Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, September 13, 2012

TỪ BÀI THƠ TRÒ CHUYỆN VỚI THÚY KIỀU, NGHĨ VỀ HIỆN TƯỢNG THƠ LÝ PHƯƠNG LIÊN - Nguyễn Văn Hòa

Nhà thơ LÝ PHƯƠNG LIÊN
                                                                                         
Thơ Lý Phương Liên có thể kể ra một số bài thơ hay như: Lời ru với anh, Ca bình minh, Em mơ có một phiên tòa được bạn đọc yêu mến (từng chép vào sổ tay mang theo đến các chiến trường trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước). Nhưng nếu được chọn bài thơ hay nhất của chị, theo chủ quan cá nhân tôi, tôi sẽ chọn bài Trò chuyện với Thúy Kiều (bài thơ này lúc đầu có tên là Nghĩ về Thúy Kiều, đăng trên Báo Văn nghệ năm 1970). Tôi chọn bài này là hay nhất bởi nhiều lẽ: đây là bài thơ “lạ” -chứa đựng tình yêu thương con người một cách mãnh liệt nhất, chân thành nhất, ở đó người viết bày tỏ tình cảm, cảm xúc của mình một cách trung thực, thành tâm như chính con tim mách bảo. Trước những tổn thất lớn của gia đình, trước nỗi đau hiện tại chị đã trải lòng mình với mong ước được chia sẻ, cảm thông, thấu hiểu hơn về tình đời, tình người. Do vậy bài thơ giàu tính triết lý và giàu giá trị nhân văn. Với Trò chuyện với Thúy Kiều đã cho thấy đây là một giọng thơ lạ, trong trẻo, dũng cảm cất lên một cách hồn nhiên- lời thơ giống như lời trò chuyện, lời nói hàng ngày, mang đậm dấu ấn cá nhân và không thể lẫn lộn với bất cứ một nhà thơ nào khác. Nhưng cũng chính bài thơ Trò chuyện với Thúy Kiều này mà đã gây bao hệ lụy cho chính nhà thơ và gia đình. Để rồi nữ sĩ tài hoa Lý Phương Liên “đi không ai biết, về không ai hay” suốt 40 năm qua. Và đây được coi là một hiện tượng đặc biệt của nền văn học Việt Nam hiện đại.
Từ Trò chuyện với Thúy Kiều, ta thấy rằng Lý Phương Liên là một người phụ nữ có cá tính, một người dám sống, dám nói hết những gì khổ đau đang diễn ra với chính bản thân mình, với những người xung quanh và với những gì đang hiện hữu, đang tiếp diễn ở cuộc đời này. Mà đã dám nói như thế có nghĩa là chị có đủ can đảm và nghị lực để vượt qua.
Em tuổi hai mươi như tất cả mọi người
Chọn số phận thời mình đang sống
………………………………………
Tuổi hai mươi không tin vào định mệnh
Định mệnh là đối thủ tiến công
Lòng nhân ái, sự bao dung, biết vượt lên trên số phận, tin tưởng vào tương lai là nét nổi bật ở thi sĩ Lý Phương Liên.
Những năm 70 của thế kỉ trước, ở thời buổi khó khăn chồng chất khó khăn, mỗi người tự nuôi sống bản thân mình đã là khó. Vậy mà với nhà thơ Lý Phương Liên không những lo cho mình mà chị phải cáng đáng với vai trò người trụ cột trong gia đình để nuôi 5 chị em. Trong vai trò của một người mẹ, một người cha, một người chị cả để chăm sóc, nuôi nấng, giáo dục đàn em nhỏ của mình. Điều ấy thật đáng nể phục vô cùng.
Mà tâm lý con người ta khi khó khăn thường hay than vãn cũng là điều dễ hiểu. Than vãn rồi chán nãn, chùn bước, đầu hàng số phận mới là điều đáng sợ. Đằng này chị dám nói những sự thật, đồng thời chị cũng đã có những triết lý sâu sắc về cuộc đời và những dự cảm về cuộc đấu tranh gian khổ của dân tộc, niềm tin tưởng chắc chắn vào tương lai- đất nước sẽ thống nhất, đất nước sẽ giành được độc lập. Ngay ở thời điểm năm 1970 mà chị có dự cảm như vậy thì đáng khâm phục quá. Chỉ có điều đáng tiếc rằng, bài thơ ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử mà nó khó có thể sống bởi những yêu cầu nghiệt ngã của thời đại, với những ràng buộc về mặt tư tưởng, đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng. Ở thời kỳ này, văn học phải có nhiệm vụ cổ vũ, động viên, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ca ngợi tinh thần chiến đấu anh dũng của quân và dân ta, ghi nhận những chiến công hiển hách của các trận đánh, những thắng lợi của công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc, ca ngợi Đảng, ca ngợi Bác Hồ…
Vì vậy, khi bài thơ Trò chuyện với Thúy Kiều (Nghĩ về Thúy Kiều) được đăng trên Báo Văn nghệ (1970) thì lập tức ngay sau đó đã bị phê phán, bị “đánh” tơi bời. Vì cho rằng Lý Phương Liên đau đáu tư duy về thân phận nàng Kiều, kêu than cho số phận mình, cho số phận của những người phụ nữ Việt Nam thời hiện đại, cho những điều bất công ngang trái, gieo mầm bi quan yếm thế làm nản chí người trai trẻ đang ra trận …
Trong bài:  “Dòng thơ trẻ cần mang những tình cảm và tâm hồn của thời đại” (Đăng trên Báo Nhân Dân ngày 29/12/1970), nhà thơ Hoàng Trung Thông đã kịch liệt lên án  bài thơ Trò chuyện với Thúy Kiều: “Rắc rối, cầu kỳ trong diễn tả, yếu đuối, sướt mướt trong tình cảm, bi quan tăm tối trong tư tưởng. Lý Phương Liên hình như cũng muốn từ một cảnh ngộ riêng mà vươn đến sự trong sáng. Nhưng những gian nan, mất mát đè nặng trên người cứ được tô đậm lên mãi trong thơ, càng làm cho bài thơ chìm đắm trong xót xa, trong tiếng kêu rên, và nếu như tác giả muốn “thét lên”, thét lên nữa thì đó cũng chỉ là tiếng thét của sự bất lực. Tự minh vận cho hoàn cảnh Thúy Kiều đã là một chuyện không nên về lạc lõng, đặt vấn đề “định mệnh” ra để chống định mệnh lại là một tư tưởng lỗi thời. Tác giả nói “Tuổi hai mươi không tin vào định mệnh. Định mệnh là đối thủ tiến công”. Nhưng thực ra thì tư tưởng định mệnh đã như sợi dây vô hình trói chặt lấy người mình và tác giả cứ phải giãy giụa kêu lên thảm thiết với những nào “gõ cửa cuộc đời” (Cuộc đời nào?), những nào “tự mình giải phóng”, “tự cứu”, với thứ triết lý vu vơ “không ngọt êm mới là hạnh phúc”. Hình như tác giả đã đặt nhầm nơi và không thấy rõ hết bản chất của chế độ ta. Nghĩ về Thúy Kiều có một khoảng cách khá xa về tư tưởng và tình cảm với những bài trong sáng khác của Lý Phương Liên. Đó là một dòng đục đã chảy lẫn vào dòng suối thơ trong trẻo tươi mát của tác giả. Lý Phương Liên, qua bài Nghĩ về Thúy Kiều, chưa đặt mình trong hoàn cảnh chung của nhân dân và dân tộc, mà nâng mình lên tầm cao của cách mạng. Cái đau khổ của riêng cá nhân dẫu sao cũng chỉ là rất nhỏ so với sự hy sinh vĩ đại và sự anh hùng cao cả của nhân dân và dân tộc. Chỉ ngồi than thở với cảnh ngộ cá nhân thực tế là đã tự hạ thấp mình xuống”.
Việc phê phán và quy kết như vậy tôi cho là hơi quá đối với một hồn thơ trẻ tài năng. Vì rằng trong Trò chuyện với Thúy Kiều, Lý Phương Liên than thở với số phận khổ đau, bất hạnh của gia đình mình, của chính mình cũng có nghĩa là chị đang khao khát và mơ ước về hạnh phúc. Vì không ai trên đời này không mong cầu hạnh phúc. Cầu mong hạnh phúc và đi tìm hạnh phúc là dấu hiệu nhận biết sự lành mạnh của mỗi người. Với tấm lòng của một con người vốn nặng nợ với đời, nhà thơ lại chạnh lòng với mảnh đời bất hạnh của Thúy Kiều, Đạm Tiên. Lòng lại đau khi nhân dân mình, dân tộc mình với cuộc mưu sinh đầy gian khó.
Trước hiện thực cuộc sống đa diện, đa chiều qua cái nhìn của Lý Phương Liên đã hiện lên bức tranh đời sống với nhiều đa đoan, nhức nhối:
Hai trăm năm và chảy dài vô tận
Thúy Kiều ơi nàng sống tháng năm dài

