Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, March 23, 2019

DUYÊN LAU - Thơ Ái Nhân





DUYÊN LAU

Bên ni ngập ngụa nỗi sầu
Bên tê hớn hở thả câu mơ màng
Mấy mùa đợi bóng Ngưu sang
Nghẹn ngào Chức Nữ bẽ bàng dạ đau

Duyên tình bạc trắng hoa lau
Thủy chung ngơ ngác lên cầu đợi trăng
Đâu rồi chân sáo dung dăng
Đâu rồi loan phượng thung thăng đường giời?

Giấu đau dưới đáy mắt cười
Ánh trăng bạc phếch trong lời hẹn xưa

                                               Ái Nhân

READ MORE - DUYÊN LAU - Thơ Ái Nhân

Friday, March 22, 2019

TẠ LỖI - Thơ Trần Mai Ngân



                       Nhà thơ Trần Mai Ngân



TẠ LỖI

Khi ngắm ảnh em cười anh bỗng khóc
Giờ còn đâu chỉ là khói là sương
Dẫu biết yêu là một cuộc vô thường
Anh vẫn tiếc, vẫn lòng đau khôn tả...

Đôi mắt em mãi dịu hiền như thuở
Một thoáng buồn xa vắng ở nơi đâu
Chịu đựng anh, em đã cố nén sầu
Em vẫn bước thản nhiên trong định mệnh

Anh vô tư đôi khi như hời hợt
Mặc lo toan em đôn đáo ngược xuôi
Anh buông mình chìm trong những cuộc vui
Em không trách mà lặng im chịu đựng

Bao năm tháng dửng dưng cùng số mệnh
Tình bạc đầu anh quay lại cùng em
Vẫn ngôi nhà và hoa cỏ thật êm
Em vẫn thế nụ cười cho độ lượng

Để đến lúc em nhẹ nhàng thanh thản
Bước khỏi đời anh vĩnh viễn không còn
Thương ngày xưa em gánh hết mỏi mòn
Anh nông nổi... cả đời anh nông nổi

Và bài thơ như một lời tạ lỗi
Cả đời này anh tạ lỗi cùng em...

                      Trần Mai Ngân
(Tặng những người phụ nữ gặp bến nước không may)

READ MORE - TẠ LỖI - Thơ Trần Mai Ngân

BỐN MƯƠI NĂM GẶP BẠN XƯA - Thơ Hoàng Yên Linh



BỐN MƯƠI NĂM
                   GẶP BẠN XƯA...
                            Hoàng Yên Linh

Ừ thôi cạn hết ly này
Mai kia biết có còn vầy hay không
Bạn đời bạc áo phố đông
Còn tôi rừng núi long đong phận người
Thì ra đã quá sáu mươi
Nhục vinh, thành bại ngậm ngùi thế nhân
"Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao..." *
Ở đây đồi núi trăng sao
Có hương kỷ niệm ngọt ngào bạn ơi!
Tử sinh cũng một kiếp người
Còn đây tôi bạn, mây trời nước non
Cạn ly ta vẫn chờ mong...

HYL
* Kiều-Nguyễn Du

READ MORE - BỐN MƯƠI NĂM GẶP BẠN XƯA - Thơ Hoàng Yên Linh

DUYÊN – TÌNH - Thơ Nguyễn Đại Duẫn

Tác giả Nguyễn Đại Duẫn
   

DUYÊN – TÌNH
Ừ! Đã mấy chục năm rồi
Anh giờ chân chậm da mồi tóc sương
Nghỉ hưu về với đời thường
Tháng năm quân ngũ còn vương tơ tình
Ngày xưa hai đứa chúng mình
Cùng chung đơn vị công binh – mở đường
Gian nan vất vả cũng từng
Cơm ăn thiếu cá măng rừng thay rau
Những lúc sốt rét quên sao
Cháo không ngon miệng thèm rau quá chừng
Em đi hái nắm rau rừng
Rau tàu bay nấu canh suông ấm lòng
Tình yêu nhen nhúm lửa hồng
Mong duyên đôi lứa mặn nồng trầu cau
Ra quân đành phải xa nhau
Cái duyên không bén  nhuộm màu thời gian
Xa nhau cách trở suối ngàn
Để tình giữ mãi  “cung đàn tuổi xuân”


NGUYỄN ĐẠI DUẪN

READ MORE - DUYÊN – TÌNH - Thơ Nguyễn Đại Duẫn

MÊNH MÔNG HIỆN THỰC TRÔI LẠC TRONG THẾ GIỚI ẢO (Đọc truyện dài Cửa Sổ Phía Đông của Nguyễn Thị Kim Hòa) - Đình Hy


MÊNH MÔNG HIỆN THỰC TRÔI LẠC
TRONG THẾ GIỚI ẢO
(Đọc truyện dài Cửa Sổ Phía Đông của Nguyễn Thị Kim Hòa, NXB Trẻ - 2018)


ĐINH HY

Truyện dài Cửa Sổ Phía Đông, viết theo bút pháp huyền ảo, xuyên không của Nguyễn Thị Kim Hòa đạt giải Khuyến khích, (không có giải nhất), từ Cuộc vận động sáng tác ‘Văn học tuổi 20‘ do Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh, Báo Tuổi Trẻ, Nhà xuất bản Trẻ phối hợp phát động từ tháng 12 – 2015 đến năm 2018.

