Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, March 16, 2013

TÔI VỀ ĐÂY KHÔNG EM! - Châu Thạch

                             

Tôi về đây không em !
Đường Cổ Thành vắng vẻ
Đêm càng khuya sao rụng càng nhiều
Trăng tàn úa trôi đi lặng lẽ
Bước thời gian làm run nhẹ màn nhung.

Tôi về đây không em!
Ngày tháng muôn trùng
Rêu thương nhớ chập chùng lên mái phố
Và xa vắng con đường cổ độ
Đã vì em vỡ lở một chiều.

Tôi về đây không em!
Cả vũ trụ cô liêu
Hồn muôn vật tiêu điều gối mộng
Buồn da diết những đêm mưa gió lộng
Nghe hồn ai rỉ rả khóc ngoài hiên
Tôi đi vào trong thương nhớ vô biên
Giữa cô độc riêng nghe hồn gió lốc .

Và tâm tư tê tái
Và băng hoại tâm can
Tình hỏa thiêu còn lại chút tro tàn
Khi hồi tưởng mở toang vòm đáy mộ.

Tôi về đây không em !
Không em !
Không em !
                                Châu Thạch
                                truongvantran@hotmail.com
READ MORE - TÔI VỀ ĐÂY KHÔNG EM! - Châu Thạch

Vũ Miên Thảo - EM VÀ NÚI VÀ THÁNG TƯ

Tác giả Vũ Miên Thảo


núi tháng tư hoa cỏ thơm hương
em về chốn xưa
hoa môi chiều rực nắng
lãng mạn mùa yêu, gió hát
hây hây má hồng
nắng chải sợi cô đơn.

núi tháng tư
ngắt cành hoa cúc dại
chiều không anh
thơ thẩn bước chân buồn
khẻ khàng đau từ nỗi buồn quay lại
núi xa người
xám nắng má cô đơn

mây tháng tư
rớt nồi buồn, rối tóc
xoã ưu tư
rưng rức giọt mi rơi
biêng biếc xuân ...
nay hanh  hao môi ngọc
tháng tư - buồn
đau nhói  áng mây rơi!

VMT
READ MORE - Vũ Miên Thảo - EM VÀ NÚI VÀ THÁNG TƯ

EM CÒN CHI ... ? - Thy Lệ Trang

 HỌA BÀI THƠ "NGHIÊNG GẦN ĐI EM" CỦA CHÂU THẠCH

Tác giả Thy Lệ Trang


Em còn chi nửa hở anh?
Có chăng chỉ chút mộng lành về đêm
Trong mơ anh vẫn nhớ em
Vẫn thương ánh mắt êm đềm ... nhìn lên ...
Bao năm tình ngỡ lãng quên
Chênh vênh bóng nhỏ, sầu tênh cuộc đời
Em còn chi hởi người ơi ?
Chỉ đầy tiếc nuối, chỉ vơi xuân thì
Ngỡ ngàng lệ đẫm tràn mi
Xót xa từ thuở chia ly cuộc tình
Mất rồi tháng mộng, ngày xinh
Vườn xưa bướm lạc, hoa trinh nghẹn ngào
Em còn chi ... giữa ba đào ...
Lang thang đi kiếm vì sao cuối trời
Mênh mông tiếng vọng à ơi
Khuất trong gió núi những lời đêm ru
Trước sau,sau trước mịt mù
Trăng mùa Thu khóc lá Thu úa màu
Em còn chi ... cuộc tình đau
Lần theo hoang vắng ... chìm vào hư vô ...
Hồn thơ đầy ắp một bồ
Trải theo mây nước Tây hồ lặng yên
Em mơ một cõi thần tiên
Có anh đứng đón về miền thương yêu

Ngàn năm sau tuổi  về chiều
Chỉ xin một chổ tịch liêu ... ta nằm ...

              THY LỆ TRANG
Massachusets
   
READ MORE - EM CÒN CHI ... ? - Thy Lệ Trang

Minh Tâm và Quỳnh Hoa PHỤNG HỌA THƠ CỤ QUANG MINH



DI THƠ CỦA CỤ QUANG MINH :



Bà già đi lượm mù u,

Bỏ quên ống ngoáy chổng khu la làng:



Bớ hỡi làng ơi, ống ngoáy tôi

Quân gian nó cướp mất đâu rồi!

Mù u tôi lượm bên vườn quýt,

Chày cối nó mò gốc gáo đôi.

Nhịn đói cả ngày còn sống được,

Ghiền trầu nửa bữa chết đi thôi...

