Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, December 7, 2011

HOÀNG VĂN CHẨM - CHÙM THƠ

                     
                         THEO CHÂN NGƯỜI ĐI 

                     Chiều nghiêng theo em bơ vơ
                     Bước đi nặng trĩu cơn mơ chập chùng
                     Kéo tay giữ một tận cùng
                     Lòng ai bỏ lại thương mong ngày về.
                     Câu thơ theo bóng người đi
                     Nhịp đời lặng lẻ những khi chợt buồn.
                     Em đi lôi cuốn ngọn nguồn
                     Chia đôi khúc nhớ nghe hồn gọi nhau.
                                 
                                                                Sg  24-10-2011


                                Tranh của Hà Huỳnh My

             TÓC GIÓ L
ỜI RU

            Trong mắt em vời vợi một ngàn lau
            Mới biết mong thương kéo lại gần nhau
            Một hơi thở nhẹ dậy lên gió cuốn
            Mấy mươi năm đi lạc hãy về mau

            Về ngó lại mặt mày xưa tóc trắng
            Vun vén tình mà trả nợ hư không
            Em có biết ai mang theo nỗi nhớ
            Về với mùa thu thức với dòng sông

            Bên con hồ mù sương buồn phố núi
            Ai lặng thầm soi bóng với chiều thu
            Một bóng dáng đi về buông tóc gió
            Bay suốt đời tình em một lời ru

                                                       09 tháng 8 -2009
READ MORE - HOÀNG VĂN CHẨM - CHÙM THƠ

Tuesday, December 6, 2011

NGỤY NGỮ - RỪNG TRẦM MAI SAU


Đồi 108. Những tảng đá lớn chồng kênh lên nhau, những cây đa cây sanh đầy rễ phụ nhánh cành, những hốc sâu bày ra giữa đá, những mảng rêu đen, những khoảng lá mục tụ đống, những cành cây khô gẫy, những tiếng động nhỏ, những tấm poncho căng trải. Đêm sắp tàn. Giữa hai tảng đá lớn vây che, bếp lửa đã lụn, ngọn se thấp xuống và than đỏ hừng. Trung đội, 24 giấc ngủ mịt mù những mơ mộng khuất lẫn sau lưng đời sống, giữa lá cây, trong bao nhiêu bày biện khác, không ai có thể tham dự vào ai. Có đứa nào đang mơ thấy mẹ cha, làng xóm. Mẹ thì già, cha thì yếu, vợ con thì nheo nhóc xa xôi. Tất cả đang thăm thẳm giữa hơi đất và đêm. Đêm sắp hết. Đêm bình yên hiền hậu. Vầng trăng hạ tuần mòn chếch xuống. Ánh trăng sáng trắng trên vải nhựa poncho, trên da đá ướt sương.  Một thằng nào đó nói mơ, không ai nghe rõ. 5 giờ kém 5. Ngón tay đưa vươn ra khỏi cành lá rủ thấp, chỉ theo ánh trăng.

- Phương tây là phương này ?

- Ư. Phương tây.

Phương tây, trăng lặng lẽ, trăng lặn về. Ngón tay thu lại. Cành lá bất động. Yêu nhau cho đến bao giờ, vạc kêu sườn núi trăng mờ đầu non. Vạc là con chim mù, ban ngày không thấy gì cả. Câu ca dao thì thầm, khuôn mặt tối khuất, vết sẹo nào đã không còn thấy được. Thằng binh già, 19 năm lính, vết sẹo của chiến trường Điện Biên, câu ca dao của thời xa xưa lảng đảng và bóng người vợ bồng con chờ, trải dài trong trí trưởng. Một điếu thuốc mồi vào que lửa, bắt cháy, khói tỏa ra, hương thơm ấm trong sương lạnh. Bastos à ? Ừ, Bastos xanh. Cho xin điếu. Điếu thuốc, hai ngón tay kẹp cứng, đôi mắt đăm đăm trên đóm lửa mới dính vào, đang sáng lên, sáng lên theo hơi thở. 
- Mấy giờ mình về ?
- Về đâu ?
- Xuống núi.
- 6 giờ.

Hai cái bóng mù. Trăng càng lâu càng nhạt loảng. Hình như có gió vừa xua động trong lá cây. Khuôn mặt ngữa lên tìm ngó. Một cành khô trơ vơ vươn dài ra, in rõ giữa nền thinh không sâu thẳm, vài ba chấm sao xa ngút. Gió rì rào dưới chân núi, trong vùng rừng dày bưng, nơi sẽ đến. Một lúc nữa, 6 giờ, những tiếng chân chập chờn ở đó, rừng  bít ngạt và mùa đông chưa qua. Xuống núi, vào rừng. Vào rừng rồi đến đâu nữa. Ra lộ. Lộ, đường. Đường nhựa, đường đất, đường chông mìn, đường gập gềnh mất trí, đường không lối. Đ.m, 19 năm lính phải không? Mặt trận Điện Biên thế nào. Cái xẻng mòn, cuối mặt trận, dưới bóng cờ bay, cái xẻng chỉ còn khúc gỗ, mấy chiếc đinh đeo dính vào, cây súng hư, 6 viên đạn, xác Tây thối ình. 17 tuổi phải không? Cha mẹ chết cháy với cửa nhà, lang thang không cơm ăn áo mặc, lượm đồ hộp của lính Mỹ, bị xã bắt, quận giam, tình nghi theo du kích. 18 tuổi phải không? 30 tuổi phải không? Đằng kia thêm một thằng nữa mới dậy. Tấm poncho động đậy, cái dáng lù đù chui ra như  một con thú mõi mê xanh bầm sau mùa đông dài nhịn ăn ngủ chết. Mấy giờ rồi? 5 giờ 25. Nấu gì thế? Trà? À trà. Cái ca nước đặt trên bếp lửa bắt đầu sôi. Ngụm trà nhúm đầu tay, bỏ vào, từ tốn như một kẻ hưởng nhàn. Hương trà bốc ra thơm nhè nhẹ loảng trong không khí. Thằng mới đến xin điều thuốc, trèo mỏm đá bên cạnh  ngồi quẹt lửa hút, trông xuống vùng thung lũng phía dưới, hai chân bỏ thỏng đong đưa, cái bóng im nổi trên khung trời ngã bạc. Ca nước truyền tay nhau uống, đưa lên.
- Uống mày.

