Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, December 26, 2020

THÁNG MƯỜI HAI – Thơ Lê Phước Sinh

 

                     Nhà thơ Lê Phước Sinh


THÁNG MƯỜI HAI
 
Năm rót cạn, cận kề ngày cuối
Nhà Vườn chen, săn đón nụ  đầu Hoa
Lành lạnh trời, man mác Khách phương xa
Người xuôi ngược xôn xao chờ vị Tết...
 
                                     Lê Phước Sinh

READ MORE - THÁNG MƯỜI HAI – Thơ Lê Phước Sinh

Thursday, December 24, 2020

CHÙM THƠ “CON ĐƯỜNG...” CỦA LÊ VĂN TRUNG

 



CON ĐƯỜNG
 
Đường xa, không phải tại đường
Xa vì tình đã dặm trường mù khơi
Từ em ướt lệ vai người
Con đường hun hút đất trời quạnh hiu
 
 
CON ĐƯỜNG DÀI NHẤT
 
Không có con đường nào dài hơn con đường ta tìm kiếm chính mình
Và cũng không có con đường nào dài hơn con đường đến với trái tim
 
Khi băng qua sa mạc đời tôi
Không một người dừng lại
Ảo ảnh về một giọt nước ở phía chân trời.
 
Khi băng qua cõi hoang vu đời tôi
Em vẫn hoài nghe phía vô cùng réo gọi
Những ước mơ hồng những khát vọng xanh
 
Và con đường ta qua cũng rất đổi mông mênh
Ta lầm lủi đi không hề định hướng
Ta lầm lủi đi về phương trời ảo mộng.
 
Cho dẫu đôi khi
Cùng trên một chuyến tàu
Mà không hề gặp mặt
Bỡi mỗi người là một toa tàu khác.
 
Đôi khi ta cùng bơi trên một dòng sông
Mà vẫn hoài lạc bến.
 
Con đường ta tìm kiếm chính mình
Con đường tìm nhau
Ngàn năm là con đường dài nhất
 
Và ta lạc mất ta
Ta lạc mất người
Ta lạc nhau từ những nỗi đau
Lạc nhau từ những hạnh phúc nhiệm mầu
Đã bất chợt chảy qua đời ta chìm nổi.
                              
 
CON ĐƯỜNG NGÀY CUỐI NĂM
 
Anh đã nuôi thật nhiều ước mơ
Khi cầm điếu thuốc trên tay
Đi dưới trời tháng chạp
Trên những con đường không có kẽm gai
Và bầu trời trong như cẩm thạch
Anh thấy lòng anh cũng rộng mênh mông
 
Là khi em đứng bên hàng dậu thấp
Ngắt cánh hoa vừa nở sáng nay
Ôi cánh hoa chỉ một lần
Nở trắng lòng em như mây trắng
Là khi anh uống cốc cà phê
Trong quán xép bên gần ga
Ngoài bến xe
Bên cửa chợ
Là khi mẹ anh cuối xuống bên luống cải vàng
Lòng bỗng nôn nao những niềm vui lạ
 
Anh đã nuôi thật nhiều ước mơ
Khi đi dưới trời tháng chạp
Qua những con đường không có kẽm gai
Thong dong như một người nhàn tản
Là khi anh qua những cây cầu
Nối tình trên xóm dưới
 
Nước vẫn xanh chùm bông súng tím vàng
Là khi anh qua những cánh đồng
Lúa vàng thơm bông cỏ dại
Có tiếng cười vui của giọt nắng trong
Trên tà áo mới
Là khi anh về chuyến tàu thứ nhất
Với tấm lòng xanh như lá cây xanh
 
                            Lê Văn Trung
                       (Quảng Ngãi 12.89)
Tạp chí Bách khoa, số 313, 314, Xuân Canh Tuất, ngày 15-1 và 12-1970
 
 
CON ĐƯỜNG VỀ CÕI VÔ BIÊN
 
1.
Chiều tôi gom chiếc lá vàng
Buồn tôi đốt lửa vừa tàn cơn mơ
Nghe trong sâu thẳm xa mù
Hình như có tiếng mùa thu vọng về
 
2.
Khói tàn theo gió lên mây
Tro tàn còn với bóng ngày đời tôi
Tôi về theo bóng chiều trôi
Chút tàn tro ấy là lời trùng lai
Không nhân ảnh, chẳng hình hài
Câu kinh vô tự đã đầy nỗi đau.
 
3.
Chiều tôi gom lá tình sầu
Chưa vàng ân ái đã nhàu câu thơ
Em từ vô lượng nguyên sơ
Còn nguyên một đóa quỳnh vừa ngát hương
 
4.
Không đành cạn chén quỳnh tương
Mà nghe máu chảy loạn cuồng chiêm bao
Bàn tay cầm lá tình sầu
Chừng nghe lửa cháy từng câu thơ buồn
 
5.
Xưa người là một dòng sông
Tôi bèo bọt giữa bềnh bồng ngược xuôi
Tóc người chưa rẽ đường ngôi
Mắt người chưa nhuộm một màu vàng thu
Tóc người rối cả cơn mơ
Đóa quỳnh hoa đã sững sờ! Quỳnh hoa!
 
6.
Rồi một hôm, giọt lệ nhòa
Câu thơ còn đọng trên tà áo xưa
Tôi về mơ tiếp cơn mơ
Người về nở một nụ hoa diệu kỳ
Lá vàng thu vẫn còn bay
Rượu trùng lai vẫn còn say tương phùng
 
7.
Hỏi người còn nhớ hay không
Lòng tôi là một dòng sông giang hồ
Chảy hoài theo những cơn mơ
Chảy từ vô thủy cuối bờ vô chung
Sá gì đâu cuộc trăm năm
Sá gì đâu cõi ngàn trùng thiên thu
 
8.
Xin đừng hỏi: Ta về đâu?
Hư vô là dặm trắng màu phù vân
Xin đừng hỏi: Có hay không!
Vô biên là bụi sương hồng mông mênh
Xin đừng hỏi: Tuổi cùng tên!
Chìm trong nỗi nhớ niềm quên xa mù
Còn nhau vạn cõi đời sau
Tay cầm giọt lệ nguyên màu tình xanh.
 
