Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, November 25, 2012

An Phong Nguyễn Văn Diễn - BÍ MẬT NGUỒN GỐC DÂN BA TỈNH QUẢNG BÌNH, QUẢNG TRỊ, THỪA THIÊN


[Tài liệu nầy do thầy giáo Đoàn Luyến (quê Quảng Trị, dạy môn sử học tại Bình Thuận) sưu tầm và gởi đăng.]

Nguồn: An Việt Toàn Cầu - 
www.anviettoancau.net



An Phong Nguyễn Văn Diễn   


BÍ MẬT NGUỒN GỐC DÂN BA TỈNH QUẢNG BÌNH, QUẢNG TRỊ, THỪA THIÊN






LTS. Chương II mục 9 tác phẩm Khảo luận Văn Chính Sử mang tên "Ðường Ta Ði" của nhà văn An Phong Nguyễn Văn Diễn, gốc Chợ Sãi Quảng Trị. Trong mục này ông có bàn tới một vấn đề quan trọng liên quan tới nguồn gốc dân Quảng Trị và ông đặt tên là "Nghi vấn lịch sử:Lâm Ấp có phải là Chàm không, Nước Việt Thường ở đâu?". Ðây là một tài liệu hấp dẫn và quí giá cho những ai quan tâm đến lịch sử đất Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên và nguồn gốc những người dân sống ở đó.

Chúng tôi mạnh dạn đưa tài liệu này lên trước dư luận nhất là đối với các Học giả, Sử gia để cùng soát xét lại "Nghi vấn lịch sử" mà ông cho rằng các sử gia Việt Nam xưa và nay đã lầm lẫn.

Kính mời,

Lê Văn Khôi


II/9 .- NGHI VẤN LỊCH SỬ : LÂM ẤP CÓ PHẢI LÀ CHÀM KHÔNG. NƯỚC VIỆT THƯỜNG Ở ÐÂU ?


Nhân khi nói tới các nước Bách Việt ở phía Bắc thoát ly từ quốc gia Văn Lang, xưng độc lập, rồi dần dần bị Hoa tộc xâm chiếm, chúng tôi xin mời quý độc giả trở lại thăm nước Việt Thường. Nước Việt Thường được nhắc đến rất nhiều trong lịch sử Việt cũng như Trung Hoa và gây nhiều tranh luận về vị trí của nước này. Chẳng những thế, từ nước này mà phát sinh ra nhiều nghi vấn lịch sử rất quan trọng khác trong giai đoạn 1000 năm lệ thuộc Trung Hoa.

Chúng tôi xin trình trước công luận một số tài liệu liên quan đến vấn đề này.


- LÂM ẤP CÓ PHẢI LÀ CHIÊM THÀNH KHÔNG?


- NƯỚC VIỆT THƯỜNG Ở ÐÂU?


- NGUỒN GỐC 3 LÀNG LONG HƯNG, ÐẠI NẠI Ở QUẢNG TRỊ VÀ MỘ TRẠCH Ở THỪA THIÊN?

- CHUYỆN CHÙA PHẬT LỒI Ở QUẢNG TRỊ


- NGÔN NGỮ VÀ VĂN NGHỆ VIỆT THƯỜNG



II/9A .- SỬ TẦU - SỬ VIỆT


Sử gia Việt Nam khi viết sử Việt từ giai đoạn lệ thuộc Trung Hoa trở về trước thường truy cứu từ sử Trung Hoa. Sử gia Trung Hoa khi ghi chép các chuyện ở biên ngoại, họ thường dựa theo báo cáo của bọn quan lại trấn nhậm. Bọn này đa số là bọn có tội bị đày, tham nhũng, gian ác… nói chung là bọn sâu dân mọt nước. Làm thì lếu, báo cáo thì hay, miễn sao có lợi cho họ. Do vậy, lịch sử Việt Nam trong thời kỳ Trung Hoa đô hộ trở về trước không khỏi bị trình bày sai lạc. Ðiển hình là "giặc" Lâm Ấp mà bọn quan lại đô hộ Tầu này gán cho người Chàm để chạy tội.


Mặt khác, nguồn gốc quốc gia Việt Thường của người Lâm Ấp cũng nằm trong chủ trương bôi xóa dấu ấn Bách Việt nhằm mục đích đồng hóa "Man di" và chia rẽ hai dân tộc Việt Lạc và Việt Thường.


Tuy nhiên, người Trung Hoa khi chép sử các nước Việt phương Nam đã vô tình để lộ ra nhiều sơ hở khiến chúng ta có thể suy ra những sự thực khi tìm về nguồn gốc của người Lâm Ấp. Sau đây là những sự kiện rất lý thú và quan trọng mà chúng tôi xin đề nghị các sử gia Việt Nam ngày nay xét lại.


II/9B .- LÂM ẤP LIÊN MINH LẠC VIỆT NỔI DẬY ÐÁNH ÐUỔI ÐÔ HỘ TRUNG HOA

Sử gia Phạm Cao Dương trong sách Lịch Sử Dân Tộc Việt Nam, từ trang 114 đến trang 122 đã dẫn rất nhiều sách sử Trung Hoa để trình bày tiểu mục "Người Lâm Ấp quấy phá Giao châu"chúng tôi xin trưng dẫn những đoạn như sau (Những đoạn có danh mục A, B, C. chữ nghiênglà phần trích dẫn):

A. "Lâm Ấp: Quốc giới của Việt Thường thời xưa, đời Tần là huyện Lâm Ấp thuộc Tượng Quận . tr.117.


Ðời nhà Tần, Tầu chỉ mới chiếm được vài nước Bách Việt ở sát bờ sông Dương Tử (Trường Giang) mà nước Việt Thường là một. Họ đổi tên nước Việt Thường thành huyện Lâm Ấp. Vậy Lâm Ấp có thể là tên một địa danh quan trọng của nước Việt Thường và nằm trong nhóm nước bị nhà Tần chiếm rồi gom lại thành một quận gọi là Tượng Quận. Tượng Quân không nằm ở Việt Nam mà nằm bên Tầu, sát với bờ Nam sông Dương Tử.


Câu B và C dưới đây do chúng tôi ngắt ra khỏi câu A:


B. ". đời Hán đổi làm huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam." tr. 117


C. "Trung tâm của nước này theo các nhà khảo cứu hiện đại là các vùng kế cận thành phố Huế ngày nay" tr.116,


Huyện Lâm Ấp thuộc Tượng Quận ở bên Tầu thời Nhà Tần và huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam ở vùng Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên thời lệ thuộc nhà Hán là hai địa bàn khác nhau, cách nhau nhiều ngàn cây số; còn thời gian của hai giai đoạn này cách nhau chừng 260 năm. (Kể từ năm 221 tr.CN, Tần Thủy Hoàng sai Ðồ Thư đem nửa triệu quân xâm lăng các nước Việt phương Nam đến năm 43 sau CN, Mã Viện thôn tính nước ta vào thời Hai Bà Trưng).

Sử gia Phạm Cao Dương và nhiều sử gia khác nghĩ rằng Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên là quốc giới   của nước Việt Thường, có nghĩa nước Việt Nam xưa có tên là Việt Thường. Cách suy nghĩ này không đúng vì lẫn lộn hai địa danh cùng mang tên Lâm Ấp và Việt Thường vừa ở bên Tầu vừa ở bên ta, do vậy gây nhiều sai lầm khác rất quan trọng, chúng tôi sẽ bàn tới ở tiểu mục nước Việt Thường ở đâu?


D. Trong "Bulletin des Amis du Vieux Huế" (Ðô Thành Hoài Cổ), Học giả Ðào Duy Anh viết bài "Les colonnes de bronze du Mã Viện"xác định rằng trụ đồng Mã Viện ở núi Ðồng Trụ cũng gọi là núi Lam Thành thuộc tỉnh Nghệ An. Ông nói rằng sách Ngô Lục và sách Tùy Thư đều chép như thế,

E. ". dẹp xong tàn quân của tướng Ðô Dương ở huyện Cư Phong, quận Cửu Chân, Mã Viện kéo quân vào Nhật Nam, tiến sát vùng biên giới thì dân Chàm đem vàng bạc dâng cống chúc mừng. Mã Viện liền tâu xin phong cho dân Chàm ở đất Tượng Lâm.(Nguồn gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam, Bình Nguyên Lộc)


F. Sử gia Phạm Văn Sơn trong Việt sử Tân Biên (tr.198) chép theo sách Lĩnh Ngoại: Cột đồng Mã Viện ở Lâm Ấp (Chiêm Thành). Ông chép thêm: Khâm Ðịnh Việt Sử Tiền Biên, Nghệ An Thi Tập, Vân Ðài Loại Ngữ… cũng nói Ðồng Trụ ở Lâm Ấp. tại Nghệ An huyện Hưng Nguyên có một hòn núi gọi là Ðồng Trụ ăn vào giữa làng Phú Ðiền và Nghĩa Liệt. Núi này ở đồng bằng đột khởi lên một ngọn cao chạy thẳng xuống Lam Giang.

G. "Sự xuất hiện của người Chàm đã được sử Trung Hoa nói tới trong một biến cố xảy ra ở huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam trong thời Ðông Hán, đời Hòa Ðế niên hiệu Vĩnh Nguyên thứ 14, tức năm 102 sau TL. Năm đó hơn 3000 người ở huyện này đã nổi lên cướp phá, đốt các dinh thự. Ðể đề phòng những cuộc biến loạn mới, nhà Hán đặt chức Tướng Binh Trưởng Sử ở huyện này" Tr.114.


Ðất Bình, Trị, Thiên cổ tên là gì thì không ai biết vì là đất hoang "khỉ ho cò gáy, cho ăn đá gà ăn muối." Tuy nhiên, tìm hiểu việc làm của Mã Viện trong cuộc xâm lược đất Lĩnh Nam thì chúng tôi thấy rất rõ:


Sau khi Mã Viện diệt nhà Trưng và chiếm cứ toàn bộ đất Lĩnh Nam và miền Bắc Việt Nam, y kéo quân vào vùng biên giới quận Nhật Nam. Người Lâm Ấp rất lo sợ, họ đem vàng bạc, châu báu "dâng cống" cho Mã Viện và xin quy phục. Mã Viên bèn xin Hán triều đặt tên vùng đất người Lâm Ấp đang cư trú ở vùng Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên là huyện Tượng Lâm, bổ nhiệm huyện lệnh Tầu lo việc cai trị và đặt huyện này dưới quyền thống trị của Thái thú quận Nhật Nam. Cái khéo của Mã Viện là kết hợp đất Tượng Quận và huyện Lâm Ấp ở bên Tầuhành huyện Tượng Lâm cho người Lâm Ấp ở bên Việt (hầu hết các sử gia Việt đều tưởng rằng địa danh Tượng Quận ở phía Nam sông Dương Tử là tên cũ của địa danh Tượng Lâm).


Chẳng những thế, y cướp đoạt hàng ngàn trống đồng và các dụng cụ bằng đồng dùng trong việc thờ cúng của dân Việt đúc thành một trụ đồng rất lớn và trồng giữa ranh giới Nghệ An và Quảng Bình để phân biệt đất Lâm Ấp và đất Lạc Việt dù rằng Tượng Lâm cũng là một huyện trực thuộc quận Nhật Nam.

Mã Viện biết rất rõ nhóm dân hối lộ vàng bạc cho y là con cháu người Lâm Ấp (Bách Việt) ở Tượng Quận (bên Tầu) nên y đặt tên huyện Tượng Lâm và phong đất này cho họ. Tuy nhiên y vẫn cứ gọi họ là   Chàm và trồng trụ đồng giữa biên giới hai tỉnh Nghệ An và Quảng Bình, tại sao? - Rõ ràng y muốn dấu tung tích của đám dân này để chia rẽ hai đồng chủng Lạc Việt và Việt Thường.


Kể từ đoạn nầy, chúng tôi chỉ nói về người Lâm Ấp ở địa bàn Tượng Lâm và xin quý độc giả tạm quên địa bàn "huyện Lâm Ấp và Tượng Quận bên Tầu". Khi minh định Lâm Ấp không phải là Chàm, chúng tôi sẽ dùng lại huyện Lâm Ấp này.


Huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam là một trong 9 quận Việt cổ đang bị Tầu đô hộ. Ba ngàn dân huyện Tượng Lâm nổi dậy tấn công huyện lỵ, đốt phá các dinh thự... Vậy đây không phải là Chàm xâm lăng "nước ta" mà là dân Lâm Ấp ở huyện Tượng Lâm nổi dậy chống lại quan quân đô hộ. Rõ ràng bọn quan lại đô hộ Tàu đã vu cáo cho Chàm để chạy tội tham ô, gian ác, hiếp đáp dân lành đến độ dân chúng huyện Tượng Lâm đã nổi lên "làm loạn"!


H. "Năm 137, Hậu Hán Thư lại ghi rằng người Man ở cõi xa thuộc huyện Tượng Lâm, quận Nhật Nam là bọn Khu Liên đem vài ngàn người đánh huyện Tượng Lâm, đốt thành quách, công sở, giết người Trưởng lại. Thứ sử Giao Châu là Phàn Diễn đem hơn một vạn quân thuộc hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân đến cứu, nhưng quân lính sợ phải đi xa đã quay lại đánh phá phủ lỵ . Phàn Diễn tuy dẹp được bọn quân sĩ làm phản nhưng thế lực quân Man mỗi ngày một mạnh" (Tr.114)


Lại dân Man (Lâm Ấp) nổi dậy dưới sự lãnh đạo của một người (tộc trưởng?) tên là Khu Liên. Họ đốt phá thành quách, công sở và giết Trưởng lại Tầu chứ không cướp bóc của dân Việt. Hơn một vạn quân Giao Chỉ và Cửu Chân được điều động tới dẹp loạn. Một vạn quân này hẳn là người Lạc Việt mới hợp tác với quân Lâm Ấp đánh lại bọn quan lại Trung Hoa. Sau vụ này, huyện lỵ Tượng Lâm vẫn còn nằm trong tay nghĩa quân Tượng Lâm.


I. "Năm sau (năm 138), Thị Ngự Sữ Giả Xương sang công cán ở quận Nhật Nam đã cùng với các châu quận hợp sức đánh Khu Liên nhưng đánh không lại, lại bị bọn Khu Liên phản công và bao vây hơn một năm khiến quân Hán lâm vào tình trạng thiếu lương ăn và vua Hán lo ngại triệu tập các Công khanh . Sau nhiều cuộc nghị luận sôi nổi, cựu thứ sử Tinh Châu là Chúc Lương và Trương Kiều, người đã dẹp giặc Ích Châu đã được triều đình bổ làm thái thú Cửu Chân và thứ sử Giao Châu (phủ đô hộ đóng ở Giao Chỉ). nhờ khéo phủ dụ, hai viên quan mới này đã ổn định được tình thế." Tr.115

Rõ ràng, vị anh hùng tên là Khu Kiên lãnh đạo cuộc khởi nghĩa của dân Tượng Lâm nổi lên lật đổ chính quyền đô hộ Trung Hoa chứ không có Chiêm Thành nào ở đây cả. Các Thứ sử và Thái thú ở hai quận cực nam Giao Châu Ðô hộ phủ này hễ có biến là báo cáo về Tầu rằng, giặc Chàm tấn công "nước ta" để chạy tội tham ô, bạo ngược khiến dân Việt vì căm hờn mà nổi dậy.

Vậy Lâm Ấp là ai mà các sử gia Việt đều theo Tầu mà gọi là Chàm? Và mĩa mai thay, các sử gia của ta cũng bắt chước Tầu gọi rằng: " giặc Chàm đánh nước ta!"


J. "Năm 144 hơn một ngàn người ở quận Nhật Nam lại nổi dậy đốt phá các huyện ấp. Họ liên kết cả với người Cửu Chân. Thứ sử Giao Châu là Hạ Phương dùng ân nghĩa chiêu dụ. Quân giặc đều ra hàng cả". Tr.115

K. "Năm 160, khi nhân dân huyện Cư Phong dưới sự lãnh đạo của Chu Ðạt chống lại sự tham bạo của viên huyện lệnh, "quân Man" (Lâm Ấp) đã tiếp tay. Số người làm loạn lên tới bốn, năm ngàn. Họ tấn công vào quận Cửu Chân. Thái thú Nghê Thức ra đánh bị tử trận. Nhà Hán sai Ðô úy quận Cửu Chân là Ngụy Lãng đi đánh, phá tan được.Nhưng tướng giặc vẫn còn chiếm đóng Nhật Nam, thế lực ngày một cường thịnh. Nhà Hán lại phải sai Hạ Phương sang chiêu dụ. Nhờ uy tín có sẵn, Hạ Phương đã khiến được 20.000 quân giặc đầu hàng" Tr.115


Lại có 2 cuộc nổi dậy của nô lệ Việt, lần trước năm 144 có hơn 1000 người; lần sau, năm 160, đông hơn, có đến 5000 người. Chẳng những vậy, lại có thêm quân Lâm Ấp liên minh tiếp trợ.Dân Việt nổi dậy dưới sự lãnh đạo của anh hùng Chu Ðạt tấn công quận Cửu Chân và giết được thái thú Nghê Thức. Tuy nhiên, hình như nghĩa quân không chiếm được quận lỵ Cửu Chân. Do vậy họ tiến vào Nhật Nam và phối hợp với nghĩa quân ở đây tấn công giải phóng quận Nhật Nam. Từ đó, phong trào dân chúng nổi dậy bùng lên mãnh liệt và trở thành một cuộc Khởi nghĩa thật sự. Nghĩa quân chiếm được quận Nhật Nam và các huyện của quận này trong một thời gian dài.


Nhà Hán sai tướng Ngụy Lãng điều quân từ Cửu Chân vào Nhật Nam đánh dẹp cuộc nổi dậy có quy mô lớn của Chu Ðạt, nhưng quân Ngụy Lãng đã bị thất bại, có thể y đã bị giết chết. Sau đó, nhà Hán phải sai thứ sử Giao Châu là Hạ Phương đem đại quân từ Giao Chỉ đến đàn áp. Chắc chắn cuộc đàn áp rất tàn khốc, đến độ các đạo Nghĩa quân đang chiếm giữ quận Nhật Nam và các huyện của quận này đã phải đầu hàng. Tổng số Nghĩa quân đầu hàng lên tới 20.000 người. Như thế có nghĩa là dân Việt huyện Cư Phong ở Cửu Chân và quận Nhật Nam cùng nổi dậy dưới sự lãnh đạo của anh hùng Chu Ðạt rất đông. Có lẽ sau khi Chu Ðạt bị tử trận (?) thì Nghĩa quân mới đầu hàng. Nếu số Nghĩa quân đầu hàng lên tới 20.000 thì số bị Nghĩa quân bị tàn sát không dưới 10.000.


L. "Theo các tài liệu của người Tàu, niên đại chính thức của sự thành lập vương quốc của người Chàm là năm 192. Năm đó con của viên công tào bản xứ tên là Khu Liên, đã lợi dụng tình trạng suy yếu của nhà Hán, giết viên huyện lệnh huyện Tượng Lâm và xưng làm vua. Khu Liên cũng là tên của nhóm người nổi loạn năm 137. Vương quốc này được người Trung Hoa gọi là Lâm Ấp là do sự gọi tắt của Tượng Lâm Ấp có nghĩa là kinh đô hay đúng hơn là lỵ sở của Tượng Lâm (có nghĩa là rừng voi). Trung tâm của nước này theo các nhà khảo cứu hiện đại là các vùng kế cận thành phố Huế ngày nay". Tr.116


Năm 192, sau hơn 320 năm định cư ở huyện Tượng Lâm quận Nhật Nam, người Lâm Ấp đứng lên lập quốc. Họ xưng quốc hiệu là gì thì không ai biết, chúng tôi tạm gọi là (Tân) Việt Thường. Tuy nhiên các sử gia Tầu thì cứ gọi là nước Lâm Ấp, là Chàm. Rõ ràng người Tầu chỉ muốn coi Lâm Ấp là Chàm và dứt khoát dập tắt việc quay trở lại dòng giống Việt Thường cổ! Không muốn người Lạc Việt liên kết với đồng chủng Việt Thường vốn rất quật cường dù chỉ là con cháu một nhóm dân chạy loạn.


M. "Năm 433, tiến hơn một bước nữa, Phạm Dương Mại (vua nước Lâm Ấp) sai sứ sang cống nhà Tống, xin quản lãnh Giao Châu nhưng không được vua nhà Tống chấp nhận".Tr.120


N. "Phạm Dương Mại do đó tiếp tục cướp phá Giao Châu khiến năm 446 nhà Tống phải cử Ðàn Hòa Chi và Tông Xác đem quân đi đánh. quân Chàm đại bại. Chỉ Phạm Dương Mại và các con chạy thoát được thân." Tr.120


Tới giai đoạn này, nước Lâm Ấp đã đủ mạnh, đã có nhiều liên hệ mật thiết với nhân dân các quận Nhật Nam, Cửu Chân, Giao Chỉ. đã tự thấy có đủ tầm vóc nói chuyện với nhà Tống để "xin quản lãnh Giao Châu" (lời chép của sử gia Trung Hoa với tư thế nước lớn). Chúng tôi nghĩ đấy là cuộc vận động của vua Lâm Ấp đòi nhà Tống phải chấp nhận cho Giao Châu tự trị. Tuy nhiên, nhà Tống không chấp nhận.


Vua Lâm Ấp Phạm Dương Mại liền tạo sức ép quân sự bằng cách cho quân đội tấn công thẳng vào phủ trị Giao Châu. Mười ba năm sau tức là năm 446 nhà Tống sai tướng Ðàn Hòa Chi và Tông Xác đem đại binh giải cứu Giao Chỉ, ngoài đánh vào, trong đánh ra khiến quân Lâm Ấp đại bại. Vua Phạm Dương Mại   và con trai thoát được nhưng quân đội Lâm Ấp thì bị tàn sát toàn bộ, vô cùng khủng khiếp. Nước Lâm Ấp từ đó suy yếu hẳn. Cuộc chiến này giằng co suốt 13 năm, chắc chắn vô cùng cam go khiến Lâm Ấp kiệt quệ và đi đến chỗ đại bại.

Chúng tôi đã dẫn chứng những tài liệu của sử gia Phạm Cao Dương và một số học giả khác ghi lại từ các sách sử Trung Hoa nói về các cuộc chiến tranh giữa Trung Hoa và Lâm Ấp đồng thời chỉ ra những phần quan trọng để xác minh rằng Lâm Ấp không phải là Chàm (Chiêm Thành), mà là một dòng dân rất gần với Việt tộc. Họ thường xuyên liên minh với dân Việt Lạc đánh đuổi xâm lược Trung Hoa. Cho đến năm 192 là năm người Lâm Ấp ở huyện Tượng Lâm chính thức lập quốc. Các cuộc liên minh nổi dậy giữa Việt tộc với Lâm Ấp như trên còn kéo dài liên tục vào những năm tiếp theo: 220, 230, 248, 353, 399, 413, 415, 420, 424, 431, 433, 446, 448, 627. 808


Trong suốt thời gian kể trên người Lâm Ấp liên tục liên minh với dân Việt đánh phá các phủ huyện đô hộ Tàu ở các quận Nhật Nam, Cửu Chân có khi tràn tới quận Giao Chỉ. Dù ghi như trên, thỉnh thoảng sử gia Phạm Cao Dương vẫn theo sát sách sử Trung Hoa, cứ gọi Lâm Ấp là Chàm.


