Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, December 25, 2011

Giới thiệu nhà thơ tiền chiến Phan Văn Dật


Phan Văn Dật (1907-1987), bút hiệu: Tiêu Lang, Thường Nga Phố; sinh ngày 17 tháng 8 năm 1907 [1] tại phủ An Thường công chúa ở xóm Xuân An, làng Phú Xuân (nay là phường Vĩnh Ninh, thành phố Huế). Tuy nhiên, chánh quán của ông thì ở làng Đạo Đầu, xã Triệu Trung huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

Thân phụ ông là Thị độc đại học sĩ Phan Văn Dư, cháu nội nhiều đời của Đô thông hậu quân Phan Văn Thúy (một bộ tướng của chúa Nguyễn Ánh) và An Thường công chúa (con vua Minh Mạng).

Xuất thân trong một gia đình có họ ngoại với hoàng tộc, có nhiều người làm quan võ, nhưng Phan Văn Dật lại yêu thích nghiệp văn, rất có thể vì ông chịu ảnh hưởng từ cha (Thị độc đại học sĩ) và hai cậu (nhà văn Trần Thanh Mại và nhà văn Trần Thanh Địch).

Thuở nhỏ, Phan Văn Dật theo học chữ Hán, lớn lên mới theo học chữ quốc ngữ tại Trường Quốc Học Huế.

Năm 1927, ông tốt nghiệp bằng Thành chung, vì gia cảnh phải thôi học vào làm thư ký tại Sở Trước bạ Đà Nẵng.

Năm 1939, ông về lại Huế làm ở Nha Ngân khố Trung Kỳ, rồi trải qua các sở: Sở Văn hóa, Nha Thông tin, Sở Ngân chánh Huế, đồng thời dạy học tại Trường Nữ học Đồng Khánh và Trường Quốc Học Huế.

Năm 1951, ông làm Chủ sự Phòng Trước bạ Huế. Tháng 11 năm này, ông được cử đi tu nghiệp ở Trường Trước bạ quốc gia Lyon, Pháp cho đến tháng 5năm 1952.

Năm 1959, ông được biệt phái sang Viện Đại học Huế, năm sau được cử làm Giảng viên Viện Hán học, sau kiêm cả chức vụ Giám học cho đến năm 1963.

 Năm 1964, ông về hưu nhưng vẫn tiếp tục dạy giờ tại các trường Cao đẳng Mỹ thuật, Nông Lâm Súc, trường Bách khoa Bình dân và Trung học tư thục Đào Duy Từ.

Phan Văn Dật mất tại Huế vào ngày 11 tháng 2 năm 1987, hưởng thọ 80 tuổi, sau hơn mười năm rời bục giảng và cũng còn viết lách gì được nữa.

 Tác phẩm của Phan Văn Dật, gồm:
•Bâng Khuâng (thơ, 1935)
•Diễm Dương trang (tiểu thuyết, giải thưởng Tự lực văn đoàn năm 1935)
•Những ngày vàng lụa (thơ, chỉ đăng rải rác ở các báo, ở trong các sách hợp tuyển, chưa in).

Bên cạnh đó, ông còn nhiều bài viết đăng trên các báo: Nam Phong tạp chí, Thực nghiệp dân báo, Thần Kinh tạp chí, Tràng An, tạp chí Khuyến học, Rạng Đông, Cười... Ngoài ra, ông còn để lại một số công trình nghiên cứu và dịch thuật khi Viện Đại học Huế mời ông giảng dạy và tham gia việc biên soạn sử liệu.

*
Phan Văn Dật là một người rất mê đọc sách báo, ngay từ 6 tuổi, ông đã biết để dành tiền mua chúng. Năm 1924, lúc 14 tuổi, ông bắt đầu sáng tác và có thơ văn đăng báo.

Tháng 12 năm 1935, Hoài Thanh và Hoài Chân có viết một bài về quyển thơ Bâng khuâng của ông trên báo Tràng An, sau được trích in lại trong quyển Thi nhân Việt Nam. Cùng năm này, tiểu thuyết Diễm Dương trang của ông được giải thưởng của Tự lực văn đoàn, và bài viết Nghệ thuật và nhân sinh của ông đăng trên tạp chí Khuyến học tại Hà Nội số ra ngày 15 tháng 12 năm 1935. Bài viết trên ngay sau đó đã bị báo chí thời bấy giờ lên tiếng phê phán và liệt ông vào phái “ nghệ thuật vị nghệ thuật” bên cạnh Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Thiếu Sơn, Lê Tràng Kiều...Và cũng chính vì theo khuynh hướng này, nên thơ ông thường đa sầu, hoài cổ và mộng mơ.

Nhận xét về tập thơ Bâng Khuâng, Hoài Thanh và Hoài Chân viết:
...Nguyễn Nhược Pháp với tập "Ngày xưa" đã nhìn vào cảnh vật xưa bằng con mắt một người thời nay, Phan Văn Dật với tập "Bâng khuâng" đã nhìn cảnh vật ngày nay sau bức màn một tâm hồn xưa...Giữa cuộc đời náo động, người ngoảnh mặt làm ngơ và tự tạo cho mình một thế giới riêng, một thế giới lặng lẽ đầy mơ mộng...

Tôi không hay hưởng cùng cái hiện tại.
Hững hờ, tôi thường để nó đi qua.
Chuyện ngày nay sau tôi sẽ xót xa,
Tôi chỉ tiếc những giờ không trở lại.


...Nói cho đúng, thi nhân chẳng phải hoàn toàn sống trong cảnh xưa cảnh mộng và cái thế giới chung quanh tuyệt không có trong con mắt thi nhân. Người cũng biết say vì cảnh đẹp thoáng qua trước mắt. Có lúc bỗng sực nhớ mình là một trai trẻ đương tuổi yêu, nghệ sĩ nắn mấy vần thơ:

Ca ngợi tình yêu, vẻ đẹp em,
Lời thơ réo rắt tôi săn tìm.
Cậy người mang tặng cho em đọc,
Em để vào ngăn em chẳng xem.