Leng keng xét lại, còn trong túi,

Lẩm cẩm, già nôn khúc khích cười.



QUANG MINH






BÀI HỌA CỦA MINH TÂM



Bà già đi lượm mù u,

Bỏ quên ống ngoáy chổng khu la làng:



Ống ngoáy nơi nào, chỉ giúp tôi...

Có ai chơi xấu lấy đi rồi!

Trầu xanh mềm mượt nằm cô lẻ,

Cau trắng nồng nàn đợi có đôi.

Răng cỏ không còn, nhai chẳng được,

Đồ nghề đánh mất, nhịn mà thôi...

Sờ tay vô túi nghe cồm cộm,

May quá còn đây, thích chí cười



MINH TÂM





BÀI HOẠ CỦA QUỲNH HOA



Bà già đi lượm mù u,

Bỏ quên ống ngoáy chổng khu la làng:



Trời ơi bạn thiết của đời tôi !

Ống ngoáy thương yêu bị trộm rồi

Nhớ lúc trầu xanh tiêm thắm lá

Thèm khi cau nghĩa quệt thành đôi

Thiếu tình ý ngọt còn qua được

Vắng chất vôi nồng chịu chết thôi

Tìm đổ mồ hôi, la khản tiếng

Giở thùng thấy bậu, ngẩn ngơ cười.



TT.QUỲNH HOA
READ MORE - Minh Tâm và Quỳnh Hoa PHỤNG HỌA THƠ CỤ QUANG MINH

NHÂN SINH QUAN TRONG PHẬT GIÁO - Lê Hoàng


                                                         
     Phàm trong cuộc sống hiện tại, con người phải liên hệ với xã hội, công ăn việc làm, cấp trên, thuộc cấp, bạn bè, anh em,và hầu như đủ thành phần trong xã hội mà công việc hằng ngày mình cần phải tiếp xúc ... thế là nhiều phiền toái, rắc rối thường hay xẩy ra cho cuộc sống. Con người phải chịu nhiều điều giáng lên trên cuộc sống, phần nhiều là đau khổ, phiền não hơn là cái hạnh phúc mưu cầu hàng ngày.