Chúng tôi xin mời quý độc giả xem qua Việt Sử Toàn Thư của Sử gia Phạm Văn Sơn trước:


O. ". Trung quốc lại trở về cái cảnh tam phân ngũ liệt gần giống như thời Ðông Chu . các ngai vàng luôn luôn thay đổi. Do vị trí của nó, Giao châu thuộc về Nam Tống . Năm 448 Lâm Ấp nhân cơ hội (Trung Hoa nội loạn) cử Sứ sang điều đình với Tống triều xin lãnh đất Giao châu, nhưng đề nghị của họ không được chấp thuận". Trang 131


P. "Trái lại năm 468 tháng ba, mùa hạ, triều Tống cử Ðàn Hòa Chi sang làm thứ sử Giao châu và đánh Lâm Ấp. Vua Lâm Ấp sợ xin trả lại những người Nhật Nam bị Lâm Ấp bắt trước đây và nộp vàng để tạ tội".tr.131


Q. Ðoạn sau đây khá dài, xin tóm tắt: Mặc dù Lâm Ấp nộp vàng xin tạ tội nhưng đại quân Ðàn Hòa Chi vẫn tấn công, tàn sát dân Lâm Ấp cực kỳ dã man. Vua Phạm Dương Mại phải dẫn vợ con chạy trốn. Quân Tống tha hồ vơ vét vàng bạc.Tr.131


R. "Sử không ghi rõ ràng sau cuộc thắng trận này nhà Tống có lập nền đô hộ ở Lâm Ấp không, có lẽ họ đã cho Lâm Ấp đầu hàng và hàng năm nộp cống."Tr.131


Việt Sử Tân Biên cũng của Sử gia Phạm Văn Sơn (gồm 7 cuốn với khoảng 4000 trang) ghi thêm:


S. "Người ta nghi rằng khai sinh ra nước Lâm Ấp là bọn giặc bể dòng giống Mã Lai đã xâm nhập vào đất Trung Việt truớc kỷ nguyên có kinh thành là Khu Túc ở Huế bây giờ."Tr. 215/Q.I.


T. "Họ (Lâm Ấp) hợp giống với Cao Miên và giống Chiêm Thành trong khi một chi phái của họ hợp với giống Mông Cổ và dân tộc Việt Nam" Cũng trang 215/QI.


Sử gia Phạm Văn Sơn viết "người ta nghi" tức là các sử gia không biết đích xác Lâm Ấp là ai, họ ngờ rằng Lâm Ấp là giặc bể từ Mã Lai đến. Nhưng họ quên rằng, nhiều năm trước, khi Tần Thủy Hoàng xua quân tấn công các nước Việt phương Nam và tàn sát dân Việt vô cùng dữ dội. Nhiều dòng Bách Việt trong đó có dân Ấp Lâm của nước Việt Thường đã dùng thuyền chạy về phương Nam tị nạn. Cũng do vậy, cái tên nước Việt Thường, quốc giới của Việt Thường, Tượng Quận. dính vào ba tỉnh miền Trung này. Và, thêm một minh xác rất quan trọng: Hai tênhai châu Ô, Châu Rí của Chiêm Thành hoàn toàn chưa xuất hiện trong giai đoạn 1000 năm lệ thuộc này.


Chúng tôi nghĩ rằng, tại ba tỉnh Bình, Trị, Thiên này trước và trong thời gian người Lâm Ấp lập quốc đã có một số bộ lạc Chàm sống rải rác ở đó. Tuy nhiên người Chàm không đủ mạnh để chống lại sự cai trị của người Lâm Ấp. Cũng vì thế mà giới quan lại và sử gia Trung Hoa cứ nhất định đồng hóa Lâm Ấp (Bách Việt) với Chàm theo chủ trương chia rẽ hai dòng Việt Lạc và Việt Thường.


Tại sao có sự giống Mông Cổ ở đây? Ðiều này không lạ, theo Tiến sĩ J.Y. Chu trên Tạp chí khoa học The Nation Academy Of Science - USA ngày 29/7/1990 thì người Hiện đại đầu tiên xuất hiện từ đông Phi Châu cách đây vào khoảng 150.000 năm. Từ đây họ dần dần di cư ra khắp thế giới. Có nhóm tiến về   phía đông qua Ấn Ðộ, tới bán đảo Trung Ấn rồi tách ra làm hai: Một tiến lên phía đông bắc băng qua bắc Việt Nam, Trung Hoa, Mông Cổ, đông Tây Bá lợi Á rồi băng qua eo biển Bering mà vào Châu Mỹ. Hai đi xuống phía nam, băng qua Thái Lan, Mã Lai rồi ra các quần đảo. Trong nhóm lên phía tây bắc chắc chắn có tổ tiên Miêu tức Viêm và nhiều tổ tiên của các chủng khác như Tây Tạng, Mông Cổ. Vậy Việt Thường có lai hay trông giông giống Mông Cổ cũng không lạ vậy.


Từ các đoạn trích dẫn ghi trên chúng tôi có suy luận như sau:


Chúng ta đã biết lịch sử giữa Chiêm Thành và Ðại Việt kể từ năm 981 (thời nhà Tiền Lê), đến các nhà Lý, Trần và các họ về sau cho tới Chúa Nguyễn là những cuộc chiến tranh tàn khốc và hận thù triền miên cho đến khi Chiêm Thành bị Việt tộc nuốt trọn. Trong khi đó giữa Lâm Ấp và Việt tộc, các quận Nhật Nam, Cửu Chân luôn luôn kết hợp ngoài đánh vào, trong nổi dậy, cùng tấn công kẻ xâm lược Trung hoa rất nhịp nhàng trong suốt 700 năm gần như không ngưng nghỉ.


Nếu Lâm Ấp là Chiêm Thành với mảnh đất chỉ bằng vài tỉnh nhỏ (Bình, Trị, Thiên), chắc chắn họ không dám xin "lãnh" Giao châu vốn là thủ phủ 9 quận Việt tộc đang bị Tầu đô hộ. Chín quận này đất rộng người đông gấp 20 lần Lâm Ấp.


Nói cách khác, Lâm Ấp kiên trì, tích cực, liên tục hợp tác với Việt tộc tấn công các phủ trị đô hộ Trung Hoa đến độ bị họ đàn áp đến độ suy kiệt và đi vào diệt vong là do họ chung dòng Bách Việt với Việt tộc, hai dân tộc cùng mang nổi căm thù đô hộ Trung Hoa cực kỳ sâu nặng. Chúng tôi tin rằng, vua quan Lâm Ấp đã có quyết định khôn ngoan khi vừa giúp giải phóng đồng chủng 8 quận, vừa thâu hồi lại quê hương Việt Thường của họ.


Một điều rất rõ ràng là trong khi nước Lâm Ấp với kinh đô đặt tại Khu Túc trong phạm vi tỉnh Thừa Thiên hiện nay đang gây sóng gió liên tục với quan quân đô hộ Trung Hoa, thì Chiêm Thành đã lập quốc rất lâu trước đó với kinh đô Chiêm Bà (Quảng Ngãi) sau đó dời về Ðồ Bàn (Quảng Nam). Chứng tỏ Lâm Ấp là Việt Thường - Chiêm Thành là Chàm, hai dân tộc này hoàn toàn khác nhau.


II/9C .- ÐOẠN SỬ BI ÐÁT CUỐI CÙNG CỦA NGƯỜI VIỆT THƯỜNG NƯỚC LÂM ẤP

Sách Cương Mục Tiền Biên chép: "Khoảng giữa niên hiệu Trinh Quan (627-649) nhà Ðường, vua Lâm Ấp là Ðầu Lê chết, con là Trấn Long bị giết, người trong nước lập con bà cô của Ðầu Lê là Gia Cát Ðịa lên làm vua. Gia Cát Ðịa đổi quốc hiệu là Hoàn Vương và thường cho quân sang xâm lấn An Nam. Hoàn Vương do đó bị quan đô hộ An Nam là Trương Chu đánh phá phải bỏ Lâm Ấp dời đến đất Chiêm, gọi là nước Chiêm Thành. Bấy giờ thành Phật Thệ ở Phủ Thừa Thiên, Thành Chà Bàn ở tỉnh Bình Ðịnh đều là di tích cố đô của Chiêm Thành thời đó.


Sách Việt Sử Toàn Thư thì chép: Chư Cát Ðịa đổi quốc hiệu ra Hoàn Vương quốc nhưng nước này vẫn quen thói quấy nhiểu Giao Châu. Ðã có phen họ chiếm được châu Hoan, châu Ái (tức là hai tỉnh Thanh, Nghệ của ta) - Hai thế kỷ sau vào năm Mậu Tý (808), Ðô hộ Trương Chu lại đem quân đánh Hoàn Vương quốc rất tai hại khiến họ phải lui xuống phía Nam (hai vùng Nam, Ngãi bây giờ). Lại một lần nữa, quốc hiệu Lâm Ấp đổi ra Chiêm Thành cho tới ngày nay.


Cách hành văn của 2 đoạn sử trên, cùng trình bày giai đoạn cuối cùng của lịch sử nước Lâm Ấp nhưng có nhiều điểm không giống nhau (thời gian và danh xưng thành Phật Thệ.). Chúng tôi xin thử bình giải:


Thời vua Trinh Quan nhà Ðường (627 - 649), nước Lâm Ấp, vua Ðầu Lê chết, thái tử là Trấn Long vừa lên ngôi thì bị giết, triều đình tôia Cát Ðịa là con bà cô của vua Ðầu Lê lên ngôi. Gia Cát Ðịa đổi quốc hiệu là Hoàn Vương, kinh đô Khu Túc thì đổi tên là Phật Thệ và tiếp tục đường lối của tổ tiên, tiến hành những cuộc liên minh quân sự với Lạc Việt đánh đuổi quân cướp nước ra khỏi bờ cõi. Trong gần 200 năm (từ khoảng 627 - 808) họ tổ chức nhiều cuộc nổi dậy có lúc họ chiếm được Cửu Chân và Nhật Nam. Năm 808, triều đình Trung Hoa sai tướng Ðô hộ Trương Chu đem đại binh tiêu diệt Hoàn Vương quốc (Lâm Ấp).


Lần thứ hai từ sau ngày gạt lệ rời bỏ quê hương Việt Thường bên hồ Phiên Dương năm 221 Tr. CN ; con cháu Việt Thường năm 808 sau CN , kẻ ra đi, người ở lại và hàng vạn người nằm xuống, dưới những nấm mộ tập thể, chôn vùi đây đó trong vùng Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên.


Nước Lâm Ấp hoàn toàn bị tiêu diệt. Khi quân Trương Chu rút đi thì nước Chiêm Thành đã lập quốc từ lâu với kinh đô Ðồ Bàn (Quảng Nam) liền vượt đèo Hải Vân tiến ra chiếm đất Tượng Lâm (Bình, Trị, Thiên). Người Việt Thường, Lâm Ấp một số lánh nạn lên vùng núi hay ra bờ gần biển, một số khác chạy ra Nghệ An, Thanh Hóa sống chung với dân Lạc Việt, một số ở lại trở thành nô lệ Chiêm Thành.


Từ đầu thế kỷ thứ 9, lịch sử nước ta không còn nhắc đến tên huyện Tượng Lâm hoặc nước Lâm Ấp nữa. Vùng đất này có tên mới: Châu Ô, Châu Rí (Lý) do Chiêm Thành đặt. Cũng từ năm ấy, sử Việt chép rất kỷ các giai đoạn "chiến tranh và hòa bình" giữa Ðại Việt và Chiêm Thành.


Năm 1304, đời nhà Trần, khi vua Chiêm Chế Mân, dâng hai châu Ô, Lý để xin cưới Công chúa Huyền Trân thì con cháu Việt Thường ở lại với Ðại Việt trong khi dân Chiêm Thành rút về phía nam đèo Hải Vân.


Năm 1697, phần đất cuối cùng của người Chàm bị chúa Nguyễn Phúc Chu nuốt trọn và nước Chiêm Thành hoàn toàn bị xóa tên.


II/9D .- VỊ TRÍ NƯỚC VIỆT THƯỜNG CỔ


Cho đến hôm nay, vị trí nước Việt Thường trên các tài liệu lịch sử Việt Nam vẫn còn là một nghi vấn.