...Thơ Phan Văn Dật không rực rỡ không réo rắt, không hùng tráng, không làm tha bồi hồi ngây ngất, nhưng vẫn khiến ta ưa đọc: nó là những vần thơ dễ thương. Ta không cảm phục mà ta lưu luyến, cũng như ta lưu luyến đất Kinh đô là nơi quê hương của thi nhân...[2]

Nhìn chung, thơ Phan Văn Dật ít tả cảnh mà thiên về tình, cái tình hoài niệm ấy lại thường gửi gắm qua một câu chuyện tự sự. Ở ông không có những cảm xúc cháy lên như Xuân Diệu, cũng không phải là một tiếng thơ gợi lại những gì mộc mạc, thôn dã kiểu Nguyễn Bính, mà là thứ tình cảm tiếc nuối, nhân hậu, hướng về những gì đã qua đi không trở lại... Phan Văn Dật sớm tiếp thu cổ văn Trung Quốc và văn học cổ điển Pháp, lại ít nhiều chịu ảnh hưởng tư tưởng tự do dân chủ, nhưng ông vẫn neo chặt ngòi bút của mình vào khuôn phép đạo đức truyền thống, tuy không quá cổ hủ song cũng không dám buông thả...Điều đó, không chỉ thể hiện trong nội dung thơ, mà nó còn biểu hiện phần nào ở thi pháp nghệ thuật của ông. Đa phần thơ ông làm theo lối thất ngôn, ngũ ngôn của Đường luật, lục bát và song thất lục bát chứ chưa dám bước sang ranh giới của lối thơ phá thể, thơ tự do…

Xét về văn, Diễm Dương trang là tác phẩm văn duy nhất của Phan Văn Dật, được viết vào khoảng thời gian ông vào làm việc tại Sở Trước bạ Đà Nẵng, cho nên bối cảnh được tác giả đưa vào truyện chủ yếu tại bãi biển Mỹ Khê nằm cách Đà Nẵng không xa. Nội dung Diễm Dương trang kể về mối tình của anh thư ký Tòa sứ với các cô gái nhà khá giả như Dinh, Nga...

Đề cập đến tác phẩm này, Từ điển Văn học (bộ mới) viết:
Tuy kết cấu còn đơn giản, nhưng tác giả đã biết dẫn dắt cốt truyện theo một trình tự thời gian đảo ngược giữa hiện tại và quá khứ một cách khá hiện đại. Đặc biệt, văn chương hết sức óng chuốt, không thua bất cứ nột tác phẩm văn xuôi nào thời bấy giờ....Qua "Diễm Dương trang", chứng tỏ ngoài thơ, ông còn là một cây bút văn xuôi tinh tế, nhạy cảm, và không thiếu phần sắc sảo...[3]
Tiểu thuyết Diễm Dương trang đã được Tự lực văn đoàn xét tặng giải thưởng năm 1935.
               
Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh và Hoài Chân đã tuyển giới thiệu ba bài thơ (đều ở trong tập Bâng khuâng, và đều được viết năm 1927) của ông, đó là: Tiễn đưa, Bi Xuân Nương và Nàng con gái học Dương.
Trong Thi nhân tiền chiến (quyển hạ) của Nguyễn Tấn Long, có cả thảy 18 bài thơ của ông. Ngoại trừ bài Chiều mưa trên mộ địa và Tình suông ở trong tập Bâng khuâng, số bài còn lại đều ở trong tập Những ngày vàng lụa, chưa xuất bản. Ở đây trích giới thiệu 4 bài đều ở trong tập thơ chưa in này:

Cho địa chỉ
Nhà anh có bến Đợi Chờ,
Có đình dựa nguyệt, có thơ nhớ Nàng.
Xuân về có gió đông sang,
Thu qua có cảnh lá vàng rụng bay.
Lâm tuyền có thú đổi thay,
Có đêm huyền hoặc, có ngày nhớ nhung.
Có giàn hoa lý bên song,
Có con đường sỏi đi vòng giếng thơi.
Món quê qua quả có thời,
Tháng giêng có hạnh, tháng mười có cam.
Có khi ngồi ngắm trên am,
Mây hồng dựng sớm, sương lam tỏa chiếu.
Hư thân có mãi cái nghèo,
Tùy lòng ai có muốn theo thì về.

(Những ngày vàng lụa)

Tình quê
Đường lau khuất khuất quanh quanh,
So le hoa dại đôi cành thờ ơ.
Chiều hôm đứng lặng như mơ,
Có cô áo nhuộm đang chờ đợi ai?
Tay lần nếp áo chưa phai,
Thẹn điều vụng nghĩ ửng hai má hồng.
Mày say vẽ nét cong cong,
Tình xuân chớm dậy nghe lòng tỉ tê.

(Những ngày vàng lụa)

Kỷ niệm
Ai hay ghì được cái thời gian?
Gọi lại vài giây những mộng tàn?
Hay được vùi sâu ngày dĩ vãng,
Cùng bao phai rụng dưới tâm can.

Đời lặng lờ đem ta đến đâu?
Sông lòng diệu vợi nước nông sâu?
Phong trần áo ngả màu mưa nắng,
Lệ tủi tài hoa hoen má nâu!

Mây giạt về đâu bốn phía trời?
Còn đây hương ngụy buổi đôi mươi?
Phôi pha bến nguyệt thề nhung lụa,
Bướm trắng đà bay mộng thắm rời!

Tình gửi vào đây một chút thơ ,
Rồi đây giấy úa chữ lu mờ;
Khóc cười thành bại lòng ta cũng
Thêm với thời gian vết gió mưa.