Truyện dài Cửa Sổ Phía Đông của Nguyễn Thị Kim Hòa vừa được Nhà Xuất bản Trẻ in tháng 8 năm 2018. Với đầu đề này, người đọc thường nghĩ tác giả sẽ viết một câu chuyện nào đó về một ngôi nhà ở làng quê, một gác trọ của một cô sinh viên, hoặc một căn phòng chung cư ở thành phố chẳng hạn… mà ở đó có một cửa sổ phía đông. Rồi từ đây câu chuyện dài bắt đầu.
Hóa ra không phải như vậy. Ở tác phẩm này vẫn có một cửa sổ phía đông trong căn phòng một trang trại cừu. Bối cảnh câu chuyện diễn ra ở vùng đầy nắng, gió, cát, có trang trại cừu, bãi biển, khu bảo tồn biển, cây neem, ruộng muối, rượu nho, con dông, phố P có nghệ thuật pha café nổi tiếng ngon… chừng đó làm cho chúng ta liên tưởng bối cảnh là vùng Ninh Thuận, quê hương của tác giả. Nhưng người đọc thật sự bị tác giả dẫn vào một thế giới hoàn toàn không có ranh giới thực - ảo, hiện tại, quá khứ; các nhân vật làm một công việc chính là đang thực hành chương trình máy tính “xóa ký ức” cho ông chủ trang trại quên đi quá khứ, ký ức về con gái của mình và để rồi cuối truyện, Kim Hòa thực sự đưa người đọc đến những bất ngờ có hậu, rất cảm động mà người đọc không thể đoán trước.
Tôi thực sự hoang mang khi đọc những trang đầu. Một không khí thâm u trong thư viện dài hun hút ào đến, mộng mị, hoang tưởng. Và một khái niệm lạ, ít phổ biến - “déjà vu” - xuất hiện ở trang 9. Bất chợt tôi phải quay về những trang bìa, may mắn tác giả đã hỗ trợ để tiếp tục đọc truyện dài được dễ dàng hơn.
Ở bìa 2, Kim Hòa viết: “Một ngày, tôi bỗng mong mình mất… vài trí nhớ. Tưởng tượng mình trở thành một khối trống, nhưng mạnh mẽ tuyệt đối vì chẳng chứa đựng ám ảnh sợ hãi hay ký ức không vui nào, tôi viết quyển sách này. Một cuốn sách cho những người muốn quên, cần quên. Nhưng có phải lãng quên luôn là liều thuốc chữa thương tốt nhất?”.
Và ở bìa 4, tác giả giới thiệu, trích lại trong truyện dài về một tài liệu khoa học: “Déjà vu, thực tế là một hiện tượng rất khó để tiến hành nghiên cứu. Nó chỉ xảy ra trong một khoảng thời gian rất ngắn, không hề có báo trước. Nhưng nếu diễn ra kinh niên, người mắc phải có thể bị lạc giữa thực tại và những ảo giác tự nhiên chui ra từ đâu đó bên trong bộ não”. Cũng theo tác giả thể hiện trong truyện, người đọc dễ dàng tra “déjà vu” tại Google.
Tiếp sau tập truyện ngắn “Con chim phụng cuối cùng” xuất bản năm 2017, truyện dài này cũng sáng tác kiểu rất lạ của Kim Hòa. Nếu tập truyện ngắn “Con chim phụng cuối cùng” chủ yếu triển khai một cách huyền ảo các đề tài trong lịch sử dân tộc thì truyện dài “Cửa sổ phía đông” hoàn toàn là đề tài đương đại, tập trung một vấn đề chưa được khoa học kiểm chứng rõ ràng, vừa sinh học, bộ não, vừa tâm lý học, ký ức để sáng tác. Thủ pháp sáng tác rất hiện đại, ngôn ngữ, lời thoại, tính cách, lối sống các nhân vật trẻ có dáng dấp thời thượng @, đậm đặc thuật ngữ tin học như: file, giao diện, folder, Teamviewer, laptop.
Căn cứ vào nội dung, chúng ta tạm chấp nhận mấy cặp nhân vật hiện diện trong truyện dài, trước hết là nhân vật chính: Phan, cô gái giúp việc phiên dịch thực hành xóa ký ức; Ali, thanh niên người Trung Đông, nhà khoa học thực hành chương trình xóa ký ức trên máy tính, “người yêu” của Phan; ông Trần, chủ trang trại cừu, người hợp đồng thuê Ali và Phan dùng máy tính xóa ký ức về đứa con gái trong bộ não của mình; Chơn, thanh niên người Chăm giúp việc cho ông chủ trang trại.
Từ trang 75, câu chuyện diễn ra lại song hành với một câu chuyện các nhân vật trong cuốn nhật ký tình cờ Phan phát hiện tại trang trại: cô gái trẻ là chủ nhân nhật ký, trợ lý phiên dịch cho bác sĩ ký ức Jack; Jack, người Mỹ lai Việt, là bạn học của Ali, là người trong nhóm nghiên cứu xóa ký ức, Jack là người yêu của cô gái chủ nhân nhật ký, cô gái này lại là con gái ông Trần, chủ trang trại.
Như vậy, ý đồ tác giả sắp xếp các nhân vật giữa đời thực: Phan, Ali, chủ trang trại và các nhân vật trong nhật ký: cô gái, Jack, người cha có mối quan hệ mật thiết của câu chuyện. Hai câu chuyện bên ngoài đời và trong nhật ký đan xen lẫn nhau, nhiều khi không thể phân biệt bởi những chi tiết giống nhau, nhân vật có khi hòa quyện nhau. Thực chất khi kết thúc truyện mới biết đây là một thủ pháp tác giả “đánh lừa” người đọc. Cuối truyện, tác giả “mở nút” kết thúc có hậu, tất cả các nhân vật đều đáng yêu, đáng thương. Nhân vật cô gái chủ nhân nhật ký ghét cay ghét đắng người cha chính là nhân vật Phan đang quá trình được “người yêu” Ali phục hồi trí nhớ. Đọc đến đoạn cuối thực sự xúc động khi Phan đã hồi phục trí nhớ, nhận ra cha mình chính là chủ trang trại, ân hận vì đã “quên” người cha và sau đó trên đường đến với Jack, người yêu, gặp một người Mỹ, cha của Jack, Phan vỡ òa một sự thật mà cha cô tìm kiếm suốt bốn mươi năm khi cô bấm điện thoại nghẹn ngào báo tin về cho ông chủ trang trại Trần: - Ba. Con tìm được cô ba rồi!
Đây là một truyện dài có lối viết đầy kịch tính, sự xung đột cao, thậm chí khó theo dõi, tiệm cận khoa học viễn tưởng, song hấp dẫn; diễn tiến của truyện có nhiều cảnh (scene) độc lập gợi cho ta hình dung kịch bản phân cảnh của một bộ phim, do đó sẽ thuận lợi khi chuyển thể thành kịch bản điện ảnh.
Trong truyện dài, các nhân vật chỉ xoay quanh hành động xóa và bị xóa ký ức bằng chương trình máy tính, từng ngày họ chờ mong đạt kết quả song tác giả đưa vào tác phẩm quá nhiều dung lượng hiện thực, chủ đề khác nhau: từ việc tận thế giới xa xôi, khủng bố ở Trung Đông, dòng người tỵ nạn vào châu Âu đầy chết chóc, chuyện cắt cỏ nuôi cừu ở xứ nắng gió Việt Nam, chuyện hiện tại đang xóa ký ức, quay ngược vào thời chiến tranh Việt Nam và di hại của dioxin, có nhân vật cưa bom bị nổ…
Đáng chú ý là nghệ thuật xây dựng nhân vật từ ngôn ngữ, tâm lý, hành động, phải thừa nhận tác giả dụng công hết sức tinh tế, điêu luyện. Tâm lý, lời ăn tiếng nói tác giả đặt đúng chỗ lứa tuổi, tính cách từng nhân vật. Chẳng hạn, nhân vật Phan, thông qua tương tác với các nhân vật khác, tác giả khắc họa là một cô gái có tâm sinh lý, tính cách của thời @, miêu tả tình yêu và giận hờn giữa Phan – Ali đúng với lớp thanh niên thời mở cửa, mãnh liệt, nhanh chóng khác xa sự mãnh liệt, nhanh chóng các thế hệ trước; hai nhân vật Ali, Jack, tiêu biểu cho phong cách của thanh niên ngoại quốc, giữa làm việc và nghỉ ngơi, giải trí, Kim Hòa khắc họa rất khác thanh niên Việt.
Đặc biệt từ trang 93 trang bắt đầu mô tả ý nghĩ qua tự bạch của ông Trần, chủ trang trại, rất cảm động về con gái mình. Vừa thương con gái vô bờ bến, vừa hận con từ bỏ ông mà đi. Theo tôi, đây là những trang viết thể hiện tâm lý nhân vật hay nhất của Kim Hòa, có những đoạn sao mà thật thế, “đời” thế: “Đó là ngày tôi phát hiện ra nó tự ý bỏ việc. Đồ cạn nghĩ, nó đâu biết để kiếm được việc làm cho nó, cha nó phải muối mặt bỏ hết tự trọng”, (trang 93). “Tôi vẫn nhớ chính xác từng lời nó hét thẳng vào mặt tôi. Cha nó. Đứa hỗn hào. Tôi tiếc mình không đẻ ra một cái trứng, một cục đá. Tôi muốn đánh nó chết. Bạt tai tôi tát mạnh cỡ nào cũng không bằng câu nó xát muối vào tôi…” (trang 94).
Đối với ông Trần, nhìn nhận thế hệ trẻ, hay nói khác là xung đột hai thế hệ, tác giả thể hiện đúng với suy nghĩ, thực tế của một nông dân, chủ trang trại: “Lũ trẻ ranh tụi nó làm gì biết đạn pháo, chết chóc. Làm gì ăn cơm độn bo bo, khoai mì, giữa trưa ngậm đỡ xác mía trong miệng cuốc đất. Sướng quá, nhàn quá nên tụi nó đâm ra hư hỏng!... Nhưng nó có bao giờ chịu hiểu tôi. Tôi chọn đường tốt giúp thì nó la làng tôi áp đặt. Tôi nhịn, nhượng bộ hết lần này sang lần khác, thì nó càng được nước, hỗn hào” (trang 129). “Tụi thanh niên bây giờ sao không đứa nào coi được. Cùng loại sống hời hợt, vô trách nhiệm, không cần biết quan tâm ai, nhưng lại giãy lên đòi người khác quan tâm mình. Tụi nó, đem ném vào bốn năm chục năm trước, quẳng vào chiến tranh, đói khổ như tụi tôi, chắc không sống nổi một ngày” (trang 149).
Xin nói thêm tại trang 189, Kim Hòa thể hiện tình thương yêu, hờn giận của ông già chủ trang trại về em gái mình biệt tích 40 năm trước, theo tôi, khó có trang viết nào về tình cảm anh em hay hơn thế.
Kim Hòa có một lối so sánh rất đúng và rất hay. Như ông chủ trang trại Trần trong con mắt ác cảm của cô Phan được ví như con gấu:“Phan muốn thót tim nhìn những món đồ mỏng manh chực nhào xuống đất theo dáng đi loạng choạng của kẻ say. Không giống con gấu xiếc luôn an lòng người xem dù vừa bưng bê vừa đi trên dây” (trang 15). “Phan đã chọc được ông ta phát điên. Khi con gấu lồng lộn mất kiểm soát cũng là lúc đánh bẫy nó thích hợp nhất” (trang 18).
Về tâm trạng thất vọng: “Cô như thể đang ở trong một trái banh da bị chích xì hơi” (trang 35).
Về một thời cơ may mắn của nhân vật Phan: “Phan chớp ngay cơ hội, như người thủy thủ vừa canh được gió phừng lên, bẻ ngay hướng tàu” (trang 135).
Về thời tiết:“Trời ngột ngạt hệt trong những đêm mùa bấc đứng gió thức với ba chờ bão tới” (trang 226). Ai chưa trải qua những thời khắc chờ bão tới sẽ thắc mắc: sao lại “đứng gió”?
Nếu không có một sự quan sát tốt, một vốn kiến thức rộng, vốn thực tế nhiều trong cuộc sống khó có những câu văn so sánh hay như thế.
Phải nói từ khi mới sáng tác đến nay, trong tất cả tác phẩm của mình, Kim Hòa thể hiện sắc sảo, tài tình sự quan sát, để rồi đem đến cho người đọc nhiều trang viết sinh động, kể cả lối so sánh dí dỏm. Miêu tả đàn cừu: “Dải nơ nhìn xa tưởng tuyền trắng, nhưng lại gần sẽ thấy ngà ngà đổ vàng, có khi còn nâu xỉn màu bụi đất. Lông cừu rất dễ bám bụi, hai ba tháng không kéo ống xối tắm, cả bầy hóa nhem nhuốc không khác lũ trẻ nhỏ mặc áo chưa chưa xài bột giặt trong mấy clip quảng cáo” (trang 37). Ai đã từng cho cừu ăn cỏ voi mới cảm được những dòng miêu tả sau: “Phan có thể ngửi thấy mùi những thân cỏ múp xanh gập đôi trào nhựa, mùi những lá cỏ bị nhay nát ra, đặc quánh giữa hàm nhai khỏe chỉ có tám răng dưới. Hai con cừu non gần nhất mê giỡn rượt nhau, dạn dĩ xô cả thân mình lông trắng muốt ngắn cũn vào chân Phan” (trang 133).
Gần đây văn học nước nhà cũng có tác phẩm khoa học viễn tưởng như “Thiên thần sám hối” của Tạ Duy Anh (2004), ở đó tác giả sáng tác một kiểu rất lạ, nói về câu chuyện một bào thai không chịu ra đời, cứ nằm trong bụng mẹ mãi để “chối từ cuộc sống vì thấy nó quá khủng khiếp”; ở “Cửa sổ phía đông” chỉ tiệm cận khoa học viễn tưởng, vì “déjà vu” là một hiện tượng khoa học thuần túy chưa được giải quyết rốt ráo.
Trải qua 240 trang viết, với một nghệ thuật viết văn kinh nghiệm, một sự quan sát tinh tế, vốn sống kết hợp trí tưởng tượng vô cùng phong phú nên Kim Hòa đưa hiện thực vào Cửa Sổ Phía Đông một biên độ rộng về địa lý, dài thời gian, nhiều chủ đích, ngôn ngữ hiện đại…
Ở tác phẩm này, vẫn thấy một Kim Hòa dành tình yêu nhân hậu về quê hương, con người vùng nắng gió như các tác phẩm trước đó*.
----------------
*Tác phẩm đã xuất bản:
- Tay chị tay em, truyện dài thiếu nhi, NXB Kim Đồng – 2011.
- Nho đắng, tập truyện ngắn, NXB Văn hóa Văn nghệ – 2012.
- Cơn lũ vẫn chưa qua, tiểu thuyết, NXB Văn hóa Văn nghệ – 2014.
- Đỉnh khói, tập truyện ngắn, NXB Văn hóa Văn nghệ – 2015.
- Sa mạc & những vệt nhớ, tản văn, NXB Văn hóa Văn nghệ – 2016.
- Con chim phụng cuối cùng, tập truyện ngắn, NXB Hội Nhà văn – 2017.