Trái đất chúng mình cho đến hôm nay
Vẫn còn những cuộc đời như nàng chìm nổi
Thời gian còn nửa ngày là đêm tối
Còn đồng tiền đổi trắng thay đen
Còn sắc tài bạc mệnh với hờn ghen
Còn những Mã Giám Sinh, Hoạn Thư, Hồ Tôn Hiến
Còn những đất đai triền miên chinh chiến
Thúy Kiều ơi nàng sống tháng năm dài …
Vâng! Những gì nhà thơ nói đến ở đây là có thật. Một sự thật hết sức đau đớn và nghiệt ngã. Đó là nỗi đau thân phận, nỗi đau kiếp người mà có lẽ ở xã hội nào, thời đại nào cũng có. Có ai dám chắc rằng trong xã hội sẽ không có những hạng người như Tú Bà, Mã Giám Sinh, Hoạn Thư, Hồ Tôn Hiến …? Có ai dám khẳng định rằng đồng tiền sẽ không có những mặt trái của nó? Đồng tiền có thể mua quan, bán tước, thay đen đổi trắng, đồng tiền có thể làm chao đảo mọi giá trị thang bậc, chuẩn mực đạo đức. Ai dám bảo đã không còn sự ganh ghét, đố kỵ về tài năng và nhan sắc? Ai dám bảo sẽ không còn cảnh đày đọa, bức hiếp những kiếp người, phận người bé mọn trong cõi nhân sinh này? …
Nhưng vẫn còn đó niềm tin và khát vọng vươn lên, không chịu đầu hàng số phận
Em bước lên gõ cửa cuộc đời
Đời của tôi ơi
Em mở rộng vòng tay đón
Hỡi trời cao đất rộng
Bằng những trải nghiệm và sự tinh tế, nhạy cảm của người nghệ sĩ; Lý Phương Liên đã đưa ra những triết lý sâu sắc về cuộc đời, về lẽ sống.
Đời bao nhiêu sắc màu, bao cung bậc âm thanh
Sắc màu nào chẳng vẽ nên tranh
Cung bực nào chẳng thành thơ, thành nhạc
Đại dương nào ẩn trong màu nước biếc
Chẳng sóng ngầm, mắt bão với phong ba
Không có con đường nào toàn bóng mát và hoa
Không có vùng trời nào toàn chim hót
Không có cây khế vàng trong cổ tích
Kho báu cũng không, dù có mật khẩu vừng …
Sự ra đi vĩnh viễn của người cha và cái chết bi thảm của người mẹ là một tổn thất lớn lao đối với gia đình nhà thơ. Nhưng không vì thế mà Lý Phương Liên buông xuôi, chán nản, an phận hay sợ hãi. Chị vẫn nhớ lời dặn dò thiêng liêng của người mẹ đã quá cố. Chị quyết phải sống, phải vượt lên đau thương chết chóc:
Em đón nhận đời em sau một thoáng hãi hùng
Chôn mẹ, nuôi đàn em thơ dại
An phận ư? Mơ hồ sợ hãi
Sống vẫn là lời mẹ dặn thiêng liêng …
Con đường để đạt được những giá trị người, giá trị sống tốt đẹp phải trải qua khổ ải, đau thương. Đặc biệt là trong lúc chiến tranh ác liệt, cái chết luôn rình rập và có thể ập đến bất cứ lúc nào. Biết vượt lên chết chóc đau thương mới là người!
Trên chết chóc muốn dập vùi
Trên đau thương mới là người, người ơi …
Là người con sinh ra và lớn lên trong khói lửa của chiến tranh nên Lý Phương Liên ý thức sâu sắc trách nhiệm của một người công dân trước thời cuộc.
Tuổi hai mươi không nơi nào có được
Tôi sinh ra giữa cơn lốc xoáy tròn đất nước
Vai gánh nặng cuộc chiến tranh hủy diệt
Mỗi người dân đều nhận phần mất mát
Chia đều nhau bom đạn với cơm ăn
Lý Phương Liên đã nói lên được vấn đề lớn của dân tộc. Niềm đau riêng đã hòa trong cuộc đấu tranh chung, trong những mất mát của cả dân tộc.
            Chiến tranh, quê hương, thân phận con người cuộn xoáy vào nhau tạo thành một bi kịch. Chiến tranh là khổ ải, là chết chóc, là phải sống trong cảnh xương tan thịt nát. Nhưng Lý Phương Liên không trầm mình trong đau thương mà xem đó là động lực để chị tiến bước. Đó là nguyên tắc sống của chị.
Dù mang nặng nỗi đau thân phận và nỗi buồn nhân thế nhưng thơ chị vẫn tha thiết yêu thương, vẫn giữ được vẻ đẹp trong trẻo, giàu nhân ái và hướng về tương lai tươi sáng.  Chị đã ý thức sâu sắc trách nhiệm của mình “Số phận mình là số phận của nhân dân”. Nhà thơ đã tự nguyện hòa nhập vào quần chúng, nói lên tiếng lòng của quần chúng. Phải biết chấp nhận đau thương, vượt qua gian khó, hiểm nguy để đạt được mục đích đã định: “sẽ lên bờ vào một ngày nắng đẹp”
Số phận mình là số phận của nhân dân
Soi gương đời nhìn thấy hết gian truân
Thấy hết gian truân để mà cười, mà sống …
Đường ra biển có thể dài năm tháng
Mất mát nhiều hơn, gian khổ cũng nhiều hơn
Nhưng một điều chắc chắn phi thường
Chúng tôi sẽ lên bờ vào một ngày nắng đẹp …
Bằng cách nói ẩn dụ, nhà thơ có những dự cảm về tương lai tốt đẹp của dân tộc. Và dự cảm ấy nó trở thành hiện thực vào mùa xuân năm 1975- đất nước đã rộn tiếng ca vui, Bắc-Nam sum họp một nhà, giang sơn đã thu về một mối, cả dân tộc sống trong cảnh thanh bình, không còn đạn bom và khói lửa chiến tranh.
“Lý Phương Liên đã có những suy ngẫm đích thực và xoáy sâu về thân phận con người, về trách nhiệm sống thực sự của con người trong cộng đồng xã hội, khi mà “Số phận mình là số phận của nhân dân””. (Nguyễn Anh Tuấn).
Vì vậy, Lý Phương Liên quyết không chịu chết, không chịu đầu hàng số phận, không tin vào định mệnh.
Sông Hồng đó, nọ Hồ Tây
Chết trong nước cuốn có ngày nổi lên
Kiểu gì chết cũng thấp hèn
Kiểu gì chết cũng làm hoen ố đời
Trên chết chóc muốn dập vùi
Trên đau thương mới là người, người ơi …
…………………………………….
Tuổi hai mươi không tin vào định mệnh
 Định mệnh là đối thủ tiến công
Dù có thế nào đi chăng nữa cũng phải sống, sống cho đúng nghĩa với cái gọi là người, sống cho đúng lương tâm, trách nhiệm và nghĩa vụ của người công dân chân chính. Vì nếu đầu hàng số phận, nếu chết kiểu gì cũng là hết, là hèn. Những suy nghĩ và hành động cao cả của cô gái trẻ Lý Phương Liên trong những năm tháng gian khó và hào hùng ấy thật đáng quý và đáng trân trọng biết bao. Dường như những bất hạnh và mất mát của gia đình cùng với không khí thời đại đã thôi thúc chị viết bài thơ đặc biệt này.
Nói như nhà văn Triệu Xuân trong bài viết: Trò chuyện với Thúy Kiều- Bài thơ hay nhất của Lý Phương Liên: “Lý Phương Liên làm thơ vào thời của những khẩu hiệu, những phong trào, những hành khúc, chỉ được nói đến chiến thắng, ca ngợi sự hy sinh vì chiến thắng, không chấp nhận nói về nỗi đau buồn, mất mát, về số phận, về định mệnh hay là những thứ tư tưởng dễ khiến người ta ý thức về cá nhân, về quyền của cá thể … Chị biết điều đó nhưng lại rất dũng cảm- dũng cảm chứ không phải khờ, phải liều, cứ nói những gì hồn mình, trí tuệ mình thôi thúc. Đơn giản là không có gì kiểm soát, lèo lái được. Không ai có thể trói buộc được tình cảm và trí tuệ con người”.
Tai nạn nghề nghiệp là cái rủi cho nhà thơ Lý Phương Liên nhưng lại là cái may cho nền văn học nước nhà. Vì có thêm được bài thơ hay, thêm được một giọng thơ lạ và độc đáo.
Số phận của Trò chuyện với Thúy Kiều làm chúng ta chợt nhớ đến số phận những bài thơ như: Màu tím hoa sim (Hữu Loan), Tây Tiến (Quang Dũng) và gần hơn là bài Lá diêu bông của Hoàng Cầm … Đáng buồn là một thời đã bị đối xử không công bằng, quy kết này nọ để rồi những người sản sinh ra những đứa con tinh thần ấy phải gánh những hệ lụy không đáng có. Nhưng qua sự sàng lọc, kiểm chứng của thời gian những gì là sự thật, là giá trị đích thực của văn chương đều được thừa nhận. Và rồi, điều đáng mừng là những bài thơ ấy, tên tuổi ấy đã được trả về vị trí xứng đáng nhất.

