Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, February 10, 2023

SAO TA CÒN Ở ĐÂY… - Thơ haiku của Trần Mai Ngân


 

 
SAO TA CÒN Ở ĐÂY…
 
** Chim bay về lối mây
Sao ta còn ở đây
Bầy Ve kêu như khóc!
 
** Buổi sáng pha tách trà
Con bướm bay la đà
Say tình một đóa hoa…
 
** Đôi môi sao run rẩy
Khi nói tiếng yêu em
Con Trăng trôi qua thềm…
 
** Nụ cười trong chiếc gương
Đôi mắt gửi người thương
Thoắt mây băng qua đường!
 
** Màu xanh của bầu trời
Đánh dấu một bình minh
Tĩnh tâm người thức dậy…
 
Trần Mai Ngân

READ MORE - SAO TA CÒN Ở ĐÂY… - Thơ haiku của Trần Mai Ngân

THỨ LỖI TÌNH ANH - Nguyên tác: Bağışla by Aziz Nesin - Bản dịch tiếng Anh của Fatih Akgül - Bản phỏng dịch tiếng Việt của Trần Đức Phổ

 

Nhà thơ Trần Đức Phổ

Thứ Lỗi Tình Anh

Nguyên tác: Bağışla by Aziz Nesin
Bản dịch tiếng Anh của Fatih Akgül

FORGIVE ME

Sometimes I come too soon
Like I came to this world
Or sometimes too late
Like I loved you at this age

I am always late for happiness
I always go to misery too soon
Either everything has already come to an end
Or nothing has started yet

I am at a step of life that is
Too soon to die, too late to love
I am late again, forgive me my love
I am on the verge of love, but death is closer.

.

Bản phỏng dịch tiếng Việt của Trần Đức Phổ

THỨ LỖI TÌNH ANH

Phận anh
Đôi lúc trớ trêu
Chào đời lỡ sớm
Biết yêu lỡ già

Hạnh phúc luôn tít mù xa
Bên anh toàn nỗi buồn và thương đau
Hoặc là kết thúc từ lâu
Hoặc là chẳng có khởi đầu, em ơi!

Anh đang mấp mé vực đời
Yêu thời già khú, chết thời còn non
Ái tình ngấp nghé trong hồn
Nhưng mà cuộc sống chẳng còn dài thêm

Muộn màng lần nữa rồi em
Thứ tha anh, lỡ tình duyên kiếp này!

1/2/2023 

tranducpho
ducphot946@gmail.com
READ MORE - THỨ LỖI TÌNH ANH - Nguyên tác: Bağışla by Aziz Nesin - Bản dịch tiếng Anh của Fatih Akgül - Bản phỏng dịch tiếng Việt của Trần Đức Phổ

Thursday, February 9, 2023

NGŨ XUẤT KỲ SƠN - Tam Quốc Chí ngoại truyện của Chu Vương Miện



Để cho cuộc Bắc Chinh kỳ này cho được vẹn toàn, Tướng phụ Khổng Minh Gia Cát Lượng góp ý với Hậu Chúa Lưu Thiện là mở một cuộc họp khoáng đại giữa hai bên, một là Ba Thục hai là Đông Ngô cùng hợp tác lao động, hợp đồng đánh úp tập thể quân Tào Ngụy, chơi một ván bài xả láng, rồi cho toàn quân giải ngũ không thèm đánh với chác nữa. Vốn là vua gật, nên tướng phụ nói gì là ô kê nấy. Cuộc họp song phương Ngô Thục diễn ra rất là hoành tráng bánh tráng ở Kinh Châu. Vua cậu là Tôn Quyền thì cũng có vẻ già nua, đi có người dẫn dắt, vua cháu là Lưu Thiện "tên cúng cơm là Ả Đẩu" thì toàn người bình thường, chỉ duy cái cần cổ là to mà thôi? Vì làm vua nhưng đại quyền trong tay tướng phụ nên chỉ only gật mà gật nhiều quá xá, nên bộ phận cổ phát huy và to ra. 

Bên Đông Ngô ngoài Ngô đế  ra còn có Gia Cát Cẩn, đô đốc Lục Tổn, Hàn Đương, Châu Thái , Giả Hoa... Bên Ba Thục thì ngoài Thục Đế còn có Khổng Minh, Khương Duy, Ngụy Diên, Mã Đại và Triệu Tử Long. Mở đầu Tướng Phụ Gia Cát Lượng có lời chúc phúc cho cả hai nhà Ngô Thục keo sơn gắn bó, đồng cam cộng khổ, hợp tác lưỡng lợi hai nhà như một. Kỳ này cũng mong đại cáo thành công như trận Xích Bích thủa ngày xưa. 

Sau đó thì Đế Ngô Tôn Quyền nói:
- Thời trước xưng đế thì còn ngon lành chớ cái thời buổi bây giờ xưng đế cũng chả khác gì Đế Guốc Đế Giầy Đế Dép, nhưng thiên hạ ba chân đỉnh, mà Tào Ngụy đã xưng đế thì chúng ta  có ngán thằng Tây nào đâu mà không dám xưng?  Thú thực thanh bình nhiều năm, Trẫm cũng chán chiến tranh lắm lắm rồi. Mấy chục năm về trước, cũng nhờ cái Kế Sách "Di Tản Chiến Thuật" của Tào Tháo, cho rã ngũ tập thể một lúc 60 vạn quân. Bao nhiêu chiến thuyền phần cháy phần tặng lại cho Đông Ngô, các tướng lãnh chia nhau dùng làm du thuyền thuyền đánh cá. Đông Ngô cũng cấp kỳ cho giải ngũ tức thì một nửa quân số, cho về tự do sinh nhai đánh cá làm thuyền chài, kéo xe, khuân vác và mở quán thịt chó. Bây giờ có giở trò đánh nhau thì trăm sự vạn sự nhờ cậy Quân Sư Gia Cát Lượng chủ sự lo liệu điều động giùm. 


Biết là có từ chối cũng không được, nên chẳng đặng đừng tướng gia bèn móc trong người ra một tấm bản đồ Chung Quốc Con Gà lòi thu nhỏ lại đặt gọn gàng trên chiếc bàn bầu dục và lấy tay chỉ chỏ phân bố ra như sau:
- Liên quân Ngô Thục, nhưng phần ai nấy uýnh. Phần Đông Ngô chịu hai mặt trận, một lộ quân từ Tỉnh Hồ Nam thông qua Ngũ  Đại Hồ đánh thẳng vào Phàn Thành và Tương Dương, hai là một lộ quân có sẵn  từ Kinh Châu tức là một nửa tỉnh Hồ Bắc, hai lộ quân này nhập chung làm một, tiến công thẳng một lèo vào Lạc Dương Tỉnh Hà Nam tức Hứa Đô tên cũ là Đông Đô. Thắng được là đạt yêu cầu chiến trường đủ để chia đôi thiên hạ rồi.  Phần còn lại sẽ do quân Ba Thục đảm trách, nói xong thì ban hậu cần mang đồ ăn lên cho vua quan bồi dưỡng lão rồi phân lịch cộng tác ngày xuất quân rồi hai bên Ngô Thục chia tay ai về nhà nấy.
 