    Khi về hưu, về già tâm hồn con người thường lắng đọng, tư tưởng có kẻ yếm thế, có người thì lạc quan, có khi đâm ra trầm cảm. Thơ, văn, nhạc ... thường là những thứ làm cho con người nhẹ bớt đi những điều đang mang nặng trong lòng. Họ có thể tụ họp thành từng "nhóm" để cùng nhau đối ẩm trong những lúc "trà dư, tửu lạc". Cùng nhau ca hát, hay ngâm thơ, xướng họa v.v... Ngày nay, nhờ mạng internet nên cho dù xa cách hàng vạn dặm vẫn cứ ngỡ như là gần bên nhau để cùng nhau trao đổi tâm tình qua thi ca, thơ, nhạc v.v...
     Tuy vậy, không phải trong lòng con người ai cũng "cỡi mở", cũng thoái mái giao lưu một cách rộng lượng.
      Những điều hỷ, nộ, ái, ố.... lẻ tất nhiên phải xẩy ra ... nhưng lắm ai bỏ chín làm mười mà hầu như bản chất: tham, sân, si lúc nào cũng tồn tại không ít trong lòng họ.
    Càng về tuổi già, con người càng trầm lặng và dễ tha thứ, chịu đựng hơn tuổi trẻ . Sau đây, tôi xin trình bày qua một vài điều khái niệm về "nhân sinh quan " qua Phật pháp trong giáo lý của  đức Phật .
      Theo định nghĩa của Phật giáo: "Phật pháp" là :  Giáo pháp do đức Phật Thích Ca nói ra với mục đích chỉ dạy về vấn đề chân lý của vũ trụ và nhân sinh. Giáo pháp của đức Phật nói ra rất nhiều, về sau các đệ tử Phật kế tập, ghi chép lại thành ba tạng kinh điển. Nhưng giáo pháp đức Phật nói ra tóm lại có bốn thứ đạo lý căn bản rất quan trọng, bốn điều đạo lý này, tât cả hai phái Đại Thừa và Tiểu Thừa đều phải ghi nhận, làm nấc thang chính cho bước đường tu học để tiến tới Phật quả.
     Bốn thứ đạo lý đó là :
      1/ Vô thường:  Hết thảy mọi sự vật trên thế gian này luôn luôn thay đổi, từng giây, từng phút không có gì tồn tại vĩnh cửu.Vì sự vật vô thường, biến đổi, nên con người phải: Sinh, Lão, Bệnh, Tử. Thế giới thì: Thành, Trụ, Hoại, Không.
    Chúng ta, vì vọng tưởng mê chấp, không hiểu mà cho là thuờng trụ, không thay đổi, nên mới tham, cầu ... không biết thỏa mãn, rồi mê chấp, cái gì cũng cho là của mình (ngã chấp) để khởi ra những điều mê lầm, tạo ra những ác nghiệp, nên phải chịu luân hồi sinh tử, trong nhiều đời nhiều kiếp, không được giải thoát. Đức Phật chỉ dạy hai chữ VÔ THƯỜNG với mục đích muốn phá trừ những vọng chấp của con người. Khi chúng ta đã hiểu rằng tất cả những sự vật trên thế gian này đều là vô thường thì tất cả mọi sự mọi vật trên đời này cũng như mây trôi, nước chảy, không có gì là thực cả, như trong kinh Kim Cang chép: "Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điện, ưng tác, như thị quán" nghĩa là tất cả các Pháp hữu vi đều như là giấc chiêm bao, như bọt nuớc, như sương ban mai, như điện chớp, nên phải quán sát như thế.
    2/ Khổ :Chúng ta có hai thứ khổ căn bản . a/ Khổ về tâm. b/Khổ về thân. Khổ về tâm là: Tham, Sân, Si, Phiền Não; còn khổ về thân là:Già nua, Bệnh tật và Chết chóc. Nó cứ nối tiếp nhau gây nên sự đau khổ cho con người. Trong gia đình thì việc :"Cơm ăn, áo mặc, tiền bạc: khổ;  sinh ly, tử biệt: khổ; tranh đấu với nhau về vấn đề phải trái: khổ; oán ghét nhau mà đôi khi cũng phải gặp gở nhau trong công việc: khổ. Ngoài những thứ ấy ra, trong tâm ta mong muốn điều gì mà không được cũng mang khổ v.v... Con người sống trên đời mang rất nhiều thứ khổ. Nó luôn luôn khống chế ta, bắt buộc ta phải sinh hoạt theo cái khổ.
   Nếu biết khổ, quyết tâm tìm cách lìa cái khổ để tu học Phật pháp, tìm kiếm sự vui cho hết khổ. Đó là con đường tiến vào đạo Phật vậy.
    3/ KHÔNG: "Không"là gì ? Không là duyên khởi sinh ra tất cả những sự vật, tất cả những thứ gì có hình tướng trên thế giới đều do nhân duyên hòa hợp mới sinh ra. Nhân là điều kiện chủ yếu sinh ra sự vật, còn duyên là điều kiện hổ trợ để sinh ra sự vật. Nếu "duyên" còn thì sự vật còn tồn tại. Trái lại, nếu khi "duyên" hết thì sự vật sẻ bị tiêu diệt, tan rã, vì vật nên gọi là KHÔNG. Một khi đã do nhân duyên sinh, đến khi nhân duyên hết, nó sẽ không thể tồn tại. Cho nên, Phật đã dạy là KHÔNG. Như thân thể của ta do bốn đại: Đất, nước, lửa, gió ... kết thành. Khi bốn đại này ly tán, thì thân ta trở thành KHÔNG.
    4/ VÔ NGÃ:  Vô ngã là gì ?  Ngã là cái ta "le moi" . Vì chúng ta mê lầm nên chấp cái gì cũng thuộc về mình là NGÃ. Tức là chấp NGÃ . Những điều gì mình thấy biết gọi là ngã kiến, những sự thật kể cả thân thể của mình cũng không phải của mình, mà nó thuộc về bốn đại (đất, nước, lửa, gió). Người đời thường mê chấp cho nên mới nhận thân thể là của ta. Chứ theo lời Phật dạy thì thân thể chúng ta đều do năm uẩn kết lại hợp thành. Vậy năm uẩn đó là gì?  Là: "Sắc, Thụ, Tưởng, Hành, Thức". Sắc uẩn: thuộc về vật chất, còn Thụ,Tưởng, Hành và Thức thuộc về tinh thần. Năm uẩn kết thành thân thể của ta. Cũng chỉ là nhân duyên giã hợp, chứ không có thực thể, vì vậy, nó không thể tồn tại mãi mãi ... nên mới gọi là VÔ NGÃ.
     Triết lý Phật Giáo tuy cao siêu, không chỉ bàn về lý luận tôn giáo mà còn chú trọng về vấn đề thực hành, tức là muốn đem phát huy chân lý liễu ngộ của sự sinh hoạt thực tiễn hằng ngày để lý luận và phối hợp, có nghĩa là: Nói và làm phải hợp nhất thì mới đúng là chân chính phục vụ Phật Pháp.
   Sau đây qua một câu chuyện của Tô Đông Pha để chúng ta hiểu thêm về triết lý của Phật Giáo .
      Tô Đông Pha nguyên là một quan đại thần trong triều chức vụ  như bây giờ là bộ trưởng hay tương đương. Ông lại là một Phật tử rất thâm hiểu Phật pháp. Một hôm ông đến thăm ngài Phật Ấn.
     Đại Sư Phật Ấn nói "Ở đây, không có chỗ cho đại thần ngồi.(Vì trong lúc nầy vị đại sư đang thuyết pháp).Vì là người cao thâm hiểu rộng về Phật pháp nên Tô Đông Pha mới đáp lại như sau :"Tôi muốn mượn cái thân tứ đại của đại sư để làm ghế ngồi, đỡ một chút có được không ? (Đó là hai vị dùng ngôn ngữ "thiền" trong Phật giáo ).
    Đại sư trả lời :"Đại thần là người có nhiều công phu nghiên cứu Phật pháp, nên ông đã hiểu rỏ ý nghĩa cao sâu của đạo Phật rồi. Vậy tôi xin hỏi lại ngài, nếu ngài đáp lại được thì tôi sẵn sàng đem cái thân tứ đại cho ngài làm ghế ngồi. Nếu không trả lời được, thì ngài phải cởi bỏ aó mão mũ đai, huy hiệu nhà vua mà để lại ở đây.Ngài có đồng ý không?”.
     Tô Đông Pha đồng ý.
     Đại Sư hỏi: "Thưa đại thần: Đức Phật dạy:" Bốn đại đều KHÔNG, năm uẩn không phải của ta, vậy ông lấy cái gì để mà ngồi ?" Lẻ dĩ nhiên Tô Đông Pha chịu không trả lời được.
     Ông ta bèn cởi áo mũ, huy hiệu vua ban để lại như đã hứa.
     Đối với đức Phật, một bậc đã giác ngộ chân lý hoàn toàn tuyệt đối nên ngài đã đề xướng thuyết cao siêu mầu nhiệm, đó là thuyết "nhân duyên sinh" như mười hai nhân duyên hay nói cách khác là mười hai hữu chi. Hữu là tất cả sự vật trong thế giới. Chi tức là từng phần ... mà tất cả các loài chúng sinh cứ bị chìm đắm mãi mãi trong vòng luân hồi sinh tử vậy.
                                                               Lê Hoàng .
                                                             ( Alameda 15/3/2013).