Trà nóng ấm rát đầu môi, trôi xuống cổ họng, ran trong lòng ngực. Hơi nóng và sự im lặng bát ngát. Ba cái bóng người va bao nhiêu bóng đá bóng cây. Những đóm lửa lập lòe nặng trĩu. Cuối tầm mắt, bên kia rừng, núi xếp thành dãy dài, vây lấp hết  phía sau. Những đỉnh núi lờ mờ trên màu sáng nhạt yếu. Một đỉnh nào đó có hai khối đá dựng cao, đá  hình mẹ bồng con nhìn hoài về ngã biển như chuyện kể, như thơ nhạc lưu truyền. Vọng phu. Một thằng hỏi.
- Hòn vọng phu ?
- Ừ.
Tiếng hỏi, tiếng trả lời, đôi mắt hấp háy trên khói từ ca nước bốc lên. Những ngón tay động đậy gõ vào đá theo một khúc nhạc tình cờ. Đá xếp chồng lặng lẽ, ấm dưới chỗ ngồi. Đá lớn, đá chất lên nhau. Đá chênh vênh với trăng, sương mù những người đi qua mất dấu. Tiếng sáo thu lại, thấp xuống, khoảng vắng vẻ nào hụt mở trên cao? Có con chim nào vừa tỉnh giấc, có thằng lính nào trong giấc ngủ mơ thấy vợ con, cửa nhà vôi trắng giọng cười, có đứa bé nào bật khóc dưới làng mạc xa bên kia núi, có ánh đèn nào mới đốt lên, có ai còn xuôi vạn lý? Có ai xuôi vạn ly, nhắn đôi câu giúp nàng. Nàng, người thiếu phụ của nghìn năm đó, em trở dậy rồi đó phải không: em đang mở lớn đôi mắt to đen phiền muộn đăm đăm trông ra từng ngày thấp thoáng ngoài khung cửa, hỏi thầm: Chàng về hay chưa? Vâng, có ai về để nhắn với nàng đốt lên cây hương gỗ quý. Đốt lên, bởi lẽ đó là tình yêu, là lòng anh, kẻ không về được nữa. Đó là kỷ niệm của mẹ cha từ ngày thanh bình nào thời trước, là ân sủng của thượng đế, kỳ quan của trái đất. Thương nhau. Tình yêu. Hãy đốt lên tìm gặp anh trong khói thơm, tình yêu của đời đời không ăn năn bội phản. Đốt lên và khuôn mặt tỉnh lạnh, không than khóc. Những ngàn năm đã qua nữa sẽ qua. Tiếng sáo lan xuống, vắt vào những triền đá chất dốc, trãi lên vùng rừng thẳm rộng, tràn xa, tràn ra xa tít. Cuối vùng rừng là núi, bên kia núi là biển. Biển bờ dài tắp sóng xanh. Tiếng sáo thu về gần gũi. Khuôn mặt cúi, những ngón tay trở mình. Tiếng sáo chuyện trò về những năm tháng những nước bạc, vầng trăng, thanh kiếm thần, nàng vợ trẻ, đoàn người nghe chim lạ hót lên núi phương nam, câu hỏi thúc hối: Chàng về hay chưa? Non núi đang vây quanh nàng, đứa con trai thôi khóc. Tiếng sáo ngừng lại. Những con vật lùng bùng dưới từng tấm vải căng che. Những cánh tay dụi mắt, những tiếng ngáp, thở dài. Không ai trả lời. Vầng trăng yếu dần. Khối đá còn khuất chưa thấy được. Có phải có người bồng con đứng cho đến khi hóa đá, đứng từ cuộc chiến tranh nào đó đã xa vời. Bao nhiêu cuộc chiến tranh tiếp theo.
- Tượng vọng phu có từ năm nào ?
- Ai biết.

Những động tác chập chờn giữa bóng tối, khoảng im lặng kéo dài. Ai biết. Không ai biết. Không ai còn điều gì để nói cả. Ngày tối, qua đêm, đêm, sáng, ngày. Đêm, ngày, đêm, ngày, đêm. Cứ thế. Bóng tối thì bí ẩn và ánh sáng thì khốn nạn, ngập ngụa mồ hôi. Cả hai đổ ập vào nhau trộn quánh múa máy và một lũ người không buồn cười nói, trống rỗng, tối đen. Một đêm nữa sắp qua.