9.
Con đường dẫn đến vô biên
Là con đường của chuyện tình nhân gian
Là con đường tôi- và- em
Tình tôi là những gập ghềnh đời thơ
 
10.
Con đường dẫn đến hư vô
Là con đường của giấc mơ nhiệm mầu
Con đường dẫn đến nghìn sau
Hồn tôi là vạn nhịp cầu em qua
 
11.
Ôi con- đường- cõi- người- ta
Đi là trở lại quê nhà cố hương
 
12.
Xòe bàn tay: những con đường
Quanh co sinh tử, vô thường tử sinh
Ôi con đường của vô biên
Dẫn về vô cực tận miền hoang vu
Mai sau tìm lại đời nhau
Thấy trăng thiên cổ vẫn màu cổ kim
Đường về đâu? Cõi - Lãng - Quên
Ngàn năm tôi mãi đi tìm ngàn năm.
 
12 bis.
Đường - Về! Ôi quá xa xăm
Chốn - Về! Ôi một chỗ nằm bụi tro
Tay cầm chiếc lá vàng phai
Đã nghe sợi khói bay ngoài vô biên
 
                                  Lê Văn Trung

READ MORE - CHÙM THƠ “CON ĐƯỜNG...” CỦA LÊ VĂN TRUNG

KHÚC THÁNH CA BUỒN – Thơ Tịnh Bình

 
               Nhà thơ Tịnh Bình

 

KHÚC THÁNH CA BUỒN
 
Những con đường huyễn hoặc trắng tinh khôi
Ta dỗ mình lạc vào đông mộng mị
Ngôi nhà gỗ giấu bao điều ấm áp
Quả chuông tròn giăng mắc dưới thông xanh
 
Ta giữ riêng mình lấp lánh khúc đông ca
Thuở bên người đêm giáng sinh nồng ấm
Tay trong tay giữa phố phường buốt lạnh
Ngỡ trong tim thiên sứ đã quay về
 
Thôi dỗ mình lạc vào giấc miên du
Đông rất thật, đêm trở mình khe khẽ
Chuông giáo đường vọng âm xa lặng lẽ
Nhớ riêng ai.... Khúc hát thánh ca buồn...
 
                                         TỊNH BÌNH
                                          (Tây Ninh)

READ MORE - KHÚC THÁNH CA BUỒN – Thơ Tịnh Bình

SOI GƯƠNG UỐNG RƯỢU – Thơ Hoàng Hương Trang

 


Hồi tiền chiến lắm văn nghệ sĩ thích khoe say. (Có người không uống được rượu cũng khoe say.) Vũ Hoàng Chương “nhịp gõ hàm ca”, Nguyễn Vỹ say và lẫn lộn người với chó, Lưu Trọng Lư say với ca nhi, Tản Đà say với tri âm v,v... Nhưng hồi ấy tửu đồ toàn thị là nam tử, tôi chưa bắt gặp được người đẹp nào say sưa trong thi ca cổ điển và tiền chiến.

Sau 1954, Hoàng Hương Trang là một người đẹp, và là một người say dữ dội. Nói say dữ không phải nói ngoa, vì quả chưa thấy ai trong đám nam tử kể trên say mà hung tợn như Hoàng nữ sĩ. Nửa đêm trằn trọc, bà đào đất lấy ra hũ rượu nếp than, mang uống một mình, uống ngay trong đêm tối, không đèn không lửa, bà uống rượu say và chửi bới inh ỏi, chửi đời chửi người, rồi say vùi trượt ngã.

Hôm nay còn có ông Phạm Thiên Thư chẳng hạn. Gặp khó khăn trong tình yêu, ông rỉ rả, ông thẩn thờ, ông khe khẽ thốt ra những lời than nhẹ phới. Như thế nam phái vốn dịu dàng an phận hơn nữ phái chăng?! Ôi rắc rối

Hoàng Hương Trang có cả một tập thơ về chuyện say sưa: “Túy ca”. Khi thì “soi gương uống rượu”, khi thì “uống rượu trong mưa”, khi thì nhớ cố nhân mà uống rượu, khi thì mất ngủ mà uống rượu v..., uống đến say khướt.

Những trận say như thế nói chung là vì tình cả. Trước bà, dù tình duyên trắc trở đau khổ đến đầu người ta cũng chỉ than thở, có thể than thở rất mực não nuột như Tượng Phố, như Đông Hồ v.v..., nhưng bất khuất táo tợn thì không.

Tuy vậy muốn đem nguyên cái tâm lý thời đại, đem nét đặc điểm “hôm nay” ra mà cắt nghĩa thái độ của bà, e cũng không ổn đâu. Nhưng lao đầu làm chi vào những cái hóc búa ấy? cố gắng cắt nghĩa làm chi cho khốn khổ? Hãy lặng yên ghi nhận thêm một khía cạnh tâm hồn, lặng yên như người ta vẫn lặng yên trước một cảnh tượng thương tâm.

                                                                  10/1986
                                                                Võ Phiến
(Nguồn: 
Văn Học Miền Nam, Thơ / Nxb Văn Nghệ 1999)

*
Áng thơ kiệt tác “Soi Gương Uống Rượu” của nữ sĩ Hoàng Hương Trang, trong tập thơ “Túy Ca”. Thi phẩm này hẳn là bài mà cô Trang đắc ý nhất trong tập thơ “Túy Ca”, nên đã chọn ngâm bài thơ này khi lần đầu tham dự hội thơ Quỳnh Dao với sự góp mặt của thi sĩ Vũ Hoàng Chương, Bùi Khánh Đản, Đan Quế, Trùng Quang, v.v. . Vương Thanh cũng có dịch bài thơ này qua tiếng Anh trong tập thơ song ngữ “A Vietnamese Garden of Lyrics & Verse, Volume 1”.
Bài này tuy ngâm hơi nhanh, nhưng có lẽ vì cảm khái, nhưng do chính tác giả ngâm, không còn ai có tư cách ngâm hay hơn nữa.
Và sau đó thì cô Trang trong bữa tiệc này được những nhà thơ mời ngâm giùm tới tấp!
 