*
Bà Con nhà Ba Thục cũng tức thời chia tay. Về tới biên giới nhà, tướng phụ Khổng Minh Gia Cát Lượng cho mời họp giao ban ngay tức thời. Tướng gia nói :
- Chúng ta chia quân làm ba hướng, đánh thẳng vào Thiểm Tây tức Trường An Tây An [cựu kinh đô]. Khổng Minh đưa ra một lệnh tiễn cho Tả tướng Triệu Vân và phó tướng Đổng Chi một Phương Diện Quân gồm có 35 ngàn quân bộ, từ Tứ Xuyên mượn đường Cam Túc đánh thẳng vào Thiểm Tây bằng mọi cách chiếm cho được Kỳ Cốc. Tiền tướng quân Ngụy Diên cũng một Phương Diện Quân 35 ngàn quân sĩ đánh từ miệt Trùng Khánh, men theo biên giới tỉnh Hà Bắc tức Kinh Châu cũ theo lộ Tà Cốc ngả Âm Bình tức là Hang Tý Ngọ đánh thẳng vào My Thành của Thiểm Tây, còn bổn thừa tướng một Phương Diện Quân gồm 30 ngàn quân còn lại cùng Trâu gỗ Ngựa máy, trụ từ Kỳ Sơn đánh thẳng hai nèo vào Hán Trung tức là phần địa đầu của tỉnh Thiểm Tây. Ba Phương Diện Quân tùy theo chiến trường mà uýnh, không có quân trừ bị, tức là đánh tử thủ, không có ai tiếp viện có sao đánh vậy, tự mình lo liệu cho mình. Các lộ quân lo thu xếp quân trang quân dụng vật tư vật công thực phẩm cùng Trâu gỗ Ngựa máy, đầu tháng tư này xuất quân đồng bộ một lượt.

*
Hai Lộ quân của Đông Ngô, một từ Hồ Nam theo Ngũ đại Hồ đổ bộ lên Phàn Thành, Tương Dương thì bị bão làm chìm gần hết các chiến thuyển. Giờ thì binh sĩ và tướng lãnh cũng đang mò Hoa Thạch Cương dưới đáy hồ mà cải thiện. Lộ quân còn lại ở Kinh Châu thì cũng bị kẹt cứng ngắt ở ải địa đầu tỉnh Hà Nam. 

Còn quân Ba Thục thì Phương Diện Quân của Triệu Vân và Đình Quát bị chặn lại ngay cửa ải Kỳ Cốc, chỉ có một con đường duy nhất là thoái. 
Phương Diện Quân thứ hai của Tiền tướng quân Ngụy Diên thì kẹt cứng ở Tà Cốc không cục cựa chi được, chỉ còn một đường binh duy nhất là Chẩu. 
Lộ quân của Tướng gia đến Kỳ Sơn đúng nửa tháng "15 ngày" không thấy quân sĩ của Tào Ngụy nghinh chiến, phải cho lính Dân Sự Vụ đi loa trong làng xóm và Đài Phát Thanh cùng đài Truyền Hình cho đọc Thông Cáo và Thông Chồn của Tướng Phụ Khổng Minh Gia Cát Lượng, nhắc chừng chừng là quân Ba Thục Ba Vạ đã tiến sát biên giới Hán Trung, yêu cầu Tào Ngụy cho quân ra chống lại đỡ lại. 


Ngày thứ mười sáu mới thấy cờ Đại đô Đốc bay phất phới trên lâu thành, kèm theo một băng đờ rôn chữ đỏ choét "cung hỉ Tướng Phụ Khổng Minh Gia Cat Lượng cát tường". Thế rồi cái chính Kế sách quen thuộc rất dễ ghét là Thùng Thủ [theo bài Xập Xám Chướng], hai bên không đụng độ thì thôi, nếu bên Ba Thục Ba Vạ tiến công vào chân tường thành thì lính Tào Ngụy ở trên thành cứ đá tảng, đá cục, gạch ngói vôi bột quăng xuống. Nếu ở dưới rút lui thì ở trên thành cho lệnh ngừng ngay. Cuộc chiến cù nhầy bao nhiêu năm cũng chỉ có một chiêu thức đó, diễn đi rồi diễn lại Chờ cho tới cái ngày mà quân Ba Thục Ba Vạ hết lương, hết gạo là a lê hấp rút lui có trật tự, cho kẹo cũng không dám ở lại đánh nữa. 

Cái lịch trình của Tướng Gia thì Tư Mã Trọng Đạt thuộc nằm lòng, một tháng chuyển quân, một tháng ở lại Kỳ Sơn đánh chác vớ vẩn câu giờ. Sau đó là chẩu. Thế là Đại Đô Đốc Tư Mã Ý phóng ngựa qua bên doanh trại của tướng phụ Khổng Minh xin vào yết kiến, một phó tướng đưa đại Đô Đốc vào. 

Thi lễ xong phân ngôi chủ khách chưa có trà nước chi thì Đại Đô Đốc nói thẳng thừng:
- Chuyện binh gia làm nhọc lòng Tướng Phụ quá đi mất. Cũng may có tướng gia mang quân ra Kỳ Sơn, nên chúa Tào Ngụy  mới kêu Tại Hạ tái ngũ và mang quân ra Kỳ Sơn cấp kỳ đốc chiến. Tại hạ về hưu non tính ra thì cũng trên 12 năm rồi, hiện tại có mang theo trong quân vài ngàn dật vàng, để ngay chiều nay sẽ cho người mang sang cho tướng gia dùng để mua thực phẩm gạo nước cho binh sĩ, hầu đủ điều kiện ở lại Kỳ Sơn thêm một tháng nữa, chứ đi và về ngay mất sức lao động quá.
 
Tướng phụ Khổng Minh Gia Cát Lượng mỉm cười hỏi:
- Có ý đồ ý đạc gì thì nói nghe chơi?
- Tướng phụ ở thêm một tháng, để Trọng Đạt mỗ có thời gian chuẩn bị Đảo Chánh Họ Tào, dẹp cha nó cái nhà Ngụy, lập ra cái nhà khác, chỉ có thế thôi. Chứ bây giờ Tướng phụ rút quân về Thành Đô, Tư Mã Ý mỗ mang đại quân về trào, Tào Duệ Ngụy lại cho Tư mỗ Phục viên để đuổi gà cho vợ thì đến cái thủa nào mà có binh quyền trở lại, thôi thì thà mình phụ người còn hơn là để người phụ mình.
 
Chu Vương Miện

READ MORE - NGŨ XUẤT KỲ SƠN - Tam Quốc Chí ngoại truyện của Chu Vương Miện

ĐỌC BÀI THƠ MÙA ĐÔNG “ĐI VỀ NƠI ĐÂU” CỦA THH - Châu Thạch


Nhà bình thơ Châu Thạch

Vừa ăn tết xong, lòng đang vui khi đọc được bài thơ “Mở Cửa Trái Tim” của bạn tôi, nhà thơ Bụi Đời Trần Thoại Nguyên, tôi liền viết được ngay bài cảm nhận cho “Mở Cửa Trái Tim” ấy.
 
Sáng nay, nắng hồng xuân làm ấm áp bầu trời. Trong niềm cảm xúc thú vị đầu năm đó, tôi lại vui thêm khi tình cờ đọc được bài thơ không phải viết về mùa xuân mà ngược lại viết về mùa đông, không phải là của bạn tôi mà là của một người tôi chưa quen biết, thấy tên facebook là Tuy Hoa Huynh và bút hiệu đề dưới thơ là THH.
 
 Nằm giữa mùa xuân, trong căn phòng xuân, lại đọc được thơ hay về mùa đông không khác gì ta vừa uống ly chanh đường lạnh, vừa thưởng thức hương mùa xuân tràn trong không khí.
 
                      Nhà thơ Tuy Hoa Huynh
 
Bài thơ đem cho tôi niềm vui của THH như sau:
 
 ĐI VỀ NƠI ĐÂU
 
Ngồi lại đây nghe lòng bối rối
Khóc thương ai ướt cả phố buồn
Mây vần vũ, gió không ngừng thổi
Trút xuống đời lắm nỗi tang thương.
 
Ngồi xuống đây chờ cơn mưa tạnh
Mưa mùa đông gió bấc se lòng
Trăng Hàn giang có còn tỏa sáng
Bến giang đầu hai bóng soi chung.
 