(Những ngày vàng lụa)

Như đã nói trên, thơ ông thường là “thứ tình cảm tiếc nuối, nhân hậu, hướng về những gì đã qua đi không trở lại…”. Mặc dù vậy, cũng có đôi ba bài mang âm hưởng hào hùng theo phong cách thơ tráng ca buổi ấy, thí dụ như ở bài:

Tráng sĩ hành
Ra đi! Ghềnh suối hãy chờ ta!
Muôn dặm trùng san tái ngoại xa!
Gươm báu reo vang ngời máu giận,
Đất trời say ngất khí can qua!

Ra đi! Ngựa thét nhớ hơi ngàn,
Thác lũ sườn non trăng ải quan,
Cất gió khinh thường sa mạc vắng,
Quê nhà đem dọi quẩy lên an.

Cơm áo ra chi đời chật hẹp!
Trần ai mấy mặt dám xông pha!
Ra khi! Rượu nóng khà trăm chén,
Dập tắt sầu thương chỗ xó nhà.

Hào kiệt trắng cương vùi cát bụi,
Há mềm nước mắt khóe thu ba?
Ra đi! Còn đợi chờ chi nữa?
Tây lũng ba canh rộn tiếng gà.

Lòng gởi bốn phương chồn bước rảo,
Vui gì chăn gối uổng niên hoa!
Ra đi cho biết mùi sương gió,
Tắm gội mưa mai quái nắng tà.

Rượu tỉnh khôn xua sầu vạn cổ!
Anh hùng sao được mấy thân già?
Phi thường ai biết ai tri kỷ?
Mùi thế chau mày khổ hận đa!...

Một tiếng pháo ran bày thế trận,
Cờ bay phất phất tới lui qua.
Gươm thiêng vút mạnh đầu tuôn rụng,
Trống giục rền mây sát khí lòa.

Tràng tiến ba quân giành thủ cấp,
Biền mâu trùng điệp chớp kim sa.
Một hồi chiêng gióng khao quân sĩ,
Ngang chiếc Long Toàn khảng khái ca.

Quạnh quẽ đêm dài lùa gió lạnh,
Hồn ai than khóc bãi tha ma?
Tung hoành chi sá niềm khăn yếm,
Thề chốn sa trường tóc bạc pha!

Vó ngựa hề lên an,
Quay tít gươm hề rượt gió ngàn,
Ra đi hôm nay hề không ngoái lại,
Một sớm tranh hùng hề phá giặc tan!

(Những ngày vàng lụa)

Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
Long Xuyên, ngày 2 tháng 12 năm 2009.

Chú thích:
1.Chép theo Từ điển Văn học (bộ mới, tr. 1399). Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Tấn Long giải thích thêm: Thi nhân Việt Nam ghi ông Dật sinh ngày 17 tháng 8 năm 1909 là không chính xác. Là vì thuở nhỏ ông theo học Hán văn, đến khi vào trường Quốc học Huế thì hơi quá tuổi nên gia đình phải khai trụt xuống. (Thi nhân tiền chiến [quyển hạ]. Nxb Sống Mới, 1968, tr.113).
2.Hoài Thanh và Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam (1932-1941). Nxb Văn học in lại 1988, tr. 312.
3.Lược theo Phạm Phú Phong, mục từ Phan Văn Dật in trong Từ điển Văn học (bộ mới). Nxb Thế giới, tr. 1400-1401.
               
Nguồn: docx.vn
READ MORE - Giới thiệu nhà thơ tiền chiến Phan Văn Dật

TƯỜNG VI- NỖI NIỄM HOÀI CỐ HƯƠNG QUẢNG TRỊ TRONG THƠ LÊ THIÊN MINH KHOA


Lê Thiên Minh Khoa sinh năm 1954 tại Quảng Trị. Anh là hậu duệ đời thứ 13 của Lê Duy Cán, một hoàng  tử thời hậu Lê. Vị nầy lập nên làng Trung An nổi tiếng đất rộng trù phú, ruộng làm quanh năm, cây lưu niên bốn mùa xanh tốt. Và ở Quảng Trị có câu tục ngữ: “ Đất Trung An, gan Mai Xá, đá Hảo Sơn”, xuất phát từ đó. Đến đời ông nội anh là Lê Duy Kiều có công lao trong việc đắp đường, bắc cầu, xây chùa và lập một làng mới: phường Khe Me, đưa dân nghèo khổ ở vùng đồng bằng tỉnh Quảng Trị lên sống, cấp đất, cấp tiền, cấp lương thực và phương tiện canh tác…để lập nghiệp, nên được dân làng mới thờ là tiền khai khẩn. sắc . Có thể nói, đây là một gia đình, dòng họ có truyền thống làm việc nghĩa ở một vùng quê” ( NGƯỜI và VIỆC- Những người nổi tiếng, tập 1, NXB Hội Nhà Văn VN.2006, tr.70)


Thế nhưng, cuộc đời anh cũng “năm chìm, bảy nổi”, phải ly hương “hành phương Nam” từ nhỏ. Ba tuổi mẹ mất, mười lăm tuổi cha mất, đất đai mồ mã tổ tiên bị cày xới , vì cả làng cũ và làng mới của anh đều nằm trong vùng phi quân sự (DMZ). Tuổi hoa niên phải làm đủ việc để vừa kiếm sống, vừa có tiền đi học: Dạy kèm trẻ tại tư gia, bán báo, đạp xe xích lô, ba gác…Thời mới giải phóng, để có tiền học sư phạm, anh mua thuốc diệt chuột MYTOX  từ TP.HCM về phân thành gói nhỏ đem ra bán cho dân Động Đền, Hàm Tân, Bình Thuận (và có lần anh phải đi cấp cứu vì ngộ độc khi hít phải thuốc), rồi mua thu gom các loại thuốc lá “cao cấp”: Sài Gòn giải phóng, Capstan, Rubi…mà nhà nước bán phân phối cho các hộ dân nơi đây đem vào thành phố sang lại cho các đại lý để kiếm lời. Rồi cả buôn lậu nữa: mua các loại cá khô ở Hàm Tân vào bán ở chợ Cầu Muối, mua gạo từ miền Tây cho vào ba lô sinh viên lên bán ở Chợ Lớn. Con đường học vấn của anh cũng lắm gian nan. Sau phổ thông, học Cao đẳng, Đại học , anh có.hai văn bằng cử nhân: Tốt nghiệp khoa ngữ văn đại học Sư phạm TP.HCM, tốt nghiệp cử nhân báo chí- Học viện Chính trị Quốc gia Hà Nội. Nhờ thế, nhờ sống nhiều nơi, đi nhiều vùng, học nhiều trường, từ nhỏ anh có dịp “thâm nhập” nhiều miền đất quê hương, tiếp xúc với nhiều giới, nhiều người và có nhiều bạn bè thân thiết ở khắp nơi.