(Tưởng nhớ tiếng hát, giọng ngâm, và thơ của nữ sĩ Hoàng Hương Trang)
                                                          Vương Thanh

READ MORE - SOI GƯƠNG UỐNG RƯỢU – Thơ Hoàng Hương Trang

Wednesday, December 23, 2020

TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở VIỆT NAM - Đặng Xuân Xuyến

Tam tòa Thánh Mẫu- ba vị Thánh tối linh trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ.
Hình từ Báo Bắc Giang Điện Tử - baobacgiang.com.vn


TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở VIỆT NAM

 

Tín ngưỡng thờ Mẫu là sự tin tưởng, ngưỡng mộ tôn vinh và thờ phụng những vị nữ thần gắn với các hiện tượng tự nhiên, vũ trụ được dân gian cho là có chức năng sáng tạo, bảo trợ và chở che cho sự sống của con người (như trời, đất, sông, nước, núi rừng…); hoặc thờ phụng các vị thái hậu, hoàng hậu, công chúa là những người khi sống tài giỏi, có công với dân với nước, khi mất hiển linh phù trợ cho người an vật thịnh. Các vị nữ thần này được tôn vinh với các chức vị: Thánh Mẫu (Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Chúa xứ Thánh Mẫu, Linh Sơn Thánh Mẫu), Quốc Mẫu (Quốc Mẫu Âu Cơ), Vương Mẫu....

 

Tục thờ Mẫu ra đời trên cơ sở tục thờ nữ thần. Các Thánh Mẫu đều là nữ thần, được thờ trong đền, chùa, miếu, điện, phủ. Do ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Quốc, tín ngưỡng thờ Mẫu ở nước ta đã phát triển và hình thành tín ngưỡng Tam Phủ (Thiên Phủ - miền Trời có Mẫu Cửu Trùng cai quản; Sơn Phủ - miền núi rừng có Mẫu Thượng Ngàn cai quản; Thủy Phủ - miền sông nước có Mẫu Thoải cai quản), Tứ phủ gồm ba phủ trên (tức Tam phủ) và Phủ trần gian, có Mẫu Liễu Hạnh cai quản.

 

Đến thế kỷ XVI, trên cơ sở tín ngưỡng Tam Phủ, Tứ Phủ, với sự ra đời của Thánh Mẫu Liễu Hạnh, một tôn giáo bản địa sơ khai được hình thành, đó là đạo Mẫu (còn gọi là đạo Nội).

 

So với tín ngưỡng thờ nữ thần, thờ Mẫu, đạo Mẫu đã có bước phát triển, bước đầu hình thành một hệ thống tương đối nhất quán về điện thần với các phủ, các hàng Điện Thần của Đạo Mẫu có hàng chục vị thần linh nhưng đều quy tụ dưới sự điều chỉnh của Tam Tòa Thánh Mẫu. Trong đó có một vị thần Mẫu cao nhất, mang tư cách là một vị giáo chủ - Thánh Mẫu Liễu Hạnh, được xem như là hoá thân của Mẫu Thượng Thiên. Những nghi lễ của Đạo Mẫu đã bước đầu được chuẩn hoá, trong đó nghi lễ hầu bóng là một điển hình.

 

Điện thờ Mẫu có ở khắp mọi nơi, từ đồng bằng lên miền núi và cả ở trong khu cư trú của cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Ở một số nơi, ban thờ Mẫu chỉ là một ban thờ nhỏ khiêm tốn đặt tại một góc trong ngôi chùa,  hoặc một điện thờ nhỏ trong gia đình, nhưng có nơi lại tồn tại như một điện phủ nguy nga. Cho nên, người ta chỉ nhận diện trong từng kiến trúc tổng thể của điện (ban) thờ, nhất là ở sự bày bố điện (ban) thờ và nghi lễ thờ cúng, chứ không căn cứ vào chi tiết cụ thể của tín ngưỡng thờ Mẫu. Chính những nét riêng ấy đã làm nên những đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu khiến cho tín ngưỡng này là một hình thức tín ngưỡng thuần phát đặc biệt của người Việt Nam.

 

Cấu trúc nơi thờ Mẫu:

 

Trong tâm thức dân gian của cư dân nông nghiệp: Dòng sông, con suối, hồ nước... là những nơi có nước mang tính nữ (Âm). Vì vậy hầu hết các điện mẫu thường được xây dựng cạnh sông, suối, hồ, biển (cửa biển)... Và các cửa điện (ban thờ) Mẫu bao giờ cũng được đặt quay về phía nguồn nước - những nơi tụ thuỷ, tụ phúc, hàm chứa những mong ước làm ăn phát đạt. Vì vậy, nếu như không chọn được thế đất lành tự nhiên có sông, hồ ôm bọc thì bao giờ trong khuôn viên dựng điện Mẫu người ta cũng làm hồ, ao, giếng... để dựng lại một không gian cần phải có, ứng với thuật phong thuỷ của người xưa.

 

Cũng để tạo tính âm, nhiều điện mẫu ở vùng cao thường được dựng trong các hang động hoặc xây dựng theo các hòn non bộ với những ngọn đá mọc lên từ đất hoặc dầm chân trong nước.

 

Cấu trúc không gian trong điện thờ Mẫu:

 

Vị trí chư vị Thánh được sắp xếp theo 3 tầng: Tầng trên không, tầng ngành trên ban, bệ thờ và tầng trệt.

 

Ở tầng không là sự hiện diện của đôi mãng xà (còn gọi là ông Lốt), tượng trưng cho quan lớn Tuần Tranh. Một con màu trắng, một con màu sẫm quấn trên sà ngang phía trái bên trên bàn thờ.

 

Ở tầng ngang bên trên ban (bệ) thờ có khi chỉ có một bàn, có khi là một dãy bàn từ ngoài vào cao dần (tùy từng nơi), là nơi ngự của các thánh Mẫu (cũng có khi chỉ là một tượng Mẫu) và các chư vị Thánh.

 

Ở hạ ban (tầng trệt) bao giờ cũng thờ ông Năm Dinh hay Ngũ Hổ tướng quân, với biểu trưng là tượng hoặc bức tranh hổ; phía trước tượng hoặc tranh, đặt một bát hương.

 

Trước ban thờ Mẫu bao giờ cũng treo tầng lớp những đồ vàng mã, nhưng phổ biến và không thể thiếu là nón, hài, thuyền rồng, đèn lồng đủ màu, với nhiều kích cỡ khác nhau. Sở dĩ có treo những đồ vật ấy vì trong đạo thờ Mẫu, từ Thánh Mẫu tới hàng quan, hàng chầu, ông Hoàng, các Cô, các Cậu đều gồm các vị thần linh có gốc gác từ chốn rừng núi cao, nơi ven biển xa xôi, ở mọi miền của đất nước.

 

Tam Tòa Thanh Mẫu:

 

Trong các điện thờ, người ta thờ cúng rất nhiều thần linh, nhưng đều quy tụ dưới sự điều chỉnh của Tam Toà thánh Mẫu. Vì vậy, nơi điện thờ chính thường có ba pho tượng thờ, mà tín ngưỡng gọi tôn kính là Tam Tòa Thánh Mẫu.