1. Một số sử gia cho rằng Việt Thường là tên nước Việt Nam cổ, tức là toàn miền Bắc Việt Nam ra tới Ðèo Ngang.


2. Ông L.Wie1ger, nhà Trung Hoa học thì rời vị trí Việt Thường xa hơn nữa. Ông cho Việt Thường là Cao Mên (Trích dẫn từ VSTB tr. 38).


3. Sử gia Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử Lược lại nói nước Việt Thường ở phía Nam Giao Chỉ. (Trích dẫn từ VSTB tr. 38)


4. Sử gia Lê Văn Hòe trong Việt Sử cho rằng nước Việt Thường ở vào vị trí 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên ngày nay. (Trích dẫn từ VSTB tr. 38)


5. Ông Lê Chí Thiệp nói rằng, xem bản đồ Trung Hoa thế kỷ 20 Tr. CN còn chia ra nhiều bộ lạc trình độ khác nhau thì không thể tin được Sứ giả Việt Thường vượt đường bộ từ Bắc Việt, hoặc theo hải đạo đến được thành Bình Dương là kinh đô của vua Nghiêu tận tỉnh Sơn Tây, phía Bắc sông Hoàng Hà và dưới đời Chu lại đến thành Tây An ở phía Nam sông Vị, tỉnh Thiểm Tây bấy giờ. Theo lẽ đương nhiên, chỉ có gần gũi nhau, chịu ảnh hưởng của nhau mới có sự giao dịch với nhau. Tóm lại, Việt Thường tất không xa Hán tộc, có lẽ ở phía Nam sông Dương Tử vùng hồ Phiên Dương và sông Dương Tử. Lý luận này theo ý chúng tôi có ý nghĩa hơn cả. (Trích dẫn từ VSTB tr. 38)


6. Ở trang 39 VSTB ghi "Kinh Thư chép đất Dương có nhiều giống chim lạ, đất Kinh có nhiều   rùa lớn thì Việt Thường ở vào khu hồ Phiên Dương và hồ Ðộng Ðình, như vậy ta càng thấy sự đối hợp với việc cống chim Trĩ và Rùa lớn.


7. Theo Sử Ký Tư Mã Thiên, vùng hồ Phiên Dương có đất Việt Thường, vua Sở Hùng Cừ (887 Tr. CN) phong cho con út là Chấp Tỳ làm vua ở đấy. Việt Thường, Việt Chương có lẽ là hai tên dùng lẫn cho nhau (như Cao Mên, Cao man; Lào, lèo.). Ông Lê Chí Thiệp định vị trí Việt Thường ở ngay chỗ thành Nam Xương."


Chúng tôi rất tán đồng ý kiến của ông Lê Chí Thiệp. Nước Việt Thường cổ chỉ có thể ở vùng gần hai hồ Ðộng Ðình và Phiên Dương. Nhưng lý do tại sao vùng Bình, Trị, Thiên lại có tên là Việt Thường thì chúng tôi có câu trả lời như sau:





  

Năm 221 tr. CN, Tần Thủy Hoàng xua quân xâm lăng các nước Việt phương Nam. Nước Việt Thường bị đánh bại, quý tộc Việt Thường ở "kinh đô Lâm Ấp (?)" bèn đưa dòng họ và quân đội theo đường biển chạy về phương Nam và đổ bộ lên vùng đất sau này gọi là Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên thuộc nước Âu Lạc của vua Thục An Dương Vương và tị nạn ở đó. Họ thân thương gọi vùng đất mới này là (Tân) Việt Thường, là Lâm Ấp (tổ quốc và kinh đô cũ). Sử ta về sau lẫn lộn vị trí nước Việt Thường là vậy. Xin nhắc lại vùng Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên là nơi "Khỉ ho cò gáy, chó ăn đá gà ăn muối."   là "rú", tại đây có thể đã có một số bộ lạc Chàm sống rải rác trên các đồng bằng nhỏ hẹp, họ lập tức bị người tị nạn Việt Thường khống chế *. Triều đình Chiêm Thành ở bên kia đèo Hải Vân có lẽ đã không quan tâm tới đám dân Chàm không đáng kể này.


* Y hệt thổ dân Ðài Loan năm 1949 bị đoàn quân bại trận của tổng thống Tưởng Giới Thạch khống chế ngay khi họ đổ bộ lên đảo này.


Dân tị nạn Lâm Ấp "vui sống" ở đó, trải từ cuối thời Âu Lạc của Thục An Dương Vương, qua Nam Việt của nhà Triệu, rồi nhà Hán xâm lăng Nam Việt và đặt phủ trị đô hộ. Cho đến khi Mã Viện diệt Hai Bà Trưng vào năm 43 là 264 năm. Mã Viện đem quân đuổi đánh tàn quân Hai Bà vào tận đất Nhật Nam. Người Lâm Ấp một mặt không giúp Hai Bà Trưng, một mặt thất hứa với Mã Viện trong việc tấn công mặt hậu Lĩnh Nam. Bây giờ lại hối lộ Mã Viện rất nhiều vàng bạc châu báu để được yên thân. Nhờ vậy, Mã Viện lập huyện Tượng Lâm trực thuộc quận Nhật Nam và cho người Lâm Ấp tiếp tục cư trú ở đó. Như vậy, Lâm Ấp đã tỏ ra rất khôn ngoan. Họ "ừ! è!." với Mã Viện nhưng nhất định không tiếp tay cho giặc để đánh đồng chủng. Có lẽ họ dư biết dù liên minh với Lĩnh Nam cũng không chống nổi với Mã Viện. Khi biết Hai Bà Trưng đã hoàn toàn thất bại trước Mã Viện thì họ dâng vàng bạc để được yên thân mài nanh vuốt chờ dịp quật khởi. Quả nhiên, kể từ năm 102 (60 năm sau), khi đã có thực lực, Lâm Ấp tung ra hàng loạt cuộc tấn công vào quân đô hộ Tầu không ngưng nghỉ.


Theo sách Cương Mục, năm 192 tức là 408 năm sau khi dân Lâm Ấp định cư ở Tượng Lâm quận Nhật Nam, con cháu người Việt Thường tị nạn chính thức tái lập quốc gia. Chúng tôi không biết ngoài tên nước Lâm Ấp, Chàm, Chiêm Thành mà sử Tầu thường gọi, họ có quốc hiệu nào khác không. Sau khi lập quốc, họ tiếp tục tổ chức kết hợp với dân Việt ở nhiều địa phương Việt Lạc liên tục tấn công các phủ trị đô hộ Tầu các quận Nhật Nam, Cửu Chân có khi vươn tới quận Giao Chỉ. Triều đình Trung Hoa phải vô cùng chật vật để bảo vệ quyền đô hộ. Cho đến năm 468 nhà Tống đưa đại binh tấn công nước Lâm Ấp, tàn phá 55 thành khiến nước Lâm Ấp yếu đi.


II/9E.- VÀI TÀI LIỆU RIÊNG


II/9E1 .- BÍ MẬT NGÔN NGỮ VIỆT THƯỜNG: 3 LÀNG LONG HƯNG, ÐẠI NẠI & MỘ TRẠCH NÓI TIẾNG GÌ?


Bí mật về ngôn ngữ của dân hai làng Long Hưng và Ðại Nại ở Quảng Trị và làng Mộ Trạch ở Thừa Thiên ngày nay nói tiếng Việt với 60-80% đặc âm địa phương, khó nghe đến độ chính dân Quảng Trị với khoảng 20% đặc âm (dân chúng ở vùng quê không học chữ Quốc ngữ) cũng rất cực khổ để hiểu họ muốn nói gì. Tỉ dụ: Ló : lúa ; rọn : ruộng ; nác : nước ; su : sâu ; khun: khôn ; ngái : xa : mói : muối ; đùi : cùn ; lọi : gãy ; cái chưn : cái chân ; lưa sưa : lưa thưa ; chạc dây : sợi dây ; mụ tra : bà già ; mự : mợ ; cơm siu : cơm thiu ; cái trố-ôt : cái đầu ;lộ mụi : lỗ mũi ; rào : sông ; bọ tui : bố tôi ; bưa : vừa ; bấp bo堺 vấp té ; trung nớ : trong đó ; đi ẽ : đi ĩa ; côi : trên ; trộ mưa : trận mưa ; mi đi mô rứa : mầy đi đâu đó ; ốt dột quái : xấu hổ quá ; giãy tọt lên côi nớ : nhảy vọt lên trên đó. Tất cả vần NH biến thành GI như cái nhà : cái già ; con nhện : con giện ; bổng nhưng : bổng giưng ; nhiều : giều ; tuy nhiên : tuy giên ; nhức nhối : giức giối ; nhảy nhót : giảy giót ; nhà nho : già gio ; nhu nhược : giu giược ; nhóm lữa : dóm lựa.


Những địa phương ngữ nói trên, chắc chắn có pha trộn ít nhiều với tiếng Chàm khi mà người Lâm Ấp đã từng sống chung với người Chàm cả ngàn năm trong suốt thời kỳ lệ thuộc Trung Hoa.


Chúng tôi không biết nhiều về ngữ học, cũng xin lạm bàn để phân biệt tiếng Lâm Ấp và tiếng Chàm trên một quy tắc đơn giản như sau: Tiếng nào nghe na ná hoặc có vần như tiếng Việt toàn quốc là tiếng Lâm Ấp đồng chủng Việt tộc, còn tiếng nào không giống ai là tiếng Chàm.


Tỉ dụ 1 : MÓI nghe na ná và cùng vần với MUỐI, GIÃY TỌT cùng vần với NHÃY VỌT. thì mói, giãy tọt là tiếng của Lâm Ấp đồng chủng Việt tộc.

Tỉ dụ 2 : RÀO là sông, cái TRỐT là cái ÐẦU, CÔI là TRÊN. rõ ràng RÀ0, TRỐT, CÔI. không giống ai thì có thể là tiếng vay mượn của Chiêm Thành.

Vậy chúng ta tạm có bản phân tích dưới đây


1.- Những tiếng nghe na ná hoặc đồng vận như : rọn : ruộng ; nác : nước ; mói : muối ; sưa: thưa ; su : sâu ; chộ nớ : chỗ đó ; tra : già ; lộ mụi : lỗ mũi ; mự : mợ ; trộ mưa : trận mưa ; cơm siu : cơm thiu ; bấp : vấp ; giều : nhiều ; bo bố ; mần chi hỉ : làm gì nhỉ ; chưn : chân ; con giện : con nhện ; bưa : vừa ; lấy dô-ôn : lấy chồng ; hun : hôn ; maui : mẹ tôiণ46; là tiếng Bách Việt dòng Việt Thường.


2.- Những tiếng khác vần hoặc không giống ai như: trốt : đầu ; chạc : sợi dây ; lọi : gãy ;rào : sông ; tê : kia ; rứa : thế ; răng : sao ; nôốt : thuyền ; nậy : lớn ; cái đọi : cái tô . có thể là tiếng vay mượn của Chàm, Chiêm Thành.

Xét tổng quát, ngôn ngữ miền bắc và miền nam (kể cả Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú Yên, Khánh Hòa. vốn là quê hương của Chiêm Thành), khi nói lên, mọi người trên toàn quốc có thể nghe và hiểu nhau dễ dàng mặc dù có một vài đặc âm, đặc ngữ nhưng không đáng kể.


Riêng ngôn ngữ của vùng Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa (nhất là thời gian chữ quốc ngữ chưa thông dụng) thì hai miền bắc và nam Việt Nam phải cố gắng lắm mới hiểu được. Nếu chẳng may gặp phải dân ở ba làng Long Hưng, Ðại Nại và Mộ Trạch (80% đặc âm + đặc ngữ) nói ở trên thì không thể biết được họ muốn nói gì. Y hệt như ta nghe người. Tây Tạng nói chuyện!! Nhất định   những đặc âm, đặc ngữ ấy là do các dân tộc dòng Bách Việt vì biến động lịch sử mà phải thay đổi nơi cư trú đã xuất hiện trong dòng Lạc Việt.