READ MORE - MÊNH MÔNG HIỆN THỰC TRÔI LẠC TRONG THẾ GIỚI ẢO (Đọc truyện dài Cửa Sổ Phía Đông của Nguyễn Thị Kim Hòa) - Đình Hy

VÙNG ĐẤT ĐI QUA - Thơ Phạm Hòa Việt

Tác giả Phạm Hòa Việt
VÙNG ĐẤT ĐI QUA

Tôi đã đi qua
Những con đường từ lâu ước vọng
Như bầu trời cao mênh mang gió lộng
Như mặt biển xanh bất khuất sóng tình
Đất đỏ ba gian
Tự bao giờ trìu mến chân chị chân anh
Và vun gốc cho bí bầu tốt lứa
Rừng sắn rừng chè một màu tơ lụa
Ai hái lá già cho chồi nõn vươn nhanh
Lá chè xanh đậm nước chè xanh
Tôi uống cạn ân tình buổi đầu gặp mặt
Ôi những con người không cần giáp sắt
Vẫn xem thường gươm bén kề vai
Vẫn đưa bóng chiều về với sương mai
Đem mạch suối tô thêm dòng máu đỏ
Tôi đếm được trong từng hơi thở
Nhịp đập con tim chan chứa lòng người
Từng bước nhịp nhàng biến sắn biến khoai
Thêm dẽo thêm ngon miền vàng miến bạc
Miến gặp Thừa Thiên miến lên A Lưới
Miến vô Quảng Trị miến tới Đông Hà
Ân tình khắp chốn gần xa
Nhớ nhau ta lại mang quà trao nhau,,,
Tôi đã đi qua
Xóm Đông xóm Nỗng xóm Bàu
Nghe mạch sống chảy tràn trên từng ngọn mạ
Có phải mùa xuân luôn gần cây lá
Hay bà con dẫn dắt xuân về
Niềm yêu thương gắn chặt mãnh tình quê
Cho mũi Rồng mũi Lay vươn mình ra  tận biển
Rồi một mai thuyền tình cập bến
Ngày chia tay nhung nhớ vơi đầy!...
                                Phạm Hòa Việt

READ MORE - VÙNG ĐẤT ĐI QUA - Thơ Phạm Hòa Việt

Thursday, March 21, 2019

“SAY ĐI EM”, MỘT BÀI THƠ “TỚI BẾN” – Phạm Đức Nhì





“SAY ĐI EM”, MỘT BÀI THƠ “TỚI BẾN”                     
                                                Phạm Đức Nhì


Tôi không nhớ đã “quen biết” bài thơ Say Đi Em của Vũ Hoàng Chương ở đâu và khi nào. Nhưng trong danh sách những bài thơ hay để giới thiệu với độc giả thì nó đứng đầu. Đọc để cảm thì sao cũng được – đó là “cái riêng” của mỗi người khi đọc thơ, những người khác ít ai dám xía vào. Nhưng bình thơ thì phải có khen chê - phải có một quan niệm về thơ để làm chỗ dựa cho sự khen chê đó. Mỗi lời khen, tiếng chê - ngoại trừ cái hay, dở của ngôn ngữ thơ - đều phải có lập luận để giải thích, và nếu bị phản bác, để bảo vệ nó.

Say Đi Em là bài thơ khó bình. Tôi đã “ngâm” nó trong kho từ vài năm trước. Mỗi lần mở ra đọc lại thấy ơn ớn. Chỗ mình muốn khen hết lời thì lại có một cây đại thụ về phê bình văn học (Vũ Ngọc Phan) (1) dè bỉu, chê bai. Một số điểm hay khác của bài thơ thì lại … quá lạ, không biết mình nêu lên có gây sóng gió, bão táp gì không? 
Nói vậy để độc giả thông cảm chứ tôi đã ăn ngủ với Say Đi Em cả mấy tháng nay rồi. Đã thuộc, đã nghiền ngẫm từng chữ nên khi viết lời bình cũng có đôi chút tự tin. Tuy nhiên, cái hay, cái đẹp (và cả cái dở) của thơ thì mênh mông như biển cả. Nếu bài viết này có gì sai sót, rất vui vẻ đón nhận mọi phê bình, góp ý.


SAY ĐI EM

1/

Khúc nhạc hồng êm ái
Điệu kèn biếc quay cuồng
Một trời phấn hương
Đôi người gió sương
Đầu xanh lận đận, cùng nhớ thương, càng xót thương...