Ta ngồi xuống nhìn tầng mây thấp
Hỏi tri âm biết nẻo mô tìm?
Sóng đời vỗ cuộn tròn một kiếp
Đi về đâu giữa sóng triều lên!
                  
                                  THH
                          Cuối đông 2022
 
 Đây là bài thơ viết về một cơn mưa mùa đông bên bờ sông Hàn, Thành phố Đà Nẵng đã níu chân tác giả ngồi lại đâu đó chờ cơn mưa tạnh. Bài thơ viết ngay trên thành phố tôi đang ở, nơi tôi đã từng đi bách bộ sáng chiều, và cũng đã từng nhiều lần ngồi lại chờ cơn mưa qua, làm sao không đánh động con tim tôi được? Hơn nữa bài thơ thì mang tâm trạng buồn nhưng nỗi buồn chỉ như một cơn mưa rào lướt qua, làm khơi động suy tư của tác giả về kiếp nhân sinh, cũng giống y như tiếng lòng tôi mỗi khi ngồi bên bờ sông Hàn nhìn trời mây ảm đạm.
 
Ở khổ thơ đầu tiên tác giả tả cơn mưa rất lớn như “Khóc thương ai ướt cả phố buồn” và kéo đến bất ngờ “Mây vần vũ, gió không ngừng thổi” đã kìm toả bước chân khách, đã năng lưu khách phải “Ngồi lại đây nghe lòng bối rối”. Ba câu thơ là tiền đề, thân đề để đưa đến một kết luận ở câu thứ tư giống như tứ tuyệt Đường thi, nhưng không phải Đường thi, vì đọc không thấy có gì gò bó như Đường thi cả: “Trút xuống đời lắm nỗi tang thương”. Thật ra cơn mưa không đến nỗi trút xuống đời những nỗi tang thương nhưng từ cơn mưa tác giả liên nghĩ đến những phong ba bão táp trong đời.
 
Khổ thơ thứ hai tác giả mới viết về mình, mới tâm sự về một mối tình mà hai đứa đã từng ngồi chung soi bóng xuống bến sông:
 
Ngồi xuống đây chờ cơn mưa tạnh
Mưa mùa đông gió bấc se lòng
Trăng Hàn giang có còn tỏa sáng
Bến giang đầu hai bóng soi chung
 
Câu thơ thứ tư “Bến giang đầu hai bóng soi chung” có thể hiểu là hai người ngồi tại một bến nước nào đó ở đầu con sông Hàn, nhưng cũng có thể hiểu “bến giang đầu” chỉ là một ẩn dụ chỉ sự đoàn tụ ngày trước mà tác giả lấy ý từ 4 câu thơ trong bài thơ “Trường Tương Tư” thời xưa của Lương Ỷ Nương:
 
Quân tại Tương giang đầu
Thiếp tại Tương giang vĩ
Tương tư bất tương kiến
Đồng ẩm Tương giang thuỷ.
 
Dịch:
 
Chàng ở đầu sông Tương
Thiếp ở cuối sông Tương
Nhớ nhau mà không gặp
Cùng uống nước sông Tương.
 
Tác giả THH có thể vô tình, có thể cố ý dùng chữ “Bến giang đầu” nhưng dầu vô tình cố ý thì câu thơ cũng cho ta liên nghĩ bài thơ ly cách tuyệt hay thời xưa lồng trong cuộc tình chia hai ngả thời nay, làm cho ý thơ chứa đầy thi vị. Khổ thơ còn lồng “Trăng Hàn giang” giữa cơn mưa, đưa tâm trí mơ màng quay về quá khứ rất nên thơ và rất lảng mạn. Đây là một khổ thơ thổ lộ cuộc tình, diễn tả nội tâm vừa trọn ý, vừa êm ái buồn, vừa chứa chan cảm xúc.
 
Khổ cuối bài thơ là một suy nghiệm cuộc đời hơn là một lời tâm sự:
 
Ta ngồi xuống nhìn tầng mây thấp
Hỏi tri âm biết nẻo mô tìm?
Sóng đời vỗ cuộn tròn một kiếp
Đi về đâu giữa sóng triều lên!
 
Nhà thơ ngồi lại trong cơn mưa, bối rối vì cơn mưa ngăn lối về, nhưng rồi cơn mưa buồn làm nhà thơ nhớ đến cuộc tình, cuộc tình buồn làm nhà thơ suy nghiệm đến kiếp sống, kiếp sống không biết “Đi về đâu giữa sóng triều lên!”. Sóng triều là sóng triều của cuộc đời như sóng triều của Hàn giang đang lên mà cũng như sóng triều ưu tư đang dâng lên trong lòng tác giả, nó cũng đang dâng lên trong chính bài thơ nhờ nghệ thuật sáng tác của nhà thơ.
 
Cả bài thơ từ câu đầu đến câu cuối như từng đợt sóng triều lên xô vào bờ, vỗ vào chân người “Ngồi lại đây nghe lòng bối rối”, “Ngồi xuống đây chờ cơn mưa tạnh” để suy tư và thấy mình bơ vơ đến độ không biết “Đi về đâu giữa sóng triều lên!”. Tiếng thơ nhẹ nhàng, buồn man mác, mang cuộc tình chia biệt và nỗi đời lạc lỏng bơ vơ, nhưng hay vì không cần một giọt nước mắt nào vẫn thẩm thấu cơn mưa se lạnh vào tâm hồn người đọc!
 
Tôi là người đi tìm thơ hằng ngày, lang thang trên mạng như những người đi tìm hoa trong các vườn để ngắm. Hoa đẹp thì nhiều nhưng hoa để mình thích thì ít. Vả lại hoa mình yêu không phải người khác cũng yêu, có khi người khác vừa chê vừa ghét. Vậy hoa nào tôi yêu thì tôi ngắm tôi khen. Cũng thế, thơ nào tôi cảm xúc thì tôi viết cảm nhận tôi bình. Ước mong những điều tôi viết không nghịch ý nhiều người, đó là niềm vui tôi hằng mong ước!
                                                   
Châu Thạch
 
READ MORE - ĐỌC BÀI THƠ MÙA ĐÔNG “ĐI VỀ NƠI ĐÂU” CỦA THH - Châu Thạch

BẾN NẮNG – Thơ Tịnh Bình


 
                 Nhà thơ Tịnh Bình


BẾN NẮNG
 
Vàng hoa cải níu xuân vào bến nắng
Tháng Giêng trong ngọt mật ánh nhìn
Sông lơi lả khép hờ yếm thắm
Trộm nhìn ong tình tự với nàng hoa
 
Lặng lẽ lòng tràn ngập khúc bình ca
Bức tranh Giêng thơm nồng hương hoa cải
Hờ hững dáng đò nằm im gối bãi
Chuyến đò chiều vãn khách hàn huyên
 
Vài cánh én giữa trời xanh thơ thẩn
Mùa yên vui mây gió nắng giao hòa
Xuân quê hương thanh bình xứ sở
Đất mẹ bao dung muối mặn cay gừng
 
Rồi chút nữa mùa thành sương khói
Biệt xuân nồng lưu luyến tình vương
Vàng hoa cải bến sông quê hắt nắng
Trĩu nặng chuyến đò hình bóng quê hương...
 
TỊNH BÌNH
(Tây Ninh)

READ MORE - BẾN NẮNG – Thơ Tịnh Bình

ĐẦU NĂM ĐỌC “MỞ CỬA TRÁI TIM” THƠ TRẦN THOẠI NGUYÊN – Châu Thạch


           
                      Châu Thạch và Trần Thoại Nguyên    

Suốt những ngày tết Quý Mão trời mưa lạnh, tôi nằm đọc thơ. Có lẽ một phần bị ảnh hưởng thời tiết làm tâm trí không phấn khởi, một phần không tìm thấy bài thơ nào gây cảm xúc bắt buộc tôi ngồi dậy để viết, nên tôi để cho lảng phí thời gian. 