Nếu lúc ấy Lý Phương Liên không cho ra đời đứa con tinh thần Trò chuyện với Thúy Kiều thì có lẽ đời thơ của chị sẽ suôn sẻ. Và nếu như lúc đó khi Trò chuyện với Thúy Kiều đã bị phê phán thì chị sẽ có phản ứng ngược lại hoặc là chị quay trở lại viết theo phong cách như những bài thơ được ca ngợi trước đó thì có lẽ cũng là điều bình thường chẳng có gì đáng nói. Đằng này sau sự kiện bị “đánh”, chị đã im hơi lặng tiếng trên thi đàn. Sự im lặng, sự vắng bóng của một hồn thơ tài hoa Lý Phương Liên trong khoảng thời gian dài ấy đã đặt ra nhiều nghi vấn. Có phải có một nhà thơ Lý Phương Liên thật không? Hay chỉ là một cái tên tự tạo? Và đến hơn 40 năm sau khi tập thơ “Ca bình minh” ra đời (Nhà xuất bản Văn học, 2011), những người bạn yêu thơ một thời và thế hệ trẻ hôm nay mới biết rằng có một Lý Phương Liên ngoài đời, bằng da bằng thịt, đang hiện hữu giữa cuộc sống này.
Lý Phương Liên đã từng tâm sự: “Tôi nín lặng với thơ suốt 40 năm nay vì lời nguyền bỏ thơ của chính tôi, không vì bất cứ sự đe dọa, trù dập hay bất cứ áp lực nào khác. Mọi hệ lụy xô đẩy chúng tôi đến bần hàn và cơ cực không liên quan đến bất kỳ cá nhân nào, quyền lực nào. Mọi ảo thực, tốt xấu tôi tự mình chịu trách nhiệm, không than oán bất kỳ ai, về bất cứ điều gì”.
Lời tâm sự dài trong Trò chuyện với Thúy Kiều cứ réo rắt gieo vào lòng người đọc những tình cảm hồn nhiên, chân thành, mộc mạc nhưng cũng giàu tính triết lý về lẽ sống, niềm đau, nỗi bất hạnh có cả những dự cảm về tương lai và ước mơ về hạnh phúc trên cuộc đời này.
Chúng ta mở cửa cuộc đời
Và cầm lái con thuyền nhân định
Giữa biển lớn thuyền ta lướt đến
Sáng toàn thân, ánh sáng của con người
Những mất mát trong cuộc sống gia đình và những bất công của cuộc đời, của số phận đã cho nhà thơ Lý Phương Liên những bài học xương máu, những giá trị đích thực của cuộc đời.
Sự xuất hiện trở lại của nhà thơ Lý Phương Liên trên thi đàn sau 40 năm vắng bóng đã là một điều đáng quý và đáng trân trọng. Càng đáng quý và đáng trân trọng hơn nếu bạn đọc hôm nay được thưởng thức những bài thơ mới và hay của chị như bài Trò chuyện với Thúy Kiều. Với một thời gian dài im lặng, chắc chắn chị ấp ủ nhiều điều và hồn thơ chị đã đến độ chín về cảm xúc nên có lẽ chị sẽ viết được nhiều thơ hay. Công chúng yêu thơ và bạn đọc có quyền hy vọng và chờ đợi về tài năng và sức sáng tạo của nhà thơ tài hoa này./.