Chợt thằng trên tảng đá nói cái gì đó nghe không rõ, một thằng ở dưới cầm cái que dài có buộc dây đưa lên. Ống sáo. Thằng ngồi trên đón lấy nhìn sơ qua, vuốt lau lớp sương bám, bàn tay chạy dọc thân ống. Trăng soi sáng trên lớp da tre khô bóng nhậy. Một phần lớn thời gian của đời người vô vọng chấp chới đã tụ đậu trốn ẩn vào đó, bóng loáng dần, không ai nhớ được. Những chiếc lỗ sâu hút, những ngọn lá lặng thinh, những nhánh cây vươn cao, vầng trăng phương tây buồn bã. Tiếng sáo bắt đầu. Âm thanh ru dỗ quen thuộc của đơn vị từ khi hắn đến, thay vào chỗ của những thằng đã bỏ trống. Tiếng sáo nhẹ ngắt quảng ngắn lấy đà rồi thì thầm lan trải ra, len vào từng kẽ đá, từng hơi thở. Khói thuốc, hất ngược lên ngợi ca lòng mẹ thương con. Lòng mẹ như biển khơi, như con núi. Trăng tà im nghe mẹ hát, khuya  nín thở, sương lặng thinh, gió thôi đọng, nghe mẹ ru hời. Tiếng sáo và những niềm bâng khuâng trải ra chập chùng gợi nhớ. Khúc nhạc hết. Một ngụm nước trà, một khói thuốc và khúc khác.Vẫn cái âm thanh cũ, kể lể thì thầm, nối móc vào nhau rồi hất ngược lên, cao lên, cùng sao sương. Ai xuôi vạn lý, Có ai xuôi vạn lý bây giờ, đêm chưa sáng, mùa đông chưa qua, đoàn quân chưa xuống núi, những giấc ngủ còn mê muội mỏi nhừ. Hai mươi bốn con. Hôm nay có con nào trong bầy sẽ chết. Một ngày nữa, những bản án đang bầy nhầy giữa tay chân bọn thần linh lông lá, những bữa cơm gạo khô, những hạt muối, những giọt mồ hôi. Bao nhiêu đứa sẽ còn lại đến lúc trăng lên. Tiếng sáo tiếp tục, bắt đầu kể lại từ khi những ngọn núi ngây thơ chạy ra ngoài biển lớn với mắt ngóng trông. Núi trông, núi thành đảo rời, sóng vỗ thầm lời hỏi nhỏ: Chàng về hay chưa? Nàng thành đá lạnh tanh trên đỉnh cao giữa lá cây suối nguồn. Chàng về hay chưa? Chàng về hay chưa? Chưa! Chim lạ hót. Chim hót tràn lan cả trái đất, binh đao ngập ngụa máu xương người. Bao nhiêu năm Mậu Tý, chàng làm sao về. Mười chín năm lính trên đất đai này, đánh Nhật, đuổi Tây, ăn nằm trong những địa đạo Điện Biên, mặc quần áo viện trợ rộng xùng xình ngồi bó chân nghe sáo. Hai mươi tuổi bỏ học đeo dao găm chưỡi thề quen miệng. Mười chín tuổi ốm nhòng như con cá phơi khô, cây súng liên thanh dài gần bằng thân thể. Hai mươi bốn tuổi chết vợ chết con, làng cháy không cha mẹ cửa nhà. Mười tám tuổi quanh năm bị lậu, đái ra mũ đặc vàng. Làm sao mà trở về. Sáng, xuống núi, băng rừng, chới với giữa sên đỉa muỗi mòng và ngủ vùi thiếp quên dưới lớp ruồi xanh bu đậu. Những viên đạn sẽ thoát ra khỏi nòng, tiếng nổ dội chói, mắt cay và lòng không thù hận.

Khúc nhạc hết. Cây sáo gác ngang xuống vế. Ca nước trà chưa lạnh hẳn, một điếu thuốc nữa. Đêm đã qua. Những tiếng chữi thề lầm bầm xung quanh. Lửa sáng sau hốc đá, tay sưởi, mặt cúi. Lệnh truyền khẽ: thôi đi. Lệnh truyền qua miệng nhau. Đi. Ba lô, dây đạn, súng dao quàng vào vai vào hông. 6 giờ kém 5, xuống núi. Vạn lý là một vùng tưng bưng kín gù góc vô vọng rã rời. Hai mươi bốn thằng chậm chạp. Hai mươi bốn giấc ngủ vừa bay xa cùng những ảo ảnh mộng mị chập chờn mẹ cha làng xóm con vợ ruộng đồng. Đoàn người đi tới. Đá dựng đứng bên sau. Có con mắt nào trong khe kín ngó theo, biết được thằng sắp chết, muốn gọi to lên, kêu ngừng lại, khuyên trốn đi, nhưng bị ngạt chật miệng lưỡi, không thể kêu được. Con đường dốc chúi. Ngày căng rộng ra, chấp choáng trên từng lá cây. Bước tới. Vạn lý, quan san, bên đời, trong bóng gian nan. Bước, bước tới nữa đi, bước tới nữa, lặng lẽ, u mê cho một hôm nào rừng đầy hương thơm gỗ quý. Rừng trầm. Cho những bàn tay tàn úa đốt lên tưởng tiếc với lời chim ngợp trời báo tin kinh hoàng cuộc giao tranh mới, những con cháu đời sau./.

Ý Thức số 1, ngày 1 tháng 10 năm 1970

www.vanchuongviet.org

Đăng lại trên 4phuong.net
READ MORE - NGỤY NGỮ - RỪNG TRẦM MAI SAU

PHAN VĂN QUANG - LANG THANG TRƯỚC MÙA NOEL





1.
Đã thăm Núi nhạn Chóp Chài
Đá Bia ghi dấu hình hài phong sương
Lâu đời xứ đạo tháp chuông
Có ghềnh Đá Đĩa mười phương cũng về.


2.
Lắng đêm từng nhịp chơi vơi
Chuông ngân bóng đỗ nẻo đời xưa xa
Nghe mùa hợp xướng Thánh ca
Đón Noel tới - phôi pha hửng hờ.


PVQ
READ MORE - PHAN VĂN QUANG - LANG THANG TRƯỚC MÙA NOEL

Monday, December 5, 2011

CHÂU THẠCH - CÔ TIU


(Cảm tác bài viết
“Đời Cô Tôi”của Hà Thạch Hãn)
                                        
“Hòn đá lăn hoài hòn đá nhẳn
Hòn đá lăn hoài hồn đá không rêu”
Ba mươi năm cô Tiu đã lăn đều
Lăn  đến nhẳn suốt một đời cô giáo. 

Cô  chẳng bận lụa là chi tấm áo
Chẳng mong chi tích lũy  đến phân vàng
Trong ngôi nhà  hiu quạnh giữa thôn trang
Cô  lặng lẽ một mình ôn kỷ  niệm. 

Những em bé  xưa tay nhòe mực tím
Mang tâm hồn cao đẹp đến muôn phương
Mơ thay cô những hoài bảo phi thường
Dùng kiến thức cô trao làm cánh vượt. 

Những bàn tay viết run run thuở trước
Nay xây bao cao ốc chọc mây trời
Lái cánh bằng vượt qua mấy trùng khơi
Cầm tay súng giữ  bình yên bờ cõi. 