Qua bản phân tích đơn giản nói trên, chúng tôi thấy rõ dân ba làng Long Hưng, Ðại Nại và Mộ Trạch đúng là con cháu của dòng Việt Thường còn sót lại. Còn dân chúng các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình cho đến cả Nghệ An, Thanh Hoá rất có thể trong huyết quản có lẫn ít nhiều máu Việt Thường.


II/9E2 .- TƯỢNG NGƯỜI ÐẦU CHIM BẰNG ÐỒNG ÐEN Ở CHÙA PHẬT LỒI

Khoảng năm 1920 (?), trời làm lụt lớn trên sông Thạch Hãn, Quảng Trị. Nước lụt xoi mòn bờ cát phía làng Nhan Biều đối diện với tỉnh lỵ. Sau lụt, dân làng phát giác một đầu chim bằng đồng lồi trên bờ cát. Ðào lên thì đó là một tượng người đầu chim bằng đồng đen, nặng khoảng 60 ký. Dân làng Nhan Biều liền xây một ngôi miếu thờ Người Chim gọi là chùa Phật Lồi. Nhiều năm sau, quan sứ Quảng Trị (người Pháp) đem lính đến miếu tịch thu tượng "Người Chim", nói rằng đem về Pháp nghiên cứu!?


Ngày tôi còn ở Quảng Trị, mạ (mẹ) tôi vốn sinh trưởng ở làng Nhan Biều tả hình dáng tượng Người Chim như sau: cổ chim khá cao, mõ chim dài, mạnh khỏe, mồng chim lớn và thẳng đứng. Bên dưới cổ là thân người "trơn tru" không tạc quần áo. Hai chân chim khẳng khiu, giống bàn chân người, đứng trên một cái đế, tất cả bằng đồng đen . Ngày nay nhớ lại, tôi tin chắc rằng đó là biểu tượng "Người Chim" của người Lâm Ấp đem từ đất nước Việt Thường đến đất Quảng Trị cổ hoặc họ đã đúc ở đấy.


Như chúng tôi đã dẫn chứng, nước Việt Thường cổ ở giữa hồ Phiên Dương và hồ Ðộng Ðình. Vùng này có rùa lớn và giống chim Trỉ rất đẹp. Người Việt Thường thờ chim Trĩ làm biểu tượng như người Lạc Việt thờ chim Lạc. Họ đã từng đem rùa lớn có khắc lịch nông nghiệp trên mai rùa tặng vua Nghiêu khoảng năm 2300 Tr. CN. Ðến năm 1100 Tr. CN họ lại đem tặng vua nhà Tây Chu một đôi chim Bạch Trĩ để tỏ lòng "ngưỡng mộ", thì chúng ta sẽ không sai khi nghĩ rằng:


Người Lâm Ấp ở huyện Tượng Lâm đúng là dân nước Việt Thường cổ đã từng di cư đến tị nạn ở đất Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên và tái lập quốc gia Lâm Ấp ở đó.


II/9E3 .- DI SẢN VĂN HỌC VIỆT THƯỜNG VẪN VANG VỌNG

Từ lâu, một vài nhạc sĩ cho rằng người Chàm xưa mang nổi buồn mất nước nên ca nhạc của họ mang nét u sầu, ai oán. cũng vì thế, nhạc cổ miền Trung đặc biệt là hai điệu Nam Ai và Nam Bình đã bị ảnh hưởng bởi nhạc Chàm. Chúng tôi nghĩ rằng những phán đoán trên có phần nào phiếm diện.


Từ những minh xác về nguồn gốc người Việt Thường nước Lâm Ấp, chúng tôi có những ý kiến như sau về bộ môn "văn nghệ cổ *" của miền ba tỉnh Bình, Tri. Thiên, nhất là vùng đất chung quanh Huế (vốn là kinh đô Khi Túc của Lâm Ấp) như sau:


* Chúng tôi gọi chung là văn nghệ cổ, trong đó có âm nhạc, ca dao, tục ngữ, chuyện cổ, vè, ca múa, thổi kèn, đánh đàn, đánh trống, truyền thống lễ nhạc.xuất phát từ dòng Việt Thường này. Chúng tôi rất mong sẽ có nhiều học giả để tâm nghiên cứu sâu rộng những vấn đề mà tôi đề cập sơ lược hôm nay.


Dân Việt Thường từ hồ Phiên Dương (bên Tầu) theo đường thủy chạy về vùng Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên tị nạn, chắc chắn họ đã đem theo truyền thống văn hóa của họ đến vùng đất cư trú mới. Nguồn gốc nước Lâm Ấp, biểu tượng Chim Trĩ, tiếng nói Việt Thường thì đã được dẫn chứng. Tuy nhiên còn nhiều truyền thống đặc thù khác chưa được đề cập tới, trong đó có sinh hoạt văn nghệ của họ. Do vậy, "văn nghệ cổ" miền Trung ngày nay, đặc biệt là Huế (cũng là kinh đô của nước Lâm Ấp, "Tân Việt Thường"), sau đó là Quảng Trị, Quảng Bình và có thể cả Nghệ An và Thanh Hóa. mang dạng văn nghệ và âm nhạc Việt Thường bởi các lý do sau :


1.- Ðất Bình, Trị, Thiên (huyện Tượng Lâm) vốn là đất cư trú của người Lâm Ấp từ năm 221 tr. CN đến năm 808 sau CN (tồn tại hơn 1000 năm) thì bị Chiêm Thành chiếm và đổi tên là châu Ô, châu Rí (Xin lưu ý: Dù bị chiếm mất nước, người Lâm Ấp và văn hóa của họ vẫn tồn tại ở đó). Năm 1.304, vua Chiêm Chế Mân dâng hai châu này cho nhà Trần đển xin cưới Công chúa Huyền Trân. Rõ ràng người Chiêm không màng đến một vùng đất vốn không phải là của họ. Tất nhiên họ cũng không thiết tha, khóc thương đến độ䠰hải đặt ra những điệu nhạc ai oán, não nuột như thế.


2.- Vùng đất phía nam xứ Huế như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú Yên, Khánh Hòa. có kinh đô Chàm Ðồ Bàn và là địa bàn định cư lâu đời của Chàm, nếu có nhạc ai oán vì mất nước thì phải xuất hiện tại vùng này chứ không phải từ Huế trở ra.


3.- Người Việt Thường vốn là một dân tộc có văn hóa cao. Khi phải bỏ nước ra đi vì giặc ngoại xâm (Tần Thủy Hoàng) tất nhiên nỗi tủi nhục, sầu hận nước mất nhà tan của họ phải vô cùng cay đắng, sâu nặng. Văn nghệ của họ chắc chắn đã bị ảnh hưởng từ các cuộc ra đi tị nạn đó. Trải qua bao thăng trầm, cuối cùng mới lập được quốc gia Lâm Ấp. Rồi nước Lâm Ấp lại cũng bị điêu tàn, bị chiếm đoạt và phải làm nô lệ dân Chiêm Thành.


4.- Việt Thường và Lạc Việt đồng chủng, đồng ngôn ngữ (dù phát âm hơi khác), đã từng chung vai sát cánh chống lại đô hộ Trung Hoa suốt bảy trăm năm. nhất định hai dân tộc này đã có thông gia, có trao đổi văn hóa một cách mật thiết.


Những điệu Nam Ai, Nam Bình và nhiều loại văn học khác như văn, thơ, ca dao, chuyện cổ, ca vè. của các vùng liên hệ tất nhiên chịu ảnh hưởng từ văn nghệ Việt Thường. Nếu so nổi buồn Việt Thường với những cung điệu ai oán sầu hận của người Việt tị nạn ở hải ngoại ngày nay với những bản nhạc "Sài Gòn Ơi Vĩnh Biệt", "Người Di Tản Buồn", "Khi Xa Sài Gòn", "Sài Gòn Niềm Nhớ Không Quên", "Ai Trở Về Xứ Việt", "Em Nay Ở Phương Nào". Với hàng vạn bài thơ, truyện, ca dao mới. nói lên niềm chua xót nước mất, nhà tan... Hai nổi đau thương, khắc khoải của hai dân tộc Việt Lạc, Việt Thường trong hai giai đoạn lịch sử cực kỳ đau thương ấy, chắc cũng không khác nhau bao nhiêu.


Chúng tôi tin rằng những biệt sắc văn nghệ các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình kể cả Nghệ An và Thanh Hóa một số lớn là di sản văn hóa Việt Thường chứ không phải là của Chàm như chúng ta vẫn tưởng.


II/9F .- LỊCH SỬ NƯỚC TA THỜI LỆ THUỘC VÀ TIỂU QUỐC LÂM ẤP CẦN TU CHỈNH LẠI

Tiểu quốc Lâm Ấp, dòng Việt Thường, đồng chủng Việt tộc hào hùng của ngàn năm trước, hậu duệ của quý ngài còn đấy như chúng tôi đã phân tích? Hay đã hòa tan trong dòng Ðại Việt của các thời đại Ngô, Ðinh, Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn? Hai vị anh hùng Khu Liên người tái lập quốc gia Lâm Ấp; Chu Ðạt,   người lãnh đạo 30.000 nghĩa quân đánh chiếm hai quận Cửu Chân và Nhật Nam là ai? Và biết bao anh hùng, liệt nữ hai nước Việt Lạc và Việt Thường đã bỏ mình trong suốt 700 năm lịch sử nổi dậy bất thành ấy? Có ai dành cho họ giọt nước mắt, nén hương thương tiếc, đồng thời làm sáng tỏ giai đoạn lịch sử đầy máu và nước mắt nhưng vô cùng hào hùng ấy!


Những người anh hùng ấy chắc chắn phải được vinh danh trong lịch sử Việt tộc.

Chúng tôi thiết tha kêu gọi các nhà làm sử Việt Nam, các học giả đang nghiên cứu thực hiện bộ sách Giáo khoa Tiểu, Trung và Ðại học nên tu chỉnh các đoạn sử này để khỏi phụ lòng những anh hùng Việt tộc ở hai quận Cửu Chân và Nhật Nam cùng cả một dòng giống Việt Thường oanh liệt cổ xưa đã hết lòng với tổ tiên Việt tộc trong nỗi khốn cùng một ngàn năm đô hộ! Ðiều này rất cấp thiết.


Chúng tôi đề nghị viết lại các biến chuyển lịch sử Việt Nam nên dựa trên 4 điểm chính sau đây:


1.- VỊ TRÍ NƯỚC VIỆT THƯỜNG Ở PHÍA NAM SÔNG DƯƠNG TỬ GẦN HỒ ÐỘNG ÐÌNH VÀ HỒ PHIÊN DƯƠNG, LÀ MỘT TRONG BA NƯỚC DÒNG BÁCH VIỆT BỊ NHÀ TẦN THÔN TÍNH NĂM 221 TR.CN. NHÀ TẦN ÐỔI THÀNH HUYỆN LÂM ẤP VÀ GỌI VÙNG ÐẤT MỚI CHIẾM LÀ TƯỢNG QUẬN.


2.- SAU ÐÓ MỘT SỐ DÂN VIỆT THƯỜNG Ở HUYỆN LÂM ẤP, TƯỢNG QUẬN THEO ÐƯỜNG THỦY CHẠY VỀ PHÍA NAM. HỌ ÐỔ BỘ LÊN ÐẤT QUẢNG BÌNH, QUẢNG TRỊ VÀ THỪA THIÊN VÀ ÐỊNH CƯ Ở ÐÓ. VÙNG NÀY VỐN LÀ ÐẤT HOANG DÃ Ở VỀ PHÍA NAM CỦA QUẬN NHẬT NAM. NĂM 43, NHÀ HÁN SAI MÃ VIỆN XÂM LĂNG LĨNH NAM, MÃ VIỆN LẬP ÐẤT NÀY LÀ HUYỆN TƯỢNG LÂM, ÐẶT HUYỆN LỆNH CAI TRỊ VÀ CHO NGƯỜI LÂM ẤP CƯ TRÚ Ở ÐÓ. NĂM 192, NGƯỜI LÂM ẤP GIẾT HUYỆN LỆNH TẦU MÀ LẬP QUỐC, ÐẶT KINH ÐÔ Ở KHU TÚC GẦN HUẾ .