READ MORE - NHÂN SINH QUAN TRONG PHẬT GIÁO - Lê Hoàng

Friday, March 15, 2013

Nguyễn Hồng Trân - HOÀNG HÔN TRÊN SÔNG QUÊ

              

Hoàng hôn trên sông quê
Đợi thuyền ghe trở về
Cập bến bờ thương nhớ
Man mác hồn say mê…
               

Ánh hồng xuống chân trời
Băng qua những sông suối
Tìm mặt nước chơi vơi
Đắm mình trong khát vọng              

               
Hoàng hôn đang thầm lặng
Thủ thỉ với mây trời
Rụt rè như e thẹn
Ta muốn nhìn mãi thôi.

                
Những chiều hè vẫn thế
Ta đợi hoàng hôn về
Nhìn mặt nước ánh hồng
Gợi cảm mối tình quê.

               
Em ơi, anh biết lắm
Hoàng hôn là hết nắng
Nhưng còn nắng trong lòng
Tối khuya càng thêm  ấm.

               
Trong những đêm thanh vắng,
Ai hiểu được mặt trời.
Đem hoàng hôn đi đâu?
Để con trùng than thở…
               
Da diết lắm em ơi!
Trời xa xôi, vời vợi .
Đất mong mỏi, hoàng hôn.
Qua đêm dài yên tĩnh.


Sáng sớm cỏ đầy sương.
Long lanh dưới mặt trời.
Như muôn ngàn viên ngọc.
Cứ lặng lẽ  rơi rơi.

                
Thấm xuống đất mãi hoài..
Em ơi, ai có hiểu
Anh mong điều kì  diệu:
Em hiểu hết lòng anh.

                
Anh ước thành sương rơi
Trên tóc em hóa ngọc
Khi bình minh chiếu rọi
Lấp lánh giữa đất trời...   