Anh làm thơ từ trước giải phóng, sau giải phóng vẫn tiếp tục sáng tác, nhưng đến năm 1985 mới được khẳng định qua giải thưởng thơ “Kỷ niệm 10 năm giải phóng miền Nam” của UBND tỉnh Đồng Nai với bài thơ “Cây đa ở một nông trường mới” viết về tâm tình của “người công-tra mấy chục năm xa xứ ¬_ đến nơi này mới được bóng đa che”. Bài thơ là tâm tình của người dân cao su, nguyên là dân công tra cũ nhưng cũng là tâm sự cuộc đời của chính nhà thơ: “một mình thôi mà không đơn độc _ rừng cao su bao bọc tứ bề.”Năm 2005, anh lại nhận được giả thưởng VH_NT tỉnh BR_VT lần thứ nhất (1992_2004) trao cho tập thơ “ Thị Trấn Tôi”

Về tác phẩm, ngoài 2 tập thơ “Thị trấn tôi”(NXB Thanh niên –2002) và “Giai điệu bốn câu” (NXB Trẻ – 2001 – in chung), thơ Lê Thiên Minh Khoa được đăng thường xuyên trên các báo trung ương, địa phương và đưa vào nhiều tuyển tập thơ như: “Khúc dạo đầu về một dòng sông” (NXB Đồng Nai – 1985), “ 300 thơ Bà Rịa- Vũng Tàu” (NXB Thanh Niên –2000), “15 năm thơ Đường luật Bà Rịa- Vũng Tàu” ( NXB Thanh Niên –2000), “10 năm thơ Bà Rịa- Vũng Tàu” ( Hội VHNT tỉnh BR-VT –2001), “Theo sóng Đồng Nai” (NXB Đồng Nai –2000), “Hồn biển” (Hội VHNT tỉnh BRVT –1992), “Đồng vọng” (NXB Thanh niên –2002) , “Thơ Bà Rịa- Vũng Tàu 1975_2005” (Hội VHNT tỉnh BR-VT –2005), v.v…

Mảng đề tài thứ nhất trong thơ LTMK viết về những vùng đất con người mà anh đã từng sống, từng tiếp xúc, trong đó có vùng đất Quảng Trị, nơi “chôn nhau, cắt rốn” của anh. Nhưng đậm nét nhất trong mảng thơ này là chất bản địa Bà Rịa Vũng tàu nói riêng và “vùng Miền Đông đất đỏ” nói rộng ra, nơi anh “mọc rễ” từ hơn ba mươi năm nay. (Kể ra đây giai thoại cho vui: Do tên tuổi anh gắn liền với VH địa phương như vậy, nên ở miền Đông này có câu: “Cọp Khánh Hoà- Khoa Bà Rịa”, rồi trong giới văn nghệ sỹ và cánh nhà báo ở TP.HCM và miền Đông Nam bộ lại có câu ca dao …vui: “Nhà thơ Lê Thiên Minh Khoa - Phần địch thì ít, phần ta thì nhiều.”)
 
Nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học Vũ Xuân Hương gọi thơ anh là “tiếng thơ mang hương vị một vùng quê” (lời TỰA tập thơ “Thị trấn tôi”). Còn trên báo Giác Ngộ (số 115 – 14/04/2002) khi viết về thơ anh , đã rút “tít”: “Tiếng thơ của hồn quê”. Có tác giả cho rằng: “..Nói tới những người lam thơ ở Bà Rịa -Vũng Tàu, không thể không nhắc tới LT Minh Khoa. Giả biệt vùng quê Quảng Trị, Khoa về với những con dường nhỏ nhẻ dưới hàng me xanh của thị xả Bà Rịa –Nui Dinh từ ngày giải phong, dạy học viết bao, làm thơ về nó...
...Thơ anh dầy ắp những tình tiết hiện thực, sau lắng chất suy tưởng và bay bổng chất lãng mạn, do được thu vào ống kính tâm hồn tác giả trong những chuyến di...Anh nhập thân, hòa mình với cả cuộc sống rộng lớn của ND, lẫn với cảnh “khi ngọt khi chua” rất đời thường …Ấy thế, nhưng anh không lên giọng, chỉ thủ thỉ như lời bạn bè đang ngồi bên tách caphe quán nhỏ đon bình minh phía biển Vũng tau. Có lẽ, đó lad điều quý nhất ở thơ LT Minh Khoa
(Tài Hoa Tre –11/2002). Đây là mảng thơ làm cho anh “đứng được” trên văn đàn khu vực. Chính trong báo cáo tại lễ trao Giải thưởng Văn học – Nghệ thuật tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu lần thứ nhất (1991 –2004) cũng đánh giá rằng: Cùng với một số nhà thơ khác, thơ anh “đi vào chiều sâu của hiện thực đời sống nhân dân.”(Văn Nghệ BR –VT, số 04/2005)...