Những đứa trẻ vàng da cơn thiếu  đói 
Nay đứng trên bục giảng những ngôi trường 
Nối tay dài tiếp sự  nghiệp văn chương
Cô  dành trọn một đời không đổi bước. 

Cô  là tượng tay người không nắn  được
Cô  là tiên nét đẹp ở  trong tâm
Là  công dân đệ nhất nước thanh bần
Là  cô Tiu, cô giáo già  hưu trí .
                                              

Châu Thạch


Ảnh: Từ làng Câu Nhi nhìn ra ngả ba sông (Ảnh NKP)
READ MORE - CHÂU THẠCH - CÔ TIU

LÊ ĐĂNG MÀNH - GIỌNG LÀNG!


Mỗi lần người ghé thăm quê

Chân trần khẽ chạm mà nghe giọng làng

Cúi đầu trước áng dân gian

Không bác học mà mênh mang ngôn từ

Muôn đời trăng nhuộm vàng thu

Mà còn “nghếch”* với lời ru quê mình.

 Tre già an phận lặng thinh

Cho măng vịn nắng cựa mình xôn xao

Rơm vàng** phụ rẫy bếp cao

Nằm chơi nắng lội lao xao ôi buồn

Dẫu vất vơ giữa vô thường

Một mai hóa kiếp lót đồng xanh quê

Lắng lòng đong đếm mà nghe

Cảo thơm quê giữ để che chở làng

Đời còn rộng giữa xênh xang

Thì còn cố quận vấn vương ngọt ngào

Đây nơi cắt rốn chôn nhau

Xin đừng nhuộm lưỡi mà đau giọng làng./

                                      

Mùa đông lamnguyethien

Lê Đăng Mành

*“Nghếch”:phương ngữ,oốc doộc.(rất rộng nghĩa)

**“Rơm vàng….. bếp cao”: Phương tiện nội trợ. Hiện nay là ga và điện

 
READ MORE - LÊ ĐĂNG MÀNH - GIỌNG LÀNG!

NGUYỄN THỊ LIÊN HƯNG - NHỚ SẦU ĐÔNG

 Một chiều cuối tuần, tôi ngồi nghe chuông gió mắt nhìn tia nắng nhạt cuối trời. Lòng bỗng nhớ quê da diết, nhớ dòng sông, nhớ cánh đồng, nhớ con đò ngang, nhớ bụi tre già đầu ngõ...Ôi nhớ....Nỗi nhớ đã khiến tôi vào trang web lần tìm… chợt một chùm hoa sầu đông tím đập vào mắt tôi. Chao ơi! Tôi đã chiêm ngắm trong nỗi xúc động nghẹn ngào, cảm ơn người biên tập đã minh họa chùm sầu đông với những cành hoa li ti tim tím nhớ lên trang Web. Lâu lắm rồi tôi chưa gặp lại loài hoa nầy, chỉ là những hình dung trong trí nhớ. Bây chừ cành hoa đó như lay động trong tôi, dù chỉ là một hình ảnh không nắm bắt được. Ôi hồn quê! Với người Quảng Trị tha hương chúng ta là như thế đó, đâu cần gì nhiều, đôi lúc chỉ là một bài viết ngắn, một tấm ảnh đơn sơ hoặc một giọng à ơi quen thuộc cũng đủ làm xao động nỗi tư cố hương.
Ôi hương sầu đông! Hương quê nhà Quảng Trị sao cứ tím mãi trong tôi dù đã bao năm lìa xa quê cũ.

        
Quảng Trị quê ta không chỉ là vùng đất khô cằn cày lên sỏi đá, không chỉ đau buồn tủi   phận trong câu ca Mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn... mà còn lắm niềm tự hào không nơi nào có. Ai đã từng về bên sông Thạch Hãn soi bóng nước để nhớ một thời đường Gia Long lộng gió? Ai đã từng ngậm ngùi bước trên phố xưa để mơ về Nguyễn Hoàng của một thời áo trắng? Ai ra Đông Hà rẽ về Cửa Tùng, Cửa Việt? Ai về Bích La ngắm bóng chiều trên ngã ba sông nhớ ghé thăm cô hàng bán Nem lụi ở chợ Sãi, ai về Hải Lăng không chỉ mồ chen cát trắng mà còn cả những đồi sim tím cả rừng chiều, rồi dòng Vĩnh Định Giang hiền hòa đưa nước ngọt và phù sa cho những xóm làng yên ả. Ôi ngày xưa...Ngày xưa vẫn sống mãi dù bây chừ đã thành ruộng lúa bể dâu. Những gợi nhớ ấy phải chăng là hương quá khứ còn đọng mãi với thời gian, phảng phất đâu đây trong tâm hồn người viễn xứ?


Nói về hương quá khứ thì trong tôi luôn đầy ắp những hương quê. Nào là hương lúa đồng nội, hương cau bên thềm, hương giàn thiên lý đầu hè, hương đồi sim tím … cơ man  làm sao kể xiết. Nhưng với tôi, có lẽ mùi hương sầu đông là ấn tượng nhất, bởi vì suốt một thời thơ ấu tôi đã đếm tuổi không chỉ khi hoa mai nở mà cả mùi hương sầu đông thoang thoảng báo tin mỗi độ xuân về. Còn bao năm qua, những miền đất tôi đến, tôi đi ...chưa hề được thấy những chùm hoa tím dịu dàng đó, để hôm nay tôi bất ngờ ngộ cố tri trong niềm thương lặng lẽ.                                               