Nguyễn Hồng Trân
(Huế)       

                                    
READ MORE - Nguyễn Hồng Trân - HOÀNG HÔN TRÊN SÔNG QUÊ

THÚ SƠN THÔN - Thơ xướng họa của Trần Ngộ, Lê Đăng Mành, Trương Đình Đăng, Hồ Trọng Trí, Hoàng Kinh


Thơ mời họa:

THÚ SƠN THÔN



Giao hòa thơ nhạc để nhau nghe

Âm điệu sóc buôn cứ tọ tè

Cam quýt đầy nương không chắn đậy

Chanh bòng khắp rẫy chẳng ngăn che

Hoàng hôn cu núi gù gù gụ

Rạng sáng gà rừng gáy tẻ te

Cảnh sống sơn thôn nhiều thú vị

Hàng cau lấp loáng bóng trăng lòe



Trần Ngộ

(Lâm Đồng)



Họa 1:

PHẬN LÀNG



Quê đây ngày ấy mãi còn nghe

Nhà cửa có mô đủ nóc tè

Bão lũ mưa chan không liếp đậy

Nam lào nắng xối chẳng phên che

Triệu lần khách đến mời dừng lại

Mấy bận giặc về đuổi chạy te

Chim đậu đất lành nay khởi sắc

“Luống cày lên sỏi” cũng ưa lòe



LÊ ĐĂNG MÀNH

(HẢI LĂNG, QUẢNG TRỊ)





Họa 2:

CẢNH GIÀ



Gìà rồi trên bảo dưới không nghe

Khổ nỗi về đêm lắm bận tè

Tiệc dọn lơ mồi đâu muốn nhậu

Dù trương gãy gọng khó bề che

Ma Công biệt dược còn tiu nghỉu

Minh Mạng linh hoàn cũng chạy te

Qúa buổi xuân xanh đầy lạc thú

Tám mươi còn "ấy" chẳng qua lòe



TRƯƠNG ĐÌNH ĐĂNG

(ĐÀ NẴNG)





Họa 3:

TRƯA LÀNG ĐÔNG NAM BỘ



Âm hưởng làng quê thử lắng nghe

Xe hơi xa vẳng tiếng còi hè

Rẫy vườn hàng dậu cao ngăn chặn

Nhà cửa cổng trường chín chắn che

Chim chích chuyền cành kêu ríu rít

Mái tơ tìm trống chạy le te

Giấc trưa nhịp sống như trầm lắng

Những tối không trăng đốm lập lòe



HỒ TRỌNG TRÍ

(BÀ RỊA -VŨNG TÀU)





Họa 4:

QUẢNG BÁ SAY



Quảng bá của anh cũng dễ nghe

Âm thanh hòa quyện nhạc ti tè

Ăn mừng hoa trái mùa thơm ngát

Sum họp giao hòa dưới mái che

Gió biển Vũng Tàu thường vẫy gọi

Gà nhà thức dậy gáy te te

Phố phường sôi động người xe cộ

Dân dã nghiền thơ thích lập lòe



HOÀNG KINH

(BÀ RỊA-VŨNG TÀU)
READ MORE - THÚ SƠN THÔN - Thơ xướng họa của Trần Ngộ, Lê Đăng Mành, Trương Đình Đăng, Hồ Trọng Trí, Hoàng Kinh

NGUYỄN NGỌC HƯNG - VIẾT TỪ LÒNG BIẾT ƠN CUỘC ĐỜI - Phỏng vấn nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng - PV VNT thực hiện


Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng
“Gần ba thập niên rồi hầu như mình nằm một chỗ. Như một cái ao tù. Chẳng còn cách gì khác là cố gắng tự lắng trong, tự khai mở dòng chảy dù nhỏ nhoi để hòa vào sông, biển cuộc đời. Mỗi ngày…”  NNH











NGUYỄN NGỌC HƯNG:
VIẾT TỪ LÒNG BIẾT ƠN CUỘC ĐỜI
 
Phỏng vấn nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng, 
phóng viên tạp chí Văn Nghệ Trẻ thực hiện