 

- Tượng Mẫu Đệ Nhất, mặc áo đỏ, trùm khăn đỏ tức Thánh Mẫu Liễu Hạnh được đặt ở giữa.

 

- Bên trái là mẫu Đệ Nhị (mẫu Thượng Ngàn), bà chúa của Sơn Lâm, mặc áo xanh, khăn xanh.

 

- Bên phải là mẫu Đệ Tam, tức mẫu Thoải, mặc áo trắng, trùm khăn trắng.

 

Văn khấn lễ Tam Tòa Thánh Mẫu:

 

Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)

 

- Con kính lạy Đức Hiệu Thiên chí tôn kim quyết Ngọc Hoàng Huyền cung cao Thượng đế.

 

- Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

 

- Con xin kính Cửu trùng Thanh Vân lục cung công chúa.

 

- Con kính lạy Đức thiên tiên Quỳnh Hoa Liễu Hạnh Mã Hoàng Công chúa, sắc phong Chế Thắng Hoà Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương Thánh Mấu.

 

- Con kính lạy Đức đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.

 

- Con kính lạy Đức đệ tứ khâm sai Thánh Mẫu, tứ vi chầu bà, năm tòa quan lớn, mười dinh các quan, mười hai Tiên cô, mười hai Thánh cậu, ngũ hổ Đại tướng, Thanh Hoàng Bạch xà đại tướng.

 

Hôm nay là ngày:   tháng:   năm:  Đệ tử con là:  Ngụ tại:

 

Đến nơi Điện (Phủ, Đền) ......... chắp tay kính lễ khấu đầu vọng bái, lòng con thành khẩn, thiết tha, kính dâng lễ vật, cúi xin các Ngài xót thương phù hộ độ trì cho gia chung chúng con sức khỏe dồi dào, phúc thọ khang ninh, đắc tài, đắc lộc, vạn sự hanh thông, gặp nhiều may mắn.

 

Đệ tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

 

Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)

 Đặng Xuân Xuyến

baothang_xuanxuyen@yahoo.com.vn

(Trích từ VÀO CHÙA LỄ PHẬT NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT,

Đặng Xuân Xuyến; Văn Hóa Thông Tin; 2006)

 




READ MORE - TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở VIỆT NAM - Đặng Xuân Xuyến

NGUYỄN HOÀNG ĐỨC QUA MẤY BÀI VIẾT TÔI ĐÃ ĐỌC - Đặng Xuân Xuyến

 


NGUYỄN HOÀNG ĐỨC 

QUA MẤY BÀI VIẾT TÔI ĐÃ ĐỌC

 

1. 

Trên blog Trang Đặng Xuân Xuyến giới thiệu 2 bài viết về "chân dung": nhà Thơ, nhà Văn, nhà Triết học "số 1 châu Á",... Nguyễn Hoàng Đức. Đó là bài "Nguyễn Hoàng Đức: Kẻ mộng du giữa đời thường" của nhà văn Sương Nguyệt Minh và bài "Anh hề triết học, chàng Đông Ki Sốt văn chương" của đạo diễn Đỗ Minh Tuấn. Có lẽ, trong nhìn nhận của Đỗ Minh Tuấn và Sương Nguyệt Minh thì Nguyễn Hoàng Đức chỉ là một "cậu bé" to xác nhưng rất "ngây thơ", rất "đáng yêu" và cũng rất “tội nghiệp” nên 2 nhà văn đều chọn cách viết hài hước để kẻ vẽ diện mạo, bồi đắp chân dung cho thật rõ nhân diện "nhà Triết học (tự xưng) số 1 châu Á" Nguyễn Hoàng Đức.

 

Đọc "Nguyễn Hoàng Đức: Kẻ mộng du giữa đời thường" thấy sự lém lỉnh pha chút khinh khỉnh của Sương Nguyệt Minh sau những nụ cười thân mến thân với "chàng" triết gia tự phong là số 1 châu Á.

 

Đọc "Anh hề triết học, chàng Đông Ki Sốt văn chương" thấy nụ cười mỉm của Đỗ Minh Tuấn trong những trang viết dí dỏm, hài hước nhưng vẫn đậm chất văn chương và tính triết luận của nhà đạo diễn tài hoa về những bi kịch cuộc đời của Paul Nguyễn Hoàng Đức căn nguyên từ ý thức tự tôn giáo hóa bản thân: Bi kịch về số phận, bi kịch về đam mê, bi kịch về nhận thức... thì ít hay nhiều, vẫn ấm cái tình người, cái chân, cái thiện của Đỗ Minh Tuấn trong bài viết.

 

Tôi có đọc Nguyễn Hoàng Đức nhưng chỉ đọc lướt ít bài vì thế không để lại chút ấn tượng nào về văn chương của ông cả. Nhưng thật oái oăm, những bài viết về Nguyễn Hoàng Đức thì tôi lại nhớ rất lâu, có lẽ vì cách viết của các tác giả, vì chân dung của ông được các tác giả tạc khéo quá, ấn tượng quá. Ví như nhà văn Sương Nguyệt Minh viết về ông cứ như vừa xoa tai búng mũi Nguyễn Hoàng Đức, vừa bông đùa trêu chọc Nguyễn Hoàng Đức nhưng nhà văn vẫn rất ngạo nghễ ý thức buông giọng ngôi trên. Đọc "Nguyễn Hoàng Đức: Kẻ mộng du giữa đời thường" tôi cứ tủm tỉm hình dung cảnh Sương Nguyệt Minh thi thoảng thơm trán Nguyễn Hoàng Đức âu yếm nhẹ một cái rồi thuận tay đét hai, ba cái rõ mạnh vào mông Nguyễn Hoàng Đức và chỉ chờ thế là cả Nguyễn Hoàng Đức, cả Sương Nguyệt Minh cùng ngửa cổ cười ngặt nghẽo.

 

Đọc Sương Nguyệt Minh vẽ Nguyễn Hoàng Đức mà thấy thương, thấy yêu, thấy tội tội Nguyễn Hoàng Đức. Chữ danh làm con người ta đẹp lên, sang lên, thơm lên và chữ danh cũng làm con người ta xấu đi, hèn mọn đi, nhơ bẩn đi. Nhưng với Nguyễn Hoàng Đức thì lại khác, chữ danh khiến ông ngây thơ như một đứa trẻ, đạo mạo như một quý bà...