Thế nhưng, dù đã hội nhâp được hoàn toàn với miền quê mới ấy (Bà Rịa – Vũng Tàu), trong đáy sâu tâm hồn nhà thơ vẫn luôn ray rứt một nỗi nhớ sâu sắc, tha thiết mà âm ỉ đối với nơi chôn nhau cắt rốn của mình. “Nghe em hát đêm văn nghệ nông trường”, tác giả cảm nhận được:
“...Như lời yêu trao nhau
âm huởng miền Trung chân tình cái giọng”
trong tiếng hát cô gái diễn viên đồng hương và đồng cảm với “trong lời em  trầm bổng cuộc đời” những người dân tha hương.
 

Cho nên, bắt gặp “Cây đa ở một nông trường mới” (Giải thưởng thơ “Kỷ niệm 10 năm giải phóng Miền Nam” -1985) ở huyện Xuyên Mộc , nhà thơ không thể không hồi tưởng lại quê hương cũ:
"Nhìn cây đa nhớ lại mái đình xưa
Bến nước, con đò, câu ca muôn thuở
Người công-tra mấy chục năm xa xứ?
Đến nơi này mới được bóng đa che"
 

Và làng công nhân ở vùng đất mới nầy cũng có bóng dáng của ngôi làng nông nghiệp ở quê cũ, như tình yêu quê mới cũng bắt nguồn từ tình yêu quê xưa:
"Nông trường lớn dần lên
đất mới hoá quê nhà
Cây đa trẻ rồi cũng thành cổ thụ
Lúc đi xa tự nhiên lòng lại nhớ
Nông trường mình qua dáng một cây đa".
 

Ấn tượng về miền đất và con người quê cũ lắng sâu trong tiềm thức tác giả nên có lẽ hình ảnh một bà mẹ miền Trung trong mùa lũ năm Canh Thìn (1999) có nguyên mẫu là bà mẹ Triệu Hải quê mình:
"Mẹ bới tìm duới túp lều
sau cơn lũ dữ
Còn gì đâu,
mẹ ơi!
lũ cuốn
trắng
sạch rồi
Mẹ chỉ nhận một phần hàng cứu trợ :
“ Còn dành cho những nhà đông con”
 

Trong chùm thơ viết về đề tài Quảng Trị, có nhiều bài mà nếu như giấu đi địa danh vẫn không thể nhầm với vùng đất khác được. Dân địa phương và cả những khách từng đến thăm Quảng Trị dễ dàng cảm nhận nỗi đau của nhà thơ khi quê hương bị chiến tranh tàn phá do bài thơ “Ngôi nhà ở Cổ Thành Quảng Trị” gợi lên là cảm xúc khi đứng trước một di tích lịch sử quốc gia nổi tiếng nơi đây:

"Trên đường Trần Hưng Đạo
ngoài chân thành xưa
sót lại một ngôi nhà

Ôi! Dấu ấn của một thời khói lửa
thân tường vôi loang lở vết thương
chân cầu thang cong queo, còn lại khung xương
thịt bê tông rơi dần, lả tả
mắt cửa ô lỗ đáo đen bầm…

Cả ngôi thành xưa
sót lại một một ngôi nhà!..."
 
Thạch Hãn- 1976.
 

Rồi tâm trạng “ xót xa” khi đứng trước một làng cát chỉ có thể gặp ở miền đông Gio Linh được biểu hiện bằng ngôn ngữ bình dị rất Quảng Trị:
 "Trắng xoá cát trước mắt
Chi lạ lòng xót xa
Cỏ mộ sao lướt thướt
Chim rặc rặc tìm chi?"
 
(Bãi Cát Phước Sa)
 
Hay các chất liệu “gió Lào, cát trắng, giếng đá cổ”, đặc sản chính hiệu của quê hương anh trong bài “Gửi Quảng Trị” sau đây thì không thể lẫn với bất cứ vùng đất nào:
Gửi Quảng Trị
(Tặng Lê Đức Dục)

1. Bão theo ngọn gió Đông
Bạt gió Lào về xứ
Quay lưng về phía bể
Cát trắng chạy lên rừng . . .

2. Đà Lạt mưa và sương
Quê miềng hạn và khát
Mạ ơi, giếng đá cổ
Nước có còn rỉ không ?!
 
(Thanh Niên Chủ nhật – số 299 – 26.10.2003)
 

Còn tôi thích bài thơ sau anh viết khi về thăm Quảng Trị, vì nó vừa cổ điển, vừa "tân thời", chỉ bãng lãng tả cảnh núi rừng miền Tây Quảng Trị, không tả bóng dáng con người,mà hình ảnh người lính "thức giữa rừng" hiện ra rất rõ, rất đẹp":
"ĐÊM BIÊN GIỚI
Gió lạnh mưa soi lướt trăng gương
Cây nổi bềnh bồng trên mặt sương
Biên giới im lìm trong giấc ngủ
Một nhánh phong lan thức giữa rừng"
( Đồn biên phòng Lao Bảo, 1977_ Văn Nghệ Đồng Nai, só 12/1980)
 
“Sinh ra từ xứ gió Lào, cát trắng Quảng Trị, lại gắn bó nhiều kỷ niệm với Huế” (Thanh Niên – tháng 3.2002), anh có nhiều bài thơ rất hay về xứ cố đô, trong đó “Về Huế” là một bài thơ được nhiều người yêu Huế và yêu thơ thuộc lòng vì thích bài thơ và vì nó… rất ngắn:
 
Về Huế
 
Sáng nắng thiêu núi Ngự
Chiều mưa tràn sông Hương
Tối trăng lên Vĩ Dạ
Khuya tìm em mù sương"
(NS Đại Đoàn Kết – số 3/2001)

Thơ Lê Thiên Minh Khoa có “những cái tứ rất mới và đặc biệt thật chắc, thật chặt. Chính chúng đã nâng những câu văn xuôi bãng lảng bay bồng lên thành thơ đích thực và tạo thêm chất trí tuệ cho thơ” (Tuổi Học Trò – số 2 – tháng 4.2002). Rồi cái giọng thơ nhỏ nhẻ, “hiền hoà, giản dị, đằm thắm”(NS Đại Đoàn kết - 3/2001) “luôn ẩn chứa những trăn trở đời thường” (Vũng Tàu Chủ Nhật - 20/11/2001) cả khi nhà thơ thể hiện “cái tôi” trữ tình công dân:
  "Trang giáo án cũng từ trang giấy trắng
Có dáng thân thương nho nhỏ ngọn đèn dầu"  
( Ngọn đèn dầu)
 