Hoa xưa tươi, trăng xưa ngọt, gối xưa kề, tình nay sao héo?
Hồn ngả lâu rồi nhưng chân còn dẻo
Lòng trót nghiêng mà bước vẫn du dương
Lòng nghiêng tràn hết yêu thương
Bước chân còn nhịp Nghê Thường lẳng lơ

2/

Ánh đèn tha thướt
Lưng mềm não nuột dáng tơ
Hàng chân lả lướt
Đê mê hồn gửi cánh tay hờ

Âm ba gờn gợn nhỏ
Ánh sáng phai phai dần...
Bốn tường nghiêng điên đảo bóng giai nhân
Lui đôi vai, tiến đôi chân
Riết đôi tay, ngả đôi thân
Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió
Không biết nữa màu xanh hay sắc đỏ
Hãy thêm say, còn đó rượu chờ ta
Cổ chưa khô đầu chưa nặng mắt chưa hoa
Tay mềm mại bước còn chưa chuếnh choáng
Chưa cuối xứ Mê Ly chưa cùng trời Phóng Đãng
Còn chưa say hồn khát vẫn thèm men

3/

Say đi em! Say đi em!
Say cho lơi lả ánh đèn
Cho cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt!
Rượu, rượu nữa! Và quên, quên hết!
Ta quá say rồi
Sắc ngả màu trôi...
Gian phòng không đứng vững
Có ai ghì hư ảnh sát kề môi
Chân rã rời
Quay cuồng chi được nữa
Gối mỏi gần rơi!
Trong men cháy giác quan vừa bén lửa
Say không còn biết chi đời

4/

Nhưng em ơi
Đất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt Thành Sầu chưa sụp đổ
Đất trời nghiêng ngửa
Thành Sầu không sụp đổ, em ơi!

                     Vũ Hoàng Chương

“Em” Trong Bài Thơ Là Ai?

Theo tôi, câu hỏi đó đã được trả lời một cách kín đáo ở đoạn đầu bài thơ.

Khúc nhạc hồng êm ái
Điệu kèn biếc quay cuồng
Một trời phấn hương

Tác giả nói đến vũ trường, nhạc dập dìu quanh các nàng ca ve son phấn.

Đôi người gió sương
Đầu xanh lận đận, cùng nhớ thương, càng xót thương
Hoa xưa tươi, trăng xưa đẹp, gối xưa kề, tình nay sao héo?

Gặp người quen, cũng là dân “sương gió”; nàng là gái nhảy, chàng là khách làng chơi mê khiêu vũ, xưa đã có một thời mặn nồng, sau đó vì “đầu xanh lận đận” nên nay tình đã héo. Cụm từ “gối xưa kề” đã bóng gió nói đến thời mặn nồng đó.

Hồn ngả lâu rồi nhưng chân còn dẻo
Lòng trót nghiêng mà bước vẫn du dương

Nay tình không còn mặn nồng nữa nhưng vẫn còn khoái món khiêu vũ. Cụm từ “Lòng trót nghiêng” hơi trừu tượng; vừa muốn giải thích lại vừa muốn đưa vào 2 câu lục bát cho ngọt dòng thơ nên ông viết tiếp:

Lòng nghiêng tràn hết yêu thương
Bước chân còn nhịp Nghê Thường lẳng lơ

Lòng đã hết thương nhưng chân còn mê nhảy.
Tóm lại, đoạn đầu có thể hiểu như sau; Vào vũ trường nhảy nhót, uống rượu giải sầu, lại gặp bạn “giang hồ” cũ. Dù tình đã hết cũng xáp lại để có đôi có cặp, để được đối ẩm, khiêu vũ với người “hợp gu”, “hợp rơ”.

Thành Sầu Của Vũ Hoàng Chương

Tập thơ Say của Vũ Hoàng Chương xuất bản năm 1940 – có nghĩa là bài thơ Say Đi Em được viết trước đó.

Nho học đã lụi tàn. Khoa thi Hương cuối cùng là khoa Mậu Ngọ (1918), tổ chức tại trường Thừa Thiên. Sau khoa thi Hương này, ngày 28/12/1918, vua Khải Định ra chỉ dụ bãi bỏ khoa cử ở Việt Nam. Khoa thi Hội và thi Đình cuối cùng được tổ chức năm 1919. Những người thi đỗ có bằng nhưng không được bổ nhiệm chức vụ gì. (2)
Cha mẹ VHC, cũng như rất nhiều bậc cha mẹ thuộc hàng quan lại, khá giả thời bấy giờ, ở vào thế tấn thối lưỡng nan. Một là, giữ lấy chút tiết tháo kiểu quân tử Tàu, thà để con lông bông chịu dốt chứ không thèm hợp tác với ngoại bang. Hai là, cho con theo Tây học để mở mang kiến thức, có cơ hội thăng tiến trong xã hội mới. Họ, hầu hết, đã chọn con đường thứ hai. Vũ Hoàng Chương nhờ thế, đỗ Tú Tài Pháp ban toán năm 21 tuổi (1937).
Năm 1938 ông vào Trường Luật nhưng chỉ được một năm thì bỏ, đi làm Phó Kiểm Soát Sở Hỏa Xa Đông Dương, phụ trách đoạn đường Vinh – Na Sầm (Wikipedia). (3)

“Vào năm 1935, Hà Nội tuy sống dưới chế độ bảo hộ của thực dân Pháp nhưng có một bộ mặt rất thanh bình, vui vẻ, trẻ trung. Nhà cầm quyền đang cố tình dung túng các cuộc ăn chơi phóng túng để người ta quên đi biến cố đàn áp tàn bạo vừa qua (Năm 1930, Nguyễn Thái Học và mười hai liệt sĩ VN Quốc Dân Đảng khác phải lên đoạn đầu đài ở Yên Bái, sau đó là chiến dịch lùng sục bắt bớ ở nhiều nơi), đồng thời để ru ngủ thanh niên nên các trà đình, tửu điếm, các tiệm nhẩy đầm, các nhà hát ả đào (còn gọi là hát cô đầu) và các tiệm hút thuốc phiện mọc lên nhan nhản. Người ta đua nhau ăn diện, nhiều cậu công tử Hà Thành diện đúng mốt Paris, tay sách can đi bên cạnh các cô gái tân thời, phấp phới áo dài Lemur Nguyễn Cát Tường. (4)

VHC ngoài việc bắt buộc phải theo Tây học để tiến thân, còn cắn phải miếng mồi “ru ngủ” của người Pháp. Ông cũng lao vào những thú vui trác táng - rượu, thuốc phiện, nhảy đầm và cả gái nữa. Về điểm này, Trong Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã có một đoạn khá đầy đủ:

Người say đủ thứ: Say rượu, say đàn, say ca, say tình đong đưa. Người lại còn "hơn" cổ nhân những thứ say mới nhập cảng: Say thuốc phiện, say nhảy đầm. Bấy nhiêu say sưa đều nuôi bằng một say sưa to hơn mọi say sưa khác: Say thơ. (3)

Như vậy, “thành sầu” của VHC là nỗi sầu đất nước bị ngoại bang đô hộ, dân tộc bị chúng làm tha hóa, băng hoại bằng đủ mọi âm mưu thâm độc. Trớ trêu thay, chính ông lại góp tay, giúp sức cho bộ máy cai trị ấy, chính ông lại lậm vào những cuộc chơi trác táng do chúng đặt ra, không những tự làm hỏng mình mà còn làm gương xấu cho lớp trẻ, rường cột của tương lai dân tộc. Ông cảm thấy tội lỗi, tủi nhục, uất ức và chất ngất buồn sầu. Là người có liêm sỉ, ông đã can đảm nói lên sự thật:

Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa
Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh
Bể vô tận xá gì phương hướng nữa
Thuyền ơi thuyền, theo gió hãy lênh đênh.
                                            (Phương Xa)

Và thế là năm 1941, ông bỏ Sở Hỏa Xa đi học Cử nhân toán tại Hà Nội, rồi lại bỏ dở để đi dạy (tư) ở Hải Phòng (3).
Nỗi tủi nhục buồn sầu đó bắt rễ, ăn sâu rồi cao lớn như một bức tường thành sừng sững trong tâm hồn nhà thơ – đã trở thành điểm mấu chốt trong tứ thơ của thi phẩm Say Đi Em.
“Thành Sầu” Trong “Say Đi Em” Của Vũ Hoàng Chương Có Nỗi “Sầu Tình” Không?
Cha VHC là Vũ Thiện Thuật, một nhà nho bảo thủ, nghiêm khắc, làm Tri Huyện, muốn sau khi VHC học xong sẽ hỏi con gái một quan Bố Chánh, bạn thân của mình, cho ông. Ông không thích kiểu hôn nhân áp đặt nên không đồng ý và đã làm phật lòng cha. Vì thế khi ông yêu cầu đi hỏi Tố Uyển - người yêu của mình - về làm dâu trong gia đình thì cha ông đã từ chối thẳng thừng. (4)
Khoảng tháng 3 năm 1941 song thân của Tố Uyển mới nhận lễ vật dạm ngõ của nhà trai (anh Cử Cương) (4) và mãi đến ngày 12 tháng 6 năm Tân Tỵ (khoảng tháng 7 năm 1941) nàng mới lên xe hoa về nhà chồng. (6) Sau đây là một đoạn trong bài Mười Hai Tháng Sáu ông viết về mối tình tan vỡ của mình:

Tháng Sáu mười hai, từ đấy nhé
Chung đôi, từ đấy nhé lìa đôi.
Em xa lạ quá đâu còn phải
Tố của Hoàng xưa, Tố của Tôi.

