THÁNG MƯỜI HAI
Năm rót cạn, cận kề ngày cuối
Nhà Vườn chen, săn đón nụ đầu Hoa
Lành lạnh trời, man mác Khách phương xa
Người xuôi ngược xôn xao chờ vị Tết...
Lê Phước Sinh
TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
Hồi tiền chiến lắm văn nghệ sĩ thích khoe say. (Có người không uống được rượu cũng khoe say.) Vũ Hoàng Chương “nhịp gõ hàm ca”, Nguyễn Vỹ say và lẫn lộn người với chó, Lưu Trọng Lư say với ca nhi, Tản Đà say với tri âm v,v... Nhưng hồi ấy tửu đồ toàn thị là nam tử, tôi chưa bắt gặp được người đẹp nào say sưa trong thi ca cổ điển và tiền chiến.
Sau 1954, Hoàng Hương Trang là một người đẹp, và là một người say dữ dội. Nói say dữ không phải nói ngoa, vì quả chưa thấy ai trong đám nam tử kể trên say mà hung tợn như Hoàng nữ sĩ. Nửa đêm trằn trọc, bà đào đất lấy ra hũ rượu nếp than, mang uống một mình, uống ngay trong đêm tối, không đèn không lửa, bà uống rượu say và chửi bới inh ỏi, chửi đời chửi người, rồi say vùi trượt ngã.
Hôm nay còn có ông Phạm Thiên Thư chẳng hạn. Gặp khó khăn trong tình yêu, ông rỉ rả, ông thẩn thờ, ông khe khẽ thốt ra những lời than nhẹ phới. Như thế nam phái vốn dịu dàng an phận hơn nữ phái chăng?! Ôi rắc rối
Tam tòa Thánh Mẫu- ba vị Thánh tối linh trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ.
Hình từ Báo Bắc Giang Điện Tử - baobacgiang.com.vn
TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở VIỆT NAM
Tín ngưỡng thờ Mẫu là sự tin tưởng, ngưỡng mộ tôn vinh và thờ
phụng những vị nữ thần gắn với các hiện tượng tự nhiên, vũ trụ được dân gian
cho là có chức năng sáng tạo, bảo trợ và chở che cho sự sống của con người (như
trời, đất, sông, nước, núi rừng…); hoặc thờ phụng các vị thái hậu, hoàng hậu,
công chúa là những người khi sống tài giỏi, có công với dân với nước, khi mất
hiển linh phù trợ cho người an vật thịnh. Các vị nữ thần này được tôn vinh với
các chức vị: Thánh Mẫu (Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Chúa xứ Thánh Mẫu, Linh Sơn Thánh
Mẫu), Quốc Mẫu (Quốc Mẫu Âu Cơ), Vương Mẫu....
Tục thờ Mẫu ra đời trên cơ sở tục thờ nữ thần. Các Thánh Mẫu
đều là nữ thần, được thờ trong đền, chùa, miếu, điện, phủ. Do ảnh hưởng của Đạo
giáo Trung Quốc, tín ngưỡng thờ Mẫu ở nước ta đã phát triển và hình thành tín
ngưỡng Tam Phủ (Thiên Phủ - miền Trời có Mẫu Cửu Trùng cai quản; Sơn Phủ - miền
núi rừng có Mẫu Thượng Ngàn cai quản; Thủy Phủ - miền sông nước có Mẫu Thoải
cai quản), Tứ phủ gồm ba phủ trên (tức Tam phủ) và Phủ trần gian, có Mẫu Liễu Hạnh
cai quản.
Đến thế kỷ XVI, trên cơ sở tín ngưỡng Tam Phủ, Tứ Phủ, với sự
ra đời của Thánh Mẫu Liễu Hạnh, một tôn giáo bản địa sơ khai được hình thành,
đó là đạo Mẫu (còn gọi là đạo Nội).
So với tín ngưỡng thờ nữ thần, thờ Mẫu, đạo Mẫu đã có bước
phát triển, bước đầu hình thành một hệ thống tương đối nhất quán về điện thần với
các phủ, các hàng Điện Thần của Đạo Mẫu có hàng chục vị thần linh nhưng đều quy
tụ dưới sự điều chỉnh của Tam Tòa Thánh Mẫu. Trong đó có một vị thần Mẫu cao nhất,
mang tư cách là một vị giáo chủ - Thánh Mẫu Liễu Hạnh, được xem như là hoá thân
của Mẫu Thượng Thiên. Những nghi lễ của Đạo Mẫu đã bước đầu được chuẩn hoá,
trong đó nghi lễ hầu bóng là một điển hình.