Hát lên những vui buồn, nhớ thương, trăn trở… 

· Anh vừa cho ra mắt một tập thơ dày dặn với 99 bài có nhan đề Bài ca con dế lửa. Anh có thể chia sẻ đôi điều về tập thơ mới này của mình?
- Ra mắt một tập thơ mới luôn là một khó  khăn với bất kỳ ai. Mình cũng vậy. Và có  lẽ với hoàn cảnh riêng của mình thì càng khó khăn hơn. Nhớ lại tập thơ-người-lớn Những khúc ca trên cỏ cũng đã ra đời cách đây những 5 năm rồi. Mặc dù trong khoảng thời gian đó mình đã in 2 tập thơ thiếu nhi: Bốn mùa cho bé yêu- NXB Kim Đồng, 2010 và Đường em đến lớp- Sách tài trợ của Nhà Nước, NXB Kim Đồng, 2012. Nhưng bằng hữu và bạn đọc đây đó vẫn động viên mình in tập thơ mới. Thêm nữa, một số bạn văn đã viết bài bình, bài cảm nhận về thơ mình mà 13 bài trong số đó mình đã cho in vào phần phụ lục của tập thơ mới như một lời tri ân. Về bản thảo, mình là người không có ý nghĩ “văn mình vợ người” nên luôn lắng nghe, cầu thị. Vì vậy mà mình đã gửi bản thảo đến khá nhiều các nhà văn, bạn thơ để nhờ đọc và chọn giúp. Khâu này mất đến gần 1 năm. Sở dĩ mình cẩn thận như thế vì nghĩ bây giờ sách thơ xuất bản khá nhiều và cũng bị chê không ít, nếu mình sơ sót, nhầm lẫn hoặc chọn lọc không kỹ thì sẽ tạo ra một sản phẩm kém chất lượng- đồng nghĩa với phí phạm công sức, tiền của, thời gian và có lỗi với những người chọn đọc thơ mình.
Sau nhiều nỗ lực, Bài ca con dế lửa được ra đời nhờ công sức của rất nhiều “bà đỡ” đặc biệt là những nhà văn Tạ Duy Anh, Nguyễn Thiên Hương, Sông Thao, Thúy Hằng và những anh chị em làm việc ở NXB Kim Đồng đã giúp mình in ấn, gửi sách đến những địa chỉ cần gửi. Mình cũng vô cùng cám ơn những bạn học thời trung học, đại học và một số những anh chị em bạn khác đã không ngại giúp mình phát hành tập thơ này và những tập thơ trước. Giữa thời buổi văn chương “ế” như chợ chiều, có thể nói nếu không có sự ủng hộ nhiệt tình của các bạn ấy thì thật khó để mình quyết định in thơ. 

· Đọc 99 bài thơ của anh trong tập Bài ca con dế lửa, có thể phân thành nhóm các chủ đề, như Mẹ, Kí ức, Em…. Tuy nhiên, anh đã không sắp xếp chúng theo dạng chủ đề như vậy. Hẳn anh có một ý tưởng nào đó muốn chuyển tải đến độc giả trong cách sắp xếp các bài thơ của mình? 
- Đúng như bạn nhận xét tập thơ này có khá nhiều chủ đề và có thể xếp thành nhóm. Tuy nhiên mình đã không làm thế vì nghĩ những gì mình viết chỉ là tiếng lòng của bản thân, đôi khi là những suy tưởng về cõi người vốn dĩ rộng lớn và vô thường. Bi ca thường ở rất gần hoan ca, đó là không muốn nói trong hoan ca đã có mầm móng của bi ca và ngược lại. “Con dế lửa” bất chợt hát lên một “bài ca” nào đó thì mình cũng vậy. Với mong muốn được người đọc lắng nghe và đồng cảm với mình về những nỗi niềm “ướt khô trần thế” luôn đan xen, chống chéo mà mỗi người phải tiếp nhận và vượt qua.   
Thật ra mình cũng có “sắp xếp”  một chút về bài mở đầu “Tạ ơn đời mỗi sớm mai” và bài cuối “Bài ca mới về  những câu chuyện cũ”…  
      
· “Bài ca con dế lửa” gửi gắm thông điệp gì của tác giả? 
- Con dế lửa là một loại côn trùng nhỏ  bé rất gần gũi thân thuộc với những người sống ở vùng nông thôn. Nhất là với lứa tuổi thơ  và lớp… người già như mình. Nắng nghe dế kêu mưa cũng nghe dế kêu. Đêm nghe dế kêu ngày cũng nghe dế kêu. Tiếng dế kêu lúc réo rắt khi rỉ rả từng ngày từng ngày nhập vào mình lúc nào không biết nữa. Nó như những bài ca không tên, không lời mà vô cùng thiết tha, sâu lắng. Nó hồn nhiên ám ảnh mình như mùi đất ải, phân hoai, mùi cây, hương lúa, ánh trăng,  nắng nôi, bão lũ và rất nhiều những thứ vô danh khác mà chỉ những người từ nhỏ gắn bó với ruộng đồng, nương rẫy, sông suối quê hương mới cảm nhận được. Có lẽ vì mình là “dân gốc rạ” chính tông nên bị/được tiếng dế nhập vào và “định cư” trong tâm hồn luôn. Sống với nhau riết rồi đâm thân thiết như tri âm tri kỷ, đến nỗi nhiều khi mình tự thấy mình cũng là một loài dế- một “ca sĩ đồng quê” rút ruột rút lòng hát lên những vui buồn, nhớ thương, trăn trở… của bản thân và làng mạc quê hương. 