 

Trong số những bài viết về Nguyễn Hoàng Đức tôi đã đọc, có lẽ bài viết của nhà văn Sương Nguyệt Minh là hay nhất - Hay không phải vì Sương Nguyệt Minh viết kỹ, viết sâu... về Nguyễn Hoàng Đức mà là khoảng lặng "Nguyễn Hoàng Đức: Kẻ mộng du giữa đời thường" để lại trong lòng bạn đọc là khoảng lặng day dứt về chữ TÌNH. 

 

2. 

Tôi cũng đã theo dõi Nguyễn Hoàng Đức một quãng thời gian khá dài trên facebook để hiểu thêm những gì mà đạo diễn Nguyễn Minh Tuấn và nhà văn Sương Nguyệt Minh chưa viết nhưng tôi không tìm thêm được vì hai ông quá giỏi, đã kẻ vẽ Nguyễn Hoàng Đức vừa đủ, không thừa, không thiếu những gì (cơ bản) thuộc về Nguyễn Hoàng Đức.

 

Ngoài 2 bài viết về chân dung Nguyễn Hoàng Đức đã điểm qua ở trên thì trong số các bài viết của nhà giáo Chu Mộng Long, nhà văn Nguyễn Thế Duyên.... phản bác lại bài viết: "Thơ Và Truyện Kiều Phát Sinh Trong Giới Mù Chữ Và Ít Học" của Paul Nguyễn Hoàng Đức (nhà giáo Chu Mộng Long hài hước gọi là Phao Lồ Nguyễn Hoàng Đức) thì bài viết "Lại Phải Vài Lời Trao Đổi Với Anh Nguyễn Hoàng Đức...”, của nhà văn Nguyễn Thế Duyên gây nhiều ấn tượng với tôi.

 

Với bài viết “Lại Phải Vài Lời Trao Đổi Với Anh Nguyễn Hoàng Đức...”, nhà văn Nguyễn Thế Duyên hừng hực nhảy vào cuộc bút chiến bằng tâm thế "bất chấp", lôi cả chuyện đời tư của Nguyễn Hoàng Đức: “già yếu, ốm đau, không gia đình, không có nguồn thu nhập ổn định, chỉ còn mỗi một niềm vui là lên mạng tự sướng” để ăn thua, để hả hê... với Nguyễn Hoàng Đức - Người đã được giới chữ nghĩa mặc định là “anh hề Triết học”, là “kẻ mộng du giữa đời thường.”.

 

Nửa phần trên của bài viết, có lẽ còn sung sức, vốn chữ còn nhiều, tâm trí vẫn ổn nên nhà văn Nguyễn Thế Duyên có những luận cứ hợp lý, thuyết phục khi ông dẫn luận về truyện Kiều của Nguyễn Du để phản bác “những lập luận vô cùng xằng bậy” và “bịa đặt trắng trợn” của Nguyễn Hoàng Đức “muốn lật đổ truyện Kiều, một trong những áng văn thơ đỉnh cao hiếm hoi của nền văn chương trung đại của dân tộc Việt” nhưng đến nửa phần sau bài viết thì hình như sức ông đã đuối nên loạng choạng, có chút lảm nhảm, lôi cả số like, số comment ra để làm vũ khí.... Thật tiếc, hành động này chứng tỏ tâm - tầm của ông chưa thể là "đối thủ ngang cơ” với Nguyễn Hoàng Đức. Nói kiểu “tưng tửng góp vui” thì với hành động đếm like, đếm comment làm vũ khí để hạ gục “đối thủ”, nhà văn Nguyễn Thế Duyên đã vô tình vào vai anh hề để tôn "anh hề" Nguyễn Hoàng Đức cao thêm vài bậc hoang tưởng.

 

Chắc nhà văn Nguyễn Thế Duyên cũng đã quá rõ ma mãnh trong tranh luận của Paul Nguyễn Hoàng Đức là đánh vào niềm tin của người nghe, người đọc ở những con số cụ thể, mà những con số cụ thể đó lại không có nguồn trích dẫn cụ thể, nó được "anh hề" bất chợt nghĩ ra để "anh hề" "chơi" kế sách "cả vú lấp miệng em", ví như "anh hề" nói 60% nhà thơ miền Nam là đạo thơ hay dân miền Trung thích thơ nhất vì nghèo đói. "Anh hề" cứ nói hú họa bừa như thế mà "nhồi nhét vào đầu những người lười suy nghĩ và ít chịu đọc những lập luận vô cùng xằng bậy" (Nguyễn Thế Duyên). Lạ là cũng không ít người lại hùa theo ý thức tự tôn giáo hóa bản thân của Nguyễn Hoàng Đức, rồi tán thưởng, tụng ca Nguyễn Hoàng Đức lên ngang với thánh thần, coi Nguyễn Hoàng Đức như một tượng đài bất khả xâm phạm. Tôi nghĩ, nếu nhà văn Nguyễn Thế Duyên xoáy sâu một chút về đặc trưng "chất Chí Phèo" trong "phương pháp tranh luận" của Nguyễn Hoàng Đức: Không giống Chí Phèo chỉ khi say bí tỉ, khi thiếu tỉnh táo để làm chủ nhận thức mới chửi bất cứ ai, bất cứ thứ gì Chí Phèo bất chợt nghĩ đến, còn “anh hề Triết học” - “kẻ mộng du giữa đời thường” Nguyễn Hoàng Đức chả cần thế, cứ không vừa ý là "anh hề Triết học" ỏm tỏi chửi, chửi bất kỳ ai dù vô tình chạm vào sợi dây thần kinh tự ái của “kẻ mộng du giữa đời thường” theo kiểu “chửi bất chấp” không cần lĩnh vực đấy “anh hề” có biết hay không, cũng chẳng cần chứng cứ mà “anh hề” chỉ cần lấy chửi để thắng người,.... mà “lựa chiêu ra đòn” thì bài viết “Lại Phải Vài Lời Trao Đổi Với Anh Nguyễn Hoàng Đức...” của ông rất đáng đọc.