Nỗi sầu thất tình của VHC xuất hiện sau năm tập thơ Say ra đời (1940) nên có thể nói chắc rằng nó không ăn nhập gì đến “thành sầu” của thi sĩ trong bài thơ Say Đi Em.

Tứ Thơ

Trong một đêm đi nhảy ở vũ trường, gặp “bạn nhảy cũ”, tác giả mời nàng đối ẩm, có ý muốn mượn rượu để giải sầu, nhưng uống đến mức “say không còn biết chi đời” mà nỗi sầu vẫn sừng sững như một bức tường thành, không sụp đổ.

Bố Cục Và Dàn Ý

Bài thơ có thể chia làm 4 đoạn:
1/ Đoạn mở đầu 10 câu, thiết lập khung cảnh của bài thơ: Đến vũ trường, gặp người tình cũ đang là ca ve ở đấy. Tình đã héo nhưng chân còn “ngứa ngáy” nên xáp lại.

2/ Đoạn hai 16 câu: Cảm giác “Đê mê hồn gửi cánh tay hờ” khi đang dìu em trên sàn nhảy lúc rượu đã ngà ngà.
3/ Đoạn ba 13 câu: Mời em cùng uống cho đến khi “say không còn biết chi đời”.
4/ Đoạn kết 5 câu: Nỗi sầu vẫn còn đó - sừng sững như một bức tường thành, không sụp đổ.

Vũ Hoàng Chương viết Say Đi Em không theo lối kể chuyện lớp lang theo trình tự thời gian. Trong một lúc tĩnh lặng nào đó, ông hồi tưởng rồi trải lên trang giấy những hình ảnh, cảm giác, tâm trạng lưu lại trong ông ấn tượng mạnh mẽ nhất, sâu đậm nhất của một đêm đi nhảy, uống rượu ở vũ trường.
Vì thế, ở đoạn 2, có lẽ ông nói đến điệu nhảy sau cùng, nhịp điệu nhanh, tâm trạng phấn khích, hào hứng, có người còn liên tưởng đến những bước “fantaisie” của vũ điệu Tango (cũng điệu Tango 4 phách, chế ra những bước nhảy mới lạ - gọi tắt là nhảy “phăng”).  Trước khi vào đoạn 3 ông đã mấp mé ở ranh giới giữa “ngà ngà” và thật say. Cho nên nâng ly mời cô bạn nhảy “Say đi em! Say đi em!” thì chắc chỉ được vài ly là ông đã “Say không còn biết chi đời”.
Nhưng dù say đến thế nhưng nỗi sầu quá sâu đậm, vẫn như một bức tường thành, không sụp đổ.
                   
Vần Và Dòng Chảy Của Tứ Thơ

Về hình thức, tác giả sử dụng thể Thơ Mới, nhưng không phải lối thơ Trường Thiên (mỗi đoạn 4 câu) mà là thể thơ nhất khí liền mạch – một hơi từ câu đầu đến câu cuối. Nhưng cũng không phải như Nhớ Rừng của Thế Lữ - cứ 8 chữ một câu với vần liên tiếp, đọc lên nghe rất ngán. “Say Đi Em” rất phóng khoáng. Có đôi chỗ ngừng là do tác giả muốn chuyển ý, đổi vần chứ không phải do đòi hỏi của luật thơ. Ông cũng tạo ra một số thay đổi, vừa tránh được trói buộc của luật tắc, vừa có thể nhấn mạnh điểm chính của tứ thơ:
1/ Số câu trong bài không giới hạn, viết hết ý, hết hứng thì thôi.
2/ Số chữ trong câu thay đổi (với biên độ rộng) một cách tùy tiện, tùy hứng. Câu ngắn nhất 3 chữ (Chân rã rời), câu dài nhất 13 chữ (Hoa xưa tươi, trăng xưa đẹp, gối xưa kề, tình nay sao héo). Nhờ thế, nhịp điệu thơ thay đổi liên tục.
3/ Vần rất đậm, nhưng không có hội chứng nhàm chán vần, đọc lên không thấy ngán. Câu sau nối tiếp câu trước, tứ thơ và cảm xúc cứ thế tuôn chảy thành dòng. Lý do: Nhịp điệu thay đổi cộng với sự giúp sức của mấy đoạn gieo vần gián cách:

Ánh đèn tha thướt
Lưng mềm não nuột dáng tơ
Hàng chân lả lướt
Đê mê hồn gửi cánh tay hờ

Và:

Chân rã rời
Quay cuồng chi được nữa
Gối mỏi gần rơi!
Trong men cháy giác quan vừa bén lửa
Say không còn biết chi đời

Thêm vào đó, để thay đổi không khí, còn có hai câu thơ lục bát mượt mà ở đoạn đầu và sự phối hợp một cách tài tình điệp ngữ, điệp vận với vần ôm ở đoạn kết.
Ở thời điểm trước năm 1940 mà đã sử dụng vần phóng khoáng và điệu nghệ như vậy thì thật đáng nể phục.
Cũng xin nói đến một điểm nổi bật về kỹ thuật thơ của VHC là sự chuyển đoạn ăn khớp, khéo léo - từ ý này bước qua ý khác rất ngọt.

     a/ Đoạn 1 qua đoạn 2
     Từ:

Lòng nghiêng tràn hết yêu thương
Bước chân còn nhịp Nghê Thường lẳng lơ.


  qua:

Ánh đèn tha thướt
Lưng mềm não nuột dáng tơ
Hàng chân lả lướt
Đê mê hồn gửi cánh tay hờ.

Vừa nói “hết yêu nhưng còn mê nhảy” đã chuyển qua cảnh ôm em trên sàn nhảy. Sự kết nối thật tương hợp.

     b/ Đoạn 2 qua đoạn 3
     Từ:
Còn chưa say, hồn khát vẫn thèm men
     qua:
Say đi em! Say đi em!
     Đều nói đến rượu, kết nối hợp lý.

     c/ Đoạn 3 qua đoạn 4
    Từ:

Say không còn biết chi đời
     qua:
Nhưng em ơi
Đất trời nghiêng ngửa

Vừa thú nhận “Say không còn biết chi đời” đã thấy “Đất trời nghiêng ngửa”. Mối liên hệ nhân quả, không một kẽ hở.
Nhờ sự chuyển đoạn khéo léo như vậy nên tứ thơ thông thoáng, bài thơ nhất khí liền mạch, cảm xúc lớn mạnh nhanh chóng.
                   
Điệp Vận Ở Phần Sau Đoạn 3 - Nói Về Cơn Say
                                                                                
Ta quá say rồi
Sắc ngả màu trôi...
Gian phòng không đứng vững
Có ai ghì hư ảnh sát kề môi
Chân rã rời
Quay cuồng chi được nữa
Gối mỏi gần rơi!
Trong men cháy giác quan vừa bén lửa
Say không còn biết chi đời

Có 9 câu thơ ngắn mà đến 6 lần vần ôi (hoặc ơi) - điệp vận đến mức thoạt nhìn qua là đã mất cảm tình. Nhưng thật lạ! Đọc lên không những không thấy ngán mà còn thấy hồn mình như bị dính chặt vào ý thơ - cơn say thực sự, “say không còn biết chi đời” - của tác giả. Với cơn say ở đỉnh điểm như vậy, không còn chỗ cho lý trí và con đẻ của nó là sự dối trá, bám víu. Năm câu sau của đoạn kết đúng là tiếng lòng chân thật.

Điệp vận kiểu ấy, theo tôi, nếu là người làm thơ tỉnh táo, chắc là sẽ tránh xa. VHC, trong lúc lạc lần trí, đã hiên ngang bước vào “bãi mìn” ấy, nhưng nhờ thế, đã tạo được một đoạn thơ độc đáo, có giá trị như một con dấu chứng nhận sự chân thật cho đoạn kết, góp phần hết sức quan trọng vào sự thành công của thi phẩm Say Đi Em.