Sáng nay, 12 tháng 1 Quý Mão, nhà thơ Trần Thoại Nguyên gắn thẻ vào trang facebook của tôi bài thơ “Mở Cửa Trái Tim” có mãnh lực làm cho tôi cảm tác đươc một bài thơ sáng tác nhanh để comment dưới bài thơ của ông và buộc tôi phải trổi dậy để viết hầu “mở cửa” cho cảm xúc lòng mình bay đi, biết đâu cũng làm lan toả niềm vui trong tôi đến một đôi người.

Đọc khổ thơ đầu của “Mở Cửa Trái Tim” ta đã thấy tình yêu, thiên nhiên và con người hoà hợp với nhau nhuần nhuyễn đến độ như mùa xuân đã chín, ngào ngạt hương hoa trong tâm hồn thi sĩ:

Anh mở cửa Trái Tim cùng Xuân Mới
Nắng hoa hương theo gót ngọc Em về,
Bờ ảo mộng trần gian anh vẫn đợi
Tấm lòng son cây lá cỏ vườn quê.
 
Cả khổ thơ đưa mùa xuân vào hồn ta một cách êm ái. Câu Thơ “Nắng hoa hương theo gót ngọc em về” làm tôi nhớ ngay đến bốn câu thơ trong bài thơ “Áo Trắng” của Huy Cận:
 
“Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong
Hôm qua em đến mắt như lòng
Nở bừng ánh sáng. Em đi đến, 
Gót ngọc dồn hương, bước toả hồng”
 
Khổ thơ của Huy Cận tả được tà áo và bước đi của em. Sự liên tưởng từ khổ thơ nầy qua khổ thơ của Trần Thoại Nguyên cho ta hình dung được bước đi, dáng dấp, nhịp đập con tim của chàng và không gian, thời gian đọng lại trong phút giây em đến.
 
Qua khổ thơ thứ hai của “Mở Cửa Trái Tim” ta thấy Trần Thoai Nguyên bày tỏ quan niệm sống của mình: Sống yêu, sống vui, sống thật và sống hết mình:
 
Dù năm tháng phôi phai râu tóc bạc
Với nhân gian anh vẫn nở nụ cười
Vui khoảnh khắc trong lòng tay vạn vật
Sống mỗi ngày cạn chén Tình Yêu ơi!
 
Đọc khổ thơ nầy tôi lại nhớ đến bài thơ “Phụng Hiến” của Bùi Giáng có những câu thơ sau:
 
“Còn ở lại một ngày còn yêu mãi
Còn một đêm còn thở dưới trăng sao
Thì cánh mộng còn tung lên không ngại
Níu trời xanh tay với kiễng chân cao”
 
Sự liên tưởng từ khổ thơ thứ hai của “Mở Cửa Trái Tim” đên bài thơ “Phụng Hiến” của Bùi Giáng cho ta thấy tâm hồn hai nhà thơ hoà hợp trong cùng một nhịp đập, họ yêu trần gian đến độ phụng hiến tất cả, dầu đã “phôi phai tóc bạc”, dầu “còn một ngày”, “còn một đêm” thì họ vẫn “cạn chén tình yêu”, vẫn “cánh mộng còn tung lên không ngại/ Níu trời xanh tay với kiễng chân cao” nghĩa là họ phụng hiến cho đời đến phút cuối cùng.
 
Khổ thơ thứ ba của “Mở Cửa Trái Tim” mở ra khung cảnh một thiên đàng hạnh phúc tuyệt vời:
 
Em yêu hỡi! Chim rừng ca lảnh lót
Ngàn bướm ong bên suối mộng dập dìu
Bao dưỡng chất của trần gian mật ngọt
Vườn địa đàng mầu nhiệm ngát hương yêu!
 
Đây là cảnh tiên trong trần gian, là dự phóng về một khung trời mà đôi uyên ương sẽ sống. Khung trời mơ ước đó khó có ở đời này nhưng nhà thơ có quyền mộng mơ, có quyền cho hồn mình bay theo đàn bướm trong tâm tưởng đến “suối mộng dập dìu”, đến “vườn địa đàng mầu nhiệm” để làm cho bài thơ thành viên ngọc lưu ly phụng hiến cho em, phụng hiến cho đời và phụng hiến cho chính tình yêu xây nên sự huyền mơ trong lòng tác giả.
 
Cuối cùng Trần Thoại Nguyên một cách kín đáo đã thờ phượng em trong khổ thơ chót:
 
Anh mở cửa Trái Tim ngày Chúa Nhựt
Ngày mặt trời, đêm lộng lẫy trăng sao
Em rón rén phút thần tiên duy nhứt
Mộng tình mình vây bọc bởi chiêm bao!
 
Ngày Chúa Nhựt là ngày thờ phượng Chúa, Trần Thoại Nguyên mở cửa trái tim ngày Chúa Nhựt là cách nói bóng gió em là chúa của lòng anh.
 
Trần Thoại Nguyên cũng thổ lộ vào giây phút cuối “mộng tình mình vây bọc bởi chiêm bao”, nghĩa là em có thật hay em chỉ là tưởng tượng thì không biết, nhưng toàn bộ bài thơ chỉ là ao ước, chỉ là mộng mơ, chỉ là chiêm bao để cho anh tự mình mở cửa trái tim anh, chắc là trái tim đang cô đơn giữa mùa “Xuân Mới”
 
Đây là một bài thơ đầu năm gây nhiều cảm xúc trong lòng tôi, cảm xúc vì tình yêu trong thơ thánh thiện, ý tứ trong thơ lảng mạn đến vô cùng, âm thanh trong thơ trong veo thánh thót, và tình yêu trong thơ quyến luyến đến vô biên. Bởi thế tôi phải viết và phải viết ngắn vì chữ nghĩa trong tôi đã bị bánh tết làm vơi đi gần hết!
                                                                    
                                                         Châu Thạch
 
 
MỞ CỬA TRÁI TIM
 
Anh mở cửa Trái Tim cùng Xuân Mới
Nắng hoa hương theo gót ngọc Em về,
Bờ ảo mộng trần gian anh vẫn đợi
Tấm lòng son cây lá cỏ vườn quê.
 
Dù năm tháng phôi phai râu tóc bạc
Với nhân gian anh vẫn nở nụ cười
Vui khoảnh khắc trong lòng tay vạn vật
Sống mỗi ngày cạn chén Tình Yêu ơi!
 
Em yêu hỡi! Chim rừng ca lảnh lót
Ngàn bướm ong bên suối mộng dập dìu
Bao dưỡng chất của trần gian mật ngọt
Vườn địa đàng mầu nhiệm ngát hương yêu!
 
Anh mở cửa Trái Tim ngày Chúa Nhựt
Ngày mặt trời, đêm lộng lẫy trăng sao
Em rón rén phút thần tiên duy nhứt
Mộng tình mình vây bọc bởi chiêm bao!

Trần Thoại Nguyên
READ MORE - ĐẦU NĂM ĐỌC “MỞ CỬA TRÁI TIM” THƠ TRẦN THOẠI NGUYÊN – Châu Thạch

Wednesday, February 8, 2023

NGỤY (LƯƠNG) - Tam Quốc Chí phụ lục của Chu Vương Miện



Sau mười bẩy năm, nam chinh bắc thảo, thừa tướng Khổng Minh Gia Cát Lượng cũng hơi oải tạm thời giao quyền hành lại cho các tướng Triệu Vân, Hoàng Trung, Ngụy Diên phò hậu chuá Lưu Thiện để về nguyên quán ở Long Trung [Kinh Châu]. Một là quá lâu chưa tế tổ, hai là thăm lại chốn cũ làng xưa xem thời gian đã thay đổi gì không? Căn nhà cũ ba gian một chái lợp cỏ thì người em út là Gia cát Quân vẫn bảo quản y như cũ, chỉ thêm người mới là vợ và các con cuả ngươì em út. Khổng Minh lấy trong bọc ra một túi vải đựng một số ngân lượng giao tận tay ngươì em út và căn dặn: “là trong ba ngày nữa thì sẽ làm tàm tạm cho anh một bữa tiệc gia đình, để mờì mấy vị bằng hữu cố cựu tới họp mặt nhậu bàn chuyện thiên hạ chơi cho nó đỡ buồn.
 