 

-------------

 

Hà Nội, ngày 17 tháng 12-2020

 

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 

 


READ MORE - NGUYỄN HOÀNG ĐỨC QUA MẤY BÀI VIẾT TÔI ĐÃ ĐỌC - Đặng Xuân Xuyến

QUẢNG TRỊ ĐÔNG VỀ - Thơ Lê Văn Tiến

 


Quảng Trị Đông Về


Ánh dương dần khuất phía chân mây
Bầy nhạn bay về chốn nào đây?
Đông đến bâng khuâng miền gió lạnh
Tìm em ta nhớ lúc sum vầy
Thuở đó em anh một mái trường
Đông qua xuân đến vẫn yêu thương
Trò chơi thuở nhỏ sao quên được
Em làm cô dâu má ửng hồng
Anh là chú rễ nghe là lạ
Hai đứa cùng mơ một mái nhà
Thế rồi chinh chiến ngập quê hương
Anh theo binh lữa chốn sa trường
Em làm cô giáo phương trời cũ
Cách biệ̣t nhưng mà vẫn nhớ thương
Quảng Trị bây giờ mưa vẫn bay
Nhớ em ta rót chén rượu say
Lại nhớ đêm nào nghe mưa đổ
Hai đứa cùng nhau một vòng tay
Quảng Trị đông về lại nhớ em
Nhớ bờ tóc xỏa ngát hương đêm
Vai gầy ánh mắt vòng eo nhỏ
Hồn ta có phải quyện vào em?
Bây giờ Quảng Trị dấu hồn thơ
Ánh đèn phố thị choán trăng mờ
Hồn ta sao vẫn còn lạnh lẽo
Nhìn phố bâng khuâng, phố hửng hờ

Lê Văn Tiến
Mùa đông 2020
 





READ MORE - QUẢNG TRỊ ĐÔNG VỀ - Thơ Lê Văn Tiến

Tuesday, December 22, 2020

HAI GÁNH PHIỀN NÃO - Tùy bút Vĩnh Thông

 



HAI GÁNH PHIỀN NÃO

 

Tùy bút VĨNH THÔNG

 

Mạng xã hội Facebook có chế độ chặn những người mà mình không thích, có nghĩa là mình sẽ hoàn toàn không thấy họ và họ cũng hoàn toàn không thấy mình. Nhiều người thấy tiện, thấy hay. Bởi người mình không thích thì cứ… chặn cho khỏe, khỏi phải mắc công nhìn thấy họ rồi lại bực bội: “Nhìn bản mặt thấy ghét!”. Thỉnh thoảng tôi thấy một số bạn bè Facebook chụp hình lại danh sách chặn của mình rồi đăng lên trang cá nhân kèm lời chú thích đại khái như: đây là kết cuộc của những kẻ khó ưa!

Ở đây tôi chỉ xin bàn về những trường hợp chặn vì ghét, chứ không nói đến những trường hợp chặn vì bị làm phiền. Nhiều người nghĩ rằng khi chặn những người mình ghét trên Facebook có nghĩa là mình đã tránh được sự khó chịu. Thật ra không phải bạn đang tránh sự khó chịu đâu, mà dường như bạn đang cố trốn tránh lòng oán ghét của mình.

Có phải bạn đang nuôi dưỡng lòng oán ghét tiềm tàng? Nhìn thử xem, khi liệt ai đó vào danh sách chặn, có nghĩa là người nầy trở thành “phần tử nguy hiểm” trong mắt bạn, mặc dù không còn thấy họ trên Facebook, nhưng khi cái tên đó vẫn nằm mãi trong danh sách chặn tức là nó sẽ mãi nhắc nhở bạn rằng: “Tôi ghét hắn”. Mở danh sách chặn ra, bạn gặp tên người đó. Không mở danh sách chặn, bạn cũng nhớ rằng mình đã chặn người đó. 

Như vậy thì dù sao đi nữa, khi chặn một ai đó sẽ đồng nghĩa với việc bạn mãi mãi nuôi lòng oán ghét người nầy, chứ làm sao quên được? Chặn một người chẳng qua là nhắc nhở chính mình phải ghét họ. Danh sách chặn chính là bằng chứng cho sự tồn tại lòng hận thù trong bản thân mình. Khi nào bạn còn đưa người khác vào danh sách chặn của Facebook hay “danh sách ghét” của lòng, tức là bạn còn nuôi dưỡng lòng oán ghét. Điều bạn muốn quên chẳng qua là đối tượng mình ghét, chứ không phải quên đi lòng oán ghét.

Người bị ghét khổ là phải, vì họ bị người khác ghét nên khổ là đúng rồi. Song, người chủ động ghét người khác, sao cũng khổ? Có bao giờ chúng ta nghe ai nói: “Tôi sung sướng khi tôi ghét hắn” chưa? Toàn là khổ! Thí dụ nhé, bạn đang dạo bộ ở công viên, bỗng dưng gặp người mình ghét cay ghét đắng, tự dưng cuộc dạo bộ mất hết không khí vui tươi, bạn đâm ra bực dọc. Dù người nầy không nói gì đến bạn, thậm chí có thể không nhìn thấy bạn, nhưng hễ ghét rồi thì gặp mặt cũng đã cảm thấy… khó ưa. Rõ ràng là không ai gieo rắc phiền nào cho bạn, tự bạn đang tìm kiếm phiền não để ôm vào người.

Thấy rõ oán ghét là hại mình hại người, khổ mình khổ người, nhưng chúng ta vẫn cứ khăng khăng ôm về nhà những chiếc ba lô mang tên “thù hận”, rồi cất kỹ trong tủ, khóa lại cẩn thận. Đến khi sức khỏe đã quá tệ, không còn đủ khả năng mang những ba lô đó về nhà nữa, thì mình cũng sắp từ giã cuộc đời rồi. Cả cuộc đời, chỉ toàn mang về cho mình sự khổ đau!

Thay vì trốn tránh, tôi nghĩ bạn nên hãy tập chấp nhận.

Buông bỏ lòng oán ghét nghĩa là đối diện với người đó mà cảm xúc oán ghét trong lòng mình không còn tồn tại hoặc không phát sinh trở lại. Chỉ khi nào bạn không chặn họ, thấy họ hằng ngày trên Facebook, phát hiện họ vẫn có những điểm tốt, không quá đáng ghét, cái ghét trong bạn từ từ loãng dần rồi tan hẳn, đó mới là buông bỏ lòng oán ghét. Khi nào danh sách chặn trên Facebook rỗng và “danh sách ghét” của lòng cũng rỗng, bạn mới thực sự thảnh thơi.