Đoạn Kết Tuyệt Vời

Sau khi đã uống đến “Say không còn biết chi đời” thi sĩ đã cho tuôn ra đoạn thơ:

Nhưng em ơi
Đất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt Thành Sầu chưa sụp đổ
Đất trời nghiêng ngửa
Thành Sầu không sụp đổ, em ơi!

Đoạn thơ hay cả về ngôn ngữ, thi ảnh, cấu trúc, âm điệu và nhịp điệu. Đặc biệt điệp ngữ ở hai cụm từ “em ơi” và “đất trời nghiêng ngửa” cho độc giả như tôi cái cảm giác đang nghe CODA của một bản nhạc, được viết rất khéo bởi một nhạc sĩ tài danh. Thành sầu của ông như đang chịu một trận động đất mạnh đến mức “đất trời nghiêng ngửa” mà vẫn “chưa sụp đổ” và đã chuyển từ chỗ “chưa sụp đổ” – còn chờ đợi, còn một chút hy vọng mong manh - đến chỗ “không sụp đổ” – nghĩa là đã hoàn toàn tuyệt vọng. Nỗi buồn sầu đã dâng lên đến đỉnh điểm. Chữ “không” ở câu cuối “đắt” như kim cương và ẩn dụ của cả đoạn thơ thật tuyệt vời.

Cảm Xúc Dâng Tràn - Hồn Thơ Lai Láng

Cảm xúc tầng 1: Theo tôi, VHC thành công trong việc trao tặng độc giả những cảm giác khoái trá ở tầng 1. Ngôn ngữ thơ của ông chắt lọc, trau chuốt, hình tượng đẹp một cách lộng lẫy, kiêu sa, câu thơ mạch lạc, trong sáng. Nói theo ngôn ngữ bóng đá, kỹ thuật cá nhân của các cầu thủ trong Say Đi Em điêu luyện, thuộc đẳng cấp cao, nhìn qua là thấy có cảm tình và nể phục.
Cảm xúc tầng 2:  Trong Say Đi Em thế trận chữ nghĩa được dàn trải hợp lý, tạo hiệu quả tối đa cho việc chuyển tải tứ thơ. Vần và nhịp điệu giúp dòng chảy của tứ thơ thông thoáng. Độc giả như được xem một trận bóng đá mà đội phe mình công thủ, lên xuống nhịp nhàng, đấu pháp toàn đội kín kẽ, hoàn hảo.
Cảm xúc tầng 3: Là thứ cảm xúc cao cấp nhất trong thơ - nếu đến mức dâng tràn, ta có hồn thơ. Để có hồn thơ bài thơ cần mấy điều kiện sau đây:
1/ Tứ thơ không phân mảnh đứt đoạn mà phải được dàn trải sao cho ý này nối tiếp ý kia, không ngừng nghỉ.
2/ Thể thơ phải như con kênh thông thoáng để khi câu chữ từ tứ thơ tuôn xuống có thể thành dòng thơ. Trong Say Đi Em, chỉ mới bước vào đầu đoạn 2 là men rượu đã ngấm, cảm xúc quyện lấy tứ thơ để cùng chảy một dòng.
3/ Thi sĩ phải nổi điên để cảm xúc sôi lên phủ mờ lý trí. Trường hợp Say Đi Em, bắt đầu vào đoạn 3 là lý trí đã trốn chạy khá xa, và đến giữa đoạn 3 thì hoàn toàn mất dạng. Cứ thế cho đến lúc thi sĩ “Say không còn biết chi đời”
4/ Phải kết hợp để khi cảm xúc lên đến đỉnh điểm (cao trào) thì cũng là lúc thi sĩ tuôn ra điểm cốt yếu của tứ thơ. Đó sẽ là tiếng lòng chân thật của ngài. Ở Say Đi Em là đoạn 3 và đoạn 4.
Nếu thi sĩ cao hứng đến mức nổi điên mà điều kiện 1 và 2 không được thỏa mãn thì dù không có hồn thơ bài thơ cũng có chút ít cảm xúc tầng 3. Đây là thứ cảm xúc cho độc giả cảm giác khoan khoái đặc biệt hơn nhiều so với cảm xúc tầng 1 và 2.
Say Đi Em không những có đủ 4 điều kiện trên mà điều kiện nào cũng đạt đến mức hoàn hảo, hơn nữa, dòng chảy của tứ thơ nhanh và mạnh, nên có thể nói mà không sợ quá lời: Bài thơ có cảm xúc dâng tràn, hồn thơ lai láng.
So sánh với Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác - một bài thơ được nhiều người khen là “hào khí ngất trời” - cảm xúc của Say Đi Em mạnh hơn nhiều

Những Nét Chính Trong Nghệ Thuật Thơ Của “Say Đi Em”

Say Đi Em là bài thơ có độ dài bậc trung – 44 câu, 283 chữ, mỗi câu trung bình có 6,4 chữ. Nhưng chỉ với số chữ, số câu như thế tác giả đã đưa vào khá nhiều tuyệt chiêu thi ca. Để độc giả không bị phân tâm hoặc sa đà vào những tiểu tiết có tính “kỹ thuật cá nhân” (câu chữ) ở đây tôi chỉ nhắc đến tài thơ của thi sĩ về mặt thế trận và cảm xúc. “Kỹ thuật cá nhân” sẽ được ghi lại ở “Phần Đọc Thêm”

ƯU ĐIỂM:

1/ Vẫn còn vóc dáng, âm điệu của Thơ Mới nhưng có nhiều phá cách độc đáo.
2/ Tứ thơ đáng chú ý: Nỗi lòng phức tạp của tác giả – mặc cảm tội lỗi nhưng đáng thương, đáng kính trọng, đặc biệt là sự can đảm, dám nói lên sự thật.
3/ Bài thơ có tính nhạc cao, nhất là nhịp điệu. Thơ, nhạc, họa hòa quyện lấy nhau thành một khung cảnh vừa sống động, vừa lung linh mờ ảo.

4/ Sử dụng điệp vận nặng tay ở phần sau đọan 3 - cột chặt hồn người đọc vào ý thơ, vào dòng cảm xúc, làm nổi bật ý nghĩa của đoạn thơ.
“Ta quá say rồi … Say không còn biết chi đời”.
5/ Đoạn kết hoàn hảo, để lại ấn tượng sâu sắc.
6/ Vần rất đậm nhưng không có hội chứng nhàm chán vần, đọc lên nghe không ngán, không nhàm, không chán. Không bị đắp mô nên tứ thơ thông thoáng, chảy thành dòng; cảm xúc cũng chảy thành dòng, đưa tứ thơ lên đỉnh điểm, tạo được cao trào.
7/ Lý trí trốn biệt, lời thơ Thật (viết hoa), cảm xúc dạt dào, hồn thơ lai láng.
8/ Đạt được mục đích quan trọng nhất, cao cả nhất của thơ là cho thi sĩ với độc giả, người với người cơ hội được trao đổi tâm tình bằng Tiếng Người Chân Thật. Vũ Hoàng Chương – tác giả của Say Đi Em - xứng đáng có một vị trí danh dự trong Bến Bờ Thi Ca.

KHUYẾT ĐIỂM:

Trong 3 câu

Đôi người gió sương
Đầu xanh lận đận, cùng nhớ thương, càng xót thương...

Hoa xưa tươi, trăng xưa ngọt, gối xưa kề, tình nay sao héo?

Cụm từ “cùng nhớ thương” hơi “chõi” với “tình nay sao héo”. Hai người “cùng nhớ thương” thì sao tình lại héo?

Vũ Hoàng Chương Say Thật Hay “Tỉnh Như Sáo”

Nhà phê bình Thu Tứ dẫn lời của nhà phê bình Vũ Ngọc Phan về bài thơ Say Đi Em như sau:
Về tập Thơ say (1940) của Vũ Hoàng Chương, trong Nhà văn hiện đại Vũ Ngọc Phan viết “(tác giả) rất chú trọng đến sự gọt dũa lời thơ (...) Ðọc thơ ông người ta thấy ít cảm động (...) Người ta có cái cảm tưởng đó chỉ là những lời nhớ hão, thương hờ.” Riêng về bài sau đây (Say Đi Em), nhà phê bình nhận xét “cái say (của Vũ Hoàng Chương) là cái say phát ra ở điệu thơ, ở nghệ thuật của ông, hơn là ở những tính tình ông thổ lộ.”(1)
Và nhà phê bình Thu Tứ đưa ra cảm tưởng của mình:
Ðọc thơ ông Vũ này, rồi đọc lời bình thơ của ông Vũ kia, thấy phân vân. Có phải Vũ Hoàng Chương “nhớ hão, thương hờ”? Hay thực ra ông nhớ thật, thương thật, chỉ những lời quá trau chuốt của ông gây cảm tưởng kém chân thành?
“Ta quá say rồi”, nhưng lời thơ của ta cứ tỉnh như sáo, rắc rối hình như là ở đó...(1)

Mặc dù rất kính trọng kiến thức rất rộng của hai nhà phê bình Thu Tứ và Vũ Ngọc Phan về Văn Học, tôi không đồng ý với nhận định của hai ông về bài thơ Say Đi Em.
Trong số rất nhiều định nghĩa thơ tôi may mắn gặp được định nghĩa đề cập đến thời điểm thi sĩ cầm bút làm thơ của William Wordsworth:
"Poetry is the spontaneous overflow of powerful feelings: it takes its origin from emotion recollected in tranquility”.
"Thơ là cảm xúc mạnh mẽ tự động trào ra, khởi đi từ cảm xúc được hồi tưởng trong sự tĩnh lặng." (5)
Có nghĩa là, trái với suy nghĩ của nhiều người, tuyệt đại đa số thơ được sáng tác, không phải ngay lúc tác giả tiếp cận với cảnh thơ mà là sau đó một thời gian – dài ngắn tùy thi sĩ, tùy “độ lớn rộng” của đề tài, của tứ thơ và độ dài của bài thơ. Đó là thời gian ấp ủ, thai nghén tứ thơ. VHC viết Say Đi Em - một bài thơ bề thế (44 câu, 283 chữ) - không phải lúc say bí tỉ ở vũ trường mà là một lúc tĩnh lặng nào đó khi đã về nhà. Có thể sau đó vài ngày. Có thể vài tuần, vài tháng, và cũng có thể cả năm.

Từ một câu nói, một cảnh tượng hay một cái gì đó tình cờ khơi gợi, kỷ niệm xưa bùng cháy trong tâm khảm và thi sĩ ghi lại bằng sự hồi tưởng của mình.

Câu nói của Thu Tứ
“Ta quá say rồi’, nhưng lời thơ của ta cứ tỉnh như sáo, rắc rối hình như là ở đó...”
là nhận xét của một người chưa làm thơ, hoặc làm thơ mà chưa hiểu được, chưa thấy được, chưa ý thức được tiến trình làm thơ của mình.
“Ta quá say rồi” không phải là lời của VHC lúc đang say rượu ở vũ trường mà là phát biểu của một VHC khác, ở một nơi khác, đang hồi tưởng, để ghi lại bằng thơ cái tâm trạng của anh chàng VHC say bí tỉ ở vũ trường hôm đó.
Khi thi sĩ cao hứng đến mức nổi điên, con chữ cứ liên tục trào ra ngòi bút. Lúc ấy, tính “xạo” của cái tôi văn hóa (và cái tôi teo chim, nếu có) sẽ biến mất; những gì viết ra sẽ là sản phẩm (không gian dối) của cái tôi đích thực. Tuy nhiên, lời thơ và cả thế trận chữ nghĩa – dù không có sự kiểm soát của lý trí - vẫn mang dáng dấp đẳng cấp của nhà thơ. Ngôn chữ trau chuốt, cao sang không vì thế mà chuyển thành bình thường, dân dã. Câu thơ gọn gàng, trong sáng không vì thế mà thành tối mù, khó hiểu.
Hơn nữa, khi tứ thơ đã dàn trải xong, thi sĩ có quyền quay lại - với sự hỗ trợ của lý trí - để điều chỉnh, sửa chữa, miễn là đừng “đắp mô” cản hoặc làm lệch dòng chảy của cảm xúc.
Hồn thơ, tức là cái hơi nóng của cảm xúc tầng 3, không phải cứ mò mẫm, nắn bóp từng chữ, từng câu là “bắt” được nó. Cần phải có một tâm hồn nhạy bén, có thể “cảm” được “hận thù đằng đằng”, “đau thương chất ngất”, “hào khí ngất trời” … không phải từ con chữ, từ câu thơ, mà từ “giữa những hàng kẻ” để “lấy hồn ta hiểu hồn người” (Hoài Thanh).

Trong bóng đá, không phải lúc nào cầu thủ trên sân cũng tỉnh táo đi bóng, chuyền bóng, sút bóng theo đúng bài bản của huấn luyện viên đưa ra. Đôi khi tình huống xảy ra quá nhanh, không có thì giờ để suy nghĩ tính toán. Lúc ấy cầu thủ phải dựa vào sự nhạy bén, vào giác quan thứ 6 của mình để phản ứng, để chạy, để chuyền, để sút. Rất nhiều khi phản ứng ngẫu hứng như vậy lại sản sinh ra những đường chuyền “đẹp như mơ”, những cú đệm bóng nhẹ nhàng nhưng lại “bẻ gẫy lưng” thủ thành đối phương ghi bàn thắng. Nhiều cầu thủ xem lại khúc phim đá ngẫu hứng của mình cũng lắc đầu, le lưỡi, không hiểu sao mình có thể “tài tình” như thế được. Chính lúc cao hứng, nổi điên, chơi xuất thần, “phi bài bản” như vậy đã tạo nên nét đẹp đặc biệt của bóng đá, mới đưa bóng đá lên hàng nghệ thuật.
Trong Nhìn Từ Xa … Tổ Quốc, Nguyễn Duy – trong lúc cao hứng đến mức điên tiết – đã viết về những tệ hại của XHCN và con người Việt Nam đúng và thật quá, ngôn ngữ hình tượng mạnh mẽ, sinh động và táo bạo quá. Chính ông sau này cũng phải công nhận “khi viết xong thì chính bản thân tôi cũng bất ngờ bởi vì không nghĩ là mình viết được những câu thơ như vậy.”

Một ông thi sĩ Trung Quốc nào đó, nói về kinh nghiệm của mình trong việc uống rượu đã viết:

Dục phá thành sầu duy hữu tửu

Dịch sát nghĩa:
Chỉ có rượu mới phá được thành sầu.
Câu đó có thể đúng với rất nhiều nguời bầu bạn với Thần Men, nhưng với Vũ Hoàng Chương trong Say Đi Em thì có sự khác biệt; phải chăng là do nỗi sầu của ông quá sâu đậm? Khi đã đến đỉnh điểm của cơn say - “Say không còn biết chi đời” – thi sĩ họ Vũ đã thốt lên:

Nhưng em ơi
Ðất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt thành sầu chưa sụp đổ
Ðất trời nghiêng ngửa
Thành sầu không sụp đổ, em ơi!

những lời mà theo tôi, hoàn toàn thoát khỏi sự kiềm tỏa của lý trí, và do đó, tuyệt đối không thể là những lời dối trá.
Hai nhà phê bình văn học tiếng tăm, đặc biệt là Vũ Ngọc Phan, mà không cảm được hồn thơ, không nhận ra được sự chân thật trong lời thơ, tứ thơ của Say Đi Em thì kể cũng lạ.

Kết Luận

Vũ Hoàng Chương, bằng kỹ thuật thơ điêu luyện của mình, đã tạo được dòng chảy thông thoáng cho tứ thơ. Nhờ thế cảm xúc mạnh mẽ trong cơn say cũng chảy thành dòng, sóng sau dồn sóng trước. Khi cơn say lên đến đỉnh điểm, cảm xúc dâng lên cao ngất, cũng là lúc tứ thơ vừa chấm dứt – bài thơ kết thúc ở cao trào, hồn thơ lai láng. Với cảm xúc ở tầng 3 mạnh mẽ như thế, hồn thơ nóng bỏng như thế, lý trí đã bị phủ mờ. Lời thơ lúc ấy – trào ra qua một ngõ ngách nào đó từ vô thức – đích thị là tiếng lòng chân thật của thi sĩ.

Trong bài thơ Say Đi Em, thi sĩ của chúng ta, nhờ thấm hơi men, đã có thể đưa lý trí của mình “đi chỗ khác chơi” để có một thi phẩm vừa chân thật vừa thấm đẫm hồn thơ. Ông đã làm được điều mà ngay cả những nhà thơ siêu thực – bỏ rất nhiều công sức để nghiên cứu, thử nghiệm, nhằm loại bỏ lý trí (để tìm lời thật) trong thơ – cũng chỉ thành công phần nào về mặt hình thức. Họ tuy tạo được những vần thơ “phi logic”, có “những va đập chói lòa của từ ngữ” (J. Vaché), có khả năng ngăn cản lý trí của người đọc bước vào bài thơ, nhưng đồng thời cũng chặt luôn cây cầu giao cảm giữa tác giả và độc giả (7).