Quây quần bên chiếu rượu, thì chỉ còn có Tư Mã Thuỷ Kính, Thôi Châu Bình, Mạnh Công Uy, còn những vị khác thì chưa tới, tiên sinh Tư Mã Thuỷ Kính mở lời:
 
-Như vậy là tạm đủ mặt quần hùng thiên hạ rồi, Tiên sinh Hoàng Thừa Ngạn, tiên sinh Bàng đức Công thì cũng bỏ chúng ta mà đi, giờ có lẽ đang nhậu sương sương vơí Bàng Sĩ Nguyên dưới âm cảnh, còn Thạch Quảng Nguyên thì mấy bữa nay bệnh nặng lắm, có lẽ Gia Cát đệ lên đường đến Nhã Nam một chuyến để thăm Thạch huynh cho nó trọn cái tình tri ngộ.
 
Mọi người bắt đầu uống rượu với mồi. Thấy không có vị nào đề cập tới cái chuyện Tây Xuyên, Ba Thục nên Gia Cát Lượng cũng không gợi lên làm cái gì? Mạnh ai nấy ăn mạnh ai nấy uống, một chập sau thì Khổng Minh nói:
 
-Chúng ta xa nhau biền biệt mười bẩy năm ròng rã, bây giờ nói tới chuyện thời sự thì nó y như cơm nếp nát chả ai muốn nghe. Vậy nhân tiện đây tiểu đệ muốn xin được thỉnh giáo các huynh về nghĩa chữ Bách Tính [tức trăm họ].
 
Tiên sinh Tư mã Thuỷ Kính tiếp lời:
-Về văn học thì lão phu đã già hơi nghễnh ngãng vậy hai tiên sinh xin giảng giải cho Gia Cát Khổng Minh hiền đệ nghe?
Mạnh Công Uy nói:
-Cái chuyện lớn là Trị Quốc [Bình Thiên Hạ] mới khó khăn mà chuyện này đối với Gia Cát huynh coi như đồ cầm trong tay, móc vật trong túi. Còn chuyện văn học văn hiếc chỉ là chuyện nhỏ [đồ bỏ]. Tuy nhiên lão Thuỷ Kính tiên sinh đã dậy thì tiểu đệ tuân mệnh. Thôi chả nói chuyện xa xôi làm gì, ngay chúng ta đây, Mạnh là họ một chữ, còn Công là chữ lót và Uy là tên, Thôi Châu Bình, Thạch Quảng Nguyên cũng ở dạng này, còn tiên sinh Tư Mã Thuỷ Kính, Gia Cát Lượng hai vị là họ hai chữ. Nguyên hai chữ Tư Mã vốn là một chức quan, sau dùng làm họ, chả hạn như Tư Mã Thiên sử gia thời Tiền Hán. Họ Gia Cát vốn ở đất Gia và có nhiều cồn Cát, nên ai sinh sống ở đó đều nhận mình là họ Gia Cát, sau này thì còn thêm giòng họ Mộ Dung ở đất Yến, họ Hạ Hầu là họ cuả A Man sau cải theo họ mới cuả Tào Tung mà thành ra Tào Tháo. Thời Hán Sở tranh hùng thì có họ Chung Ly [Muội] rồi họ Âu Dương [Phong], họ Lệnh Hồ [Xung], họ Bách Lý [Băng], giòng họ Hoàng Nhan [Liệt], họ Vũ Văn [Hàn Đào]. Tuy nhiên, dù họ một chữ hay họ hai chữ, thì cũng bình thường. Còn họ của người Mông Cổ [Hung Nô] thì họ thường thường là ba chữ ở đằng sau, như họ Thiếp Mộc Nhĩ [Thiết Mục Nhĩ - Đạt Mộc Nhĩ], còn tên là Minh Minh Đạt Mộc Nhĩ, Thác Đác Đạt Mộc Nhĩ... còn họ cuả ngươì Bách Vịêt thì y như họ ngườì Háng tộc, điều đặc biệt là con trai thì lót chữ Văn, còn con gái thì lót chữ Thị.
 
*
Khổng Minh Gia Cát Lượng nghe xong gục gặc cái đầu coi như rất hài lòng mỹ ý, bèn hỏi tiếp
-Đây là tim gan cuả Tiểu đệ, nhiều năm muốn hiểu cho thật thấu đáo để tiện bề hành động, vậy xin các huynh trưởng vui lòng giải thích cho danh từ “Ngụy” cho tiểu đệ hiểu tường tận.
 
Bây giờ thấy cũng khó tránh thoái thác, Thôi Châu Bình tợp xong hớp rượu, bỏ ly xuống mâm bồi tiếp:
-Chữ Nguỵ này dễ mang đến chuyện hiểu lầm lắm lắm , chữ Ngụy thông thường có nghiã là “Giặc” là “Phản” nhưng ở Trung Quốc thì có khi Ngụy là một họ dân giã như các họ khác. Khởi đầu là ba họ lớn Hàn Triệu Ngụy đều là đại khai quốc công thần cuả nước Tấn. Nhân lúc nhà Tấn suy vi, ba họ này lấy cưa sắt cưa đất nhà Tấn ra làm ba vùng, một nửa tỉnh Thiểm Tây giáp ranh với nhà Tần [tỉnh Cam Túc] là cuả họ Hàn [nước Hàn], bên cạnh phiá tay phải là tỉnh Sơn Tây cuả họ Triệu [nước Triệu], qua sông Hoàng Hà là tỉnh Hà Nam dưới tỉnh Sơn Tây là họ Nguỵ [tức nước Ngụy] sau đổi thành nước Lương. Họ Nguỵ đây và nước Nguỵ không có tính cách là Giặc. Sau này thừa tướng Tào Tháo chết, con trưởng là Tào Phi soán ngôi nhà Hậu Hán, cũng đặt kinh đô tại Hà Nam [tức Lạc Dương], cũng gọi tên nước là Ngụy. Tương tự như vậy, giòng họ Tôn [cuả Tôn Kiên] là Tôn Sách Tôn Quyền, cai trị trên miền đất Giang Tô vốn là đất cũ cuả nước Ngô thời Chiến Quốc, nên goị tên nước là Ngô.  Ngô thời Tam Quốc và Ngô thời Chiến Quốc hoàn toàn khác nhau, không dính dáng một ly ông cụ nào cả. Cũng như nhà Tây Hán đóng đô ở Hàm Dương [Tây An] và nhà Đông Hán đóng đô ở Lạc Dương [Hà Nam] cùng nhà Thục Hán cuả Lưu Bị ở Thành Đô [tỉnh Tứ Xuyên] thì có liên hệ với nhau, ở xa bắn đại bác tới nơi chứ nhà Bắc Hán thời Nam Bắc Triều thế kỷ thứ sáu và nhà Nam Hán thế kỷ thứ chín [tức thời Ngũ Đại] thì chả dây mơ rễ má chi tới nhà Tây Hán và Đông Hán. Với nữa, theo quan niệm cổ cuả người Trung Quốc thì được làm vua thua làm giặc?  Cái chuyện xưng là nước Ngụy cũng là cái lý lẽ đương nhiên. Ngoài ra thì có Ngụy Văn Trường tức tướng Nguỵ Diên cuả Ba Thục, Ngụy Công Tử tức là Tín Lăng Quân con thứ của vua Ngụy, một trong bốn vị công tử lừng danh thời Chiến Quốc, nào là Mạnh thường Quân cuả nước Tề Sơn Đông, XuânThân Quân cuả nước Sở An Huy và Bình nguyên Quân của nước Triệu ở Sơn Tây. Đến đầu thế kỷ thứ bẩy, đời nhà đại Đường thì có thừa tướng Ngụy Trưng, đến đời nhà đại Minh thế kỷ thứ mươì sáu thì có thái giám Ngụy Trung Hiền chuyên quyền.
 