                                                ***

Tôi vốn sinh ra trong một xóm nhỏ mang tên Bắc Tả của làng Lam Thủy, có rặng tre già bao bọc xóm thôn, có cánh đồng rộng cho bầy cò sải cánh bên dòng sông Vĩnh Định lặng lờ trôi theo năm tháng. Tôi là con gái của dòng Nguyễn Ngọc, đa số những ngôi nhà của cái xóm Tả nhỏ bé thuộc về họ tộc này. Như một thông lệ, cứ sinh ra con trai thì đặt tên là Nguyễn Ngọc … chi đó, còn con gái nếu muốn đặt thêm chữ đệm thì dứt khoát phải là Nguyễn Thị Ngọc … chi đó. Chỉ có nhà tôi là phá lệ, ba tôi không dùng chữ Ngọc làm tên đệm cho chị em chúng tôi mà lại là An Lành, Liên Hưng, Vĩnh Phước. Bởi thế mà khi vào học trường tiểu học Lam Thuỷ, gặp lớp ông anh họ thuộc dòng Nguyễn Ngọc dạy, tôi bị anh la cho một trận vì cái tội “tự ý sửa tên, Ngọc Hưng sao viết thành Liên Hưng?” vì thuở đó có những đứa con gái khi ở nhà mang tên Chút, Chít, Nậy … khi đi học tự ý ghi tên vào nhãn vở là Hoa, Lan, Huệ … cho đẹp. Bị mắng oan tôi về khóc với ba, thứ nhất là mất chữ Ngọc, thứ hai là bị lũ con trai trong lớp trêu ghẹo rằng con gái mà mang tên Hưng của tụi hắn và “xin ba sửa tên lại cho con”. Không những ba tôi không sửa mà còn phán một câu rằng ông đã lục hết sách vở mới tìm được cái tên vừa ý để đặt cho tôi, sao đổi được. Thấy tôi còn tấm tức, ông bèn giải nghĩa cho tôi Liên là gì, Hưng là gì, ông đặt tên cho tôi như thế là kỳ vọng vào tôi điều gì v.v và v.v… Thế là tôi sáng mắt sáng lòng nhận cái tên cha mẹ cho một cách vui vẻ, về sau có ai thắc mắc con gái mà tên kỳ cục tôi lại hãnh diện giải thích chữ nghĩa y như kiểu ba tôi đã phân tích cho tôi từ thuở nhỏ. Sau này khi lớn lên, tôi càng thích cái tên đó hơn vì nó không hề bị trùng lặp. Khi bị ai đó gọi nhầm tên, tôi thường đính chính “Dạ, tên em không có ơ ạ!”.

Ngôi nhà của gia đình tôi là một căn nhà gạch ba gian, nhà ăn nhà bếp nằm ngang phía dưới nối liền với nhà trên  như hầu hết các căn nhà trong xóm. Mẹ tôi kể lại rằng gạch để xây căn nhà này là thu lượm lại của khu nhà lầu cũ, đó là một cơ ngơi khá lớn tọa lạc giữa khu vườn mênh mông. Mẹ tôi thường kể rằng khi mới về làm dâu, bà có lần đi lạc trong khu vườn đó. Từng dãy nhà ngang dọc con cháu, người làm … ai đâu ở đó, còn căn nhà chính để thờ gia tiên và nơi ông nội tôi ở thì khi có lệnh con cháu mới được vào. Khi chiến tranh xãy ra, giặc Tây đã lấy ngôi nhà để làm bản doanh. Khi rút đi, chúng lại bắt dân làng gánh rơm rạ chất đầy để đốt nhà. Hoà bình lập lại, ba mẹ tôi về, nhặt nhạnh từng viên gạch rơi vãi còn sót lại để xây nhà mới cho gia đình. Khi tôi chào đời thì không còn tiếng súng, tôi đã lớn lên trong căn nhà được xây lại từ tro tàn năm cũ bên cạnh những người thân. Ba tôi bận công tác xã hội trên quận, trên tỉnh cả ngày, chiều tối mới đạp xe về nhà. Mẹ tôi vẫn lam lũ một nắng hai sương với ruộng vườn để lo cho chồng con có miếng cơm tấm áo.

Trong vườn, ba tôi trồng đủ loại cây ăn quả, những cây quýt đầy trái căng tròn mọng nước, những trái mãng cầu chín khoe mắt nhung đen vì bị lũ chim ăn vụng, những quả thanh yên xanh xanh dòn rụm … hai hàng cau thẳng tắp luôn có bầy chim non ríu rít. Đầu hiên nhà, dưới giàn thiên lý là những cụm hoa mộc, hoa sói bên hòn non bộ có những tiên ông, tiên cô như từ trong cổ tích bước ra, vườn hoa từ đầu hè kéo dài ra tận ngõ, ba tôi lại trồng lắm thứ, nào hoa cúc vàng, hoa thược dược, phụng tiên, huệ trắng, mai vàng, mai đỏ, những cụm mẫu đơn khoe sắc, những cánh dành dành trắng nuốt thơm nức mà sau này tôi mới biết đó là một trong những loài hoa mang họ trà mi vương giả, rồi hải đường, phù dung… cây tường vi vươn mình đưa những chùm hoa hồng tím ra tận bụi trúc bên bờ ao, cả những loại cây ít người trồng như  hổ vỹ, cây quỳnh, cành giao …. cũng được bàn tay của ba mẹ tôi cùng nâng niu, chăm sóc. Bởi vậy nên vườn nhà tôi lúc nào cũng rập rờn bướm lượn đủ màu. Phía bìa sân, ngoài những cọng hoàng anh khoe sắc vàng tươi quanh năm, nhà tôi cũng có rặng chè tàu cắt xén và những hàng sầu đông như bao ngôi nhà khác ở trong xóm. Khi xuân sang, những chùm hoa sầu đông tim tím với những cánh mỏng manh bé xíu đưa mùi hương thoang thoảng không lẫn được với mùi hoa nào nhất là vào đêm trăng sáng, những chùm hoa lấp loáng dưới ánh trăng lay động trong sương đêm gợi cho trí óc nhỏ nhoi của chúng tôi những chuyện huyễn hoặc thần tiên trong cổ tích. Hè đến, những cánh hoa tím lại rắc đầy sân để nhường chổ cho những chùm trái non mơn mởn đong đưa trong gió nhẹ, chúng tôi hái trái để chơi ô làng. Trái sầu đông đầy cây bát ngát thế mà bị thua vài trái có khi tôi cũng chảy nước mắt vì tiếc. Rồi mùa thu về, những trái sầu vàng xuộm rụng đầy trên lối đi. Chúng tôi nhặt trái, ghé răng nhăn nhăn vào trái chín để thưởng thức cái vị vừa ngòn ngọt, vừa chát chát lại vừa đăng đắng một cách thú vị nhưng không dám ăn nhiều, say chết. Rồi mùa đông đến, những cành cây khẳng khiu không chiếc lá, trơ xương đón những luồng gió rét, nghiêng ngã dưới mưa dầm để chờ gió xuân cho một chu kỳ tiếp nối. Có lần, người ông đồng hàng ông nội tôi chống gậy đến nhà chơi, ông nhìn hàng sầu đông trước ngõ và cất cao giọng ngâm rằng “Sầu đâu đưa tới em hoài. Sầu trong chưa giải, sầu ngoài đưa vô" rồi bảo ba  tôi hãy đốn hàng sầu đông đi, trước nhà mà trồng cây sầu là không tốt. (Ở Quảng Trị, cây sầu đông thường gọi tên là sầu đâu). Rất may ba tôi không nghe theo lời ông, do đó tuổi thơ của tôi được lớn dần theo dãy sầu đông trước ngõ.


Bên góc sân cạnh nhà bếp, có một cây sầu đông to bằng cột đình, những tán lá cao như muốn vươn tới khoảng không gian bao la vô tận. Tuổi thơ tôi đã trôi qua êm đềm bên gốc sầu đông già đó. Dưới bóng mát tàng cây, tôi và thằng bạn cùng xóm đã bày đủ các trò chơi, kể cả trò chơi gia đình. Chúng tôi lấy lá chuối tươi xé nhỏ ra rồi túm lại cột thêm vào chùm tóc như cái đuôi gà dài, hắn trèo lên cây bẻ chùm hoa sầu đông cho tôi ôm trên tay làm cô dâu rồi khoác tay nhau đi đi lại lại một cách nghiêm trang. Sau đó chui vào nhà (được hai đứa dựng bằng cây sắn, cành sầu đông và lợp lá chuối tươi, các kèo cột được nối với nhau bằng dây chuối khô) rồi cùng hô lớn “trời tối rồi” thế là nằm ngay đơ, giả bộ ngáy khò khò như người đang ngủ. Một lát hắn lại giả tiếng gà gáy “ò ó o” và chúng tôi vội vàng trỗi dậy vì trời đã sáng. Bắt chước người lớn, hắn giả bộ cuốc đất, trồng cây bên cạnh bụi chuối (cuốc được làm bằng cây sắn còn nguyên gốc) còn tôi thì lo giữ con,  tôi bỏ con là chiếc bẹ chuối cắt thành hình người vào cái võng cũng bằng bẹ chuối ru hời những câu “Mẹ thương con ra cầu Ái Tử. Vợ trông chồng lên núi Vọng Phu”  hay “Chàng ơi phụ thiếp làm chi. Thiếp là cơm nguội để khi đói lòng”, v.v… Chao ơi là những câu hát ru của quê hương, tôi đã nghe và hình như đã thuộc làu từ cái thuở nằm nôi. Có khi tôi lại bắt một chú chó con để làm con. Tôi bế nó đi quanh sân, cất tiếng ru, cho nó ăn  và … đè ra đánh đít nó, miệng hỏi “trừa chưa, trừa chưa” làm nó kêu ăng ẳng rồi vùng chạy thoát.

“Ôi ngày thơ! Tình thơ!

Mất về đâu tuổi dại…”

Bạn nhỏ ngày xưa ơi! Có lẽ bạn không nhớ đâu, nhưng với tôi sao những kỷ niệm cái thuở bốn, năm tuổi ấy cứ mãi nằm trong tiềm thức. Mỗi lần hoài niệm quê hương, hình ảnh ngày xưa lại hiện ra rõ mồm một. Êm đềm quá! Thơ mộng quá! Phải chăng đó là một trong những ngăn ký ức đẹp nhất của một đời người?

Ngày xưa ơi !

Khi làng quê không còn yên ả với tiếng chày giã gạo đêm trăng, với mái chèo khua  dòng nước trong xanh hiền hoà trên con sông nhỏ, gia đình tôi đến ngụ cư tại làng Thạch Hãn. Ba tôi vẫn trồng hàng sầu đông trước ngõ để tưởng nhớ quê nhà. Ngôi trường Nguyễn Hoàng tôi học vẫn có sầu đông chen lẫn với hàng dương, tán phượng. Con đường từ nhà đến trường ngoài luỹ tre già lả ngọn vẫn thoảng mùi hương nhè nhẹ của hoa sầu đông mỗi độ xuân về.

Và thế... Mầu hoa man mác đó đã theo tôi suốt cả thời thơ dại, thổi vào hồn tôi niềm say mê, mơ mộng bay bổng như những cánh chim trời.

Rồi một ngày tôi lặng lẽ rời quê, bỏ lại sau lưng rặng tre già và hàng sầu đông vừa thay lá. Lời ca Thuyền Viễn Xứ người bạn học hát tặng tôi trong buổi chia tay cứ vang mãi bên tai làm tôi khóc lặng lẽ suốt cả chặng đường dài. Năm tháng trôi qua, những nơi tôi đến - tôi đi, mỏi mắt tìm kiếm cũng không bao giờ gặp lại loài hoa năm cũ. Một đôi lần trở lại quê xưa, ngang qua nhà ai có hàng sầu đông trước ngõ tôi lại đứng lặng thẩn thờ, bồi hồi như nghe mùi hương thoang thoảng đâu đây dù tiết mùa đã cuối hạ hay sang thu.

                                                 ***

Hương sầu đông. Hương quê nhà của tôi. Xin góp một vài dòng chữ nhỏ như những cánh li ti của một loài hoa không hề được trọng vọng, tôn sùng, một loài hoa dân dã nơi làng quê Quảng Trị. Loài hoa gợi nhớ cho một miền ký ức êm đềm bên dòng sông Vĩnh Định năm xưa của người con xa xứ./.