Chỉ là trang giáo án hay là cả những trang thơ của LTMK?…
Mảng đề tài thứ hai góp phần đa dạng hóa sáng tác của anh khi nhấn mạnh hơn tới “niềm riêng”, tuy nhiên, tác giả cũng tỏ ra có cân nhắc nên những câu thơ về tình bạn, tình yêu, những cảm nghĩ về thân phận con người có được độ lắng và thấm thía :
"Phải chi phẳng lặng cuộc đời
Niềm riêng đừng viết nên lời thì hơn"...
 

Ở mảng thơ này, Lê Thiên Minh Khoa “có nhiều tìm tòi, thể nghiệm, từ việc áp dụng những lối thơ truyền thống như lục bát, ngũ ngôn, thất ngôn… tới những lối thơ hiện đại, thơ nước ngoài như thơ haiku, thơ siêu thực, thơ văn xuôi, lối thơ “đời thường” của Jacques Prévert…” (Giác Ngộ – số 115 – ngày 14.04.2002). Trở lại với “Lối xưa” để cảm nhận “Đất rì rầm chuyện cũ - Mây chiều xưa nổi trôi” viết lên những vần thơ ước lệ mà đẹp trong “Nhói lặng một góc trời”:
Nhìn ngọn Chứa Chan chan chứa nhớ
Trông dòng Thương Bạc bạc thương đau" 
(Cảm hoài)
 

Trở lại với “lối xưa” cũng là dịp trở lại với chính mình một thuở, từ việc nhớ lại em với “ Những bức tường rêu phủ màu rêu phủ” mà thấy mình nay “Chữ câu đi luống cuống đời người”…
 

LTMK đi nhiều, nghe nhiều, thấy nhiều nhưng đều nơi đất khách, vì hơn 2/3 đời người anh sống tha hương, mà nỗi niềm hoài cố hương Quảng Trị vẫn luôn đau đáu trong thơ anh, trong tâm hồn anh.Đó là cài đáng quí nữa ở LTMK. Chính điều nầy- tình yêu quê cũ thiêng liêng, hồn nhiên- như là số vốn ban đầu giúp anh và thơ anh hòa nhập, yêu thương và "đứng được" trên miên quê mới. "Có đi, có nghe, có thấy, đồng cảm với “những phận đời bên hình khối đơn sơ”, tác giả mới viết được những câu thơ đẹp và giàu sức sống:
"Giữa xanh mát sắc trời sắc lá
Aùo trẻ con trắng nõn buổi tan trường
Trắng nguyên sơ mủ đầy thùng sóng sánh
Hắt hạt nắng hồng run rẩy môi thơm".
(Ký họa một nông trường)
 

"Bốn câu thơ không hề nói tới màu đỏ, song nó được viết trên cái nền son của vùng cao su đất đỏ ” – và chỉ khi đặt trên cái nền son thực tế ấy, những màu sắc được dùng trong bài thơ (sắc trời sắc lá, sắc áo học trò, sắc mủ cao su và sắc nắng…) mới nổi lên đẹp đến thế nào! Bài thơ không dùng tới thính giác nhưng náo nức thanh âm, và cái “run rẩy “ kia cũng chính là cái run rẩy xúc động của tâm hồn tác giả trước sự trưởng thành của cuộc sống mới"…(Người và Việc_ Những người nổi tiếng, NXB Hội Nhà Văn,2006)

Xin mượn lời một nhà nghiên cứu viết về anh trong cuốn sách "Cánh buồm ngược gió- Người và việc"( NXB Văn Hóa Sài Gòn ,2008, tr. 292) để tạm kết luận về thơ anh: "Cái tôi trữ tình công dân” và “cái tôi trữ tình nghệ sỹ” hòa nhập với nhau: viết về con người mới, cuộc sống mới của nhân dân, nhưng lại thể hiện được nỗi niềm riêng tư của thân phận con người".


*Ảnh : Lê Thiên Minh Khoa và người em là Lê Hữu Đức tại quê nhà.

TP Hồ Chí Minh, mùa bão lụt Miền Trung.
Tường Vi.
  

Nguồn:Trường Nguyễn Hoàng- Chân dung & Kỷ niệm - Tập 7 (Nhà xuất bản Thuận Hóa- 2010; p.527-536)

Đăng lại trên Yahoo Blog của Lê Thiên Minh Khoa (http://vn.360plus.yahoo.com/lethienminhkhoa/)

READ MORE - TƯỜNG VI- NỖI NIỄM HOÀI CỐ HƯƠNG QUẢNG TRỊ TRONG THƠ LÊ THIÊN MINH KHOA

Friday, December 23, 2011

CHÙM THƠ VỀ NOEL


NOEL VẮNG EM

Gửi em chút rét mùa đông
Phơn phớt lạnh để má hồng thêm xinh.
Em là ngọn nến lung linh
Trong đêm lễ hội giáng sinh diệu kỳ.
Thả hồn vào chốn mê ly
Tôi mong được ước những gì nến ơi?
Đêm nay mới thật tuyệt vời
Trăm năm xin đợi người ơi hãy về.
Tình ta nồng thắm duyên quê
Noel năm ấy câu thề nhớ không?
Tình anh chôn chặt đáy lòng
Bao điều muốn nói mà không thành lời.
Gửi người yêu cuối phương trời
Giáng sinh trong ấy tuyệt vời không em?
Tôi đăm đăm nỗi khát thèm
Sánh vai em để cùng xem đêm hồng.