Bỏ qua, không có nghĩa là tôi khuyên bạn nên tha thứ hay khoan dung. Bởi, bạn có chắc rằng mình là người đúng hay không mà đòi khoan dung kẻ khác? Khi nào đối phương sai ta mới có thể khoan dung, còn trong những trường hợp không thể chắc rằng ai đúng ai sai thì làm sao mình đòi quyền được khoan dung người khác? Bất đồng ý kiến về một quan điểm gì đó, có thể sẽ có kẻ đúng người sai. Nhưng có những thứ bất đồng không thể phân chia đúng sai.

Người nói ít, người nói nhiều, người nghiêm túc, người đùa cợt, người lạnh lùng, người hồ hởi… điều đó không làm cho con người ta trở nên đúng hoặc sai, bởi đó là bản chất. Người nghiêm túc mà đối phương cợt đùa, không có nghĩa là mình đúng còn họ sai. Như ớt phải cay, muối phải mặn, đường phải ngọt, chanh phải chua… đó là bản chất, không thể bắt ép phải thay đổi được, càng không có cái gọi là đúng sai. Trăm ngàn người có trăm ngàn tánh cách, người ta sẽ là người “đúng” khi sống đúng với tánh cách của họ và bạn sẽ là người “sai” khi bắt người khác phải sống theo ý muốn của mình. 

Tôi cũng không kêu gọi bạn hãy đừng ghét nữa, hãy yêu thương đi… tôi không hô hào kiểu đó. Mà là, hãy tập thay đổi thái độ nhìn nhận người khác đi. Để làm chi? Không phải vì họ, mà là vì mình, mình sẽ tìm được sự thoải mái cho lòng mình. Thay đổi thế nào? Đọc những trạng thái, bình luận, tin nhắn… mà không thấy nó khiến mình phải ghét người viết. Khi đọc một câu nào đó mà thấy khó chịu, có thể là lỗi của người viết, nhưng biết đâu cũng có thể là do chính bạn vì đã quá khó khăn và cố chấp. 

Với cá nhân tôi, tôi nghĩ rằng trong giao tiếp không cần phải quá khắt khe, giáo điều. Người ta có thể nói chuyện lễ phép dạ dạ thưa thưa với bạn, nhưng có chắc rằng sau lưng bạn họ không nói xấu hay chửi bới? Có thể một người thốt ra một câu hơi mất lịch sự với bạn, khi nhận ra thì người nầy cảm thấy hối hận. Trong khi đó, bạn lại chấp vào câu nói kia để hờn giận, ghét bỏ. Nếu cả hai đều buông được, người kia không chấp câu nói đó để buồn, bạn không chấp câu nói đó để giận, thì chẳng phải cả hai đều thoải mái sao? Lời nói nhìn cho rốt ráo thì chúng lại… chẳng nói lên được điều gì cả, con người sống đâu phải vì mục đích chấp vào lời nói để phán xét nhau. 

Nếu có mười việc bắt gặp trong ngày, ta cảm nhận tám việc dễ chịu và hai việc khó chịu, thì đời sẽ đẹp biết bao. Nhưng rất tiếc nhiều người lại cảm nhận ngược lại. Chúng ta luôn thấy mọi thứ xung quanh mình khó ưa nhiều hơn là dễ thương. Gọi vui thì đó là hội chứng “nhìn đâu cũng thấy khó ưa”.

Trên đời vốn không có cái gì khó ưa hay dễ thương, mà chỉ có con người nhìn chúng với thái độ dễ thương hay khó ưa. Như một loài hoa ra đời sẽ tự mặc định về màu sắc, nhưng chúng không mặc định cho mình phải xấu hơn hoa nầy hay đẹp hơn hoa khác, cũng không một đấng thần linh nào mặc định cho chúng như thế. Tất cả chỉ là do con người tự ý xếp đặt một cách độc tài, rằng hoa hồng thì đẹp hơn bông vạn thọ chẳng hạn. Trong cuộc sống, sự đánh giá tốt xấu rốt cuộc đều từ cái nhìn của từng cá nhân. 

Người khác mang phiền não đến cho mình cũng đủ để mình mệt lắm rồi, mình ngu dại gì mà lại còn tự rước phiền não cho bản thân. Hai gánh phiền não, một của “tha nhân” và một của “tự thân”, mang chi mà nặng vậy?

Đôi khi chỉ một mỉm cười là đủ, vậy thôi. Còn bao giận hờn, thù ghét, ganh đua như phế thải xô bồ và rối rắm, mang chi để nhọc lòng…

 

VĨNH THÔNG

vinhthongts@gmail.com

 

READ MORE - HAI GÁNH PHIỀN NÃO - Tùy bút Vĩnh Thông

TẾT TƯƠI, TRÂU CƯỜI - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân

 

                  

Nhà văn Lê Hứa Huyền Trân


TẾT TƯƠI, TRÂU CƯỜI

Truyện ngắn

LÊ HỨA HUYỀN TRÂN

 

        Tiếng ngoại rít thuốc lào từng cơn phá tan không gian yên tĩnh của buổi đêm, khi không khí chuẩn bị xuân bắt đầu tràn về qua từng nẻo của cơn nhà nhỏ. Ba tôi ngồi trên thềm cạnh ngoại, mắt cũng ước chừng khá đăm chiêu, ánh trăng đêm soi sáng hai người đàn ông một cách vằng vặc ngồi yên tĩnh bên thềm. Ngoại đưa cho ba điếu cày nhưng ba nhìn tôi rồi phẩy tay, lấy chén trà nhấp một ngụm rõ to. Ngoại cười khề khà:

     -Bây hứa với nó không hút thuốc, là ba cái thuốc lá có hại cho sức khỏe. Chứ cái ngữ này có hại gì đâu.

     Ba tôi chỉ phì cười, đó là ngoại nhắc tới lời hứa của ba với tôi, rằng khi tôi được học sinh giỏi ba sẽ bỏ thuốc. Má trong nhà đi ra thay ấm trà mới, tiếng bước chân dù rất nhẹ của má cũng là tiếng động duy nhất sau hồi yên tĩnh, chỉ có tiếng lũ nhái ngoài ruộng khẽ kêu từng cơn như dạo nhạc. Bỗng, tiếng cậu tôi í ới:

     -Ba, giữ con trâu lại. Nó chạy, ba…

     Làm cả ba tôi và ngoại lập tức chạy như bay ra cổng. Con trâu nhà tôi chiều dắt về đóng cột hẹp nên lỏng dây, hắn ăn xong, thấy dây nới rồi vùng chạy lúc nào không để ý. Nhưng còn biết đường mà về, cứ “diễu hành” trước mặt cậu như trêu ngươi cho cậu thấy rồi mới chạy. Dắt được con trâu về mà ngoại túa cả mồ hôi, quay qua nói với ba:

     -Tao định bán con trâu. Tết tươi sắp tới rồi, trước là qua hai cơn bão, nhà gần như mất hết, người còn nuôi không đặng huống gì trâu. Sau nữa, nếu dư được chút thì coi như gửi chút tiền cho bà già với vợ mày mua đồ sắm tết.