                                                     Một buổi chiều cuối thu năm 2006
Nguyễn Thị Liên Hưng
READ MORE - NGUYỄN THỊ LIÊN HƯNG - NHỚ SẦU ĐÔNG

Sunday, December 4, 2011

ĐẶNG TRIỆU PHONG - HOA CHẠC CHÌU


Cho anh chút chỉu chìu chiu.
Anh bứt dây chìu bó củi cho em.
Nếu tuổi thơ tôi không đi chăn bò.
Thì làm sao vượt được dốc Cồn Kho vào Rú Trấm
Làm sao biết hái củi sim bó bằng dây chạc chìu xanh thẩm
và làm sao thấy được một màu tím nép mình trong bờ gai bụi rậm
ơi hoa chạc chìu, hoa chạc chìu
Màu hoa mong manh nhuộm hồn tôi tím ngắt.
Những bó củi sim. Những con bò đeo lục lạc
Mùa đông Quảng Trị tấm áo tơi đan bằng lá kè 
và màu màu tím hoa chạc chìu lạnh buốt tuổi thơ tôi!
Tuổi thơ chập chờn. Tuổi thơ nghèo đói
Tuổi thơ lạnh lùng. Tuổi thơ vang dội
Tôi ôm vào lòng tuổi thơ ấy ra đi
Mỗi người đều có một thời trẻ dại để phân ly.
Những đứa trẻ chăn bò lớn lên trở thành người khác
Tôi trở thành kẻ mất em
Vĩnh viễn mất em
Như giọt mưa trên hoang mạc
Tôi hát với hoa trong suốt cuộc kiếm tìm
ơi hoa chạc chìu, hoa chạc chìu
Dây chạc chìu khô giữ nổi bó củi sim
Thì tím làm chi những chiều gió nổi?
Tôi trầm mình trong niềm hoang vu mong đợi.
Còn nhớ đến tôi dây chạc chìu hãy cứ xanh
Hãy cứ xanh dù mối tình đã lỡ.
Hoa chạc chìu, hoa chạc chìu ơi!...
 

Đặng Triệu Phong
READ MORE - ĐẶNG TRIỆU PHONG - HOA CHẠC CHÌU

NGUYỄN THỊ KIM CÚC - MÙA ĐÔNG QUẢNG TRỊ




Thương biết mấy ơi mùa đông Quảng Trị
Mẹ già nhen bếp lửa đợi chờ con
Củi không khô mắt nhòa hay mẹ khóc
Sợ con về mưa ướt quãng đường trơn

Thương biết mấy ơi mùa đông Quảng Trị
Ba cời tro, góp nhặt mấy hòn than
Trăn trở mãi chưa khô vài tấm áo
Mưa đông dài càng thắm thiết cha con

Thương biết mấy ơi mùa đông Quảng Trị
Đón đưa hoài mưa lạnh tím đôi môi
Đường dẫu vắng chưa bao giờ dám nắm
Đôi tay yêu cho ấm chút hương đời.


NTKC 

Đã đăng trên vovanhoaqt.vnweblogs.com
READ MORE - NGUYỄN THỊ KIM CÚC - MÙA ĐÔNG QUẢNG TRỊ

ĐÌNH THU - MÙI QUẢNG TRỊ

             





Bạn về thăm quê tôi Quảng Trị !
Mưa phùn mấy nẻo giăng
đường quê trơn lầy lội
gặp ai cũng hỏi thăm khách lạ từ đâu về
nghe sao mà thân quen như thể.
Những Đông Hà, Cam Lộ
Gio Linh, Cồn Tiên, Dốc Miếu,
Hiền Lương, Cửa Việt vắng người qua lại
Chỉ có gió hôn lên mặt người
và đâu đó tiếng ho khan của mùa Đông Bắc
mấp mé tràn về.
Những Thành Cổ lặng nhìn trong sương sớm
con đường về Bích La hun hút xa
Sông Thạch Hãn nhíu mày gợn sóng
dòng nước chở phù sa đi nuôi những cánh đồng
trong tiếng róc rách vỗ đôi bờ
nghe như có tiếng gọi nhau tìm đồng đội
rẽ nước vượt sông đêm vào trận đánh quân thù.
Mảnh đất đã hai lần phân chia giới tuyến
hai nghĩa trang liệt sĩ quốc gia
hàng vạn linh hồn đang nằm ở lại
nơi yêu thương tồn tại vĩnh hằng.
Hai bãi biển Cửa Tùng
Cửa Việt đẹp như tranh
hai con đường quốc lộ băng ngang
                                 cộng vào thành số 10 lịch sử.
Quảng Trị linh thiêng !
Quảng Trị oai hùng !
 chiếc đòn gánh trĩu cong nặng nghĩa tình ở hai miền tổ quốc.
Trời mưa ướt lạnh cả vòm mi
mắt em biếc màu xanh đen của tháng ngày lặng lẽ.
Lật một nửa kỷ niệm, giấu sau ánh mắt buồn
Mùi xưa lẽo đẽo bên mình
quơ tay chạm vào là tan biến
bỗng ai đó giật mình nghe tiếng gọi
tưởng ngày xưa chợt ùa về
thời thơ ấu hồn nhiên khôn tả
nếm chút thời gian cũ nghe mùi Quảng Trị thơm lừng.
Ta khờ dại bỏ đi từ bao năm trước
ừ đã hơn mấy chục năm rồi !
Vậy mà gặp ai cũng bảo rằng thương lắm quê hương
 ngay cả những con đường cũng mập mờ trong ký ức.
Đêm thức quỳ lên giấc mơ cúi đầu tạ lỗi
xin quê hương tha thứ ngàn lần
lời sám hối nhân từ của kẻ độc hành không còn sự cưu mang
giật mình thấy nước mắt thấm tràn qua áo gối
những vết hoen âm ỉ in sâu vào tâm tưởng khó phai mờ.