*
Chiều cũng đã tàn, khách muốn về, chủ quyến luyến muốn muốn cầm chân khách giữ lại. Sau cùng thì tiên sinh Tư Mã Thủy Kính đi đến quyết định nói:
 
-Hay là thế vầy, tuần sau chúng ta hẹn gặp nhau ở tư gia bằng hữu Thạch Quảng Nguyên, trước là thăm bệnh tình tiên sinh ra sao? sau là sẽ nói tiếp chuyện công và chuyện tư tức là chuyện bao đồng, chuyện chung và chuyện riêng, chuyện tiếp tay hợp tác giữa các bằng hữu với nhau nếu có thể được, phân tích tình hình chung cuả thế tam phân [Tam Quốc] để chọn ra một con đường duy nhất cùng tiến hoặc cùng thoái?
 
chuvươngmiện

READ MORE - NGỤY (LƯƠNG) - Tam Quốc Chí phụ lục của Chu Vương Miện

VIẾT BÊN Ô CỬA SỔ MÙA XUÂN – Thơ Tịnh Bình


              Nhà thơ Tịnh Bình


VIẾT BÊN Ô CỬA SỔ MÙA XUÂN
 
Men theo đường bay vùng mây trắng
Những cuộc hành trình đến đi trong ý nghĩ
Là đỉnh núi cô độc
Chóp hoang vu sợ bước chân người
Không cả loài thú hoang
Mõm đá cố oằn mình dựng lên sừng sững
Vài bông hoa không rõ hình hài
Cố chen lấn cùng đám gai góc
Xua tan màn sương khói
Mùi âm khí lởn vởn
Dẫu đông tàn thèm chút hơi xuân
 
Xa xa là bóng núi
Quanh mình không một tiếng chim
Ô cửa sổ trống hoác
Mùa xuân dè dặt từng bước chân hoài nghi
Câu thơ trò chuyện cùng ý nghĩ
Đôi khúc rời lan man
 
Ghét cay ghét đắng màu cúc trắng
Màu tinh khôi giả dối
Sao không thể khước từ
Đôi bàn tay lấm láp
 
Biện minh vô vàn lý do
Chẳng muốn rời bỏ vùng an toàn mà đôi chân cứ chực muốn bay lên
Trên cao kia là nắng gió
Có lẽ chúng sẽ không còn êm đềm và lãng mạn như lời lũ chim thường tự huyễn hoặc
Con đường mòn là nơi trở về an toàn cho mọi bàn chân
 
Bên ô cửa sổ
Ngoài kia là mùa xuân
Vuột mất tứ thơ chưa kịp nghĩ
Vẫn không đành khép cửa đuổi xuân đi...
 
                                          TỊNH BÌNH
                                            (Tây Ninh)
 
READ MORE - VIẾT BÊN Ô CỬA SỔ MÙA XUÂN – Thơ Tịnh Bình

TẢN MẠN VỀ RƯỢU NHO (2) - Nguyên Lạc

                                           (Kỳ 2)


Rượu nho được làm từ quả nho. Từ nước ép quả nho, khi ủ ta được rượu Vang (tiếng Pháp: Le vin). Mời các bạn bước vào “khu vườn Rượu nho” rồi thưởng thức “Cam lồ thủy”.
 
Phần I
 
RƯỢU VANG
 
Vài câu nói thú vị về rượu vang:
– Rượu vang là một trong những điều văn minh nhất thế giới và mang lại một mức độ thưởng thức thống khoái hơn bất cứ thứ gì ta có thể mua được trên cõi đời này – Ernest Hemingway
– Đàn ông cũng giống như rượu vang: Một số để lâu sẽ thành giấm, nhưng một số càng “có tuổi” lại càng ngon – Giáo hoàng John XXII
– Tình yêu cũng như rượu vang. Có những loại vài tháng là uống được, nhưng cũng có loại phải lưu giữ rất nhiều năm để đạt độ cần thiết. Điều quan trọng không phải là sớm hay là muộn, mà là đúng lúc. Bởi mọi thứ đều có thời điểm của riêng nó. Vị rượu ngon chính là phần thưởng của tháng năm.
– Nếu muốn biết điều chân thật nhất của phụ nữ là gì, hãy để họ khóc. Nếu muốn hiểu đàn ông nghĩ gì, cứ để họ say.
 
I.    LỊCH SỬ CÂY NHO       

Cây nho có thể được coi là một trong những loài cây lâu đời nhất thế giới. Người ta tìm thấy vết tích của cây nho trong nhiều vùng khác nhau trên thế giới, trước cả khi có những vết tích của người cổ đại. Thời kỳ đó, nho còn là loài cây hoang dã. Phần lớn các nhà nghiên cứu nhất trí cho rằng cây nho có nguồn gốc từ Tiểu Á (bán đảo Crimée hiện nay), nhưng không ai biết được rượu nho đã được người Tiểu Á làm ra như thế nào?

Như chúng ta đã biết, nho là nguyên liệu chính để làm ra rượu vang. Cũng như tất cả các sản phẩm ẩm thực khác, một chai rượu vang ngon sẽ phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của nguyên liệu ban đầu (trái nho). Cây nho thuộc về họ cây leo (Ampelidacé). Tất cả các loại cây nho để ăn hoặc làm rượu đều thuộc họ nho Vitis. Có gần 40 loại nho Vitis trên thế giới, các loại quan trọng nhất là Vitis vinifera hay họ nho Vitis Châu Âu; Vitis Labrusca, Vitis Rupestri là những họ nho ở Châu Mỹ.
Trong mỗi họ nho lại chia ra nhiều giống như: giống Merlot, giống Chardonnay, giống Carrignan, giống Gamay… Một số giống nho vừa có thể dùng để ăn, vừa làm rượu như giống Chasselas, giống Muscat, giống Italia, giống Cardinal… Các giống khác chủ yếu để làm rượu. Việc phân định giống nho dựa theo các tiêu chuẩn như: màu sắc của mầm nho, màu sắc quả, hình dạng lá hay mức độ to nhỏ của chùm nho.
 
Để có thể duy trì lâu dài chất lượng nho, người ta chiết cây chứ không gieo hạt, nhất là từ khi có nạn rệp rễ nho (phyloxera). Năm 1864 xuất hiện nạn rệp rễ nho (phyloxera) ở miền Trung nước Pháp (Languedoc). Sự xuất hiện của loại rệp này hoàn toàn ngẫu nhiên, khi người Pháp đưa vào trồng thử các giống nho mới của Mỹ. Trong vòng 20 năm, loại rệp này đã tàn phá toàn bộ các vùng trồng nho của Pháp. Nhưng cũng chính các giống nho Vitis Labrusca của Mỹ đã cứu nền nông nghiệp trồng nho của Pháp – bằng cách ghép. Cách ghép: ghép mầm cây Vitis vinifera của Pháp vào gốc cây Vitis Labrusca mang từ Mỹ về, sẽ tạo ra được giống nho có sức đề kháng mạnh, không bị rệp phyloxera tấn công.
 
Hiện nay, trên thế giới có hơn 6000 giống nho cho các loại nho khác nhau về: hương vị, màu sắc và mức độ to nhỏ của chùm quả. Ở Pháp có khoảng 50 giống nho chính dùng để sản xuất rượu vang. Phần lớn các giống nho đó được trồng rộng khắp trên thế giới và hầu như ở bất cứ điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu nào, các giống nho này cũng đưa lại các kết quả rất khả quan. Chính vì lý do đó mà chúng được gọi tên là các giống nho quốc tế (international grapes variety) nhằm phân biệt chúng với các giống nho địa phương, đặc thù tại một số quốc gia (regional grapes variety). Hiện nay, các giống nho quốc tế vỏ đỏ được trồng nhiều nhất trên thế giới là Grenache Noir (240.000 ha), Merlot (200.000 ha), Cabernet Sauvignon ( (165.000 ha), Syrah (95.000 ha), Pinot Noir (60.000 ha), Cabernet Franc (44.000 ha)… Các giống nho quốc tế vỏ trắng được trồng nhiều nhất trên thế giới là Chardonnay (140.000 ha), Sauvignon Blanc (45.000 ha) và Semillon (34.000 ha)…
 
II. LỊCH SỬ RƯỢU VANG
 
Rượu vang là một sản phẩm nguyên chất thu được từ sự lên men rượu toàn phần hoặc một phần từ nho tươi ép ra nước, hoặc từ hỗn hợp nước nho và bã nho ép ra nước. Từ điển của Viện Hàn lâm Ẩm thực Pháp hoàn chỉnh định nghĩa rượu vang như sau: Là một chất lỏng sinh động, rượu vang có thể mang bệnh, có thể già và chết.
Khoảng 2000 năm trước Công nguyên, rượu nho đã có mặt ở Ai Cập. Trong Kinh Thánh, rượu vang được nhắc đến hơn 500 lần. Sau đó, người Ai Cập đã dạy cho người Hy Lạp cách trồng nho. Rồi người Hy Lạp lại truyền nghề cho người La Mã, người La Mã truyền cho người Gaulois. Nhưng theo người Hy Lạp thì không phải người Ai Cập đã truyền nghề cho họ mà là thần Dionysos, chúa tể Hy Lạp của rượu vang.
 
Đến thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, cây nho xuất hiện ở vùng Địa Trung Hải thuộc nước Pháp bây giờ. Người Gaulois tỏ ra là những học trò xuất sắc của người La Mã. Chính họ đã nghĩ ra việc nuôi rượu trong thùng gỗ. Diện tích trồng nho ở xứ Gaule phát triển nhanh chóng và rượu vang của người Gaulois rất được người La Mã ưa chuộng. Đến thời Trung Cổ, nhà thờ giữ một vai trò quan trọng trong việc mở rộng diện tích trồng nho và cách làm rượu vang, lý do là họ sử dụng nhiều rượu vang trong các buổi lễ thánh. Các tu sĩ phát hoang rồi trồng nho xung quanh các nhà thờ và tu viện. Cũng trong thời Trung Cổ, rượu vang của Pháp đã được xuất sang Anh, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg và các nuớc Bắc Âu.
 
Năm 1935, Viện kiểm chứng quốc gia về sản phẩm rượu vang chất lượng cao (INAO) được thành lập. Cho đến nay, nhiều nước trên thế giới vẫn coi INAO là người đảm bảo cho rượu vang Pháp giữ được phẩm chất cao nhờ các quy định ngặt nghèo. Cũng từ đầu thế kỷ thứ 20, rượu vang không những chỉ là một đồ uống như những đồ uống khác mà đã trở thành một chủ đề văn hóa như văn chương, âm nhạc hay hội họa. Khắp nơi ở Pháp, ở Châu Âu, Châu Mỹ hay Châu Úc, các buổi tọa đàm về văn hóa rượu vang ngày càng thu hút được thính giả.
 
III. VÀI ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ NHO
 
1. Thành phần của quả nho
Nho gồm có 4 phần: cuống, vỏ, thịt và hạt.
 
1.1. Cuống nho
Cuống nho là cầu nối giữa nho và thân cây cũng như lá cây, giúp cho quả nho đạt được lượng đường cao trong quá trình lá nho hấp thụ tia nắng mặt trời. Khi bạn nhấm nháp cuống nho, bạn có cảm giác đắng chát khó chịu ở lưỡi: Đó là chất chát (tanin), chất này rất quan trọng vì nó sẽ có vai trò trong việc sản xuất rượu có chất lượng, cũng như giúp cho việc bảo quản vang được lâu dài.
 
Tiếp đó là chất chua, chất này cũng giữ vai trò quan trọng vì nó đảm bảo cho rượu vang có tính tươi mát. Cuống nho còn chứa chất xơ và các tố chất hóa học khác như muối khoáng và vitamin. Tuy nhiên, vì chất chát trong cuống nho thường thô, ráp và đem lại cảm giác ngứa trong vòm miệng nên cuống nho thường sẽ bị oại bỏ. Ngay sau khi nho được thu hoạch, đem về xưởng người ta đưa vào máy loại bỏ cuống nho.
 
1.2. Vỏ nho
– Vỏ nho được phủ bởi 1 lớp phấn và lông mịn, đảm bảo cho nước không thấm vào thịt nho, đồng thời giữ lại các chất lên men do gió và côn trùng đem lại. Trong vỏ nho có các chất chỉ thị màu như: Anthocyanes đối với rượu vang đỏ và Flavoines đối với rượu vang trắng. Cá biệt, có một vài loại nho mang tố chất chỉ thị màu ngay trong thịt nho như là loại Poulsard.
Khi ta ép nho đỏ, ba khả năng có thể xảy ra: ta sẽ có rượu vang trắng nếu ta để nước nho tách vỏ lên men. Nếu ta cho vỏ và nước nho cùng lên men, sau một thời gian sẽ thu được rượu vang đỏ. Trong quá trình rượu lên men, ta có thể thu được rượu vang hồng nếu ta biết ngừng quá trình tiếp xúc giữa vỏ nho và nước nho sau môt thời gian ngắn.
Trái nho vỏ trắng không thể làm ra rượu vang hồng hay rượu vang đỏ, vì trên vỏ trái nho trắng không có chất chỉ thị màu Anthocyanes; do đó, dù chúng ta có ủ nước nho vỏ trắng với bã nho vỏ trắng trong bao nhiêu ngày đi nữa thì nó vẫn sẽ màu trắng chứ không đổi sang màu hồng hay đỏ được: Trái nho vỏ trắng chỉ tạo ra vang trắng.
Đối với một số giống nho, hương vị của nho nằm ngay trong vỏ (Muscat, Chardonnay). Mỗi một giống nho có hương vị và đặc thù riêng, nhưng độ đậm nhạt của hương vị đó còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác như chất đất và năm thu hoạch.
 
1.3. Thịt nho
Thịt nho là phần quan trọng nhất của quả nho, gồm 70-80% nước. Trong một lít nước nho ép có từ 150-250g đường. Để có thể có 1% cồn trong rượu vang, vi khuẩn lên men sẽ “ăn” khoảng 17 gr đường có trong nước nho và chuyển hóa 17 gr đường đó thành 1% cồn. Cũng theo công thức này, vi khuẩn lên men sẽ chuyển hóa 150 gr đường có trong nước nho ép thành chai rượu vang có 8% cồn, và 250 gr đường có trong nước nho ép thành chai rượu vang có khoảng 14% cồn.
 
Lượng đường có trong trái nho sẽ tùy thuộc vào số lượng giờ nắng trong năm của vùng trồng nho, vùng trồng nho nào có số lượng giờ nắng trong năm càng nhiều thì nho càng chín kỹ và lượng đường có trong nho càng cao.
 