Theo tôi, với bài thơ Say Đi Em, Vũ Hoàng Chương đã xứng đáng được mời vào ngồi một chỗ trang trọng trong Bến Bờ Thi Ca, nơi tụ hội những thi sĩ đã có tác phẩm mà qua đó, nhờ đó, thi sĩ với độc giả được cùng nhau trò chuyện bằng Tiếng Người Chân Thật.

                                                                Phạm Đức Nhì
                                                           nhidpham@gmail.com

CHÚ THÍCH:

1 / (Vũ Hoàng Chương, Thu Tứ, gocnhin.net)
(http://www.gocnhin.net/cgi-bin/viewitem.pl?935)

2/ (Chi Tiết Thú Vị Về Khoa Thi Nho Học Cuối Cùng, Chí Đức, kienthuc.net.vn)
(https://kienthuc.net.vn/tham-cung/chi-tiet-thu-vi-ve-khoa-thi-nho-hoc-cuoi-cung-405397.html)

3/ (Vũ Hoàng Chương, Wikipedia.org)
(https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C5%A9_Ho%C3%A0ng_Ch%C6%B0%C6%A1ng)

4/ (Thiên Tình Sử Của Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương - Phần 1, Phạm Thị Nhung, Cỏ Thơm)
(http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=103&Itemid=1)

5/ (William Wordsworth Quotes, Brainy Quote, brainyquote.com)
(https://www.brainyquote.com/quotes/william_wordsworth_390135)

6/ (Thiên Tình Sử Của Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương - Phần 2, Phạm Thị Nhung, Cỏ Thơm)
(http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=808&Itemid=49)

7/ Vài câu, đoạn thơ Siêu Thực:

     a/ Bông hoa này của núi rừng đã vàng đi như những giọt lệ của chúng ta (Shéhadé)

     b/ Dây trường xuân / thân thể tôi...
         Đảo / cái bụng của nó...
                                               (Char)

     c/ Trên cây cầu, vào cùng một giờ
Cũng vậy hạt sương trên đầu con mèo cái đang tự dối mình.
                                                                  (Bréton)

http://khoavanhoc.edu.vn/index.php/liluan-phebinh/268-hinh-nh-trong-th-sieu-thc

      d/
          Lẵng xuân bờ giũ trái xuân sa
          Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà
          Nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm
          Tỳ bà sương cũ đựng rừng xa

          Buồn hưởng vườn người vai suối tươi
          Ngàn mây tràng giang buồn muôn đời
          Môi gợi mùa xưa ngực giữa thu
          Duyên vàng da lộng trái du ngươi

          (Buồn Xưa, Nguyễn Xuân Sanh, thivien.net)

Phần Đọc Thêm

Nét Đẹp Kiêu Sa Của Ngôn Ngữ Thơ Trong “Say Đi Em”

Ở đây tôi xin tuyển chọn một số chỗ có ngôn ngữ thơ hay, đẹp để thay cho mục Ngôn Ngữ Thơ, lẽ ra phải có, trong bài bình thơ. Mục đích là để bài viết khỏi bị loãng vì những chi tiết chưa đến mức thật quan trọng. Mong những độc giả thích lối bình thơ bài bản thông cảm và lượng thứ.

1/

Hồn ngả lâu rồi nhưng chân còn dẻo
Lòng trót nghiêng mà bước vẫn du dương
Lòng nghiêng tràn hết yêu thương
Bước chân còn nhịp Nghê Thường lẳng lơ

Đoạn thơ này chứng tỏ tình của VHC đối với mấy cô ca ve là thứ tình hờ. Chỉ cần hồn ngả, lòng nghiêng là “yêu thương” trôi tuột mất một cách dễ dàng và nhẹ nhàng.
Tôi nhớ đến bài thơ Nghiêng của La Thụy. Nhà thơ, chủ trang web Bâng Khuâng, cho lòng chao nghiêng để hương mê lắng đọng

Chừ hoài niệm
Len lỏi ngoằn ngoèo trong ký ức
Tình xưa hẹn ước.

Có “chông chênh” thì chỉ “rơi mất ánh trăng thề” chứ tình thì vẫn đầy ắp. Thi ảnh của Nghiêng đẹp hơn, nhưng VHC còn sử dụng 2 câu sau để làm cầu nối với đoạn kế tiếp, và đó là một mặt của tấm bản lề vừa khít. Cho nên xét về thơ thì có thể nói kẻ tám lạng người nửa cân. Còn nói về tâm hồn thì nhà thơ La thụy hiền lành và dễ thương hơn.
2/

Ánh đèn tha thướt
Lưng mềm não nuột dáng tơ
Hàng chân lả lướt
Đê mê hồn gởi cánh tay hờ

Ai khoái món khiêu vũ lại thường được nhảy với đào ruột của mình như Vũ Hoàng Chương sẽ dễ thấm, dễ cảm được cái hay của câu thơ “Đê mê hồn gởi cánh tay hờ” này.

3/

Say đi em! Say đi em!
Say cho lơi lả ánh đèn
Cho cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt

Dùng những cụm từ “lơi lả ánh đèn”, “cung bậc ngả nghiêng” để nói về trạng thái say đã là xuất sắc rồi. Còn say cho “điên rồ xác thịt” thì quá tuyệt.

4/
Năm 1948, trong bài Đôi Bờ của Quang Dũng có 2 câu

Thoáng hiện em về trong đáy cốc
Nói cười như chuyện một đêm mưa

nói về hình ảnh, kỷ niệm xưa ẩn hiện “trong đáy cốc”, đẹp một cách hiền dịu.
VHC viết Say Đi Em trước đó khoảng 10 năm cũng có câu
 “Có ai ghì hư ảnh sát kề môi”
cũng diễn tả những ảnh hình ẩn hiện ở đáy ly rượu.
Hay, có lẽ cả hai đều hay, nhưng theo tôi, câu thơ của Quang Dũng còn hơi tỉnh (không đủ men say) còn câu thơ của VHC mạnh bạo hơn, cuồng nhiệt hơn.
(Nguồn: Quang Dũng - tác phẩm chọn lọc, NXB Trẻ, 1988)

5/ Chữ “không” ở câu cuối thật “đắt”

“Đất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt thành sầu chưa sụp đổ
Đất trời nghiêng ngửa
Thành sầu không sụp đổ, em ơi.”


Xin được lập lại mấy lời về cái “đắt” của chữ “không” này
Thành sầu của ông như đang chịu một trận động đất mạnh đến mức “đất trời nghiêng ngửa” mà vẫn “chưa sụp đổ” và đã chuyển từ chỗ “chưa sụp đổ” – còn chờ đợi, còn một chút hy vọng mong manh - đến chỗ “không sụp đổ” – nghĩa là đã hoàn toàn tuyệt vọng. Nỗi buồn sầu đã dâng lên đến đỉnh điểm. Chữ “không” ở câu cuối “đắt” như kim cương.

Trong lúc tra cứu để viết bài này tôi có nghe ca sĩ Anh Thư hát Say Đi Em, bài thơ của Vũ Hoàng Chương được Nguyễn Dũng phổ nhạc. Bản nhạc kết thúc ở câu “Đất trời nghiêng ngửa, đất trời nghiêng ngửa, mà thành sầu chưa sụp đổ, em ơi”. Nhạc sĩ Nguyễn Dũng – không biết vì lý do gì – đã bỏ câu “Thành sầu không sụp đổ”. Thật đáng tiếc, anh đã bỏ đi chữ hay nhất, câu thơ hay nhất của bài thơ.

Mời độc giả, nếu muốn, nghe bản nhạc ở link sau đây:
https://www.youtube.com/watch?v=5NhMaivUgG0

6/ Hai chữ “em ơi” ở câu đầu và câu cuối đoạn 4:

Nhưng em ơi
Ðất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt thành sầu chưa sụp đổ
Ðất trời nghiêng ngửa
Thành sầu không sụp đổ, em ơi!

Về ý nghĩa thì gần như dư thừa, chẳng đóng góp được gì, nhưng được đặt đúng chỗ và kết hợp với nhau một cách khéo léo đã tạo được âm vang tuyệt vời cho đoạn kết.

READ MORE - “SAY ĐI EM”, MỘT BÀI THƠ “TỚI BẾN” – Phạm Đức Nhì