Khi xa…
Bạn sẽ nhớ nhiều về Quảng Trị quê tôi !
Ở nơi đó ngày xưa có mùa hè không đỏ màu hoa phượng
mà đỏ bằng máu của lửa đạn chiến tranh
của mất mát đau thương ly tan
của tiếng khóc gào lên tuyệt vọng
của ánh mắt mẹ chờ con
vợ chờ chồng
con chờ cha mỏi mòn khắc khoải.
Ở nơi đó rất giản đơn
Miền đất của sỏi đá cằn khô
họ chỉ có những tấm lòng yêu thương
cưu mang, chở che những chàng trai
                                   thư sinh đất Hà Thành gan dạ
biết hy sinh cho lẽ sống
cho tổ quốc yên bình
rồi họ cùng quyện hoà
cùng sánh vai hát vang khúc tráng ca của dòng Thạch Hãn.
Ở nơi đó họ giữ gìn và luôn trân trọng tất cả những gì của lịch sử
của quá khứ bi tráng và oai hùng.
Chuyện của loài người sau này
sẽ nhắc
sẽ viết
Nhưng cái mùi của  Quảng Trị
                                        sẽ theo bạn đi khắp cuộc hành trình
dù bạn có đi đến đâu ở những phương trời Á, Â, Mỹ, Phi xa lạ.
Lúc nào cũng vậy cho đến đến hết một đời người
bởi sự linh thiêng luôn nhắc nhở con người hãy trân trọng
     giữ gìn và yêu thương. 

Đình Thu
 0918 407 222
dinhthubank@yahoo.com.vn
READ MORE - ĐÌNH THU - MÙI QUẢNG TRỊ

Friday, December 2, 2011

QUA XUÂN - Thơ Huy Uyên


Bá phụ gặp con buồn muốn khóc
Tha hương mấy lúc nghĩ ngày về
Cầm tay nước mắt thay lời dặn
Đâu để xa hoài cảnh chốn quê

Ừ nhỉ bao năm không quay lại
Mẹ già mòn mỏi mắt già nua
Cha chết từ lâu thời loạn lạc
Chất cao thương nhớ mấy cho vừa

Con biết chiều nay ngồi trông núi
Mắt mẹ mờ theo dáng núi mờ
Quặn thắt nổi đau riêng đời mẹ
Mà rót hoài con lệ trong thơ

Con biết chiều nay đang tựa cửa
Mưa chiều như mẹ cũng rưng rưng
Ai giờ quạt ấm thay con trẻ
Đũ thắp trong đêm nữa ánh hồng

Hồ dễ công danh mà xa xứ
Đành quên ấm lạnh buổi quay về
Bá phụ nhìn con mà không nói
Để lòng đau biết mấy tình quê

Bá phụ đi rồi con ở lại
Xót xa con trẻ thức canh trường
Bao năm phiêu bạt đầu quay lại
Ước một ngày về qui cố hương...

Lê Sinh
Quê Trường Sanh, Hải Lăng, Quảng Trị
Học Nguyễn Hoàng 65-67
0903583673
Lesinh.lesinh@yahoo.com
READ MORE - QUA XUÂN - Thơ Huy Uyên

NGUYỄN KHIÊM - CHÙM THƠ


                Vô định 

Chiều dài lắm và mây trời xa lắm
Cánh chim say bay mãi bỏ quên ngày
Đường phố chiều loài người muôn thế kỷ
Ôi dỗi hờn, ôi cơm áo qua tay… 
Chiều khép rồi trời sót lại vầng trăng
Nơi thinh không tiếng chuông đỗ thức đời
Người Bồ Tát, ta Bồ Tát ai  cũng Bồ Tát
Áo nâu sòng không đủ mặc em ơi! 
Đêm Ngự Hà đáy sông muôn sao rụng
Rượu uống rồi nghe lạnh khắp châu thân
Bỏ lại đó cuộc đời cho gió cuốn
Đường trở về thênh thang qua ơi trăng !

                                             (Huế 2006) 


Ngàn xưa
          
   Mới ngày nào thôi
   Em đi về phía anh với nụ cười hai mươi tuổi
   Tình yêu nhiều nông nổi
   Hạnh phúc từ cay đắng của ngày xanh 
   Mới ngày nào thôi
   Em mơ một mái nhà ủ  mình sau cánh cổng
   Cửa sổ chiều gió lộng
   Em tựa cuộc đời vào lưng anh chải tóc
   Cuộc đời hai ta trần tục
   Những ước mơ không thể hóa đời thường... 
   Giờ em về mô trong đau thương
   Ôm tình yêu nửa mùa cháy bổng
   Có thể lắm
   Nơi em đến cũng có mái nhà gió lộng
   Sau cánh cửa tâm hồn còn đau. 
               

Huế 26.6.2004 



Con đường hoa 

             Những bông hoa từ xứ lạ không tên
             Đem về đây để tối nay mơn man gió
             Lặng yên những vì sao và hoa cỏ
             Màn đêm đang thở men yêu thương....
             Anh ôm trong tay những đoá tình yêu
             Nhũng bông hoa dưới lầu cao đài các
             Với ánh đèn nhợt nhạt.
             Chỉ có em vô tư lạnh lùng
             Không cô đơn
             Không giận hờn
             Không ánh trăng để bớt phần nhức nhối
             Đêm vô tình
             Em vô tình
             Chỉ có anh là người man dại
             Hái những bông hoa đỏ bầm
             Tung ra thành con đường hoa trong đêm tối
             Tình yêu không tội lỗi
             Anh thật thà dâng hết cho em....
             Con đường hoa đỏ trong đêm
             Dưới lầu cao đài các
             Dưới ánh đèn nhợt nhạt
             Anh lại ghép thành lời yêu em
             Chỉ có gió và đêm
             Em vô tình
             Đêm vô tình
             Gió cuốn đi lời yêu chưa đủ vần...
             Gió cuốn ...
             Con đường hoa đỏ.




Nguyễn Khiêm 
ĐC: Xuân Phước, Thị trấn Lao Bảo, Hướng  Hóa, Quảng Trị 
SĐT: 0906.519.234; 0934.790.234
khiemnguyen69@gmail.com

READ MORE - NGUYỄN KHIÊM - CHÙM THƠ