Điện thờ Mẫu có ở khắp mọi nơi, từ đồng bằng lên miền núi và
cả ở trong khu cư trú của cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Ở một số nơi, ban
thờ Mẫu chỉ là một ban thờ nhỏ khiêm tốn đặt tại một góc trong ngôi chùa, hoặc một điện thờ nhỏ trong gia đình, nhưng
có nơi lại tồn tại như một điện phủ nguy nga. Cho nên, người ta chỉ nhận diện
trong từng kiến trúc tổng thể của điện (ban) thờ, nhất là ở sự bày bố điện
(ban) thờ và nghi lễ thờ cúng, chứ không căn cứ vào chi tiết cụ thể của tín ngưỡng
thờ Mẫu. Chính những nét riêng ấy đã làm nên những đặc trưng của tín ngưỡng thờ
Mẫu khiến cho tín ngưỡng này là một hình thức tín ngưỡng thuần phát đặc biệt của
người Việt Nam.
Cấu trúc nơi thờ Mẫu:
Trong tâm thức dân gian của cư dân nông nghiệp: Dòng sông,
con suối, hồ nước... là những nơi có nước mang tính nữ (Âm). Vì vậy hầu hết các
điện mẫu thường được xây dựng cạnh sông, suối, hồ, biển (cửa biển)... Và các cửa
điện (ban thờ) Mẫu bao giờ cũng được đặt quay về phía nguồn nước - những nơi tụ
thuỷ, tụ phúc, hàm chứa những mong ước làm ăn phát đạt. Vì vậy, nếu như không
chọn được thế đất lành tự nhiên có sông, hồ ôm bọc thì bao giờ trong khuôn viên
dựng điện Mẫu người ta cũng làm hồ, ao, giếng... để dựng lại một không gian cần
phải có, ứng với thuật phong thuỷ của người xưa.
Cũng để tạo tính âm, nhiều điện mẫu ở vùng cao thường được dựng
trong các hang động hoặc xây dựng theo các hòn non bộ với những ngọn đá mọc lên
từ đất hoặc dầm chân trong nước.
Cấu trúc không gian trong điện thờ Mẫu:
Vị trí chư vị Thánh được sắp xếp theo 3 tầng: Tầng trên
không, tầng ngành trên ban, bệ thờ và tầng trệt.
Ở tầng không là sự hiện diện của đôi mãng xà (còn gọi là ông
Lốt), tượng trưng cho quan lớn Tuần Tranh. Một con màu trắng, một con màu sẫm
quấn trên sà ngang phía trái bên trên bàn thờ.
Ở tầng ngang bên trên ban (bệ) thờ có khi chỉ có một bàn, có
khi là một dãy bàn từ ngoài vào cao dần (tùy từng nơi), là nơi ngự của các
thánh Mẫu (cũng có khi chỉ là một tượng Mẫu) và các chư vị Thánh.
Ở hạ ban (tầng trệt) bao giờ cũng thờ ông Năm Dinh hay Ngũ Hổ
tướng quân, với biểu trưng là tượng hoặc bức tranh hổ; phía trước tượng hoặc
tranh, đặt một bát hương.
Trước ban thờ Mẫu bao giờ cũng treo tầng lớp những đồ vàng
mã, nhưng phổ biến và không thể thiếu là nón, hài, thuyền rồng, đèn lồng đủ
màu, với nhiều kích cỡ khác nhau. Sở dĩ có treo những đồ vật ấy vì trong đạo thờ
Mẫu, từ Thánh Mẫu tới hàng quan, hàng chầu, ông Hoàng, các Cô, các Cậu đều gồm
các vị thần linh có gốc gác từ chốn rừng núi cao, nơi ven biển xa xôi, ở mọi miền
của đất nước.
Tam Tòa Thanh Mẫu:
Trong các điện thờ, người ta thờ cúng rất nhiều thần linh,
nhưng đều quy tụ dưới sự điều chỉnh của Tam Toà thánh Mẫu. Vì vậy, nơi điện thờ
chính thường có ba pho tượng thờ, mà tín ngưỡng gọi tôn kính là Tam Tòa Thánh Mẫu.
- Tượng Mẫu Đệ Nhất, mặc áo đỏ, trùm khăn đỏ tức Thánh Mẫu
Liễu Hạnh được đặt ở giữa.
- Bên trái là mẫu Đệ Nhị (mẫu Thượng Ngàn), bà chúa của Sơn
Lâm, mặc áo xanh, khăn xanh.
- Bên phải là mẫu Đệ Tam, tức mẫu Thoải, mặc áo trắng, trùm
khăn trắng.
Văn khấn lễ Tam Tòa Thánh Mẫu:
Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)
- Con kính lạy Đức Hiệu Thiên chí tôn kim quyết Ngọc Hoàng
Huyền cung cao Thượng đế.
- Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
- Con xin kính Cửu trùng Thanh Vân lục cung công chúa.
- Con kính lạy Đức thiên tiên Quỳnh Hoa Liễu Hạnh Mã Hoàng
Công chúa, sắc phong Chế Thắng Hoà Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương Thánh Mấu.
- Con kính lạy Đức đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường
Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.