     Ba có vẻ phản đối:

     - Hết tiền thì mình xoay kiểu khác. Ba lớn tuổi rồi, con trâu trong nhà vừa thồ kéo, vừa để tới mùa lúa còn bớt nhọc.

     Nhưng ngoại có vẻ đã quyết, tôi nghe tiếng lũ nhóc em họ mới nghe ý ngoại đã bù lu bù loa cả lên, hứa hẹn đủ điều. Dẫu thế, ngoại vẫn ra chiều quyết tâm lắm, rít cả một hơi thuốc dài…

+++

    Hai cơn bão về quá đột ngột, dù được chuẩn bị đề phòng từ trước nhưng cũng cuốn đi của ngoại tôi hầu như mọi thứ. Ông bà ngoại tôi sống trong một căn chòi nhỏ mé sát một bờ kênh, ngày bão về được ba mẹ tôi rước về ở trong nhà cho bớt nguy hiểm. Nhà tôi dù cũng chịu ảnh hưởng ít nhiều, cũng ngập nước lênh láng nhưng ít ra còn vững chãi hơn căn chòi nhỏ của ngoại. Nhưng đến khi bão tan, ngoại cứ nằng nặc đòi ra xem cái chòi như thế nào. Nó đã biến mất trên dòng kênh, bao nhiêu đồ đạc cuốn trôi tất. Vốn nó là một cái tạp hóa nhỏ, ngoại mở ra bán dăm gói mì, cái bánh cho vui thú tuổi già. Nhìn cảnh ngoại lội bì bõm trong một phần chòi còn sót lại, chiếc giường con mà ông bà vẫn hay nằm chiếu mền ướt sung và đôi mắt đỏ hoe của ngoại khiến tôi không khỏi xót xa. Nhưng khi thấy tôi, ngoại lập tức xua đi nước mắt, ôm tôi bế thốc lên qua vùng nước nổi:

     -Lát mày với ngoại dắt trâu đi lái bán rồi ngoại mua cho mày chậu tắc như mọi năm nhé?

     -Nhưng ngoại thương trâu lắm mà.

     -Ừ, nhưng cái này đi thì cái khác mới đến được. Tao cũng già rồi, không thể dắt nó đi làm mãi được. Bão vừa rồi, cái nhà mày bị dột, rớt laphong rồi, ba mày giấu không nói nhưng tao biết tất. Coi như một phần để nhà mày sửa sang tết.

     Nhưng khi thấy ngoại đưa trâu cho lái, ánh mắt ươn ướt tôi cũng không khỏi xót xa.

     Sau đợt lũ, ngoại về ở với nhà tôi, cùng nhau sửa sang nhà. Mọi thứ về cùng với Tết, kể cả tình thân và sự sum họp. Nhà tôi thành điểm hẹn để dì cậu cùng về. Nhìn ánh mắt ngoại vui mỗi khi con cháu tề tựu sum vầy không khỏi khiến người ta xúc động. Nhà ngoại đông con, mỗi người một phương trời rồi lập gia đình ở đó, chỉ có Tết mới về. Ngày giáp tết, nhà tôi vẫn giữ truyền thống tự làm bánh mứt cổ truyền, các cậu chia nhau đi chặt dừa non về làm mứt, các dì nhào nặn đổ khuôn các loại bánh xanh đỏ tím vàng. Ngoại tôi từng bảo:

     -Mấy thứ này có thể mua đầy ngoài chợ, nhưng nếu tự tay làm sẽ ý nghĩa hơn. Hơn nữa, khi là một gia đình, cùng nhau quay quần, cùng làm một điều gì đó sẽ là một kí ức đẹp.

     Nhất là nồi bánh chưng, lúc nào cũng phải nấu cả hai nồi to mới đủ chia hết cho con cháu.Lũ trẻ chúng tôi luôn dành nhau canh lửa nhưng chưa được non đêm là đã ngủ say rồi, để các người lớn phải ra bế vào rồi chia nhau ra canh. Ba tôi bảo ba và các cậu thường nhâm nhi lon bia đêm cho bớt lạnh rồi nói chuyện cả đêm quên cả ngủ bên nồi bánh dù có thể chia nhau luân phiên trực.

      Đêm giao thừa, các dì và mẹ tôi sẽ cùng xếp mâm ngũ quả “cỡ đại”, vì các gia đình đều tập trung đón giao thừa chung tại một nhà. Lũ trẻ nối đuôi nhau nhận lì xì từ người lớn. Đến ngoại, cậu cả trong nhà trịnh trọng:

     -Tụi con cũng có món quà mừng tuổi ba.

     Rồi anh họ tôi dắt từ dưới sân lên một con trâu, mới nhìn xoáy đã biết là lão trâu nhà. Chúng tôi, ngoại tôi vội đứng ngay dậy mắt rung rung:

     -Tụi bây, sao tự dung… Tiền đâu mà…”.

     Các cậu dì tôi quay quần ôm lây ngoại, tôi cũng không nghe rõ: “Tụi con chuộc về… Biết ba với lão trâu tình cảm lắm…”

     Ba tôi lúc này mắt cũng có màu hoàng hôn nhìn ngoại: “Ba đã hi sinh cả đời vì tụi con rồi, sao một món quà tết cũng không để tụi con thảo hiếu”.

     Tiếng dì dõng dạc: “Anh em trong nhà chia nhau, mỗi người một ít, không nhiều nhặn gì. Ba dạy tụi con đoàn kết mà thứ đoàn kết ý nghĩa nhất ba lại không nhận à?”

          Tôi nghe tiếng pháo hoa giao thừa nổ trong đêm. Tết người ta thường dặn nhau hãy cười nhưng cả nhà tôi đều khóc. Nhưng không hiểu sao, tôi lại thấy những giọt nước mắt này hạnh phúc lạ thường.

 

Tác giả: Lê Hứa Huyền Trân

Hội viên Hội VHNT Tỉnh Bình Định

Email: Phongtruongtu201@gmail.com

READ MORE - TẾT TƯƠI, TRÂU CƯỜI - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân