Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, August 14, 2020

GIẢ ĐỊNH - Thơ Đoàn Vũ

 

Nhà thơ Đoàn Vũ


Ðoàn Vũ

GIẢ ĐỊNH


Xin cho anh được thắp lên từng ngọn nến mừng sinh nhật em. Điều giả định đêm nay thay cho lời cầu nguyện. Những bờ cốc chạm vào nhau, những con mắt dõi theo nhau, những nụ cười len lõi tìm nhau có khi nào trở thành vô nghĩa?... Một chút bọt của ly bia lỡ đà thật tràn trề hạnh phúc, anh chiêm ngưỡng dung nhan trần thế bằng nồng độ ủ chín men đời ẩn giấu một chút hoang tưởng lạ lùng làm cháy mất niềm tin…?!

Những suy nghĩ viễn vông để làm gì không biết! Em thấy không hạnh phúc nhấp nháy trong từng ngọn nến ngạo mạn cả đêm đen. Những ngôi sao đầy ắp sự sinh tồn của muôn loài cứ dan díu đam mê cuống quýt lấy cả nhau như chưa hề một lần rùng mình sợ hãi. Có khi nào anh lại không mừng em hỡi đêm nay sinh nhật? Chiếc bánh muôn màu thừa sức minh chứng đầy ắp nỗi lo âu đau đáu của anh; anh chỉ lén nhìn em và cắn chặt môi mình rồi đường đột cái đau đụng chạm phải tim mình.

Em,

đêm nay anh chiêm ngưỡng dung nhan em bằng giấc mơ thánh thiện. Chúa đâu nỡ bắt tội vì người đã biết! Anh cảm thông em như Chúa cảm thông mình, điều gì có thể vượt hẳn căn nhà em đêm nay; mấy tuổi đời hạnh phúc bao lần em cần gì phải nói nên chăng cái vô tình đồng cảm với cả bóng đêm rồi sao? Nụ cười nào chát chúa trong anh cứ tư lự về mình mấy ai mà giải được!

Có thể đêm nay anh là khách qua đường dõi mắt bên bờ rào căn nhà em cũng tiện. Có thể thành phố chưa ngủ. Có thể hương nguyệt quế vẫn còn nồng nàn dưới trăng…

Ðoàn Vũ – Hội viên hội Văn Nghệ Bình Thuận.

Email: vudoan0102@gmail.com.

READ MORE - GIẢ ĐỊNH - Thơ Đoàn Vũ

CHÙA LÁNG (HÀ NỘI) - Đặng Xuân Xuyến

 


CHÙA LÁNG (HÀ NỘI) 

 

Chùa Láng, hay còn gọi là Chiêu Thiền tự, thờ Thiền sư Từ Đạo Hạnh, tọa lạc ở cuối phố Chùa Láng, phường Láng Thượng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

 

Theo sách "Thiền Uyển tập anh", thiền sư Đạo Hạnh là con ông Từ Vinh và bà Tăng Thị ở làng Yên Lãng (tục gọi là làng Láng), là người thông minh, hiếu học, có chí lớn, tính tình phóng khoáng. Sau khi cha mất, Từ Đạo Hạnh chọn con đường đi Tây Vực để học đạo. Tuy không đến được Ấn Độ nhưng ông đã học được những phép thuật ở phái Mật Tông của Phật giáo. Khi trở về, ông đến tu tại núi Phật Tích (Hà Tây). Tại đây ông cho xây am Hương Hải, viện Phổ Đà, sau này trở thành chùa Thiên Phúc (còn gọi là chùa Thầy). Ông là người có kiến thức sâu rộng về đạo Phật, thường giảng đạo, làm thơ về cuộc sống, nay còn lại 4 bài in trong tập "Thơ văn Lý - Trần". Thiền sư còn được tôn là Tổ sư nghề hát chèo, nay còn lại bài giáo trò mà các vở chèo dân gian nào cũng hát ở phần mở đầu. Ông mất năm 1117 tại chùa Thiên Phúc, thân pháp còn được lưu giữ tại chùa và bị quân Minh đốt huỷ vào thế kỷ 15.

 

Theo truyền thuyết, sư Từ Đạo Hạnh đầu thai làm con trai Sùng Hiền hầu, em vua Lý Nhân Tông. Vì vua Lý Nhân Tông không có con, nên con trai của ông Sùng Hiền hầu được nối ngôi, tức vua Lý Thần Tông (trị vì từ 1128 đến 1138).

 

Do sự tích ấy mà con của Lý Thần Tông là Lý Anh Tông đã cho xây cất chùa Chiêu Thiền để thờ vua cha và tiền thân của Người là thiền sư Từ Đạo Hạnh. Chùa được trùng tu nhiều lần, nhất là vào các năm 1656, 1901 và năm 1989.

 

Chùa Láng (Chiêu Thiền tự) được xây dựng thời Vua Lý Anh Tông (1138 - 1175) là một quần thể kiến trúc rộng lớn, được xây dựng theo kiểu "nội công ngoại quốc", tính đủ 100 gian. Cổng chùa bao gồm bốn cột vuông với ba mái cong không chùm lên cột mà gắn vào sườn cột. Mái giữa cao hơn hai mái bên, giống như kiến trúc cổng ở cung vua phủ chúa ngày xưa.

 

Qua cổng là sân gạch Bát Tràng, giữa sân là chiếc sập đá, nơi đặt kiệu trong các ngày lễ hội. Cuối sân có cửa tam quan, có đường lát gạch dẫn đến cổng thứ ba. Qua cổng này có ngôi nhà bát giác là nơi đặt tượng Từ Đạo Hạnh. Tương truyền, tượng này có từ thời Lý, đến thời Lê (khoảng 1644 - 1646) được tu bổ cơ bản và đến tháng 01 năm 2005, bức tượng lần nữa được tu bổ toàn diện. Qua nhà bát giác mới đến các công trình chính trong chùa: Bái đường, nhà thiêu hương, thượng điện, các dãy hành lang, nhà tổ và tăng phòng...

 

Động thập điện Diêm Vương ở hai dãy hành lang, miêu tả những hình phạt ở các tầng địa ngục.

 

Hội chùa Láng cử hành vào ngày mồng bảy tháng ba âm lịch, là ngày sinh của Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Trong ngày hội, kiệu của Thiền sư Từ Đạo Hạnh được rước đến chùa Hoa Lăng ở xã Dịch Vọng, nơi thờ bố mẹ ông.

 

Chùa Thầy ở Sơn Tây cũng thuộc hệ thống chùa thờ Từ Đạo Hạnh nên dân gian có câu rằng: 

Nhớ ngày mồng bảy tháng ba, 

Trở về hội Láng, trở ra hội Thầy. 

..................... 

(Trích từ VÀO CHÙA LỄ PHẬT NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT của Đặng Xuân Xuyến ; Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin 2006) 

* 

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 

READ MORE - CHÙA LÁNG (HÀ NỘI) - Đặng Xuân Xuyến

NGƯỜI QUÊ TÔI | CHIÊM NGHIỆM | VỀ VỚI ANH KHÔNG? - Thơ Đàm Ngọc Năm



NGƯỜI QUÊ TÔI

Những mảnh ruộng trên cánh đồng chật hẹp
Không rộng dài thẳng cánh cò bay
Hứng gió Lào khi hạ đến mỗi ngày
Chắt chiu giọt nước làm nên hạt lúa.
Quê hương tôi một vùng nắng, gió
Hè bỏng da, Đông buốt tận trong xương
Người dân quê tôi dãi nắng, dầm sương
Cứ thế quanh năm chỉ mong sao đủ sống
Có lẽ sinh ra từ “gừng cay, muối mặn”
Mà can trường, vẫn vậy đứng hiên ngang !


CHIÊM  NGHIỆM

Ta cứ mải mê nhìn về phía trước
Mong ánh bình minh mỗi sáng chân trời
Giờ chợt nhận ra tóc trên đầu đã bạc
Sáu lăm mùa xuân cứ thế lặng lẽ trôi.

Ngoảnh lại sau lưng con đường đâu ngắn
Tuy chưa dài nhưng đủ hiểu chuyện đời
Những vui buồn trên đường ta đã bước
Dần lùi sâu vào dĩ vãng kiếp người.

Chỉ còn luôn theo mình tình bè bạn
Tình quê hương, nghĩa nặng Đấng sinh thành
Tóc dù bạc, bước chân giờ có chậm
Vẫn yêu đời như thuở ấy tuổi xuân xanh !


VỀ  VỚI  ANH  KHÔNG?

Em có về xứ Nghệ với anh không?
Nơi miền Trung gánh hai đầu đất nước
Những con đường, cánh đồng nay đã khác
Chỉ có gió Lào vẫn vậy lúc Hạ về
Nắng rát da, mồ hôi muối giữa trưa hè
Hiện trên lưng áo như dòng sông ra biển...
Về không em, dẫu quê anh khó nghe rõ tiếng
Nhưng giọng dân ca vẫn ngọt lịm lòng người.
Những ngày đầu Xuân lành lạnh, mưa rơi
Khi phương Nam đang nóng từng giọt nắng
Có lẽ quê anh vì “gừng cay, muối mặn”
Mà trời thương cho lạnh thêm chút, Hạ sắp về!

Đàm Ngọc Năm

<namdnvietsing@gmail.com>







 


READ MORE - NGƯỜI QUÊ TÔI | CHIÊM NGHIỆM | VỀ VỚI ANH KHÔNG? - Thơ Đàm Ngọc Năm

MÊNH MÔNG THU - Thơ Trần Mai Ngân





MÊNH MÔNG THU

Mênh mông thu lả lơi
Nghe tiếng chiều chơi vơi
Mây trôi nhè nhẹ trôi
Chở nỗi buồn xa xôi!

Thu ơi! Thu à ơi
Ru vàng ngày hôm qua
Lòng vẫn lòng thiết tha
Nhạt nhoà chi kiếp hoa...

Hôm nay thu về đây
Men nồng đầy mê say
Mà tay không trong tay
Đau cơn mê thật dài...

Thu ơi! Thu lả lơi
Nghe tiếng chiều chơi vơi
Thu ơi! Thu lả lơi
Nghe tiếng chiều chơi vơi!

                Trần Mai Ngân

READ MORE - MÊNH MÔNG THU - Thơ Trần Mai Ngân

Thursday, August 13, 2020

ĐỌC “NỖI BUỒN ĐAN CẲNG CHÉO” THƠ ĐẶNG TƯỜNG VY Châu Thạch


     
                        Nhà thơ Đặng Tường Vy



NỖI BUỒN ĐAN CẲNG CHÉO 

Ai cầm tay ngọn gió
Xước cả một trời đau
Dấu sầu mang bụi đỏ
Đường về có còn nhau 

Nhịp đời nung đỏ đóm
Đếm từng hơi thở buồn
Gã mặt trời giấc muộn
Thôi làm bạn chim muông 

Cõng buồn sang ngõ nhỏ
Nói lời với người xa
Nổi trầm qua nhịp gõ
Thời gian có đâu là 

Vuốt giọt sương kẽ lá
Vô thường có gọi tên
Giả vờ thôi đừng dạ
Đời còn chút nhớ quên 

Ao tù qua mấy nẻo
Quạ quang quác trời xa
Nỗi buồn đan cẳng chéo
Chân trần thắt ngõ qua 

Tay buông lơi tràng hạt
Thôi nguyện cầu ngày mai
Chữ duyên còn bỏng rát
Chén rượu đời men cay. 

