ta duyên số vầy a ?
Gặp nhau vào tuổi ông bà bỡn chơi
Em buồn làm khốn khổ tôi
Trách ai chi nữa ngẫm rồi... hóa ngơ
Tình mình đem dệt vần thơ
Khiến anh như lão khù khờ đáng yêu
Tình thơ một khúc diễm kiều
Chớ cho mặc khách ghi điều vẩn vơ



Bài họa y đề: AN DƯƠNG VUONG, thơ Hương Thu

Tổ quốc suy vong việc chẳng thường
Nhớ thời nhà Thục tiếng Dương Vương
Loa thành bí mật không trù kế
Thần Nõ diệu kỳ chẳng liệu phương
Hữu trí Triệu Đà giành đất nước
Vô mưu Thục Phán đắm Bình Dương
Mỵ Châu Trọng Thủy thiên tình hận
Triều đại sai lầm chuốc nhục gương


Họa thơ “Tuổi tám mươi” của Minh Chiếu
SỐNG AN NHIÊN 
(Trắc bằng liên vận)

Chẳng luận ngắn dài tám chín mươi
Lắng lòng suy nghiệm kiếp con người
Thời gian tiệm tiến hoen tầm mắt
Thân xác gầy hao bớt quảng đời
Lục dục thất tình nguồn khốn khổ
Từ bi hỹ xả nghiệp dần vơi
Vị tha vô ngã nhuần tâm thức
Tự tại an nhiên thỏa mọi thời.



Trang thơ Tứ tuyệt

TRĂNG NGUYÊN TIÊU

Nguyên tiêu ánh nguyệt tỏa tràn bờ
Gió thoảng hiên ngoài liễu  rủ tơ
Thấp thoáng sau mành trang thục nữ
Điệu đàng bên án khách đề thơ


HẠ XƯA

Phượng vĩ vào hè trổ thắm bông
Lá hoa chen chúc nắng phô hồng
Bâng khuâng bè bạn mùa ly biệt
Ái ngại thế thời gặp lại không?



ĐÈO

Đường lên vấn núi thế cheo leo
Như rắn đu cây uốn ngoặn ngoèo
Vách đá mây bay rừng ẩn hiện
Lũng đèo gió rít tiếng vi veo


Hồ Trọng Trí   
Kim Long, Bà Rịa Vũng tàu
Đ/t: 01667332652
READ MORE - Trang thơ giao lưu của người cao tuổi: Các bài họa của Hồ Trọng Trí