    
Không được  đầu hàng hoàn cảnh dù nghiệt ngã đến đâu 

· Cuộc đời của anh, để được như ngày hôm nay, là một nghị lực sống phi thường. Anh thường tâm niệm điều gì trong những lúc hoang mang, suy sụp nhất?
- “Nghị lực sống phi thường” là một cụm từ mang ý nghĩa quá to lớn, mình không dám nhận đâu. Nhưng quả thật mình đã trải qua khá nhiều “những lúc hoang mang, suy sụp” và đã cố gắng vượt qua. Những lúc sắp “chìm”, khi mẹ còn sống thì là mẹ, khi mẹ mất rồi thì bạn chính là những “chiếc phao cứu sinh” của mình. “Tâm niệm” của mình những lúc khó khăn nhất là nhất định không được đầu hàng hoàn cảnh dù nó nghiệt ngã đến đâu, không được buông xuôi mọi thứ, không được rời bỏ cuộc đời trước những người đã hết lòng thương yêu, không ngại cưu mang, nâng đỡ kiếp đời khốn khổ của mình dù chính họ cũng đã oằn vai trăm gánh… 

· Dù phải chịu đựng một số phận không may mắn, nhưng khi đến với thơ của anh, không hề thấy sự oán thán, chán chường, mệt mỏi. Điều gì đã giúp anh giữ được một tinh thần thơ trong trẻo, an nhiên như vậy?
- Với hoàn cảnh của mình, nếu nói không buồn không xót không đau không chán chường mệt mỏi thì không đúng. Mình đã buồn đã xót đã đau tột cùng, đã từng chán chường, mệt mỏi đến mức chẳng còn quan thiết đến bất cứ điều gì trên đời nữa. May mà mình đã kịp nghĩ và xác định: Mẹ đã hết lòng chăm lo nuôi mình ăn học nên người, bạn bè người thân cũng đã hết lòng giúp đỡ, chăm sóc mình dù cảnh sống của họ đầy khó khăn- nhất là những năm trước đổi mới, mở cửa- cả những người khác nữa, chẳng có quan hệ gì họ cũng tỏ lòng thông cảm, giúp đỡ… Vậy thì số phận- gắn liền với bệnh tật- chỉ do nơi mình mà ra thôi. Mình làm- dù là không cố ý, không biết đã làm gì- mình chịu! Than vãn, trách móc ai? Nếu “tinh thần thơ” mình có chút gì “trong trẻo, an nhiên” như bạn cảm nhận thì có lẽ nó được xuất phát từ xác tín trên cộng hưởng với tình người quá đẹp đẽ, lớn lao mà mình đã, đang và tin rằng sẽ còn được nhận từ cuộc đời! Những gì mình viết đều xuất phát từ lòng biết ơn cuộc đời, cám ơn những tấm lòng nhân hậu đã giang tay cứu vớt, đón nhận mình trong những lúc đau buồn, bế tắc và mở ra cho mình con đường sáng- con đường sống sao cho có ích. Và nói như nhà thơ Tố Hữu là “đời yêu ta ta phải thắng cho đời…”.    

· Anh vượt lên số phận đời mình để dốc sức cho một “số phận chữ”. Hành trình nào khiến anh mệt mỏi hơn?
- “Hành trình” nào cũng mệt mỏi, nhọc nhằn lắm! Nhưng dù sao “số phận đời mình” và “số phận chữ” cũng luôn song hành với nhau. Đó là không muốn nói 2 số phận này luôn ở trong nhau, vịn vào nhau, nương tựa  nhau để cùng tồn tại và gượng đứng lên, nhích lên từng chút một. Người mệt thì chữ đỡ, chữ mệt thì người nâng…   