Giáng sinh có rét mùa đông
Ấm lòng tôi ngọn nến hồng là em!
                      Lương Thế Hùng


MÃI TRONG NHAU

Giáng sinh dịp rét cuối đông
Em tôi chẳng chút phấn hồng vẫn xinh
Chấp tay em nguyện Chúa linh
Cầu cho hạnh phúc chúng sinh thường kỳ
Người người đừng có phân ly
Bên nhau toại ước những gì Người ơi
Thiên đường Chúa ở cao vời
Trần gian con sống Ngài ơi ngự về
Mong cho tình đẹp chân quê
Lời nguyền trong trắng hướng về nẻo không
Bên anh em giữ vẹn lòng
Dẫu cho gian khổ quyết không nửa lời
Một mai mỗi đứa mỗi trời
Giữ mình chung thủy chẳng rời nghe em
Nếu có  dục vọng khát thèm
Nguyện xin ơn Chúa dẹp êm lửa lòng

Bao năm vẫn rét cuối đông
Tình yêu dưới  Chúa mãi hồng trong em . . .
                            Võ Làng Trâm

 BAO GIỜ . . .

Tôi qua ngưỡng tuổi cuối đông
Còn  em vẫn cứ tươi hồng,đẹp xinh !
Cầu xin ơn Chúa hiển linh
Ban cho phép lạ tái sinh thần kỳ
Kể từ dạo ấy,chia ly
Đôi đường cách biệt,mong gì người ơi .
Câu thơ dang dở nửa vời
Cuộc cờ chưa dứt,hỡi ơi,thu về !
Vầng trăng trên bến sông quê
Vẫn còn ghi đậm lời thề giữa không
Đớn đau trĩu nặng trong lòng
Thiếu người chia xẻ,nói không nên lời !
Tìm nhau góc bể chân trời
Tháng ngày vò võ trông vời dáng em.
Ảnh xưa ngắm mãi,vẫn thèm
Đôi lòng kề cận chờ xem nụ hồng...

Rét về,trời đã sang đông
Bao giờ tình lại ửng hồng, hở em ?
                     Sông Thu




NOEL CÓ EM

Em ơi đến lạnh  mùa đông
Trời thì giá buốt má hồng còn xinh ?
Đêm về ánh nến lung linh
Vui trong lễ hội Giáng Sinh kinh kỳ
Thánh đường rực sáng mê ly
Em xin mộng ước những gì em ơi ?
Khung trời đêm lạnh tuyệt vời 
Bao nhiêu ý đẹp, Chúa ơi ! nguyện về
Cho thêm nồng ấm tình quê...
Anh cùng thành kính khấn thề trời không
Bao năm chất chứa trong lòng
Cầu Trời, cầu Chúa, cầu mong mấy lời
Thiên thần ngự trị cõi trời
Xin cho nguyện ước suốt đời bên em
Thỏa lòng  tình mộng khát thèm
Bên nhau sum họp vui xem đèn hồng...

Giáng Sinh trời  lạnh đêm đông
Mà anh vẫn ấm bởi lòng có em!
                             Cao Bằng
READ MORE - CHÙM THƠ VỀ NOEL

Thursday, December 22, 2011

TIÊN SƠN THI TẬP (trang thứ 25) - Lão nông thi sĩ LINH ĐÀN phụng dịch


Hiệp Biện Đại Học Sĩ TRẦN ĐÌNH TÚC (1804 - 1892) người làng Hà Trung, huyện Địa Linh (nay là Gio Linh), tỉnh Quảng Trị, làm quan đến Tri Phủ Vĩnh Tường, Thượng Thư triều Tự Đúc, Tổng Đốc Hà Nội.

Năm 1873 từng được cử ra dàn xếp vụ Francis Garnier ở Thành Hà Nội, năm 1883 là Chánh sứ trong vụ thương thuyết hiệp ước với Harmand.

Di cảo để lại có Tiên Sơn Thi Tập, khoảng 260 bài thơ. với 130 trang, khổ 12x18 giấy dó, viết tay bằng tự loại thảo thư.
Thơ trong Tiên Sơn Thi Tập của cụ chủ yếu là tự sự, vịnh cảnh, nói về quan hệ bạn bè với thi hữu đương thời như Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Hàm Ninh vv … Lâu nay ít phổ biến rộng rãi trên thi đàn Việt Nam.

Thơ chữ Hán của các Vị tham chính rất có giá trị về thời gian như thơ cụ Trần Đình Túc là chứng nhân lịch sử.

Không muốn trước tác của người xưa đi vào quên lãng, thân hữu của gia đình Ông Trần Đình Tài (hậu duệ đích tôn đời thứ 5 của cụ Trần Đình Túc) đang chú thích, phiên dịch Tiên Sơn Thi Tập.

Linh Đàn phụ trách phiên dịch và giới thiệu với bạn đọc trang thứ 25 của tập thơ : Linh Đàn rất mong được sự chỉ giáo cao minh của Quý Vị.

                餞刑部司務陳德弘
        
         青眼相看索老何
         每逢吾子客中過
         人知雁影雲邊小
         髮併鬚行雪裏多
         仙肯萬分拋富貴
         塵心一半抱熏譁
         那愖別後長相憶
         清緒悠悠寄白霞
                                  陳廷肅




Tiễn Hình bộ Ty Vụ Trần Đức Hoằng

Thanh nhãn* tương khan tác lão hà
Mỗi phùng ngô tử khách trung qua
Nhân tri nhạn ảnh vân biên tiểu
Phát tịnh tu hàng tuyết lý đa
Tiên khẳng vạn phân phao phú quý
Trần tâm nhất bán bão huân hoa
Na kham biệt hậu trường tương ức
Thanh tự du du ký bạch hà

                Trần Đình Túc


*Thanh nhãn  =  Mắt Xanh. Nguyễn Tịch trong Trúc Lâm Thất Hiền, khi tiếp người hiền thì mắt xanh, khi tiếp kẻ tiểu nhân thì mắt đục, ý nói biết nhìn người.

Dịch thơ
Tiễn Hình bộ Ty Vụ Trần Đức Hoằng 
             
Già cả nhìn nhau đôi mắt xanh
Mỗi lần gặp gỡ đến người thanh!
Cũng như bóng nhạn mây biên ải
Nào khác râu hàng tóc tuyết quanh
Ý lão chẳng màng muôn phú quý
Lòng trần giữ trọn nửa tinh anh
Mai sau cách trở còn nguyên ước
Lửng thửng tơ xanh gởi ráng thành
          
Linh Đàn phụng dịch

READ MORE - TIÊN SƠN THI TẬP (trang thứ 25) - Lão nông thi sĩ LINH ĐÀN phụng dịch

CHÙM THƠ LỤC BÁT- NHIỀU TÁC GIẢ


THƠ SAY  

Câu thơ viết giữa cơn say
Cho điên đảo đất cho quay quắt trời.
Đưa tay níu vội tiếng cười
Nghiêng vào đôi mắt của người chưa quen.
Lơ mơ thật giả sang hèn
Vài ba chén chửa bõ bèn mà say.
Hai tay nâng lấy vơi đầy
Ừ thôi... uống cạn chén này... ừ thôi.
Ai người đỏ má hồng môi
Mà câu thơ cứ nổi trôi dập dềnh...?
Bình khô bỗng chốc nhẹ tênh
Men tình em cứ bồng bềnh trong tôi.
Ngoài kia trăng đã lên rồi...

LƯƠNG THẾ HÙNG


TÌNH SAY

Thơ mà viết được lúc say
Học đòi Lý Bạch lăn quay giữa trời
Vừa ngâm vừa đọc vừa cười
Qua lại trông thấy người người làm quen
Mắt mờ đâu rõ sang hèn
Sờ tay quờ quạng lại bèn nói say
Ghé miệng tu cả chai đầy
Khề khà viết tiếp bài này mới thôi
Thơ tình ngọt lịm bờ môi
Nghe sao như thể mây trôi dập đềnh
Dù trong tâm trạng buồn tênh
Em như chiếc bóng bồng bềnh bên tôi
Cuộc đời dẫu xế bóng rồi ,
. . . Thế Hùng anh hỡi chơi bời quá tay ! . .

VÕ LÀNG TRÂM. 
                                        

THƠ TÌNH SAY

Bài thơ tình viết lúc say
Hơi men chếnh choáng, văn hay ngút trời
Mặc ai quở trách chê cười
Cho ta tỏ chút tình người mới quen
Thân nhau chẳng kể sang hèn
Gặp nhau mấy thuở, chi bèn cứ say
Chén thù chén tạc vơi đầy
Tình anh, tình chị vui vầy không thôi
Rượu vào má đỏ hồng môi
Tình em phơi phới, hồn tôi dập dềnh
Tiệc tàn bình đã nhẹ tênh
Ra về tiếc nuối, ngở ngàng trong tôi
Ô hay! Ta đã si rồi…!

VĂN THANH
                         

TA SAY

 Ngã nghiêng người tĩnh, ta say
Bình chưa cạn rượu đã quay đất trời
Mắt đang nhòe ướt chợt cười
Vì đâu nông nỗi, hỡi người vừa quen
Thương nhau đâu kể thấp hèn
Tình trong gối mộng, ngoài thềm trăng say
Cạn ly ta lại chuốc đầy
Rã rời, khập khểnh...lần này...nữa thôi!
Sầu tình mượn chén mềm môi
Thuyền chưa đổ bến, mãi trôi đầu ghềnh
Thơ lưng bầu rượu buồn tênh
Tái tê đầu lưỡi chồng chềnh hồn tôi
Tĩnh ra!...Thuyền đã xa rồi...

THU VÂN
                                        

NHỚ ĐÊM SAY

Nhớ xưa có một đêm say
Bóng trăng chếnh choáng mây bay lưng trời
Bên nhau khúc khích giọng cười
Dìu nhau lảo đảo hai người yêu quen
Nhà tranh một mái đơn hèn
Hai trái tim bên ngọn đèn yêu say
Chén thù chén tạc vơi đầy
Đêm dài say mãi tình này không thôi
Một đêm cận má kề môi
Say thôi phách lạc hồn trôi dập dềnh
Bây giờ nhớ lại buồn tênh
Đêm say xưa ấy còn bền trong tôi
Thương ôi,một thuỡ xa rồi

MẠNH TRƯƠNG.


MỘT LẦN SAY

Ước chi có một lần say
Ngả nghiêng vũ trụ,ngừng quay đất trời
Tha hồ được khóc,được cười
Đưa tay níu chặt tay người mới quen
Không còn cách biệt sang hèn
Đã vui hội ngộ, ta bèn cứ say.
Mắt em giếng ngọc trăng đầy
Hồn tôi ngụp lặn đêm này quên thôi.
Ửng hồng, tươi thắm làn môi
Tóc như sóng gợn, mây trôi dập dềnh
Thân em sợi khói nhẹ tênh
Lửng lơ, quấn quít, bồng bềnh bên tôi.
Tình ta chắp cánh bay  rồi....

 SÔNG THU


 ĐẤT CŨNG SAY

Ta sầu ta lại uống say
Sầu chi đất cũng lăn quay giữa trời
Ta say ta khóc ta cười
Đất say đất ngã nghiêng người đã quen
Ta say vì nỗi thấp hèn
Đất to lớn quá ai chèn mà say?
Kìa sông kìa núi vơi đầy
Còn ta hồn chiếc, thân gầy mà thôi
Ta say vì uống mềm môi
Uống gì mà đất cũng trôi dập dềnh?
Tưởng rằng tôi nhẹ tênh tênh
Ngờ đâu đất cũng bồng bềnh như tôi
À ra tri kỷ đây rồi!

CHÂU THẠCH

READ MORE - CHÙM THƠ LỤC BÁT- NHIỀU TÁC GIẢ