3.- NGƯỜI LÂM ẤP TRƯỚC VÀ SAU KHI LẬP QUỐC (102 Tr.CN - 808 S.CN) NHIỀU LẦN LIÊN MINH VỚI DÂN VIỆT CÁC QUẬN NHẬT NAM, CỬU CHÂN VÀ GIAO CHỈ TẤN CÔNG VÀO THÀNH LŨY ÐÔ HỘ TRUNG HOA NHẰM GIẢI PHÓNG VIỆT TỘC THOÁT KHỎI THẢM TRẠNG LỆ THUỘC TRUNG HOA. NHƯNG TIẾC THAY MỌI CỐ GẮNG ÐỀU KHÔNG THÀNH CÔNG. NƯỚC NÀY ÐÃ BỊ TRUNG HOA TIÊU DIỆT VÀO NĂM VÀ BỊ CHIÊM THÀNH CHIẾM KHOẢNG NĂM 808. NƯỚC LÂM ẤP (ÐẤT TƯỢNG LÂM) BỊ CHIÊM THÀNH ÐỔI THÀNH HAI CHÂU Ô, LÝ.


4.- DÂN TỘC VIỆT NAM XÁC NHẬN SỰ SAI LẦM KHI GỌI NHÂN DÂN LÂM ẤP LÀ CHÀM, LÀ GIẶC TRONG QUÁ KHỨ. NAY CHÍNH THỨC VINH DANH VÀ TRI ƠN NGƯỜI LÂM ẤP VÀ NƯỚC LÂM ẤP LÀ ÐỒNG CHỦNG BÁCH VIỆT ÐÃ HẾT LÒNG VỚI DÂN TỘC VIỆT NAM TRONG NỔI KHỐN CÙNG 1000 NĂM LỆ THUỘC TRUNG HOA.


An Phong Nguyễn Văn Diễn 


***********************
Vì tài liệu có nhiều từ in nghiêng hoặc in đậm nên phải giữ nguyên format của bài trên trang An Việt Toàn Cầu, xin các bạn chịu khó đọc font chữ nhỏ.







READ MORE - An Phong Nguyễn Văn Diễn - BÍ MẬT NGUỒN GỐC DÂN BA TỈNH QUẢNG BÌNH, QUẢNG TRỊ, THỪA THIÊN

Saturday, November 24, 2012

Phạm Xuân Dũng - THƠ CHÂN DUNG


51. Trần Vàng Sao

   











 Bài thơ của một người yêu nước mình
 Và nỗi căm giận trước bọn người rác rưởi
 Tau tức quá rồi, tau chưởi:
 Thân phận khổ đau này - thân phận của nhân dân!



52. Nguyễn Việt Chiến

   
   









    
  
    Thời đất nước gian lao, ngòi bút cũng gian lao
    Đâm mấy thằng gian, người ngay mắc nạn
    Lục Vân Tiên phải vào ngồi trong khám
    Những con ngựa đêm vẫn chờ kỵ sĩ lên đường.



53. Vũ Bằng

  
   









   
   
   Người chính trực bốn mươi năm nói láo
   Một mình trong đêm tối làm tình báo phe ta
   Vẫn thương nhớ mười hai, yêu miếng ngon Hà nội
   Xin hãy về đây chứng kiến chuyện sơn hà!



54. Huỳnh Văn Nghệ


  Từ thưở mang gươm đi mở cõi
  Ngàn năm thương nhớ đất Thăng long
  Bên dòng sông xanh lòng tự hỏi
  Ai người biết quý đất cha ông ?




                                                                                                         
55. Việt Phương







  

  
  


  Cửa đã mở, có thực là cửa mở
  Sao bơ vơ đông đảo thế này?
  Đồng hồ Liên xô không tốt hơn đồng hồ Thuỵ sĩ
  Nhưng trăng Trung quốc vẫn tròn hơn trăng nước Mỹ
  Hơn tám mươi rồi mới vào hội nhà văn
  Dẫu thời nào nói thật cũng gian nan
  Cửa đã mở, có thực là cửa mở
  Sao bơ vơ đông đảo thế này?   

                        

56. Thuận Hữu

     

     






     


     Không chỉ có tình yêu mới biết đến những phút xao lòng
     Còn chức quyền thì sao, khi họ đặt anh ngồi vào ghế
     Tiếng nói của Nhân Dân liệu thuộc về nhân dân không thế?
     Chốn kinh kỳ còn nhớ chuyện ở Trường Sa?



57. Vũ Duy Thông

      
      









      
        
      
       
       Nửa đêm tỉnh giấc chợt rùng mình
       Mừng miệng lưỡi chưa phun nọc độc
       Vậy mà bè xuôi sông La lâu rồi vẫn u mê ai là bạn tốt?
       Lại chửi đồng bào xuống đường chống họa ngoại xâm?



58. Trương Đình Tuyển

    

      









      
      

      Làm thượng thư vẫn yêu thơ, sống chính trực, nghĩa tình
      Tổng đốc trọng thần vẫn một mình nấu cơm đi chợ
      Khoảng trống gặp thu hay nỗi niềm tặng vợ
      Quan trường được mấy người như ông WTO? 



59.Dương Kỳ Anh:

     
     







       


       Đi qua thời gian mới biết cõi ta bà
       Và anh đợi "thơ thần" xuất hiện!
       "Hay đến lạnh người..." khi nhà thơ làm điếm
       Thổ Địa cúi mặt tìm lổ nẻ để mà chui.



60.Duyên Anh:


         
          
         






         


         Nặng nợ giang hồ nên phải nghe điệu ru nước mắt
         Luật hè phố in vết hằn trên lưng ngựa hoang
         Thơ tù viết từ trại tập trung khi thế sự quay cuồng được mất
         Cuối cuộc đời còn gặp chuyện trái ngang.




PHẠM XUÂN DŨNG
Đài PTTH Quảng Trị




READ MORE - Phạm Xuân Dũng - THƠ CHÂN DUNG

Friday, November 23, 2012

LÃO THỢ DIỀU - Truyện ngắn của Ruskin Bond - Nguyễn Khắc Phước chuyển ngữ


Nguyên tác bằng tiếng Anh: The Kite Maker, tác giả Ruskin Bond, đăng trong tập The World’s Best Contemporary Short Stories, nhà xuất bản Ace Books Inc., New York, 1956.

SƠ LƯỢC VỀ TÁC GIẢ

Tác giả RUSKIN BOND
Ruskin Bond sinh năm 1934 tại Kasauli, Himachal Pradesh, Ấn Độ. Ông xuất thân từ gia đình có hai dòng máu Anh-Ấn, và trải qua thời niên thiếu ở một vùng đồi dưới chân núi Hymalaya, nơi ông lấy bối cảnh để viết nhiều tác phẩm. Năm 17 tuổi, ông sang Anh, vừa làm thay đổi nhiều việc, vừa viết văn. Năm 1957, cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông, THE ROOM ON THE ROOF, đoạt giải Llewellyn Rhys Prize, giải thưởng văn học của hằng năm của nước Anh dành cho các nhà văn dưới 30. Năm 1992, ông nhân giải thưởng  Sahitya Akademi dành cho tập truyện ngắn “OUR TREES STILL GROW IN DEHRA” do Viện Văn Học Quốc Gia Ấn Độ cấp. Năm 1999, ông nhận giải thưởng Padma Shri do có công đóng góp lớn cho văn học thiếu nhi.
Trong thời gian khoảng 35 năm, ông đã viết trên 300 truyện ngắn, luận văn, tiểu thuyết và hơn 30 cuốn sách dành cho thiếu nhi. Ông được xem là biểu tượng cho giới nhà văn ở Ấn Độ.