          Đặng Tường Vy 
              04/08/2020


        
      
                 Nhà thơ Châu Thạch


ĐỌC “NỖI BUỒN ĐAN CẲNG CHÉO” THƠ ĐẶNG TƯỜNG VY
                                                                        Châu Thạch

     Những ngày trốn dịch Covid trong nhà, tôi tìm nguồn vui riêng cho mình, là đọc thơ của các bạn facebook, khám phá cho mình nhiều bài thơ hay của những tác giả còn xa lạ đối với tôi. Sáng nay vừa thức giấc, còn nằm trên giường đã đọc được một bài thơ hay. Đó là một bài thơ có ý tứ lạ lùng nhưng độc đáo.

     “Nỗi Buồn Đan Cẳng Chéo”: Chỉ cái đầu đề thôi có thể cho ta trề môi chê trách vì thật là vô nghĩa. Thế nhưng chịu khó đọc bài thơ, ta sẽ tìm được một hình ảnh trẻ vui và lạc quan trong nỗi buồn của tác giả.

     Vậy hãy vào ngay khổ đầu của bài thơ để thấy nó lạ và nó độc đáo ở đâu:                          

Ai cầm tay ngọn gió                        
Xước cả một trời đau                        
Dấu sầu mang bụi đỏ                       
Đường về có còn nhau 

     Trước hết tác giả ngược đời khi tả nỗi sầu nằm trong ngọn gió mang đầy bụi đỏ. Người đi trên đường về cô đơn, không còn nhau nữa. Gió cuốn qua không gian như có người cầm tay nó chạy, để lại sau nó, bụi đỏ bám trên những dấu tích kỷ niệm nằm trên đường về. 
     Thường thường thì cảnh sinh tình, nhưng để sinh tình buồn, cảnh phải sâu lắng, nên thơ và hiu hắt, giống như Thúy Kiều buồn khi ở “Trước lầu ngưng bích khóa xuân/ Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung” vậy. 

     Thế nhưng ở đây, đọc khổ thơ đầu của “Nỗi Buồn Đan Cẳng Chéo” ở trên, ta thấy ngay nhà thơ có khuynh hướng tả thật. Sự thật thì nhìn có thể nghịch lý, nhưng chính nó là thật thì có nghịch lý vẫn là sự thật. Đây là sự thật có ý vị, là một cảm xúc bất chợt sinh ra trên con đường về, mà một cây bút e dè không dám viết thành thơ bao giờ, và một cây bút non tay cũng chẳng bao giờ viết thành một bài thơ hay được. 

     Bây giờ xin mời bước qua khổ thơ thơ thứ hai:                        

Nhịp đời nung đỏ đóm                        
Đếm từng hơi thở buồn                        
Gã mặt trời giấc muộn                       
Thôi làm bạn chim muông 

     Trong khổ thơ nầy, chiều đang xuống dần dần. Chiều đang xuống dần dần vì “Gã mặt trời giấc muộn/Thôi làm bạn chim muông” trong khi “Nhịp đời nung đỏ đóm/Đếm từng hơi thở buồn”. Chỉ có buổi chiều thì cảnh mới làm cho buồn, và chỉ có cảnh mặt trời lặn thì mặt trời mới “Thôi làm bạn chim muông”. Nếu cảnh bình minh thì mặt trời “sẽ” hoặc “sắp” làm bạn chim muông chớ không “thôi” bao giờ.

     Khổ thơ vẽ nên một khung cảnh không đẹp nhưng bức tranh lại đẹp vì tài hoa của bàn tay nghệ sĩ, đã phát họa như thật cả hơi thở buồn của buổi chiều trong sắc đỏ, là một màu sắc đối nghịch với vẻ buồn mà người họa tranh hay người viết văn thường hay né tránh.  

     Qua khổ thơ thứ ba:                          

Cõng buồn sang ngõ nhỏ                        
Nói lời với người xa                       
Nổi trầm qua nhịp gõ                       
Thời gian có đâu là 

     Nhiều nhà thơ đã viết “cõng mẹ”, “cõng vợ” hay “cõng em” để diễn tả hình ảnh thân thương với những người thân yêu của mình. Nhà thơ dùng từ ngữ “cõng buồn” cũng cho ta một cảm nhận thi vị trong nỗi buồn của tác giả. Có lẽ tác giả muốn nói mình đến con ngõ nhỏ, kỷ niệm hiện về êm ái, nỗi buồn nhè nhè đến, đem hạnh phúc trở về trong tâm tưởng, như những điều âu yếm năm xưa còn đó, nỗi buồn không làm nặng bờ vai.

     Khổ thơ hoàn toàn diễn tả được sự giao cảm giữa hai người qua giác quan thư sáu. “Nói lời với người xa” là nói tiếp những gì ngày xưa đã nói với nhau. “Nối trầm qua nhịp gõ” là truyền thông hiểu nhau qua nhịp thời gian trầm gõ, và “Thời gian có đâu là” nghĩa là thời gian không thể làm mờ phai tình yêu và kỷ niệm.

     Bước qua khổ thơ thứ tư:                        

Vuốt giọt sương kẽ lá                     
Vô thường có gọi tên                     
Giả vờ thôi đừng dạ                    
Đời còn chút nhớ quên 

     Nhà thơ vuốt giọt sương trên kẽ lá, tức thì cảm nhận ngay sự vô thường ở đời giống như “trực chỉ nhân tâm/kiến tánh thành đạo” trong giáo lý nhà Phật. Thế nhưng ở đây nhà thơ không kiến tánh sự vô thường trời đất mà kiến tánh sự vô thường của tình yêu. Sự vô thường đó chính là tình yêu của mình. Tình yêu của tác giả thì có năm, có mùa, có tên tuổi được gọi lại trong con tim lúc nầy, nên nhà thơ đã “Giả vờ thôi đừng dạ” và tự an ủi lòng mình “Đời còn chút nhớ quên”.

     Khổ thơ diễn đạt sự nhớ nhung, sự bâng khuâng xảy ra trong lòng tác giả. Câu thơ dung dị, dễ thương mà sâu xa ý nghĩa, bộc lộ một tâm hồn cởi mở, lạc quan, vị tha trong tình yêu và cuộc sống.

     Qua khổ thơ thứ tư, không gian nặng nề hơn, nỗi buồn của tác giả “Cõng” trên vai đã trĩu, nên tác giả phải rũ bỏ nó, bằng cách vừa đi vừa nhảy, đan cẳng chéo như trẻ em tung tăng khi phấn chấn trong lòng:                         

Ao tù qua mấy nẻo                       
Quạ quang quác trời xa                       
Nỗi buồn đan cẳng chéo                       
Chân trần thắt ngõ qua 

Hình ảnh trong thơ thật là sống động, cho ta tưởng tượng được vạn vật đã u trầm, người đi mang đầy tâm sự, đã quyết tâm vứt bỏ nỗi buồn bằng dáng đi như in nốt nhạc trên con đường chiều. Khổ thơ như một đoạn phim hiển hiện trước mắt có bóng dáng, màu sắc và tiếng nhạc từ vết chân chim của thiếu nữ.

     Khổ cuối bài thơ hơi nghịch lý ở chổ cô gái có tràng hạt trên tay:                           

Tay buông lơi tràng hạt                        
Thôi nguyện cầu ngày mai                        
Chữ duyên còn bỏng rát                         
Chén rượu đời men cay. 

     Nếu không khó tính, người đọc có thể hiểu câu thơ mang ý nghĩa quyết tâm quên quá khứ vừa nẩy sinh trong lòng tác giả. “Tay buông lơi tràng hạt/ Thôi nguyện cầu ngày mai” là bỏ trong lòng đi những ước nguyện tái ngộ hay mơ ước một lâu đài tình ái sau nầy. “Chút duyên còn bỏng rát/ Chén rượu đời men cay” là tiếng than cho mối tình nồng nàn như chén rượu đã uống. Hương vị của mối tình đó khi tưởng niệm, tác giả còn tưởng tượng được như còn bỏng rát trên làn môi.

     Đọc “Nỗi Buồn Đan Cẳng Chéo” của Đặng Tường Vy ta như đi qua một căn phòng treo nhiều tranh lạ, màu sắc tưởng như phản cảm  nhưng lại cuốn hút ta đứng lại nhìn, nhìn lâu và nhìn say sưa, bỏ đi còn nuốn quay lại nhìn. Với tôi, bài thơ cho tôi niềm vui khi vừa thức giấc và giết được thì giờ của tôi cả buổi sáng hôm nay./.

                                                                         Châu Thạch

READ MORE - ĐỌC “NỖI BUỒN ĐAN CẲNG CHÉO” THƠ ĐẶNG TƯỜNG VY Châu Thạch

Wednesday, August 12, 2020

NỖI NIỀM KHI THẤY LẠI ẢNH GIẾNG LÀNG - Hoàng Đằng





Tình cờ tôi gặp bức ảnh trên mạng. Bức ảnh nằm trong album ảnh tỉnh Quảng Trị trước năm 1975. Ảnh đa số do binh sĩ hoặc nhà báo Mỹ chụp. Tôi nhận ra ngay đấy là bức ảnh cái giếng nước của làng tôi. Bao kỷ niệm vui, buồn về mảnh đất làng, về lịch sử làng, về bà con dân làng hiện về.
Làng tôi là làng Điếu Ngao – Điếu là câu; Ngao là con rùa biển, chứ không phải con hến như nhiều người tưởng. Thời gian trước đây, có khi gọi là xã Điếu Ngao, có khi gọi là thôn Điếu Ngao, có khi gọi là ấp Điếu Ngao.
Trước năm 1955, làng tôi gọi là xã Điếu Ngao thuộc tổng An Đôn, phủ Triệu Phong. Từ năm 1955 đến 1968, làng tôi là thôn (rồi ấp) Điếu Ngao, thuộc xã Triệu Lễ, quận Triệu Phong. Năm 1968, chính quyền Việt Nam Cộng Hoà lập quận Đông Hà; xã Triệu Lễ lấy ra từ quận Triệu Phong đưa về quận Đông Hà, đổi tên thành xã Đông Lễ; làng tôi là ấp Điếu Ngao thuộc xã Đông Lễ.
Rồi từ năm 1972, dưới quyền quản lý của chế độ Cách Mạng, làng tôi không còn tên Điếu Ngao trên văn bản hành chánh nhà nước mà thành tiểu khu 2, ít lâu sau, phường 2 của  thị xã Đông Hà rồi thành phố Đông Hà. Tên gọi Điếu Ngao đã trở thành chuyện quá khứ - chuyện của lịch sử.

Ngày xửa ngày xưa, lãnh thổ làng thuộc nước Chiêm Thành, nhập vào nước Đại Việt (Việt Nam) từ đầu thế kỷ XIV sau khi Huyền Trân Công Chúa được vua nhà Trần bán gả cho vua Chiêm để lấy đất (1306).
Mãi đến giữa thế kỷ XVI, tên làng mới xuất hiện ở sách Ô Châu Cận Lục - ấn hành năm 1555 -, trong một số bản dịch, đọc nhầm ra tên Hướng Ngao; mới đây, một nhóm dịch sách Đồng Khánh Địa Dư Chí (viết cuối thế kỷ XIX) lại ghi tên làng tôi là Quân Ngao. Xin nói rõ làng tôi là Điếu Ngao; Hướng Ngao hay Quân Ngao là do các dịch giả đoán nhầm từ Điếu viết thảo trong nguyên bản chữ Hán (ba chữ Hán - Điếu: câu; Hướng: tặng cho, thết; Quân: đơn vị đo lường bằng 30 cân – dễ đọc nhầm nếu viết thảo). Hướng Ngao hay Quân Ngao không có ý nghĩa rõ ràng gì hết; còn Điếu Ngao là “câu rùa biển” (chứ không phải “xúc hến” như nhiều người tưởng nhầm); rùa, trong văn hoá Việt Nam, biểu trưng cho sự bền vững, thành đạt. Các ngài đi lập làng, khi trên hành trình bằng đường biển, nghĩ ra hai từ tên làng với mong ước làng bền vững, hậu duệ “ăn nên làm ra”, thành đạt trong cuộc sống, trong sự nghiệp.

 

Hơn hai thế kỷ (đầu thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XVI), dù vua Chiêm đâ nhượng, lãnh thổ làng còn nằm trong vùng tranh chấp giữa Đại Việt và Chiêm Thành, nên làng chưa thành hình được. Căn cứ vào gia phổ các dòng họ lâu đời trong làng – khoảng 16, 17 đời, tôi suy đoán điều này.
Làng chỉ phát triển sau khi Nguyễn Hoàng vào dựng nghiệp ở miền Thuận Hoá (năm 1558).

Dân làng từ đâu đến? Sử sách không truyền, gia phổ các dòng họ không chép; theo lời truyền khẩu của ngài Hoàng Công Quang (1892– 1963) - một dân làng có học vấn, từng làm xạ (lý trưởng) từ năm 1927 đến 1945 thì tổ tiên dân làng từ Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá vào. Chuyện tình cờ tôi biết là như thế này: Hai cháu nội ngài Hoàng Công Quang đặt tên một người tên Hoàng, một người tên Hoá; tôi hỏi tại sao họ đã là Hoàng mà tên cũng là Hoàng và được cho biết là Hoằng chứ không phải Hoàng; tên đặt như vậy để nhớ về nguồn cội của dân làng. Thế thôi!
Làng toạ lạc ở mạn Đông Nam sông Hiếu, dân không dựng nhà cửa sát bờ sông mà cách xa sông khoảng hơn 100 mét. Có lẽ các Ngài đem dân đi lập cư muốn tránh làng đỡ thiệt hại do lũ lụt.

Trong sinh hoạt, dân làng dùng nước sông là chủ yếu; tuy nhiên, nước sông có khi không trong, không sạch, không uống được; làng phải đào giếng. Tội là giếng đào trong khu gia cư và ở những cánh đồng lân cận không có nước tốt – nước bị nhiễm phèn nhiều.
May mắn đến! Không biết làng có cậy thầy địa lý không mà tìm được dòng nước ngầm rất tốt, xa làng cả gần cây số về phía Tây, khơi giếng và có nước dùng qua nhiều thế hệ …

Giếng ở mạn Tây sát đường thiên lý Bắc Nam – đường Quốc Lộ 1 bây giờ. Dân gọi đường này là Đàng Quan – đàng là đường; đường dành cho quan nhà nước đi từ Bắc vào Nam hay ngược lại. Ngày xưa, chỉ có quan mới thường xuyên đi lại do công tác đòi hỏi, chứ dân ít khi bước ra khỏi làng. Tên giếng Đàng Quan là vậy.
Hiện nay, do Quốc Lộ 1 mở rộng nhiều, giếng đã bị vùi dưới lòng đường. Vị trí giếng ngày xưa nằm ở góc Đông Bắc khu khách sạn & nhà hàng Mê-Kông bây giờ.
Ban đầu, từ đáy lên miệng, giếng được chất theo hình ống bằng đá ong. Mạch nước chảy rất mạnh. Chỉ cần nghỉ múc vài giờ, nước dâng cao gần miệng giếng; người đi đường, ngang qua, khát có thể ngồi trên miệng giếng dùng nón múc được nước để uống.
Thành giếng và nền giếng (như trong ảnh) mới được đúc khoảng cuối thập kỷ 1940 hay đầu thập kỷ 1950.

Từ năm 1946, giặc Pháp trở lại tái chiếm Quảng Trị, lính tráng đóng đồn quanh Đông Hà đông lên; do biết nước có chất lượng tốt – trong veo, ngọt thanh …, giặc Pháp cũng lấy nước giếng cho binh sĩ uống; sẵn ciment, họ cho đúc thành giếng và nền giếng để xe dễ vào hút nước và cũng để giữ vệ sinh cho nước.
Quái ác! Giếng là nguồn nước của dân làng Điếu; vậy mà về mùa hè, những năm quá hạn, nước sinh hoạt (đặc biệt nước uống) khan hiếm, giặc Pháp làm nắp giếng khoá chặt, khi nào xe của bọn chúng tới hút, mới mở nắp ra. Chúng chẳng quan tâm dân làng Điếu lấy nước đâu để uống !!!
Vào những thời điểm ấy, dân làng Điếu phải lên xin hay múc trộm giếng của làng Lương An – làng Sỏi. Giếng làng Sỏi nước không nhiều, thành ra, dân làng Sỏi, sợ hụt, cũng không vui vẻ khi cho.
Ngặt lắm, dân phải ra moi giếng ngoài Cồn cát của làng để có nước dùng tạm; nước giếng tạm ngoài Cồn có nhiễm mặn ít nhiều, nhưng cũng phải dùng thôi, chả lẽ chết khát !!!

Rồi vào giữa thập niên 1960, quân đội Mỹ qua tham chiến ở chiến trường Việt Nam. Quân số Mỹ ở Việt Nam lúc cao nhất lên trên nửa triệu. Đông Hà biến thành căn cứ quân sự lớn của Mỹ.

Để tiếp dầu cho các phương tiện cơ giới phục vụ chiến tranh, quân Mỹ cho đặt ống dẫn dầu đi ngang qua gần giếng Đàng Quan. Bất cứ ngày đêm, để trả đũa quân Mỹ và quân Việt Nam Cộng Hoà bắn pháo hay cho máy bay ném bom vào vùng giải phóng, quân giải phóng không biết đặt giàn hoả tiễn ở đâu - trên Trường Sơn hay bên bờ Bắc sông Bến Hải? - pháo kích thường xuyên vào Đông Hà. Năm 1967 và 1968, tần số pháo kích dày và mức độ pháo kích dữ dội nhất; pháo kích hoặc từng tràng kéo dài 15, 20 phút, hoặc thỉnh thoảng vài ba quả rồi thôi. Dân quanh vùng nghe tiếng reo của hoả tiễn đi, vội vô hầm hay nằm xuống. Giờ nhớ lại còn ớn!
Hoả tiễn, có lần, bắn vào trúng vỡ ống dẫn dầu, dầu tràn ra lai láng, đổ về đầy cánh đồng nhỏ gần đó của làng Điếu Ngao. Dầu đầy ruộng; dân làng Điếu và các vùng lân cận đua nhau đi múc dầu về thắp, nấu rechaud và bán cho nông dân, ngư dân để chạy nông cơ. ngư cơ.
Cánh đồng ấy nhiễm dầu, không canh tác được, làng Điếu phân cấp cho dân làng để lập gia cư. Cái xóm nhà có dầu tràn về, được gán cho cái tên Xóm Dầu; người viết bài này đã lập gia cư năm 1969 ở Xóm Dầu đó.
Ống dầu vỡ, dầu tràn, giếng Đàng Quan nhiễm dầu; dân làng Điếu mất nguồn nước uống, phải đi kiếm nguồn khác. Làng Điếu không những vất vả lo cái ăn mà còn gian nan lo cái uống. Nghĩ mà thương!

Giếng Đàng Quan ở xa làng. Đường từ khu dân cư của làng đến giếng phải qua một cánh đồng rồi một vùng đồi. Nhà gần cách non cây số, nhà xa có thể cách cây số rưỡi hoặc hơn. Đường len giữ rú rậm, về mùa nắng nóng, trâu bò đi quết dậy bụi, về mùa mưa rét, bùn nhão lút nửa cẳng chân.
Nước từ giếng về nhà phải gánh. Người ta gánh nước bằng đôộc sành và gióng mây. Gánh được nước về nhà, mất công lắm, có khi mất hết cả buổi. Những người yếu phải nghỉ giải lao vài ba lần.

Trẻ em 6, 7 tuổi trở lên, đã phải gánh nước, phụ giúp cha mẹ. Ban đầu, hai trẻ gánh “cò ke” một “đôộc”, trẻ nào lớn hơn, mạnh hơn thì khoảng cách trên đòn gánh từ vai đến đôộc ngắn hơn để rước phần nặng hơn; nhưng oái oăm, trẻ thấp vẫn bị trọng lượng đôộc dồn lên nhiều, méo mặt, nhăn mũi …
Hết gánh “cò ke”, trẻ được tập gánh cả đôi, ban đầu, nước trong đôộc ít rồi tăng lên dần theo tuổi tác và vóc người. Gánh cả đôi thì phải tập “trở vai” – đưa đòn gánh đang đè lên vai này sang vai khác bằng cách cho đòn gánh xoay trên ót. Đau ơi là đau!
Về mùa khô hạn, người gánh nhiều, nước cạn, múc phải chờ nhau, mất công. Còn về mùa mưa, nước giếng đầy, đường lại trơn trợt; nhiều trường hợp nước về đến gần nhà, do trượt chân hay do gióng mây đứt vì mục - sử dụng đã lâu ngày -, đôộc vỡ toang … Công gánh nước biến thành công dã tràng.
Dù vậy, giếng xa cũng có thuận lợi cho mấy ả mới về nhà chồng. Mấy ả còn e dè, làm dáng làm bộ, đến bữa không chịu ăn cho no hoặc nhà chồng không có khả năng cho ăn no, mấy ả mượn cớ đi gánh nước, ghé nhà cha mẹ đẻ, giở nồi, lục tréc kiếm chút cơm sót trong eo nồi, ăn tạm cho đằm bụng.

Qua thập kỷ 1950, giặc Pháp đem tồn qua lợp doanh trại, tồn lẻn ra cộng đồng, dân mới mua được về gò thùng; có thép sợi, người ta kết gióng thay mây. Cảnh gióng đứt, đôộc vỡ giữa đường không còn nữa hay hiếm đi.
Qua thập kỷ 1960, nhiều nhà đã đóng xe kéo; ngoài dùng chở nông sản, chở vật liệu xây dựng, chở củi rào, xe kéo còn dùng chở nước; số nước mỗi lần chở đến hàng chục thùng. Công sức lấy nước tiết kiệm nhiều. Và qua đó, đàn ông cũng thay dần đàn bà đi lấy nước, chứ gánh nước bằng đôộc hay thùng, hình như được mặc định, ấy là việc của đàn bà.
Bây giờ, không ai đi gánh nước nữa, nước đã vào từng nhà qua mạng lưới ống dẫn. Những chuyện tôi kể ở trên thuộc loại chuyện cổ tích.
Mong các thế hệ sau này đọc để biết đã có những thời cuộc sống khó khăn, vất vả như thế!

Và trên bức ảnh, có bảy người; chắc chắn họ là người làng Điếu. Ảnh vừa nhỏ vừa mờ, tôi không nhận ra ai. Chẳng biết có ai trong bảy người ấy là người thân của tôi không, họ còn sống hay đã chết, họ còn ở làng hay đã phiêu bạt nơi nao. Nghĩ đến đó, một luồng cảm xúc chạy rờn rợn trong người tôi./.

Hoàng Đằng
Tháng 7 năm 2020
(Viết trong những ngày ngồi ở nhà tránh Covid-19)

READ MORE - NỖI NIỀM KHI THẤY LẠI ẢNH GIẾNG LÀNG - Hoàng Đằng

CHÙM THƠ NGÀY GIÃN CÁCH – Châu Thạch



                      Nhà thơ Châu Thạch


ĐỐI THOẠI VỚI THIÊN THẦN ÁO TRẮNG
                            
- Có phải em là thiên thần áo trắng?
- Không phải đâu, em chỉ là con người
- Sao áo em tinh sạch trắng màu tươi
Và em làm những điều thánh thiện?

- Vâng, bởi em, chính là em tình nguyện
Nguyện trong lòng làm từ mẫu cho đời
Những thiêng liêng em nhận ý trên Trời
Và nhân ái di truyền từ cha mẹ

- À như vậy hiểu ra rồi mọi nhẽ
Không người Trời em vẫn cứ thiên thần
Em là người có một tấm lòng nhân
Và có cả một tâm hồn bác ái!

- Em hiệp sĩ của loài người hiện đại
Chận con đường bách hại bệnh nan y
Con vi trùng, con vi rút lui đi
Em áo trắng! Em thiên thần áo trắng!

- Dịch Covid đem bao điều cay đắng
Cả thế gian khuất phục địch vô hình
Chỉ có em, em mặc áo trắng tinh
Đứng án ngữ, chận quân thù xông tới 

- Chúng là dịch, loại quân thù rất mới
Chúng giết người hơn cả quỷ Sa Tan
Không có em, nhân loại sẽ quy hàng
Không có em, thế gian không lối thoát

- Không có em, tiếng sầu thay tiếng hát
Không có em, sự chết đến muôn nhà
Em thiên thần! Người đặt vạn bài ca
Vạn thi phú tôn vinh em chẳng đủ
- Bàn tay em chận nguồn cơn đại lũ
Áo trắng em cháy đại dịch Cô-Vi
Cả thế gian có lẽ không chân quỳ
Nhưng đã nhận em thiên thần áo trắng!!!


CÀ PHÊ MỘT MÌNH

Covid, cà phê ngồi một mình
Nhìn hoa ngắm cảnh đời vẫn xinh
Không gian là của riêng ta vậy
Chỉ có mình ta chỉ một mình!

Nghe tiếng thời gian lướt nhẹ nhàng
Thiên đường có thật ở trần gian
Ung dung ta đứng nhìn dương thế
Đâu có cần chi phải vội vàng

Bỗng nhiên kiến tánh đạo trong thơ
Bỏ chấp thì ngay đến bến bờ
Một cõi Niết Bàn trong đáy cốc
Thiên Đàng tiềm ẩn đóa hoa mơ.


BẠN TÔI HÁT ĐÓ
(Tặng bạn Lê Văn San)

Trốn Covid, nằm nhà, buồn, lên mạng
Nghe bạn tôi hát đó, phía trời xinh
Hát cho tôi nghe lại tiếng ca tình
Đêm Thạch Hãn ngày xưa ngồi dưới nguyệt

Rồi chinh chiến đưa xa nhau mãi miết
Tôi tiền phương, bạn mũ đỏ kiêu hùng
Đêm Cổ Thành tôi lặng ngắm không trung
Mơ một bận được ngồi nghe bạn hát

Năm mươi năm trải bao mùa tan tác
Bạn nhớ tôi, tôi nhớ bạn khôn cùng
Quả đất tròn nhưng trời đất mông lung
Tôi và bạn đường đời chia vạn ngã

Nay nghe tiếng người xưa lòng khôn tả
Nhớ ngày xưa những kỷ niệm quay về
Khuôn mặt người qua muôn dặm sơn khê
Vẫn thấy đậm trong hồn, tình thuở trước

Nghe tiếng hát tưởng như mình bắt được
Cả trời xưa trong ký ức hiện ra
Trường Nguyễn Hoàng, phố Quảng Trị, làng xa
Cầu Bến Đá, Trường Sanh quê của bạn

Đời hai đứa trầm luân vì nhiễu loạn
Nghĩa thân yêu xa cách vẫn không nhoà
Ước một ngày đoàn tụ giữa quê ta
Đêm dưới nguyệt tôi ngồi nghe bạn hát!!!

                                          Châu Thạch

READ MORE - CHÙM THƠ NGÀY GIÃN CÁCH – Châu Thạch

Tuesday, August 11, 2020

ĐỀN MẪU HOA DƯƠNG - Đặng Xuân Xuyến

 

Ảnh từ trang Wechechin.vn


ĐỀN MẪU HOA DƯƠNG

Đền Mẫu, còn gọi là đền Hoa Dương, toạ lạc ở phố Bãi Sậy, phường Quang Trung, thành phố Hưng Yên, được xây dựng vào thời Trần Nhân Tông, niên hiệu Thiệu Bảo nguyên niên (1279), được dân gian tín là linh thiêng có tiếng.

Theo truyền thuyết, vào thế kỷ XIII khi quân Nguyên xâm lược nhà Tống, vua và hoàng tộc nhà Tống (Trung Quốc) xuống thuyền tháo chạy về phương Nam lánh nạn. Vì không chịu khuất phục trước sự truy bức của quân Nguyên, vua Tống và một số người trong hoàng cung nhảy xuống biển tự vẫn. Thi thể của Dương Quý Phi trôi dạt về vùng cửa sông Phố Hiến, được người dân nước Việt Nam chôn cất chu đáo. Người nội thị của triều đình Bắc quốc là quan thái giám họ Du trong cơn loạn lạc tới Phố Hiến, được nhân dân địa phương giúp đỡ đã tập hợp những người Hoa lánh nạn hưng công xây dựng đền thờ, lập nên làng Hoa Dương. Khi thái giám họ Du mất, dân làng tôn làm Thành Hoàng làng, mộ ông được giữ gìn trong khuôn viên của đình Hiến.

Tam quan của đền được xây theo kiến trúc kiểu chồng diêm hai tầng tám mái, xây cửa vòm cuốn, có một cửa chính và hai cửa phụ. Trên vòm cuốn có bức đại tự ghi kiểu chữ triện: “Dương Thiên Hậu - Tống Triều” và bức chữ Hán: “Thiên Hạ Mẫu Nghi”.

Đền Mẫu có năm cung thờ. Cung thứ nhất là cung thờ Phật, được xây dựng vào những năm 90 của thế kỷ XX do yêu cầu của người dân muốn bái Phật. Cung thứ hai thờ Quan lớn Đệ Nhất. Cung thứ ba thờ vọng Quan lớn Đệ Tam cùng với ban thờ Công Đồng. Cung thứ tư thờ Mẫu, tại cung này có bức hoành phi Mẫu Nghi Thiên Hạ. Cung thứ năm là cung cấm, còn gọi là hậu cung, cung này thờ Dương phi, một bà phi nhà Tống, cùng hai người hầu là Kim Thị và Liễu Thị. Dưới ban thờ có dấu tích một cái giếng nhỏ. Tương truyền giếng vốn là “rốn biển”, khi biển lùi xa để lại dấu tích cùng với hồ Bán Nguyệt cho nên nước giếng luôn đầy vơi theo nước hồ. Bên trái trục dọc này có ban thờ Mẫu Thượng Ngàn, bên phải có ban Cô, ban Cậu.

Trong đền lưu giữ nhiều di vật quý như kiệu võng, long đình, long sàng, long kỷ có niên đại thế kỷ 18, 19 và 15 đạo sắc phong từ triều Lê đến triều Nguyễn, cùng nhiều bức hoành phi, câu đối, đại tự ca ngợi tấm gương trung trinh tiết liệt của Dương Quý Phi.

Giữa sân đền có cây cổ thụ. Theo truyền thuyết, cây được kết hợp bởi ba cây sanh, đa, si quấn quýt lấy nhau tạo thế chân kiềng vững chắc bao trùm toàn bộ ngôi đền. Đây là cây cổ thụ độc đáo nhất ở Bắc Bộ, đã có tuổi gần bảy trăm năm.

Đền Mẫu thờ Dương Quý Phi ở thành phố Hưng Yên được dân gian ca tụng là một trong những ngôi đền linh thiêng ở miền Bắc về cầu tình duyên, cầu con cái và cầu của cải.

Lễ hội đền Mẫu diễn ra từ ngày 10 đến 15 tháng 3 âm lịch. Trong ngày hội, sân đền tổ chức thi đấu cờ, thi đấu tổ tôm, chọi gà; buổi tối hát chầu văn, hầu đồng. 

                   .....................

(Trích từ VÀO CHÙA LỄ PHẬT NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT của Đặng Xuân Xuyến ; Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin 2006)

*

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

READ MORE - ĐỀN MẪU HOA DƯƠNG - Đặng Xuân Xuyến

SỢI TÓC - Thơ Lục bát 2020 - Lê Kim Thượng

 

Nhà thơ Lê Kim Thượng


Lục Bát 2020 

      LÊ KIM THƯỢNG      

 

SỢI  TÓC 

 

Em qua đường nắng ngọt hương 

Hàng Cây Gạo vẫn ven đường xôn xao 

Thương em da trắng, má đào 

Làn môi, sóng mắt gửi trao dỗ dành 

Áo tà trắng xóa mỏng manh 

Nghiêng nghiêng nón lá, thanh thanh dáng hiền 

Nắng qua bóng lá xiên xiên 

Gió đùa sợi tóc bay nghiêng môi cười 

Đỏ hồng đôi má hổ ngươi 

Dịu dàng lời nói, nụ cười giai nhân 

Bên em hơi thở rất gần 

Mùi hương con gái lâng lâng bềnh bồng 

Ru em... lòng ấp vào lòng... 

Võng đưa chao mãi... hương nồng Phù Dung 

Đôi tim hòa một nhịp chung 

Hoa Thiên Đường nở trên vùng băng trinh... 

                 *   

Tóc xưa buông xõa gợi tình 

Tặng tôi sợi tóc, đinh ninh lời thề

 Dẫu đi tám hướng sơn khê 

Vấn vương sợi tóc... tìm về thăm nhau 

Hoa trôi, nước chảy về đâu? 

Bên sông sóng vỗ chân cầu buồn tênh 

Cầu quê lắt lẻo chông chênh

 Một bên nhung nhớ... Một bên bồi hồi 

Hai người chung một trăng soi

 Cô đơn bên ấy... lẻ loi bên này 

Tình ta, như sợi khói bay 

Lắt lay theo gió Heo May cuối mùa 

Tình ta, mưa dội, gió đùa 

Để Lầu Hoàng Hạc bốn mùa hoàng hôn 

Tình ta, bới đất đem chôn 

Biết đâu đất có tâm hồn... buồn chung? 

“Đôi ta chẳng đặng, thì đừng 

Phận duyên Trời định... nửa chừng xa nhau...”                     

 

      Nha Trang, tháng  8. 2020 

           LÊ KIM THƯỢNG

 

 

 

 

 

 

 

“...” Ca dao

READ MORE - SỢI TÓC - Thơ Lục bát 2020 - Lê Kim Thượng