- Con kính lạy Đức đệ tứ khâm sai Thánh Mẫu, tứ vi chầu bà,
năm tòa quan lớn, mười dinh các quan, mười hai Tiên cô, mười hai Thánh cậu, ngũ
hổ Đại tướng, Thanh Hoàng Bạch xà đại tướng.
Hôm nay là ngày:
tháng: năm: Đệ tử con là:
Ngụ tại:
Đến nơi Điện (Phủ, Đền) ......... chắp tay kính lễ khấu đầu
vọng bái, lòng con thành khẩn, thiết tha, kính dâng lễ vật, cúi xin các Ngài
xót thương phù hộ độ trì cho gia chung chúng con sức khỏe dồi dào, phúc thọ
khang ninh, đắc tài, đắc lộc, vạn sự hanh thông, gặp nhiều may mắn.
Đệ tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được
phù hộ độ trì.
Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)
(Trích từ VÀO CHÙA LỄ PHẬT NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT,
Đặng Xuân Xuyến; Văn Hóa Thông Tin; 2006)
NGUYỄN HOÀNG ĐỨC
QUA MẤY BÀI VIẾT TÔI ĐÃ ĐỌC
1.
Trên blog Trang Đặng Xuân Xuyến giới
thiệu 2 bài viết về "chân dung": nhà Thơ, nhà Văn, nhà Triết học
"số 1 châu Á",... Nguyễn Hoàng Đức. Đó là bài "Nguyễn Hoàng Đức:
Kẻ mộng du giữa đời thường" của nhà văn Sương Nguyệt Minh và bài "Anh
hề triết học, chàng Đông Ki Sốt văn chương" của đạo diễn Đỗ Minh Tuấn. Có
lẽ, trong nhìn nhận của Đỗ Minh Tuấn và Sương Nguyệt Minh thì Nguyễn Hoàng Đức
chỉ là một "cậu bé" to xác nhưng rất "ngây thơ", rất
"đáng yêu" và cũng rất “tội nghiệp” nên 2 nhà văn đều chọn cách viết
hài hước để kẻ vẽ diện mạo, bồi đắp chân dung cho thật rõ nhân diện "nhà
Triết học (tự xưng) số 1 châu Á" Nguyễn Hoàng Đức.
Đọc "Nguyễn Hoàng Đức: Kẻ mộng
du giữa đời thường" thấy sự lém lỉnh pha chút khinh khỉnh của Sương Nguyệt
Minh sau những nụ cười thân mến thân với "chàng" triết gia tự phong
là số 1 châu Á.
Đọc "Anh hề triết học, chàng
Đông Ki Sốt văn chương" thấy nụ cười mỉm của Đỗ Minh Tuấn trong những
trang viết dí dỏm, hài hước nhưng vẫn đậm chất văn chương và tính triết luận của
nhà đạo diễn tài hoa về những bi kịch cuộc đời của Paul Nguyễn Hoàng Đức căn
nguyên từ ý thức tự tôn giáo hóa bản thân: Bi kịch về số phận, bi kịch về đam
mê, bi kịch về nhận thức... thì ít hay nhiều, vẫn ấm cái tình người, cái chân,
cái thiện của Đỗ Minh Tuấn trong bài viết.
Tôi có đọc Nguyễn Hoàng Đức nhưng
chỉ đọc lướt ít bài vì thế không để lại chút ấn tượng nào về văn chương của ông
cả. Nhưng thật oái oăm, những bài viết về Nguyễn Hoàng Đức thì tôi lại nhớ rất
lâu, có lẽ vì cách viết của các tác giả, vì chân dung của ông được các tác giả
tạc khéo quá, ấn tượng quá. Ví như nhà văn Sương Nguyệt Minh viết về ông cứ như
vừa xoa tai búng mũi Nguyễn Hoàng Đức, vừa bông đùa trêu chọc Nguyễn Hoàng Đức
nhưng nhà văn vẫn rất ngạo nghễ ý thức buông giọng ngôi trên. Đọc "Nguyễn
Hoàng Đức: Kẻ mộng du giữa đời thường" tôi cứ tủm tỉm hình dung cảnh Sương
Nguyệt Minh thi thoảng thơm trán Nguyễn Hoàng Đức âu yếm nhẹ một cái rồi thuận
tay đét hai, ba cái rõ mạnh vào mông Nguyễn Hoàng Đức và chỉ chờ thế là cả Nguyễn
Hoàng Đức, cả Sương Nguyệt Minh cùng ngửa cổ cười ngặt nghẽo.
Đọc Sương Nguyệt Minh vẽ Nguyễn
Hoàng Đức mà thấy thương, thấy yêu, thấy tội tội Nguyễn Hoàng Đức. Chữ danh làm
con người ta đẹp lên, sang lên, thơm lên và chữ danh cũng làm con người ta xấu
đi, hèn mọn đi, nhơ bẩn đi. Nhưng với Nguyễn Hoàng Đức thì lại khác, chữ danh
khiến ông ngây thơ như một đứa trẻ, đạo mạo như một quý bà...