Nguyễn Văn Hòa
Giáo viên Trường phổ thông cấp 2-3 Xuân Phước
huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên  
Điện thoại: 0984.833.247                       
Email: nguyenvanhoaphuyen@gmail.com
                                                                                          
READ MORE - TỪ BÀI THƠ TRÒ CHUYỆN VỚI THÚY KIỀU, NGHĨ VỀ HIỆN TƯỢNG THƠ LÝ PHƯƠNG LIÊN - Nguyễn Văn Hòa

Huy Uyên - LỜI CUỐI CHO TÌNH PHỤ


1-

Bởi vì em có đôi mắt buồn
khi bỏ đi mà lòng không nỡ
Để rồi mang theo tiếc nhớ
theo nỗi đau chôn chặt mãi đời tim  .

Đã bao lần tôi ngờ em dại dột
em dụ dỗ tôi đầy những vết đau
tôi ném vào em những cơn bão rớt
dặn lòng quên người mà có quên đâu  .

Mai sau tôi về thiên đường nhỏ
xin em dâng thánh lễ của hai mình
khóc cho chết đi nỗi sầu chưa hề có
bỏ lại cho nhau một khúc tuyệt tình  .

Cho đến trăm năm vẫn còn gọi mãi
đã tan rồi còn nỗi nhớ bao vây
sỏi đá cũng buồn hơn gió mưa bay
để ngậm ngùi ai giữ mây ở lại  .

Tôi yêu em đến cuối trời trần thế
đứng nhìn em mà lệ mắt của ai buồn
nửa chừng ai bỏ lại nụ hôn
rất xa và đi lặng lẽ  .

2-
Xót xa cho tôi đau đớn cho người
ôm mối tình si rồi đem trao ai đó
giờ mới biết người yêu tôi ? làm gì có
khóc thật lòng trên môi, người ơi !

Ngây thơ, dại cũng một lần với tôi
nhốt hoài niệm đầu đường cuối phố
đi ăn xin người để người cho đau khổ
cho đắng cay dành để lại với đời  .

Bài tình phụ cuối cùng người viết cho tôi
cám ơn tình nhân đào dùm huyệt mộ
treo trái tim tôi làm bia nhỏ
mong mai sau cho tôi chết bên người  .

Nỡ lòng chi người phụ hoài tôi
về bên Chúa mà lòng còn cay đắng
trái tim mồ côi mà tình đã cạn
lưu luyến chi chút tình nhỏ riêng tôi  .