        Trên đường Gali Ram Nath có một cây đa cổ thụ đã mọc từ một vết tường nứt của một đền thờ Hồi giáo bỏ hoang – và con diều của thàng bé Ali bị mắc trên cành cây đó.
        Thằng bé, chân trần và phong phanh một chiếc áo rách, chạy dọc theo con phố hẹp lát sỏi đến chỗ ông nội nó đang ngồi gật gù mơ màng trong sân nắng.
        “Nội ơi!” thằng bé gọi. “Diều mất rồi!”
        Ông lão đang mơ màng bỗng giật mình, ngẩng đầu lên, lộ ra chòm râu mà nếu không nhuộm thì đã bạc trắng rồi.
        “Dây dứt rồi hả?” lão hỏi. “Thứ dây đó đâu có tốt bằng dây ngày xưa.”
        “Không phải đứt dây, nội ơi, diều bị mắc trên cây đa.”
Lão cười khoái trá. “Cháu chưa biết thả diều đâu, cháu ạ. Ông thì già rồi, chẳng giúp cháu được. Tiếc quá nhỉ! Nhưng cháu sẽ có con khác.” Lão vừa làm xong một con bằng tre, giấy và lụa mỏng, đang phơi nắng cho cứng. Thân diều màu hồng nhạt, đuôi ngắn màu xanh lục. Lão trao con diều cho Ali, và thằng bé nhón chân để hôn vào má hóp của ông nội nó.
        “Cháu sẽ không làm mất con diều này” thằng bé nói. “Nó sẽ bay như chim.” Rồi nó quay gót, nhảy cà tưng ra khỏi sân.
Lão già vẫn ngồi mơ màng trong nắng. Tiệm làm diều của lão không còn nữa. Toàn bộ cơ sở đã bán cho người buôn đồ cũ từ lâu. Nhưng lão vẫn làm diều để giải trí và để cho thằng cháu nội.    Chẳng mấy người mua diều chơi vào thời đại phi đạn và vệ tinh này. Người lớn chẳng để ý gì đến diều gió; trẻ con chỉ thích xem phim. Hơn nữa, chẳng còn chỗ trống để thả diều. Thành phố đã nuốt chửng cái công viên xanh trải dài từ tường thành cổ đến bờ sông.
        Nhưng lão vẫn nhớ cái thời người lớn tụ tập chơi thả diều trên công viên và những cuộc thi thả diều. Diều lượn trên trời đôi khi bị vướng vào nhau cho đến khi dây bị đứt, có khi dẫn đến ẩu đả. Những con diều bị thua cuộc được giải phóng bay vào trời xanh vô định. Có nhiều cuộc cá độ và tiền chuyển từ túi người này sang túi người khác.
        Thả diều có thời là môn thể thao của nhà vua dưới triều Nawab. Lão còn nhớ chính nhà vua và đoàn tùy tùng đã ra tận bờ sông để tham gia trò tiêu khiển dành cho hoàng tộc này. Thời đó, người ta còn thì giờ rãnh rỗi để thưởng thức điệu múa vui nhộn của giấy. Ngày nay, ai cũng vội vội vàng vàng như đang đeo đuổi tham vọng gì đó thật lớn lao thì những thứ mảnh mai như diều và mong manh như những giấc mơ  thường bị dẫm đạp như rác rưởi.
Lão Mahmood thợ diều đã có thời hoàng kim, được cả thành phố biết đến. Một vài con diều của lão  được làm hết sức sông phu và bán với giá ba hoặc bốn ru-pi. Theo lệnh của nhà vua, có lần lão đã làm một loại diều đặc biệt, không giống bất cứ con nào ở trong vùng từ trước đến nay. Con diều được ghép bằng hành chục khung tre mỏng, dán giấy cực nhẹ. Ở góc mỗi khung, ông gắn một cánh lá làm thăng bằng. Mặt diều hơi lồi, trên đó vẽ một mặt người kỳ quái, hai mắt gắn hai miếng gương nhỏ. Diều nhỏ dần từ đầu đến đuôi, uốn lượn dễ dàng, khiến nó có hình thù như con rắn đang bò. Phải khéo léo lắm mới điều khiền được con diều kềnh càng này rời khỏi mặt đất, và chỉ Mahmood mới làm được.
        Người ta nghe tiếng con “Diều Rồng” của lão và đồn thổi rằng nó có sức mạnh siêu nhiên. Rất đông người đã tụ tập ở công viên  để xem Mahmood thả diều trước sự chứng kiến của nhà vua. Thoạt đầu nó không chịu rời mặt đất. Thân nó phát ra tiếng càu nhàu, cự nự, và mấy miếng kính trong mắt nó phản chiếu ánh mặt trời đỏ rực khiến con diều trở nên một con vật bướng bỉnh, khó trị.
Thế rồi gió thổi đúng hướng và con Diều Rồng bay vút lên không, lượn qua lượn lại, mỗi lúc một cao hơn, nhấp nháy đôi mắt tinh quái. Khi đã lên cao vút trên trời, nó kéo dây quá mạnh khiến thằng con trai của lão phải vào giúp sức. Nhưng con diều chẳng chịu thua, nó càng giựt mạnh, dường như muốn tự do, muốn thoát, muốn cuộc sống riêng. Và dần dần nó thực hiện được.
        Dây diều đứt phựt, con diều lao vút về phía mặt trời, về phía thiên đường, cho đến khi biến mất khỏi tầm nhìn. Không ai tìm thấy nó ở đâu sau đó. Mahmood không hiểu sao mình làm được một con diều kỳ diệu như vậy. Lão không thể làm lại một con giống như thế, nhưng bù lại, lão làm một con có gắn ống sáo phát ra tiếng ngân nga như tiếng đàn vi-na khi nó lượn trên không.
        Vâng, đó là những ngày thoải mái thảnh thơi. Nhưng vua Nawab đã chết từ lâu rồi, và cháu chắt ông ta cũng nghèo gần như Mahmood. Thợ làm diều,  giống như người làm thơ, cần có người bảo trợ; nhưng bây giờ chẳng ai biết đến lão Mahmood nữa, chẳng ai hỏi tên hay nghề nghiệp của lão, chỉ vì bây giờ quá đông người sống trên phố Gali, và chẳng ai buồn để ý đến người hàng xóm.
Hồi trẻ, khi lão bị ốm, hàng xóm thường đến thăm hỏi sức khỏe; nhưng nay, khi đời lão chẳng còn bao nhiêu ngày thì chẳng ai đến viếng thăm. Quả thực như vậy vì hầu hết bạn già của lão đã chết, con của lão đã lớn khôn, một đứa làm gần, còn đứa kia thì làm tận Pakistan vào thời phân chia lãnh thổ nên không thể về thăm bà con.
        Những đứa trẻ mười năm trước đây mua diều của lão nay đã thành người lớn, đang lo kiếm sống, chẳng có thời gian để nghĩ đến lão và những hoài niệm của lão. Chúng đã trưởng thành trong thế giới cạnh tranh đang thay đổi nhanh chóng và thờ ơ với lão thợ diều chẳng khác gì với cây đa bên đường. Cả hai đều bị xem như là thứ cố định vĩnh viễn, chẳng liên quan gì đến cọng đồng chạy hung hục quanh họ. Không còn ai tụ tập dưới cây đa để bàn bạc chuyện này, dự định chuyện kia; chỉ trong mấy tháng hè, đôi khi có người ghé chút để tránh nắng trưa.
        Nhưng dỉ nhiên có thằng cháu nội của lão. Còn may lão có thằng con làm gần nhà, và con dâu ở với lão. Xem thằng bé chơi cũng vui. Nó giống như một cây non đang đâm chồi nảy lộc.
Có sự giống nhau giữa cây và người. Cả hai lớn lên cùng nhịp độ nếu không bị bỏ đói, bị hại hay bị chặt. Vào thời trẻ, cây và người đều xinh đẹp rạng rỡ, đến tuổi xế chiều, cả hai đều còng xuống, dường như để nhớ về quá khứ, cánh tay yếu đuối thì lộ ra ngoài nắng, và thở dài trút những chiếc lá cuối cùng.
        Lão Mahmood trông giống cây đa cổ thụ, tay lão sần sùi và vặn vẹo như rể cây. Thằng Ali giống như cây mimosa mọc ở cuối sân. Trong hai năm, cả cây lẫn thằng bé đã tràn đầy sức sống và niềm tin vào tuổi thanh niên tương lai.
        Tiếng động trên phố càng lúc càng nhỏ dần. Mahmood không hiểu mình có ngủ gật và, như thường khi, mơ về một con diều xinh đẹp và mạnh mẽ như con chim Garuda trong thần thoại Hindu. Lão muốn làm một con diều thật đẹp để tặng Ali. Lão chưa có gì để lại cho nó.
        Lão nghe văng vẳng tiếng Ali nhưng không biết nó đang gọi mình. Tiếng thằng bé dường như từ một nơi xa, rất xa.
        Ali đang ở trước sân, nó hỏi mẹ đi chợ về chưa. Khi thấy ông nội không trả lời, thằng bé đến gần, hỏi lại. Ánh nắng chiều chiếu nghiêng qua đầu lão, và một con bướm trắng đậu trên chòm râu của lão. Mahmood lặng yên, và khi thằng bé đặt bàn tay rám nắng của nó lên vai ông nội, nó chẳng thấy ông động đậy gì. Thằng bé nghe tiếng gì đó tựa như tiếng mấy hòn sỏi trong túi nó cọ nhau.
Đột nhiên nó sợ và quay bước ra cổng. Nó vừa chạy xuống phố vừa kêu mẹ.
        Con bướm rời râu ông lão bay về phía cây mimosa. Trên cây đa, đột nhiên có cơn gió mạnh, nâng con diều lên cao, xa khỏi thành phố hối hả vã mồ hôi, và đưa nó vào trời xanh bao la./.


RUSKIN BOND

Nguyễn Khắc Phước chuyển ngữ



READ MORE - LÃO THỢ DIỀU - Truyện ngắn của Ruskin Bond - Nguyễn Khắc Phước chuyển ngữ

NỤ HÔN QUÊN LẠI ! - thơ Vĩnh Thuyên




Anh vội đi nụ hôn quên lại
Em vụng về để nắng chiều say
Ơi!  sông Thương hai làn trong đục
Chảy chung dòng nửa đắng nửa cay

Gọi là Thương không thương sao nhớ !?
Nhớ nên buồn hết giận lại thương !
Đêm bến sông đâu đây tiếng vọng
Thuyền xa rồi ..  bờ mãi ngóng trông

Anh không về nụ hôn quên lại
Em thẫn thờ để gió vụt bay...!

VĨNH THUYÊN
duongvinhthuyen@gmail.com
READ MORE - NỤ HÔN QUÊN LẠI ! - thơ Vĩnh Thuyên

TRƯỜNG XƯA ƠI ! - thơ Vũ Miên Thảo




xa thầy - xa bạn - xa trường
mười năm, lưu bút còn hương học trò
tháng xưa
ngày ấy mưa to
trăm bờ mi ướt, tơ vò… rưng rưng
run môi
nghẹn tắt giữa chùng
nửa câu thơ rớt, ngập ngừng phức âm
ngoài hiên có tiếng thì thầm
cố lên…
khoảnh khắc ba năm gió lùa
chạm hồn
hoa phượng đong đưa
mùa… như dao cắt cho vừa giọng ve
giở thêm nữa những ngày hè
miên man hoài niệm thắt the nỗi đời!
trường xưa ơi - thầy, bạn ơi!...

 VMT 

(1971 -  15-11-2012)
vumienthao@gmail.com
READ MORE - TRƯỜNG XƯA ƠI ! - thơ Vũ Miên Thảo

Thursday, November 22, 2012

CHO MỘT NGƯỜI NẰM XUỐNG - Phạm Xuân Dũng



                                                                         
              Chớp mắt Trịnh Công đã thành người thiên cổ!

              Tin ấy như chớp giật ngang trời, như sóng, như gió lan ra khiến hàng triệu người trong và ngoài dải đất hình chữ S này bàng hoàng, sửng sốt.Vẫn biết không ai nằm ngoài vòng sinh tử, nhưng khi con người khổng lồ trong âm nhạc ấy bỏ chúng ta mà đi, đi mã, thì khoảng trống mênh mông ấy để lại  biết lấy gì bù đắp. Trên bao la thảo nguyên ký ức, gió sẽ còn ào ạt thổi từ đây cho đến mai sau dọc miền thương nhớ. Gió sẽ làm khô đi bảy nắm cơm gọi hồn như bảy nốt nhạc trong đời người nhạc sĩ thiên tài. Những nắm- cơm - lòng - hóa - đá ấy sẽ được các thế hệ chuyền tay nhau như các bộ lạc thời cổ  giữ lửa truyền từ đời này sang đời khác. Ngọn lửa âm nhạc ấm áp tình người mà Trịnh Công Sơn đã từng nhen nhóm và để lại chắc sẽ làm cho thế giới này bớt mông muội, u mê, thù hận.Khi hay tin dữ, những người yêu quý Trịnh không ai bảo ai đều tự nguyện tìm đến với nhau như một lẽ thường tình không thể khác. Họ lại với nhau, ngồi gần bên nhau, ngồi xích lại gần hơn chút nữa để cuộc đời bớt cô đơn, giá lạnh. Họ tưởng niệm nhà nghệ sĩ kỳ tài, kỳ lạ như được nứt ra từ khí thiêng trời đất, đã vỗ về và cứu rỗi triệu triệu con ngươì bằng âm nhạc suối nguồn tinh lọc. Trong bập bùng tiếng đà , tiếng hát, có gì nghèn nghẹn nơi ngực trái, bất giác lòng người tự hỏi :"Khi sống, nhạc sĩ đã nối vòng tay lớn, và khi chết thì ngay cả sự mất mát lớn lao ấy cũng đã nối kết, dìu dắt con người gần lại với nhau hơn." Nghịch lý chăng khi Trịnh Công Sơn đã băng bó và cứu sống bao người bằng tiếng ca của người hát rong đạt đạo; vậy mà khi ngã bệnh, hình hài ấy đã vội sớm ra đi, dù y học và các thầy thuốc đã làm hết sức mình. Chỉ còn biết tự an ủi rằng, hình hài mảnh khảnh ấy đã cưu mang một trái tim quá lớn lao chất chứa cả thế gian với ức triệu phận người du ca qua sáu mươi năm có lẻ đã là một kỳ công vượt quá sức người. Để rồi "những hẹn hò từ nay khép lại. Thân nhẹ nhàng như mây..." không còn là "thí dụ bây giờ tôi phải đi..." như Trịnh Công Sơn thường "lỡ lời" dại miệng. Ngôi nhà trọ trần gian từ chớp mắt ấy đã vắng đi Một - Người - Ở - Trọ.

             Tầm vóc âm nhạc Trịnh Công Sơn không thể đo bằng thước tấc thông thường trong không gian ba chiều quen thuộc mà phải bằng tốc độ ánh sáng, thứ ánh sáng đạo ca, nhiệm màu và nhân bản.Thưở nước nhà rạch đôi sông núi, chính chiến triền miên, nhạc sĩ đã ra đi từ lều cỏ, chứ không phải từ tháp ngà, để dấn thân và hóa thân vào nỗi niềm chung tang tóc, đổ nát, chia lìa. Ngày ấy, nửa nước Việt từ sông Bến hải trở vào xót xa trước bạo lực, hận thù phi nhân, phi lý. Trong tiếng gầm rú điên cuồng của đại bác ăn thịt người và ánh hỏa châu ma quái, Trịnh Công Sơn đã tất tả, vắt kiệt hồn mình, dựng nên những bức tường âm thanh tràn ngập tình thương đồng bào, đồng loại, chống đỡ bom rơi, đạn lạc. Người yêu nước - nhà nghệ sĩ Trịnh Công Sơn đã hành đạo bằng âm nhạc của mình, bốc thuốc cho những trái tim thương tật, mù lòa bị chiến tranh làm phận người méo mó. Họ xích lại gần nhau trong hầm trú ẩn, và nắm chặt tay nhau trong cuộc xuống đường. Cứ thế, âm nhạc của Trịnh là bà đỡ tinh thần thần quý báu, là người bạn tâm giao chung thủy. Nó lại như một thứ Kinh Nhật Tụng cầu hồn cho người đã chết và cả người đang sống, trong đôi cánh thiên thần bay ra khỏi cõi người để gần lại người hơn. "Đại bác ru đêm", "Hát trên những xác người", "Huế - Sài gòn -Hà nội", "Nối vòng tay lớn" và nhiều nữa ca khúc Da Vàng sẽ là nhật ký âm thanh của dân tộc này ngay cả khi chiến tranh không còn nữa. Đó là tiếng cuốc nhỏ máu đêm hè của hồn nghệ sĩ.