Trong số những bài viết về Nguyễn Hoàng Đức tôi đã đọc, có lẽ bài viết của nhà văn Sương Nguyệt Minh là hay nhất - Hay không phải vì Sương Nguyệt Minh viết kỹ, viết sâu... về Nguyễn Hoàng Đức mà là khoảng lặng "Nguyễn Hoàng Đức: Kẻ mộng du giữa đời thường" để lại trong lòng bạn đọc là khoảng lặng day dứt về chữ TÌNH.
2.
Tôi cũng đã theo dõi Nguyễn Hoàng Đức
một quãng thời gian khá dài trên facebook để hiểu thêm những gì mà đạo diễn
Nguyễn Minh Tuấn và nhà văn Sương Nguyệt Minh chưa viết nhưng tôi không tìm
thêm được vì hai ông quá giỏi, đã kẻ vẽ Nguyễn Hoàng Đức vừa đủ, không thừa,
không thiếu những gì (cơ bản) thuộc về Nguyễn Hoàng Đức.
Ngoài 2 bài viết về chân dung Nguyễn
Hoàng Đức đã điểm qua ở trên thì trong số các bài viết của nhà giáo Chu Mộng
Long, nhà văn Nguyễn Thế Duyên.... phản bác lại bài viết: "Thơ Và Truyện
Kiều Phát Sinh Trong Giới Mù Chữ Và Ít Học" của Paul Nguyễn Hoàng Đức (nhà
giáo Chu Mộng Long hài hước gọi là Phao Lồ Nguyễn Hoàng Đức) thì bài viết
"Lại Phải Vài Lời Trao Đổi Với Anh Nguyễn Hoàng Đức...”, của nhà văn Nguyễn
Thế Duyên gây nhiều ấn tượng với tôi.
Với bài viết “Lại Phải Vài Lời Trao
Đổi Với Anh Nguyễn Hoàng Đức...”, nhà văn Nguyễn Thế Duyên hừng hực nhảy vào cuộc
bút chiến bằng tâm thế "bất chấp", lôi cả chuyện đời tư của Nguyễn
Hoàng Đức: “già yếu, ốm đau, không gia đình, không có nguồn thu nhập ổn định,
chỉ còn mỗi một niềm vui là lên mạng tự sướng” để ăn thua, để hả hê... với Nguyễn
Hoàng Đức - Người đã được giới chữ nghĩa mặc định là “anh hề Triết học”, là “kẻ
mộng du giữa đời thường.”.
Nửa phần trên của bài viết, có lẽ
còn sung sức, vốn chữ còn nhiều, tâm trí vẫn ổn nên nhà văn Nguyễn Thế Duyên có
những luận cứ hợp lý, thuyết phục khi ông dẫn luận về truyện Kiều của Nguyễn Du
để phản bác “những lập luận vô cùng xằng bậy” và “bịa đặt trắng trợn” của Nguyễn
Hoàng Đức “muốn lật đổ truyện Kiều, một trong những áng văn thơ đỉnh cao hiếm
hoi của nền văn chương trung đại của dân tộc Việt” nhưng đến nửa phần sau bài
viết thì hình như sức ông đã đuối nên loạng choạng, có chút lảm nhảm, lôi cả số
like, số comment ra để làm vũ khí.... Thật tiếc, hành động này chứng tỏ tâm - tầm
của ông chưa thể là "đối thủ ngang cơ” với Nguyễn Hoàng Đức. Nói kiểu
“tưng tửng góp vui” thì với hành động đếm like, đếm comment làm vũ khí để hạ gục
“đối thủ”, nhà văn Nguyễn Thế Duyên đã vô tình vào vai anh hề để tôn "anh
hề" Nguyễn Hoàng Đức cao thêm vài bậc hoang tưởng.