Có đau thương khi xa mà không nói
có trải lòng để tôi nhớ người không
tôi quay đi vĩnh biệt nát tan lòng
khúc niệm tình trao người mà không tới ./.


Huy Uyên
READ MORE - Huy Uyên - LỜI CUỐI CHO TÌNH PHỤ

Wednesday, September 12, 2012

MỘT CHIỀU TRÔNG QUÊ - Trần Tư Ngoan


Mời anh chị em nhạc sĩ phổ nhạc.

Chiều quê Quảng Trị - Ảnh Đinh Thị Hiệp


Một chiều nương bóng quê
Một lần ta đứng nghe
thời gian bước qua hiên nhà
tìm nhặt ánh dương la đà
Lặng lẽ rời xa
Một ngày nơi dấu yêu
Ngàn ngày xưa lấm rêu
giờ vỗ sóng trong tâm hồn
người viễn xứ vui tương phùng
Rộn rã hoài mong
Ta về tìm thăm thời ấu thơ
ký ức về theo ngợp gió lùa
Tuổi hoa quá giang con thuyền giấy
sông cuốn chìm trôi đã mịt mờ
Chim về nhìn mây hồng lướt bay
xao xuyến cùng ta khoảnh khắc này
Làng thôn nấu cơm tung làn khói
lam bóng chiều đang đưa võng ngày
Một chiều trong cố hương
Một đời ta vấn vương
hồn quê chứa chan con đường
nằm quạnh dưới khóm tre làng
Nặng trĩu thời gian
Một chiều như giấc mơ
Mộng đời xanh với thơ
Lòng ta ngất ngây đâu ngờ
tình quê thắm hơn bao giờ
Ngàn thưở không nhòa .


              Ngãi Giao, tháng Chín, 2012
Trần Tư Ngoan
Điệnthoại: 01695931953- 0643961078
Email: trantungoan49@yahoo.com,  trantungoan@gmail.com
READ MORE - MỘT CHIỀU TRÔNG QUÊ - Trần Tư Ngoan

GỞI NGƯỜI CÕI NHỚ ... - Hoàng Yên Lynh


*Những năm tháng trên bước đường lưu lạc kiếm sống, tôi đặt chân đến Gành Hào, Bạc Liêu nơi miền đất phương Nam với những cánh đồng ngút mắt, với câu vọng cổ chạnh lòng người phiêu bạt ... Ở đó tôi đã gặp người bạn đời, người đã cảm thông chia sẻ và cưu mang đời tôi trong những tháng năm khốn khó. Những đêm dài bên ly rượu suông, bên ánh trăng vàng đục tỏa xuống cánh rừng tràm, đôi bạn già trẻ cùng sớt chia nỗi niềm tâm sự và những đắng cay của cuộc đời. Tôi một kẽ "phú qúy giật lùi, công danh lộn ngược ", ông một người cuối đời cô đơn bên chiếc đàn bầu. Đôi bạn già trẻ mưu sinh bằng nghề bốc vác ở bến cảng Gành Hào ... Rồi đến một ngày ông tiển tôi với lời ước hẹn  “đời chú còn dài, hãy tìm cho mình cuộc sống... Đoạn trường ai có qua cầu mới hay ... Nhớ lời tôi, cứ về lại đây khi đường đời gặp khốn khó ...".

Gần 30 năm tôi mới tìm về lại. Nỗi nhớ về ông vẫn nguyên vẹn trong tôi nhưng bước đường lưu lạc cứ đẩy tôi đi xa mãi ... Làm sao tôi có thể quên được người bạn cố tri, quên được tháng năm gian khó nhưng đầy ắp tình người phương Nam. Thời gian đã mang ông đi vào cõi vĩnh hằng, tôi trở lại chốn xưa. Cố nhân không còn nữa , cảnh xưa cũng đã khác nhưng hình ảnh ông, âm vang tiếng đàn bầu bên căn chòi lá, bên ly rượu trắng, bên tiếng sóng vỗ những đêm dài cô đơn vẫn khắc sâu trong tâm tưởng tôi. Tôi về đây, suy nghĩ về ông hàn ôn kỷ niệm và tôi vẫn tin rằng ở cõi xa vắng nào đó ông vẫn không quên ngày tháng cũ, không quên tôi. Xin gởi đến ông - Ông Ba Sài Gòn -  những ân tình như nén hương lòng gởi đến người xưa... Xin ông được an nghĩ.

Ông Ba Sài Gòn!  Nỗi nhớ về ông mãi trong tôi cho đến cuối đời.

Gành Hào , Bạc Liêu 8/2012
HYL


Ba mươi năm tôi về lại Bạc Liêu
Trăng Gành Hào vẫn vàng soi con nước
Ba mươi năm một lời hẹn ước
Tôi trở về ...
Ngọt ngào câu Dạ Cổ
Tiếng đàn xưa với người bạn cũ
Còn lại đây chỉ là cõi nhớ ...

Bạc Liêu ơi Bạc Liêu
Tôi tìm ông giữa biển trời sóng vổ
Dáng ông đi về những chiều mưa đổ
Ly rượu đong đầy
Tiếng đàn bầu da diết
Trải lòng ông  giữa bao điều thua thiệt
Tôi kẻ tha hương ngày tàn cuộc chiến
Bước lang thang sau năm tháng lưu đày
Đôi bạn trẻ già
Ngẫm cuộc đời như một giấc Nam Kha ...

Ba mươi năm tôi về lại tìm ông
Giọt nắng chiều rơi sao đến chạnh lòng
Hỏi gió, hỏi mây hỏi chiều biển động
Hỏi cánh chim trời ... Ông phiêu lãng nơi đâu .

Bạc Liêu ơi Bạc Liêu
Một mình tôi rượu rót lại đầy
Chỉ mình tôi giữa chiều hoang vắng
Ông ở đâu ... Tiếng đàn xưa vắng lặng
Câu thơ này tôi viết để mình tôi .

Tôi về biển cũ Bạc Liêu
Vầng trăng lẻ bạn nỗi niềm đầy vơi
Gành Hào ơi ! Ông Ba ơi !
Rượu chưa cạn hết mà người xưa đâu
Mấy mươi năm chuyện bể dâu
Khúc Hoài Lang với nỗi đau xé lòng
Ngày đi ông tiễn bên sông
Bây giờ bến vắng ... Tìm ông chốn nào
Mênh mông trăng gió Gành Hào
Xốn xang Dạ Cổ ngọt ngào nhớ ông
Còn tôi lặng lẽ chờ mong
Có trăng có rượu sao ông đi rồi
Một thời đói rách tả tơi
Chia nhau ly rượu chia đời đắng cay
Chiều nay biển dậy mưa bay
Tôi về nghiêng chén rượu say một mình
Trăm năm còn lại ân tình
Rồi mai tôi lại một mình .. . Ra đi.

HOÀNG YÊN LYNH
READ MORE - GỞI NGƯỜI CÕI NHỚ ... - Hoàng Yên Lynh

NHỚ VỀ ÔNG NỘI TÔI NHƯ ÔNG VẪN CÒN MÃI TRÊN ĐỜI - Tự sự : Nguyễn Hồng Trân

                                               
                                     

Tôi là cháu đích tôn của ông nên ông rất vui mừng và quan tâm thường xuyên. Ông nội tôi kể lại rằng, từ năm 1935 ông nội và cố nội bà của tôi đã tìm xin được việc cho ba tôi vào Cố đô Huế làm ăn sinh sống. Gia đình tôi vào sống ở Huế tại phường Huệ An ngày xưa (Nay thuộc Thuận Thành –Huế). Khi tôi vào học trường tiểu học ở Huế, mùa nghỉ hè nào ông nội tôi cũng đưa tôi về sống với ông để ông kèm cặp học thêm. Mùa nghỉ hè năm 1945, học xong lớp nhì, tôi về ở với ông tại thị trấn Diên Sanh để học thêm chữ Hán. Hồi ấy, ông thương tôi lắm. Ông lo cho tôi ăn mặc và học hành chu đáo. Tôi cũng rất thương yêu ông và chăm học chuyên cần nên ông rất hài lòng. Tôi còn nhớ ông có đặt mấy câu thơ:

Cháu tôi là Nguyễn Hồng Trân

Sinh năm Mậu Dần đã gần bảy tuổi

Về theo ông nội, ở chợ Diên Sanh

Chăm chỉ học hành, người lành tánh tốt.


Ngoài những giờ học ông quy định, tôi cũng có kế hoạch giúp ông bà quét nhà, lau cửa, rửa ấm chén trà hàng ngày. Thỉnh thoảng chiều chiều mát được giải lao, tôi đi chơi đánh bi, chơi đánh đáo hoặc chơi vụ với các bạn trong thị trấn. Nếu chưa đến giờ quy định được đi chơi thì dù các bạn thân có đến rủ rê, tôi cũng không dám rời bàn học. Có nhiều bạn cứ đến xem tôi học chữ Hán và ngạc nhiên là tôi viết chữ Hán rất đẹp và nhanh. Hồi đó ông tôi bắt tôi phải học thuộc lòng bài văn vần trong quyển “Tam thiên tự” (tức 3 nghìn từ). Tôi đã học trong một tuần là thuộc lòng. Đến bây giờ (trên 75 tuổi) tôi vẫn còn nhớ.

Ngoài việc ông dạy tôi học chữ Hán ra, về sau tôi lớn lên thêm, ông còn dạy cho tôi biết làm thơ lục bát và còn dạy cho hiểu câu đối và tập làm câu đối. Ông tôi thường làm một số câu đối tiếng Việt giản đơn để cho mọi người dễ đọc, dễ hiểu mà ý nghĩa rất thâm thúy. Chẳng hạn như cặp câu đối ông đề vào hai trụ cổng nhà là:

“Thuốc sơ sơ, nhờ thần hiệu

Thầy dở dở, đỡ xóm làng”.

Hoặc cặp câu đối:

“Nhà thấp, không lo mưa gió tạt

Cổng cao, mặc sức xe ngựa vào”.

Có lần ông tôi đưa ra một vế đối thật ngắn gọn nhưng ẩn ý rất hay mà bao nhiêu người chưa đối được. Đó là câu:

              “Thầy thuốc hay ho, không uống rượu!”

Ẩn ý ở câu này là từ kép “hay ho” vừa có nghĩa là giỏi dang, lại vừa có nghĩa là bị ho luôn.

Tôi cũng thử làm một câu đối lại như sau:

              “Bệnh nhân tỉnh táo được ăn chè”.

Từ kép “tỉnh táo” ở đây tôi dùng cũng có ẩn ý là bình tĩnh và chữ táo cũng  có nghĩa là bệnh táo bón.

Ông tôi nghe vậy cũng gật đầu nói:

“Cũng khá đấy nhưng chưa hay, chưa ẩn ý sâu sắc như từ kép “hay ho”.

Trong mấy năm đầu cuộc kháng chiến chống giặc Pháp, ông tôi không ở thị trấn Diên Sanh nữa mà về quê tiếp tục làm thuốc chữa bệnh cho mọi người. Vào năm 1948, trong một buổi sáng, giặc Pháp đi càn quét quê tôi, ông tôi vì điếc tai không nghe tiếng mõ báo động có bọn giặc tiến vào làng nên ông đã bị chúng bắt về thị xã Quảng Trị. Và cũng vì có kẻ xấu theo giặc nên đã báo cho giặc biết ông là anh ruột của ông Nguyễn Quýnh (Chủ tịch huyện Hải Lăng đầu tiên) và người cháu ruột là Nguyễn Sam  (đảng viên Cộng sản từ năm 1930, là Bí thư Đảng ủy huyện Hải Lăng đầu tiên) đã đi theo Việt Minh. Vì vậy mà bọn giặc tuy biết ông tôi là một thầy thuốc Đông y giỏi ở huyện, nhưng chúng vẫn cố tình bắt giam và đày đi lao động nặng nhọc kéo phà tại bến phà ở sát cầu Sập qua sông Thạch Hãn tai thị xã Quảng Trị trong mấy tháng trời. Trong thời đoạn ấy, ông tôi đã thầm kín làm bài thơ như sau:

  
                        TỦI PHẬN ĐỜI

Ngày ngày cặm cụi kéo phà

Bụng thì đói khát, thịt da tím bầm

Nhiều lúc mong mỏi người thân

Vợ con cách trở, cũng dành chịu thôi

Nghĩ mà tủi phận cho đời

Làm nghề thầy thuốc sao trời hại ta?

Tù đày khổ cực thân già

Bực mình thầm chửi tổ cha giặc thù!

Các con ở tận chiến khu

Có biết cha đã bị tù Pháp không?

Mong sao kháng chiến thành công

Quét hét lũ giặc cho đồng bào yên!...

                   
(Thầy Lương y Nguyễn Bá Đàm - Giáo Tiềm 1948)


Bài thơ này sau khi ông nội tôi ra tù về nhà cuối năm 1948 mới đọc lại cho tôi nghe. Nghe xong bài thơ tôi muốn khóc to lên vì thương cho ông tôi quá và tôi càng căm ghét bọn giặc.

Ông tôi trở lại thị trấn Diên Sanh để hành nghề thầy thuốc Đông y như ngày xưa. Đồng bào khắp vùng Hải Lăng nghe tin ông Giáo Tiềm về làm thầy thuốc trở lại ai ai cũng mừng. Lúc ấy, ngôi nhà lầu hai tầng của ông tôi với hiệu thuốc Long Hòa đã bị chính quyền thân Pháp chiếm giữ làm công vụ. Lúc đó ông nội tôi phải thuê một ngôi nhà cấp 4 của ông Hương lý Phan Khắc Kiếm ở Diên Sanh để hành nghề. Nhà này sát bên cạnh nhà cậu tôi là Phan Quang Đãi đang buôn bán hàng tiêu dùng lặt vặt. Thời gian này có bà Phan Thị Bạo (vợ ba không chính thức của ông) người làng Thượng Xá vào ở chăm sóc cho ông tôi. Tôi cũng xin vào ở với ông để đi học và có dịp giúp ông những việc sai vặt như pha trà, nghiền thuốc Bắc, viên thuốc hoàn,v.v…

Tuy ở nhà thuê cũng chật chội nhưng ông tôi vẫn bố trí phòng bắt mạch khám bệnh gọn gàng tử tế. Hồi đó, nhà ông tôi không có dãy tủ thuốc Bắc như ở hiệu Long Hòa trước đây mà chỉ kê phái đơn thuốc cho bệnh nhân đến mua thuốc ở các hiệu thuốc Bắc của chú Tàu như Thái Hòa Tường, Vương Dỏ. Cứ hàng tháng các hiệu thuốc của các chú Tàu căn cứ vào số lượng thang thuốc được bán ra để tính tiền cho ông tôi hưởng tỷ lệ công thầy. Do đó mà thu nhập hàng tháng của ông tôi cũng không dư dật như trước đây. Vì vậy việc chi tiêu cho đời sống hàng ngày trong gia đình cũng bị hạn chế. Sự tiêu pha ăn mặc của ông cũng rất tiết kiệm. Tuy vậy, ông đối xử với người mẹ già và các anh em cũng như con cháu, bà con thân thuộc rất chu đáo. Khi có người đau ốm, ông bổ thuốc giúp đỡ mà không nhận tiền. Những ngày Tết, ngày lễ hàng năm nhiều người dân biết ơn thầy thuốc đã đem nếp gạo, bánh trái và gà vịt đến biếu thầy rất nhiều. Sau đó ông tôi lại sai người đem biếu lại cho mẹ già các anh chị em và con cháu sử dụng. Đặc biệt đối với những người ốm đau nghèo khổ, ông chữa bệnh miễn phí. Ông rất tự hào về nghề thuốc gia truyền làm ông đã có uy tín trong cả huyện. Ông tôi thật xứng đáng là một người con trai nối nghiệp được cha là cụ Nguyễn Bá Khánh (tức Bá Chước) đã đỗ Tú tài và từng làm quan Ngự y triều Nguyễn thời vua Đồng Khánh. Ông được tặng danh hiệu Viện Hàn Lâm đãi chiếu.

Ông nội tôi rất muốn truyền lại nghề thuốc Đông y cho ba tôi, các chú tôi và cả tôi là cháu đích tôn nữa, nhưng tất cả đều không học được thành công. Điều đó ông nội tôi buồn lắm nhưng cũng đành chịu, vì thời thế không ai muốn kiên trì học chữ Hán để làm nghề thuốc Đông y nữa.

Sau ngày hòa bình thống nhất đất nước, con cháu ông tôi đã về quê hương đầy đủ nhưng ông bà đều đã qua đời. Các cô chú của tôi là Nguyễn Thị Liễn, Nguyễn Thị Thiều, chú Nguyễn Bân và Nguyễn Quỳnh về quê thắp hương cúng bái trên mồ mả của ông bà và nguyện cầu cho ông bà mọi điều an lạc ở cõi vĩnh hằng. Mỗi lần đến viếng mộ ông bà, con cháu đều xúc động không cầm được nước mắt vì quá thương xót ông bà đã mấy chục năm xa cách không được chăm sóc nuôi dưỡng ông bà, ngay cả những lúc lâm chung cũng đều vắng mặt nhiều người con cháu.

Qua hơn một chục năm sau, hai chú tôi mới có điều kiện để xây lăng mộ cho ông bà chúng tôi được khang trang đàng hoàng. Lăng mộ ông bà tôi được chú Nguyễn Quỳnh đề xuất và chủ động đảm trách kinh phí xây dựng. Sau đó chú Nguyễn Bân vào túc trực hơn một tháng trời để lo liệu thực hiện công trình cùng sự cộng tác đầy nhiệt tình của chú Nguyễn Bá Xử ở quê. Ngôi lăng mộ được hoàn thành vào mùa xuần năm Quý Dậu (1993) ở trên đồi An Lạc, làng Phú Long, xã Hải Phú, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Gần mười năm sau thì vợ chồng tôi (Nguyễn Hồng Trân và Thái Lê Phương) cũng xây dựng cho cha mẹ tôi sát bên dưới đó.

Giờ đây hai chú tôi Nguyễn Bân và Nguyễn Quỳnh đã già yếu. Nguyện vọng của hai chú là muốn tôn tạo khu lăng mộ của ông cho đàng hoàng hơn, có tường bao quanh thành khuôn viên để bảo đảm cho khu vực lăng mộ nghiêm trang, an toàn. Tôi đã đề xuất với các chú rằng: “Trước đây các chú lo xây lăng mộ cho ông bà rồi, bây giờ xin phép hai chú để các cháu lo liệu tôn tạo cho lăng ông bà to lơn và khang trang hơn. Cháu đề nghị sẽ thiết kế cấu trúc xây dựng thành một nghĩa trang gia đình cụ lương y Nguyễn Bá Đàm thật hoành tráng cho ông bà được vui lòng an lạc ở nơi suối vàng. Nghe như vậy các chú rất mừng và yên lòng chờ đợi. Thế là mấy anh em chúng tôi (vợ chồng các cháu nội của ông bà) đã bàn bạc với nhau quyết tâm thực hiện kế hoạch xây dựng nghĩa trang gia đình cụ lương y Nguyễn Bá Đàm trong hơn một tháng(từ 25/5 đến 2/7 năm Nhâm Thìn =2012).

Trong ngày khánh thành khu nghĩa trang này(18/8/2012) bà con khắp nơi trở về khá đông đủ để dự lễ mừng thành quả của công trình tôn tạo vùng lăng mộ thành khu nghĩa trang uy linh, tráng lệ.

Giờ đây hai chú thím tôi là Nguyễn Bân và chú Nguyễn Quỳnh, cũng như anh chị em chúng tôi gồm cháu nội, cháu ngoại và các cháu dâu, cháu rể, chắt nội… của ông bà đều phấn khởi yên tâm đã làm được một việc trọng đại có ý nghĩa tâm đức đối với cha ông, tiên tổ.

                                         

                              Phủ Cam, Phước Vĩnh, tp.Huế 7-9-2012
Nguyễn Hồng Trân

READ MORE - NHỚ VỀ ÔNG NỘI TÔI NHƯ ÔNG VẪN CÒN MÃI TRÊN ĐỜI - Tự sự : Nguyễn Hồng Trân

XƯỚNG HỌA MỪNG THU - Nguyễn Đại Bường - Nguyễn Thanh bá

Tác giả Nguyễn Thanh Bá

Bài xướng :

         L Ậ P    T H U

        Trời lập thu rồi – em có hay … !
        Em xa từ thuở . . . Lại thu nầy
        Lá rơi về cội – rưng rưng ngọn
        Trăng khuyết sang đoài – vướng vít mây
        Dẫu biết ân tình tan bọt bóng
        Mà nghe cay đắng ngợp heo may
        Em đi – vơ sạch thu trời cũ
        Sót lại thu nầy : Một gã say !

                        Nguyễn Đại Bường


T H U    V Ề
(Họa bài thơ Lập thu của Nguyễn Đại Bường )

       Lòng ta mong đợi có bai hay !
       Đếm tháng ngày trôi lạc lối nầy ?
       Thu nhuộm lá vàng – sầu phiến lá
       Gió lùa mây trắng – lạnh chân mây
       Chợt thương kỷ niệm màu hoa dại
       Và nhớ khung trời hương cỏ may
       Thu đã về - người chưa trở lại
       Chén thề ta đợi rót men say!

                       Nguyễn Thanh Bá

READ MORE - XƯỚNG HỌA MỪNG THU - Nguyễn Đại Bường - Nguyễn Thanh bá

VƯỜN CỔ TÍCH - Thơ Võ Đình Hương


Bốn mùa, mùa xuân trước nhất
Mùa xuân đẹp bởi mai vàng
Vườn nhà hai cây mai nhỏ
Đặt tên mai anh mai em

Dần dà theo dòng thời gian
Mặc cho thanh bình, bão tố
Lớn dần giữa khu vườn nhỏ
Mai anh cũng như mai em

Thời gian qua thật là nhanh
Chẳng nhớ bao năm rồi nữa
Mai anh lớn lên như thế
Mai em vào độ dậy thì

Và rồi mùa xuân năm ấy
Mai em nở một nụ vàng
Gio lay cành xuân nhè nhẹ
Hương bay mùa xuân đầu tiên

Tôi là chủ nhân của mai
Cũng lớn khôn theo dòng đời
Và mơ một ngày xuân đẹp
Mai em hiểu cho lòng tôi...

Một chiều quê hương ly tan
Như bao người phải tha phương
Tôi ra đi tìm lối sống
Đành xa mai anh mai em

Xa quê đã bao nhiêu năm
Lòng luôn nhớ về chốn cũ
Mong ngày quê nhà đoàn tụ
Về thăm mai anh mai em

Ngày kia quê nhà bình yên
Tôi về thăm khu vườn nhỏ
Vườn cây tôi trồng năm cũ
Vẫn còn mai anh mai em

Vin cành mai em vào tay
Đưa qua mai em tôi cười
Từ nay không xa nhau nữa
Ta cứ lớn khôn với đời

Lòng người và cây hiểu nhau
Nên tiếp mấy mùa xuân sau
Mai em nở hoa rực rỡ
Mai anh vài cái lơ thơ

Nhưng mùa gió bão năm kia
Làm cây mai anh trốc gốc
Ngả thân vào cây mai em
Và chết sau mùa gió lốc

Mấy mùa xuân nay lại về
Mai em buồn không nở hoa
Mùa xuân trong khu vườn nhỏ
Thành VƯỜN CỖ TÍCH bao giờ

                      2/9/12
                 VÕ ĐÌNH HƯƠNG
Thi Ồng, Hải Vĩnh, Hải Lăng, Quảng Trị
READ MORE - VƯỜN CỔ TÍCH - Thơ Võ Đình Hương