           Hát về tình yêu, âm nhạc Trịnh Công Sơn xứng danh là thiên sứ. Đối với chúng ta có vẻ như bài "Phôi pha" là" tục lụy" nhất, vậy mà cũng không hề lụy tục. Tình ca của Trịnh, sau khi dốc lòng nghiêng xuống cuộc đời, thì vẫn lãng đãng khói sương cõi khác, thanh tân và hướng thượng. Dẫu tình yêu còn vô vàn đổ vỡ, chia xa và cả những nỗi niềm gần như tuyệt vọng. Nhạc sĩ ru tình bằng lời ru tang bồng hồ thỉ, rằng cứ đi trong "Hạ trắng" "Mưa hồng" rồi "chợt hồn xanh buốt" khi soi lại mình nhìn thấy một "Diễm xưa". Tình ca của Trịnh đưa hồn người đi rất xa chỗ mình đang đứng, sống với nhiều tâm trạng, cuộc đời trong âm thanh huyền nhiệm, như người xưa ngả lưng trên chiếc gối đạo sĩ chờ nồi kê sắp chín. Tình ca như thế gần gũi với thánh ca, hay nói cách khác đó chính là thánh ca của tình yêu. Một điều lạ nữa là cỏ cây, hoa lá, sỏi đá, mùa màng trong tình ca hầu như đều nhuốm linh hồn. Phép màu nghệ thuật ấy hình như hàng trăm năm Tạo hóa mới ban tặng cho một đôi người.

             Tình ca Trịnh Công Sơn đã thăng hoa nhiều tinh hoa triết học và tôn giáo như "Cát bụi", "Dấu chân Địa đàng", "Phúc âm buồn", "Ở trọ", " Đóa hoa vô thường"... và sẽ là tặng vật âm thanh gối đầu giường nhiều thế hệ Việt nam.Thứ âm nhạc mang nặng chất thiền chỉ có thể rung động hết lòng bằng tâm cảm đã đắp bồi thần tượng Trịnh Công Sơn trong lòng đông đảo tín đồ nghệ thuật. Hiện tượng hiếm hoi này sánh ngang ảnh hưởng của Truyện Kiều thưở trước. Ngày xưa người ta đọc Kiều , lẩy Kiều , bói Kiều.Ngày nay người ta hát và nghe nhạc Trịnh Công Sơn.

           Đành nói lời chia tay với người "Ở Trọ " đã đi vào cõi vô sinh vô tử, đã về trên cao ấy. Người nhạc sĩ đã dâng hiến hết mình, sống trọn vẹn cho Đời và Đạo. Đời người thì hữu hạn mà nghệ thuật thì vô cùng, nhất là khi nghệ thuật biết hít thở như con người, vì con người mà sinh sôi, nảy nở  Này, người du ca anh em, dù rong ruổi, phiêu bồng cùng trời cuối đất, vẫn phải nhớ ghé lại trần gian dù chỉ một lần, dù chỉ một lần thôi.Và hát ...

                                                                         Đông Hà , 3/4/2001 
PHẠM XUÂN DŨNG
Đài PT TH Quảng Trị
ĐT: 0985 972 975
dpthachthao@gmail.com
READ MORE - CHO MỘT NGƯỜI NẰM XUỐNG - Phạm Xuân Dũng

Kha Tiệm Ly - HOÀNG SA TIẾU NGẠO PHÚ

Tác giả KHA TIỆM LY



Tưởng rằng,

Tổ tiên có lắm bậc đại hiền,
Tử tôn ắt nhiều người cao đức.

Ngờ đâu,

Cây cha thẳng, mà tủa cành, nhánh cong queo,
Giống mẹ lành, lại trỗ trái, hoa đắng nghét!
Thương cho các ông thầy Lão Đam, Mặc Địch, Khổng Khâu,
Lại có mấy thằng trò Bàng Quyên, Hòa Thân, Hòa…Thiết (!)
Lời cũng như sách, đều dạy phong ngôn hòa ái, khiêm cung,
Mặt dẫu giống người, nhưng quen dã tính hung hăng, tàn ác.
Với kẻ thù, mi quen tuồng làm tớ làm tôi,
Với đồng bào, mi giở thói sát nhơn sát đức!

Đạo đức thì,

Làm thức ăn bằng giấy cac-tông,
Chế thuốc uống bằng đồ bá nạp!
Xem con người như chó như heo,
Coi mạng sống như rơm như rác!

Chí khí thì,

Dân hàng trăm triệu (1), mà chịu bại dưới vó ngựa Mãn, Mông,
Quân mấy mươi muôn (1), mà đầu hàng trước gót giày Anh, Nhật!
Để chúng lấy Giang Bắc nhanh như trở mặt bàn tay,
Để chúng chiếm Giang Nam dễ như lấy đồ trong bọc!
Mất muôn dặm đất (1) mà  còn chẳng chịu hèn?
Đọa trăm triệu dân (1) mà lại chưa biết nhục?

Ôi!

Thẹn cho đất rộng nghìn vuông,
Tủi cho núi cao ngàn thước!
Trên đầu lột mũ cánh chuồn, bỏ hết cổ trang,
Nửa sọ thắt tóc đuôi sam, tuân theo tân pháp!
Mỏi gối vì câu “vạn tuế” mà bỏ nước bỏ dân,
Trẹo lưng bởi kiếp “nô tài” nên quên vinh quên nhục!

Chẳng trách,

Tình đồng chí vừa mới quen tai,
Câu hảo bằng còn chưa ráo mực!
Cắt cáp tàu, không chừa thói cuồng ngông,
Cướp hải phận , lại ló mòi láo xấc!
Vạch đường Chữ U (2), đúng là lưỡi mối miệng lằn,
Nói câu hữu nghị, khác chi tâm xà khẩu Phật!

Nầy bọn mi!

Chớ huênh hoang mà lấy thịt đè người.
Đừng khờ dại mà lấy gươm chém sắt!
Hoàng Sa ta còn trăm triệu anh em, chỉ cách có mấy giờ bay,
Hoàng Sa ta còn hàng vạn kiều bào, chỉ cách nửa vòng trái đất.
Nếu mi liều lĩnh cho hỏa tiễn rời giàn,
Thì ta lập tức quay thần công nhả đạn!
Hàng vạn tấm lòng đang náo nức hồi hương,
Hàng trăm con tàu đang sẵn sàng rẽ nước!
Lãnh thổ, lãnh hải, xưa nay đâu phải một bận tranh cường,
Bọn ta, bọn mi, đến giờ cũng đã bao phen so đọ sức?

Nhớ chăng?

Chèo Ngô Vương sụt sôi sóng nước, dìm xâm lăng dưới đáy Bạch Đằng,
Gươm Thường Kiệt sang sảng lời thơ, truyền tuyên ngôn bên bờ Như Nguyệt.
Đánh đường núi, thây chất kín đèo,
Đánh đường sông, dòng trôi nghẽn xác!
Tiếng quân hò rung chuyển Ải Nam Quan,
Khí thế dậy lung lay thành Kinh Bắc.
Mới nghe tên, đã sợ mất thần hồn,
Nhác thấy bóng, vội chạy bung đầu tóc!

Vì thế,

Thấy cây nhọn, ngỡ cọc Bạch Đằng, rồi bịt mắt ôm tim,
Thấy sắc đỏ, tưởng nước Hồng Hà, vội lấy tay bưng mặt!
Thấy yếm đào, nhớ hồn ma Lục Dận chợt kiêng hùng khí Triệu Nương;
Vào hiểm địa, nhớ mồ tổ Liễu Thăng bỗng sợ thần oai Lê Sát!
Nếu ta lại đem Mã Yên ra dọa, ắt  mặt lắm kẻ xanh lè,
Nếu ta còn đem Tốt Động ra  đe, chắc môi bọn mi tím ngắt!

Mới đây thôi,

Ngụy Văn Thà theo tàu tuẩn tiết, chữ DŨNG còn ghi,(4)
Trần Đình Phương vì đảo hi sinh, chữ TRUNG mãi nhắc.(5)
Xem tử sinh là hạt bụi, sợi lông,
Đặt chí khí như tấm gang, lá thép!
Khè lửa mạnh mới biết vàng thau,
Đọ sóng dữ mới hay hào kiệt!

Xưa nay,

Kế hành binh ngoài chỗ dựa quân cơ,
Giành thắng lợi cốt nhằm vào nhân đức.

Huống chi ta,

Bên sau, lớp lớp nhân dân đang ngụt chí diệt thù;
Phía trước, hàng hàng chiến sĩ quyết đồng lòng giữ nước.
Gươm tôi đúng lửa, hào quang lòe ba cõi quỉ thần,
Binh dụng phải thời, hùng khí át hai vầng nhật nguyệt!

Còn mi,

Tay bốc tay hốt, sao không tu tánh sửa mình,
Trước bại sau thua, sao chẳng kiêng oai nể mặt?
Nếu mi ngoan cố còn vẽ “lưỡi bò”, (3)
Thì ta quyết tâm luôn tung kiếm thép! (3)
Với chúng ta mà dám dựa pháo, cậy tàu,
Thì bọn mi sẽ tự lấy phân bôi mặt!

Một mai,

Dù cho gió đổi màu mây,
Dù cho máu pha màu cát.
Hoàng Sa ta cũng không cho mi lượm viên sỏi của Duy Mộng, Quang Hòa,
Hoàng Sa ta cũng không cho mi lấy… phân chim của Cam Tuyền, Vĩnh Lạc.(6)

Đó là công lao cha mẹ ta, dựng nên một dải sơn hà,
Đó là xương máu anh em ta, giữ yên ba miền tổ quốc.
Ta giữ nước bằng mưu trí thần sầu,
Ta giữ nước bằng chiến công oanh liệt!
Ta giữ nước bẳng một dân tộc anh hùng,
Ngươi “giữ nước” bằng dãy trường thành khiếp nhược!!

Cảm khái câu:

“Thà làm quỷ nước Nam”;
Hơn làm vua đất Bắc”.

Hoàng Sa ta,

Thân dựa mũi gươm,
Ngựa treo đầu giặc.
Đem xương gởi ở chiến trường.
Lấy máu giữ từng tấc đất.
Hẹn với lòng một nhục một vinh,
Thề với giặc một còn một mất!
  
Nhớ cho,

Coi mặt mà bắt hình dong,
Hối hận bây giờ còn kịp!
Bút thép lời gang,
Hoàng Sa hạ bút!

KHA TIỆM LY
khatiemly@gmail.com


CHÚ THÍCH:

(1) Những con số minh họa. Tượng trưng cho nhiều, lớn.
(2) Đường Chữ U hay Đường Lưỡi Bò, là vùng biển mà Trung quốc tự khoanh vùng, rồi đòi làm hải phận cho mình
(3) “lưỡi bò”, “kiếm thép”. (Tác giả không viết hoa “Lưỡi Bò”) dụng ý… “chơi chữ”!
(4) Sự kiện, năm 1974: Khi tàu HQ-10 bị địch bắn cháy, Hạm trưởng Ngụy Văn Thà  tuẩn tiết theo tàu.
(5) Sự kiện năn 1988, Trung úy Trần Đình Phương trước lúc hi sinh, nói: “Thà hi sinh, chứ không để mất đảo!”
(6)Tên những đảo trong QĐ Hoàng Sa./.
READ MORE - Kha Tiệm Ly - HOÀNG SA TIẾU NGẠO PHÚ