Chắc nhà văn Nguyễn Thế Duyên cũng
đã quá rõ ma mãnh trong tranh luận của Paul Nguyễn Hoàng Đức là đánh vào niềm
tin của người nghe, người đọc ở những con số cụ thể, mà những con số cụ thể đó
lại không có nguồn trích dẫn cụ thể, nó được "anh hề" bất chợt nghĩ
ra để "anh hề" "chơi" kế sách "cả vú lấp miệng
em", ví như "anh hề" nói 60% nhà thơ miền Nam là đạo thơ hay dân
miền Trung thích thơ nhất vì nghèo đói. "Anh hề" cứ nói hú họa bừa
như thế mà "nhồi nhét vào đầu những người lười suy nghĩ và ít chịu đọc những
lập luận vô cùng xằng bậy" (Nguyễn Thế Duyên). Lạ là cũng không ít người lại
hùa theo ý thức tự tôn giáo hóa bản thân của Nguyễn Hoàng Đức, rồi tán thưởng,
tụng ca Nguyễn Hoàng Đức lên ngang với thánh thần, coi Nguyễn Hoàng Đức như một
tượng đài bất khả xâm phạm. Tôi nghĩ, nếu nhà văn Nguyễn Thế Duyên xoáy sâu một
chút về đặc trưng "chất Chí Phèo" trong "phương pháp tranh luận"
của Nguyễn Hoàng Đức: Không giống Chí Phèo chỉ khi say bí tỉ, khi thiếu tỉnh
táo để làm chủ nhận thức mới chửi bất cứ ai, bất cứ thứ gì Chí Phèo bất chợt
nghĩ đến, còn “anh hề Triết học” - “kẻ mộng du giữa đời thường” Nguyễn Hoàng Đức
chả cần thế, cứ không vừa ý là "anh hề Triết học" ỏm tỏi chửi, chửi bất
kỳ ai dù vô tình chạm vào sợi dây thần kinh tự ái của “kẻ mộng du giữa đời thường”
theo kiểu “chửi bất chấp” không cần lĩnh vực đấy “anh hề” có biết hay không,
cũng chẳng cần chứng cứ mà “anh hề” chỉ cần lấy chửi để thắng người,.... mà “lựa
chiêu ra đòn” thì bài viết “Lại Phải Vài Lời Trao Đổi Với Anh Nguyễn Hoàng Đức...”
của ông rất đáng đọc.
-------------
Hà Nội, ngày 17 tháng 12-2020
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
Quảng Trị Đông Về
HAI GÁNH PHIỀN NÃO
Tùy
bút VĨNH THÔNG
Mạng xã hội Facebook có
chế độ chặn những người mà mình không thích, có nghĩa là mình sẽ hoàn toàn
không thấy họ và họ cũng hoàn toàn không thấy mình. Nhiều người thấy tiện, thấy
hay. Bởi người mình không thích thì cứ… chặn cho khỏe, khỏi phải mắc công nhìn
thấy họ rồi lại bực bội: “Nhìn bản mặt thấy ghét!”. Thỉnh thoảng tôi thấy một
số bạn bè Facebook chụp hình lại danh sách chặn của mình rồi đăng lên trang cá
nhân kèm lời chú thích đại khái như: đây là kết cuộc của những kẻ khó ưa!
Ở đây tôi chỉ xin bàn về
những trường hợp chặn vì ghét, chứ không nói đến những trường hợp chặn vì bị
làm phiền. Nhiều người nghĩ rằng khi chặn những người mình ghét trên Facebook
có nghĩa là mình đã tránh được sự khó chịu. Thật ra không phải bạn đang tránh
sự khó chịu đâu, mà dường như bạn đang cố trốn tránh lòng oán ghét của mình.
Có phải bạn đang nuôi
dưỡng lòng oán ghét tiềm tàng? Nhìn thử xem, khi liệt ai đó vào danh sách chặn,
có nghĩa là người nầy trở thành “phần tử nguy hiểm” trong mắt bạn, mặc dù không
còn thấy họ trên Facebook, nhưng khi cái tên đó vẫn nằm mãi trong danh sách
chặn tức là nó sẽ mãi nhắc nhở bạn rằng: “Tôi ghét hắn”. Mở danh sách chặn ra,
bạn gặp tên người đó. Không mở danh sách chặn, bạn cũng nhớ rằng mình đã chặn
người đó.
Như vậy thì dù sao đi
nữa, khi chặn một ai đó sẽ đồng nghĩa với việc bạn mãi mãi nuôi lòng oán ghét
người nầy, chứ làm sao quên được? Chặn một người chẳng qua là nhắc nhở chính
mình phải ghét họ. Danh sách chặn chính là bằng chứng cho sự tồn tại lòng hận
thù trong bản thân mình. Khi nào bạn còn đưa người khác vào danh sách chặn của
Facebook hay “danh sách ghét” của lòng, tức là bạn còn nuôi dưỡng lòng oán
ghét. Điều bạn muốn quên chẳng qua là đối tượng mình ghét, chứ không phải quên
đi lòng oán ghét.
Người bị ghét khổ là
phải, vì họ bị người khác ghét nên khổ là đúng rồi. Song, người chủ động ghét
người khác, sao cũng khổ? Có bao giờ chúng ta nghe ai nói: “Tôi sung sướng khi
tôi ghét hắn” chưa? Toàn là khổ! Thí dụ nhé, bạn đang dạo bộ ở công viên, bỗng
dưng gặp người mình ghét cay ghét đắng, tự dưng cuộc dạo bộ mất hết không khí
vui tươi, bạn đâm ra bực dọc. Dù người nầy không nói gì đến bạn, thậm chí có
thể không nhìn thấy bạn, nhưng hễ ghét rồi thì gặp mặt cũng đã cảm thấy… khó
ưa. Rõ ràng là không ai gieo rắc phiền nào cho bạn, tự bạn đang tìm kiếm phiền
não để ôm vào người.
Thấy rõ oán ghét là hại
mình hại người, khổ mình khổ người, nhưng chúng ta vẫn cứ khăng khăng ôm về nhà
những chiếc ba lô mang tên “thù hận”, rồi cất kỹ trong tủ, khóa lại cẩn thận.
Đến khi sức khỏe đã quá tệ, không còn đủ khả năng mang những ba lô đó về nhà
nữa, thì mình cũng sắp từ giã cuộc đời rồi. Cả cuộc đời, chỉ toàn mang về cho
mình sự khổ đau!
Thay vì trốn tránh, tôi
nghĩ bạn nên hãy tập chấp nhận.
Buông bỏ lòng oán ghét
nghĩa là đối diện với người đó mà cảm xúc oán ghét trong lòng mình không còn
tồn tại hoặc không phát sinh trở lại. Chỉ khi nào bạn không chặn họ, thấy họ
hằng ngày trên Facebook, phát hiện họ vẫn có những điểm tốt, không quá đáng
ghét, cái ghét trong bạn từ từ loãng dần rồi tan hẳn, đó mới là buông bỏ lòng
oán ghét. Khi nào danh sách chặn trên Facebook rỗng và “danh sách ghét” của
lòng cũng rỗng, bạn mới thực sự thảnh thơi.
Bỏ qua, không có nghĩa
là tôi khuyên bạn nên tha thứ hay khoan dung. Bởi, bạn có chắc rằng mình là
người đúng hay không mà đòi khoan dung kẻ khác? Khi nào đối phương sai ta mới
có thể khoan dung, còn trong những trường hợp không thể chắc rằng ai đúng ai
sai thì làm sao mình đòi quyền được khoan dung người khác? Bất đồng ý kiến về
một quan điểm gì đó, có thể sẽ có kẻ đúng người sai. Nhưng có những thứ bất
đồng không thể phân chia đúng sai.
Người nói ít, người nói
nhiều, người nghiêm túc, người đùa cợt, người lạnh lùng, người hồ hởi… điều đó
không làm cho con người ta trở nên đúng hoặc sai, bởi đó là bản chất. Người
nghiêm túc mà đối phương cợt đùa, không có nghĩa là mình đúng còn họ sai. Như
ớt phải cay, muối phải mặn, đường phải ngọt, chanh phải chua… đó là bản chất,
không thể bắt ép phải thay đổi được, càng không có cái gọi là đúng sai. Trăm
ngàn người có trăm ngàn tánh cách, người ta sẽ là người “đúng” khi sống đúng
với tánh cách của họ và bạn sẽ là người “sai” khi bắt người khác phải sống theo
ý muốn của mình.
Tôi cũng không kêu gọi
bạn hãy đừng ghét nữa, hãy yêu thương đi… tôi không hô hào kiểu đó. Mà là, hãy
tập thay đổi thái độ nhìn nhận người khác đi. Để làm chi? Không phải vì họ, mà
là vì mình, mình sẽ tìm được sự thoải mái cho lòng mình. Thay đổi thế nào? Đọc
những trạng thái, bình luận, tin nhắn… mà không thấy nó khiến mình phải ghét
người viết. Khi đọc một câu nào đó mà thấy khó chịu, có thể là lỗi của người
viết, nhưng biết đâu cũng có thể là do chính bạn vì đã quá khó khăn và cố
chấp.
Với cá nhân tôi, tôi
nghĩ rằng trong giao tiếp không cần phải quá khắt khe, giáo điều. Người ta có
thể nói chuyện lễ phép dạ dạ thưa thưa với bạn, nhưng có chắc rằng sau lưng bạn
họ không nói xấu hay chửi bới? Có thể một người thốt ra một câu hơi mất
lịch sự với bạn, khi nhận ra thì người nầy cảm thấy hối hận. Trong khi đó, bạn
lại chấp vào câu nói kia để hờn giận, ghét bỏ. Nếu cả hai đều buông được, người
kia không chấp câu nói đó để buồn, bạn không chấp câu nói đó để giận, thì chẳng
phải cả hai đều thoải mái sao? Lời nói nhìn cho rốt ráo thì chúng lại… chẳng
nói lên được điều gì cả, con người sống đâu phải vì mục đích chấp vào lời nói để
phán xét nhau.
Nếu có mười việc bắt gặp
trong ngày, ta cảm nhận tám việc dễ chịu và hai việc khó chịu, thì đời sẽ đẹp
biết bao. Nhưng rất tiếc nhiều người lại cảm nhận ngược lại. Chúng ta luôn thấy
mọi thứ xung quanh mình khó ưa nhiều hơn là dễ thương. Gọi vui thì đó là hội
chứng “nhìn đâu cũng thấy khó ưa”.
Trên đời vốn không có
cái gì khó ưa hay dễ thương, mà chỉ có con người nhìn chúng với thái độ dễ
thương hay khó ưa. Như một loài hoa ra đời sẽ tự mặc định về màu sắc, nhưng
chúng không mặc định cho mình phải xấu hơn hoa nầy hay đẹp hơn hoa khác, cũng
không một đấng thần linh nào mặc định cho chúng như thế. Tất cả chỉ là do con
người tự ý xếp đặt một cách độc tài, rằng hoa hồng thì đẹp hơn bông vạn thọ
chẳng hạn. Trong cuộc sống, sự đánh giá tốt xấu rốt cuộc đều từ cái nhìn của
từng cá nhân.
Người khác mang phiền
não đến cho mình cũng đủ để mình mệt lắm rồi, mình ngu dại gì mà lại còn tự
rước phiền não cho bản thân. Hai gánh phiền não, một của “tha nhân” và một của
“tự thân”, mang chi mà nặng vậy?
Đôi khi chỉ một mỉm cười
là đủ, vậy thôi. Còn bao giận hờn, thù ghét, ganh đua như phế thải xô bồ và rối
rắm, mang chi để nhọc lòng…
VĨNH
THÔNG
vinhthongts@gmail.com
TẾT TƯƠI, TRÂU CƯỜI
Truyện ngắn
LÊ HỨA HUYỀN TRÂN
Tiếng ngoại rít thuốc lào từng cơn phá
tan không gian yên tĩnh của buổi đêm, khi không khí chuẩn bị xuân bắt đầu tràn
về qua từng nẻo của cơn nhà nhỏ. Ba tôi ngồi trên thềm cạnh ngoại, mắt cũng ước
chừng khá đăm chiêu, ánh trăng đêm soi sáng hai người đàn ông một cách vằng vặc
ngồi yên tĩnh bên thềm. Ngoại đưa cho ba điếu cày nhưng ba nhìn tôi rồi phẩy
tay, lấy chén trà nhấp một ngụm rõ to. Ngoại cười khề khà:
-Bây hứa với nó không hút thuốc, là ba cái
thuốc lá có hại cho sức khỏe. Chứ cái ngữ này có hại gì đâu.
Ba tôi chỉ phì cười, đó là ngoại nhắc tới
lời hứa của ba với tôi, rằng khi tôi được học sinh giỏi ba sẽ bỏ thuốc. Má
trong nhà đi ra thay ấm trà mới, tiếng bước chân dù rất nhẹ của má cũng là tiếng
động duy nhất sau hồi yên tĩnh, chỉ có tiếng lũ nhái ngoài ruộng khẽ kêu từng
cơn như dạo nhạc. Bỗng, tiếng cậu tôi í ới:
-Ba, giữ con trâu lại. Nó chạy, ba…
Làm cả ba tôi và ngoại lập tức chạy như
bay ra cổng. Con trâu nhà tôi chiều dắt về đóng cột hẹp nên lỏng dây, hắn ăn
xong, thấy dây nới rồi vùng chạy lúc nào không để ý. Nhưng còn biết đường mà về,
cứ “diễu hành” trước mặt cậu như trêu ngươi cho cậu thấy rồi mới chạy. Dắt được
con trâu về mà ngoại túa cả mồ hôi, quay qua nói với ba:
-Tao định bán con trâu. Tết tươi sắp tới rồi,
trước là qua hai cơn bão, nhà gần như mất hết, người còn nuôi không đặng huống
gì trâu. Sau nữa, nếu dư được chút thì coi như gửi chút tiền cho bà già với vợ
mày mua đồ sắm tết.
Ba có vẻ phản đối:
- Hết tiền thì mình xoay kiểu khác. Ba lớn
tuổi rồi, con trâu trong nhà vừa thồ kéo, vừa để tới mùa lúa còn bớt nhọc.
Nhưng ngoại có vẻ đã quyết, tôi nghe tiếng
lũ nhóc em họ mới nghe ý ngoại đã bù lu bù loa cả lên, hứa hẹn đủ điều. Dẫu thế,
ngoại vẫn ra chiều quyết tâm lắm, rít cả một hơi thuốc dài…
+++
Hai cơn bão về quá đột ngột, dù được chuẩn
bị đề phòng từ trước nhưng cũng cuốn đi của ngoại tôi hầu như mọi thứ. Ông bà
ngoại tôi sống trong một căn chòi nhỏ mé sát một bờ kênh, ngày bão về được ba mẹ
tôi rước về ở trong nhà cho bớt nguy hiểm. Nhà tôi dù cũng chịu ảnh hưởng ít
nhiều, cũng ngập nước lênh láng nhưng ít ra còn vững chãi hơn căn chòi nhỏ của
ngoại. Nhưng đến khi bão tan, ngoại cứ nằng nặc đòi ra xem cái chòi như thế
nào. Nó đã biến mất trên dòng kênh, bao nhiêu đồ đạc cuốn trôi tất. Vốn nó là một
cái tạp hóa nhỏ, ngoại mở ra bán dăm gói mì, cái bánh cho vui thú tuổi già.
Nhìn cảnh ngoại lội bì bõm trong một phần chòi còn sót lại, chiếc giường con mà
ông bà vẫn hay nằm chiếu mền ướt sung và đôi mắt đỏ hoe của ngoại khiến tôi
không khỏi xót xa. Nhưng khi thấy tôi, ngoại lập tức xua đi nước mắt, ôm tôi bế
thốc lên qua vùng nước nổi:
-Lát mày với ngoại dắt trâu đi lái bán rồi
ngoại mua cho mày chậu tắc như mọi năm nhé?
-Nhưng ngoại thương trâu lắm mà.
-Ừ, nhưng cái này đi thì cái khác mới đến
được. Tao cũng già rồi, không thể dắt nó đi làm mãi được. Bão vừa rồi, cái nhà
mày bị dột, rớt laphong rồi, ba mày giấu không nói nhưng tao biết tất. Coi như
một phần để nhà mày sửa sang tết.
Nhưng khi thấy ngoại đưa trâu cho lái, ánh
mắt ươn ướt tôi cũng không khỏi xót xa.
Sau
đợt lũ, ngoại về ở với nhà tôi, cùng nhau sửa sang nhà. Mọi thứ về cùng với Tết,
kể cả tình thân và sự sum họp. Nhà tôi thành điểm hẹn để dì cậu cùng về. Nhìn
ánh mắt ngoại vui mỗi khi con cháu tề tựu sum vầy không khỏi khiến người ta xúc
động. Nhà ngoại đông con, mỗi người một phương trời rồi lập gia đình ở đó, chỉ
có Tết mới về. Ngày giáp tết, nhà tôi vẫn giữ truyền thống tự làm bánh mứt cổ
truyền, các cậu chia nhau đi chặt dừa non về làm mứt, các dì nhào nặn đổ khuôn
các loại bánh xanh đỏ tím vàng. Ngoại tôi từng bảo:
-Mấy thứ này có thể mua đầy ngoài chợ,
nhưng nếu tự tay làm sẽ ý nghĩa hơn. Hơn nữa, khi là một gia đình, cùng nhau
quay quần, cùng làm một điều gì đó sẽ là một kí ức đẹp.
Nhất là nồi bánh chưng, lúc nào cũng phải
nấu cả hai nồi to mới đủ chia hết cho con cháu.Lũ trẻ chúng tôi luôn dành nhau
canh lửa nhưng chưa được non đêm là đã ngủ say rồi, để các người lớn phải ra bế
vào rồi chia nhau ra canh. Ba tôi bảo ba và các cậu thường nhâm nhi lon bia đêm
cho bớt lạnh rồi nói chuyện cả đêm quên cả ngủ bên nồi bánh dù có thể chia nhau
luân phiên trực.
Đêm giao thừa, các dì và mẹ tôi sẽ cùng xếp mâm ngũ quả “cỡ
đại”, vì các gia đình đều tập trung đón giao thừa chung tại một nhà. Lũ trẻ nối
đuôi nhau nhận lì xì từ người lớn. Đến ngoại, cậu cả trong nhà trịnh trọng:
-Tụi con cũng có món quà mừng tuổi ba.
Rồi anh họ tôi dắt từ dưới sân lên một con
trâu, mới nhìn xoáy đã biết là lão trâu nhà. Chúng tôi, ngoại tôi vội đứng ngay
dậy mắt rung rung:
-Tụi
bây, sao tự dung… Tiền đâu mà…”.
Các cậu dì tôi quay quần ôm lây ngoại, tôi
cũng không nghe rõ: “Tụi con chuộc về… Biết ba với lão trâu tình cảm lắm…”
Ba tôi lúc này mắt cũng có màu hoàng hôn
nhìn ngoại: “Ba đã hi sinh cả đời vì tụi con rồi, sao một món quà tết cũng
không để tụi con thảo hiếu”.
Tiếng dì dõng dạc: “Anh em trong nhà chia
nhau, mỗi người một ít, không nhiều nhặn gì. Ba dạy tụi con đoàn kết mà thứ
đoàn kết ý nghĩa nhất ba lại không nhận à?”
Tôi nghe tiếng pháo hoa giao thừa nổ trong đêm. Tết người
ta thường dặn nhau hãy cười nhưng cả nhà tôi đều khóc. Nhưng không hiểu sao,
tôi lại thấy những giọt nước mắt này hạnh phúc lạ thường.
Tác giả: Lê Hứa Huyền Trân
Hội viên Hội VHNT Tỉnh
Bình Định
Email: Phongtruongtu201@gmail.com