Tuy nhiên, khi độ cồn trong rượu vang vượt quá 14,5% thì vi khuẩn lên men sẽ trở nên lười biếng, không “ăn” đường để chuyển hóa thành cồn nữa. Các chai vang có độ cồn trên 15% thường phải làm bằng các phương pháp đặc biệt để “kích” vi khuẩn lên men hoạt động trở lại (các chai Primitivo có độ cồn cao của Italy), hoặc làm bằng cách pha thêm rượu mạnh làm bằng các sản phẩm nông nghiệp vào, như trường hợp của các chai vang ngọt tự nhiên (Vins doux naturels) vùng Languedoc-Roussillon, Macvin de Jura (Pháp), hay các chai Porto (Bồ Đào Nha)…
 
1.4. Hạt nho
Nếu ai đã có dịp cắn vỡ hạt nho hẳn sẽ nhăn mặt vì vị đắng. Quả thật, hạt nho rất đắng nhưng cũng chứa nhiều chất dầu. Để tham khảo, cứ trong 225 lít nước nho, ta thu được số lượng hạt nho đủ để sản xuất một lít dầu hạt nho. Dầu hạt nho dùng để trộn xà lách hay còn được sử dụng trong công nghiệp mỹ phẩm và được bán rất đắt tiền. Cũng vì thế, trong quá trình ép nước nho, phải hết sức chú ý đừng để hạt nho bị dập vỡ mà đưa chất đắng vào rượu vang.
 
2. Các giống nho làm rượu chủ yếu
Trên thế giới có hơn rất nhiều giống nho, mỗi giống cho các loại nho khác nhau về: hương vị, màu sắc và mức độ to nhỏ của chùm quả. Ở Pháp có khoảng 50 loại nho chính dùng để sản xuất rượu vang. Các dòng nho vỏ đỏ được trồng nhiều nhất là Carrignan, Grenache, Merlot, Cabernet Sauvignon, Syrah, Gamay, Cabernet Franc, Pinot Noir… Các giống nho vỏ trắng là Ugni Blanc, Chardonnay, Sauvignon, Semillon, Chenin, Colombard, Riesling… Tuy nhiên, khi làm rượu vang, người ta có thể phối hợp một số giống nho theo tỷ lệ nhất định (thường là bí quyết riêng của từng nhà sản xuất) để làm ra những loại vang đặc biệt, ví dụ như vang vùng Bordeaux, Languedoc – Rousssillon, Côtes de Provence hoặc rượu Champagne. Hiện trên thế giới có khoảng 8 triệu ha đất trồng nho. Diện tích trồng nho ở Pháp và Italia đứng thứ hai trên thế giới sau Tây Ban Nha, nhưng Pháp lại đứng đầu thế giới về sản lượng rượu vang.
Có một mối liên hệ chặt chẽ giữa các giống nho làm rượu vang và rượu vang của từng vùng sản xuất.
 
2.1 Các giống nho vỏ đỏ
– Merlot: Cho ra các loại rượu đậm màu, khá tròn trịa, ngậy béo với các hương vị hoa quả, lá mục và da thuộc, vị chát không nhiều.
– Cabernet Franc: Cho ra các loại rượu có hương vị thơm với tính chất hoa quả và vị hơi ngai ngái của cỏ ướt, chất chát mạnh.
– Cabernet Sauvignon: Cho ra các loại rượu có mùi rất thơm, khi có tuổi sẽ trở nên vừa mạnh mẽ vừa mềm mỏng, chất chát nhiều nhưng quý phái. Đây là giống nho chính của các vùng rượu vang có chất lượng tuyệt hảo Médoc Vàgraves (Bordeaux)
– Grenache: Cho các loại rượu thơm ngon, đậm màu, tròn trịa, ít chua, độ cồn cao. Giống nho chủ yếu ở vùng Côtes du Rhône và Chateauneuf – du – Pape, nhưng cũng rất phổ biến ở vùng Languedoc – Roussillon.
– Carrignan: Cho các loại rượu đậm màu, ít thơm, nhiều chất chát. Sẽ rất tốt nếu phối hợp với các giống nho béo và nhiều hương vị. Cinsault: màu nhạt, nhiều vị hoa, quý phái, mềm mại, ít chất chát, không giữ được lâu. Đây là giống nho được sử dụng nhiều để làm rượu hồng và rượu đỏ mới (Vins Primeurs).
– Pinot Noir: Cho ra các loại rượu vang giàu hương vị, chuyển khá nhanh từ mùi hoa quả sang mùi da lông thú. Được sử dụng trong hỗn hợp rượu champagne và vang sủi bọt.
– Gamay: thường được sử dụng làm rượu Beaujolais mới, có mùi thơm của chuối và hoa quả tươi như anh đào và dâu tây. Nếu được ủ lâu sẽ cho các loại vang đậm giữ được 2-3 năm.
 
2.2. Các giống nho vỏ trắng
– Chardonnay: Rượu vang làm từ gống nho này thường rất hài hòa giữa chất chua, chất béo và chất ngọt, để được lâu, nhưng sản lượng thu hoạch không cao. Đây là giống nho trắng thường được ủ trong thùng gỗ sồi. Nên có 1 số vùng và nhà sản xuất họ không ủ trong thùng gỗ sồi thì sẽ được ghi là “Unoaked Chardonnay”. Nho được trồng ở vùng khí hậu lạnh thường loại này sẽ có vị chua cao hơn và cấu trúc nhẹ nhàng, mang đặc tính của các loại quả chua. Chardonnay nổi tiếng ở vùng Burgundy (Pháp), Úc, Mỹ.
 
Tuy cũng được làm bằng loại nho này nhưng rượu Pháp ở vùng Chablis hay Bourgogne thì thon thả, dòn dã hơn, còn rượu Mỹ ở California thì mềm mại, đầy đặn, ngậy mùi bơ hơn.
 
– Riesling: Nho được trồng nhiều ở Đức và vùng Alsace của Pháp (ngoài ra còn có ở New Zealand, Úc, Canada, …) Vang chua thơm dịu và thanh.. Có mùi hương thơm mát của trái táo xanh, có vị hơi chát của hạt lựu, lẫn với chút chua của chanh, chút ngọt của cam và thoảng mùi dầu hỏa. Vang này phù hợp để uống khai vị.
 
– Colombart: vang có nhiều vị hoa, vị chua tương đối cao. Gewurztraminer: vang đậm màu, độ cồn, độ sánh cao, hương vị đặc biệt (hoa hồng, gia vị: quế, hạt tiêu)
 
– Pinot Blanc: vang thô hơn vang làm từ giống Chardonnay, dùng nhiều trong vang khô và vang sủi.
 
– Riesling: vang trắng tươi mát, nhiều hương vị, nhất là mùi hoa và khoáng chất.
 
– Sauvignon Blanc: giống nho vương giả, được trồng khắp nơi trên thế giới. Sauvignon Blanc có mùi hương thanh nhã như hoa chanh, hoa bưởi các loại cây cỏ tươi và măng tây có thể có được nhiều vị khác nhau tùy theo phương pháp của nhà làm rượu, đi từ chỗ ngọt ngào dịu nhẹ cho đến chỗ cứng cáp nồng nàn. Vang rất thơm, ngọt khi nó đi với Sémillon. (Đăc biệt ở Sauternes) Nho được trồng ở những vùng khí hậu mát, lạnh.
 
– Sémillon: giống nho vương giả, thường trộn với Sauvignon blanc để làm rượu Bordeaux trắng.
 
– Sylvaner: vang có độ chua cao, khô, nhiều hương vị chanh, bưởi.
 
– Ugni Blanc: vang có nhiều ương vị hoa quả, đồng thời lại có nhiều chất chua – béo.
 
(Còn tiếp nhiều kỳ) 
                                                                                      
Nguyên Lạc

READ MORE - TẢN MẠN VỀ RƯỢU NHO (2) - Nguyên Lạc