· Có giới hạn nào trong sáng tác mà anh luôn tự nhắc mình phải vượt qua? 
- Cõi thơ là cõi cao xa dài rộng vô cùng, cuộc sống và trí tuệ con người nói chung, nhất là bản thân mình lại rất hữu hạn. Mình rất hiểu những gì mình đã viết là chưa được gì nhiều, chưa đi đến đâu . Và rất có thể người đã đến cuối đường mà thơ vẫn còn ở vạch xuất phát. Như bạn biết đấy, gần 3 thập niên rồi hầu như mình nằm một chỗ. Như một cái ao tù. Chẳng còn cách gì khác là cố gắng tự lắng trong, tự khai mở dòng chảy dù nhỏ nhoi để hòa vào sông, biển cuộc đời. Mỗi ngày…  

· Nhiều nhà thơ luôn đặt ra yêu cầu cách tân, đổi mới trong các sáng tác của mình. Còn anh thì sao?
- Cách tân, đổi mới là nhu cầu bắt buộc của người cầm bút nói chung. Mình cũng không ngoại lệ. Nhưng cách tân, đổi mới thế nào cho hợp lý và hiệu quả? Mình nghĩ mỗi người có một khả năng khác nhau, cái “tạng” cái “gu” thẩm mỹ khác nhau, tốt nhất là phát huy sở trường của bản thân chứ đừng chạy theo phong trào. Không khéo lại rơi vào tình cảnh “bỏ mồi bắt bóng” như chơi. Dù muốn không muốn văn học nói chung và thơ nói riêng luôn luôn có sự tương tác giữa tác giả- tác phẩm- người đọc. Cách tân, đổi mới luôn cần thiết nhưng không nên cực đoan thái quá. Người đọc không hiểu, không cảm được, không nhận được những hứng thú tinh thần thì tác phẩm dành cho ai?
   Mình là con cháu của những người nông dân thứ thiệt nên chắc là cả đời lẫn thơ phải “sống ghì gốc rạ chết  ôm khói đồng” thôi. 

· Thơ hay – trong suy nghĩ của anh – là gì?
- Bài thơ hay luôn là một chỉnh thể của sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và hình thức. Nói cách khác thơ hay phải có nội dung sâu sắc, mới lạ và được diễn đạt bằng một hình thức phù hợp, tương thích, văn minh. Như một người đẹp thực sự phải có cả thanh và sắc.
Mặt khác mình cũng rất thú vị  với tư tưởng của nhà triết học Căng : cái  đẹp không phải ở đôi má hồng thiếu nữ  mà nằm trong đôi mắt kẻ si tình. Có thể  bạn cho rằng đây là quan điểm duy tâm, chủ quan? Mình cũng nghĩ thế, cái đẹp phải có tính khách quan, tức là bản thân nó phải đẹp- cái đẹp ấy được mọi người (hoặc đa số người) công nhận. Nhưng ở một bình diện khác mỗi người là một tiểu vũ trụ, mang trong mình vô số điểm khác biệt so với phần còn lại của thế giới nên để tác phẩm được cả một dân tộc, một thời đại… đồng cảm, yêu thích là cực khó và cực hiếm. May ra chỉ những bậc thiên tài mới làm nổi.
   Với một người viết còn nhiều hạn chế như mình, nếu có bạn đọc nào thích một bài, thậm chí một vài câu nào đó trong cả một tập thơ  thì đã là một hạnh phúc rồi. May mắn có được một ý thơ nào đó đi được vào lòng người và làm tổ ở đó thì… tuyệt vời!
    
· Câu chuyện của chúng ta đã đề cập đến nhiều vấn đề. Liệu còn điều gì đó anh muốn chia sẻ với Văn nghệ Trẻ?
- Cho mình được nói thêm một chút. Mình sống được đến bây giờ, như bây giờ là nhờ lòng thương yêu và nhân hậu của rất nhiều người. Xin được thành kính tri ân tất cả mọi người. Và cũng xin mọi người rộng lòng tha thứ cho những non kém, lỗi lầm Nguyễn Ngọc Hưng đã vô minh phạm phải.
   Cám ơn Văn nghệ Trẻ đã cho mình một cuộc trò chuyện thú vị, nhiều  ý nghĩa này!  
  
· Văn nghệ Trẻ cũng xin được chúc anh luôn vững vàng trước những thử thách khó nhọc của đời sống này, để viết lên những bài thơ có sức sống lâu bền. 

PVVNT thực hiện

Văn nghệ Trẻ số 11 (ra ngày 16, 17 – 3- 2013)

Nguồn: Nguyễn Ngọc Hưng gởi đăng
READ MORE - NGUYỄN NGỌC HƯNG - VIẾT TỪ LÒNG BIẾT ƠN CUỘC ĐỜI - Phỏng vấn nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng - PV VNT thực hiện