Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, April 25, 2011

MAI THANH TỊNH và QUỲNH HỢP - HẢI LĂNG ĐẤT MẸ NGỌT NGÀO


Mời các bạn nghe ca khúc
HẢI LĂNG ĐẤT MẸ NGỌT NGÀO
THƠ: MAI THANH TỊNH
NHẠC: QUỲNH HỢP
GIỌNG CA: Y JANG TUYN





Nguyên tác bài thơ

ĐẤT MẸ NGỌT NGÀO
Thương tặng: Hải lăng quê tôi


Hải Lăng ơi! quê mẹ yêu ơi!

Khúc hát đưa nôi Ô lâu lắng đôi bờ

Lúa đồng chiêm ươm vàng mùa thương nhớ

Cát bạc đầu cháy bỏng giấc mơ trưa



Vĩnh Định êm đềm ai trao gởi duyên xưa

Mỹ Thủy bãi ngang dập dìu sóng múa

Đã qua rồi thương đau thời binh lửa

Trà Lộc ta về chiều nắng hát vu vơ



Rượu Kim Long men ủ bến mong chờ

Cá Cu Hoan thơm hương đồng ngầy ngậy

Em gái làng cười tươi vào vụ cấy

Cho ai say ngây ngất cả hoàng hôn



Ôi quê mình đẹp lắm Hải lăng ơi!

Cho đôi ta tìm nhau đêm diệu vợi

Gió miên man ru tình yêu ngày mới

Ấm áp ngọt ngào đất mẹ Hải Lăng ơi!

5/2009
MTT
READ MORE - MAI THANH TỊNH và QUỲNH HỢP - HẢI LĂNG ĐẤT MẸ NGỌT NGÀO

Thursday, April 21, 2011

VÕ QUÊ - ĐỒNG HÀNH "BÊN KIA TÍT TẮP ĐẠI DƯƠNG"

Nhà thơ Võ Thị Như Mai



Bên kia tít tắp đại dương, tên tập thơ gợi hình ảnh một miền biển trời xa xôi ngút ngàn với nghìn trùng cách trở. Bên kia tít tắp đại dương. Dập dồn. Vời vợi tiếng sóng thơ ngân khắc khoải những cái nhớ da diết, cảm hoài về dĩ vãng thương quý một thời người thơ đã sống, đã gắn bó trong từng cung bậc buồn vui phận đời.

Bên kia tít tắp đại dương. Hồi ức đẹp, tuyệt vời nơi chốn quê nhà nắng mưa, thăng trầm, nổi trôi cùng thời gian hằng sống. Ngoại. Ba. Mẹ. Anh.Chị. Em. Thầy. Cô giáo… là tứ thơ đẹp cho từng hình tượng thăng hoa, hồi quang trên từng con chữ lấp lánh niềm kính yêu vô hạn, trang trọng mà bình dị, gần gũi vô cùng giữa cõi nhân gian trìu ái.


Bên kia tít tắp đại dương. Thế giới bạn bè đồng trang lứa đầy ắp kỷ niệm hồng, tràn trề khát vọng xanh. Người thơ đằm thắm, dịu dàng gọi tên từng người một. Những thước phim chậm đẹp, hiền lành tái hiện sinh động lên thơ. Thơ chuyển sắc thanh hương thành hồn, thành nội tâm ngợi ca tình bằng hữu. Bên kia tít tắp đại dương, người thơ không đơn độc. Vòng tay bè bạn luôn ấm áp ngày đông. Vòng tay bạn bè thường mát lạnh ban trưa mùa hạ. Thơ đồng cảm ngợi ca sự đồng điệu muôn nơi, muôn thưở rất tình người.


Bên kia tít tắp đại dương. Thơ vẽ nên nhiều bức tranh phong cảnh đẹp, trữ tình từ nhiều miền đất khác nhau trên quê Việt. Địa danh này. Địa danh kia. Mỗi tên đất. Mỗi tên phố thị… Thơ sáng lên những dấu chân qua cuar người thơ với muôn hồng nghìn tía đã được thu vào ánh mắt thi ca. Hừng đông. Hoàng hôn. Cỏ hoa. Bốn mùa thiên nhiên kỳ diệu… Thơ và họa. Ảnh và thơ trong Bên kia bờ tít tắp đại dương ngời lên những vầng sáng thực và hư.


Bên kia tít tắp đại dương. Chân dung người tình ẩn hiện. Nụ hôn hái tặng. Khúc yêu đầu điệu luân vũ thơ. Tình dan díu. Tình lãng mạn em và anh “vương mùi hoa trên áo”. Từ tình, thơ bay lên đôi cánh nạm óng ả những từ ngữ đã được người thơ chắt lọc, đan kết thật thuần khiết, dung dị nhưng sâu lắng ngọn nguồn yêu.


Bên kia tít tắp đại dương hay đại dương tít tắp bên kia? Người thơ đã níu đôi bờ biển lớn thẳm xanh kia gần lại. Thật gần! Hồn thơ giàu ý, cảm, chứa chan thương, bát ngát yêu của người thơ đã hình thành một tứ hay: Trái đất này đâu có rộng gì hơn! Cho nên từ bên kia tít tắp đại dương, người thơ mới tinh tế buông câu lục bát ngọt ngào:

Dường như bưởi đã trổ bông

Mưa đã ngớt phía hừng đông nắng đầy…

Hừng đông nắng đầy bên kia tít tắp đại dương. Hừng đông nắng đầy cũng ấm lành trên quê mẹ.


Xin cảm ơn người thơ đã cho tôi có dịp đồng hành Bên kia tít tắp đại dương!



Võ Quê

Huế, 20. 2011
READ MORE - VÕ QUÊ - ĐỒNG HÀNH "BÊN KIA TÍT TẮP ĐẠI DƯƠNG"

Lê Ngọc Trác - "BÊN KIA TÍT TẮP ĐẠI DƯƠNG":NỖI NIỀM CỦA NGƯỜI CON GÁI XA QUÊ





Cuối mùa xuân năm nay, nhân dịp sinh nhật lần thứ 35 của mình, Võ Thị Như Mai gửi đến những người yêu thơ thi phẩm "Bên kia tít tắp đại dương". Tập thơ do Nhà xuất bản Hội Nhà Văn xuất bản.

Võ Thị Như Mai nguyên quán ở làng Mỹ Chánh, Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, sinh ra và lớn lên tại Đà Lạt. Khi tốt nghiệp đại học, có một thời dạy học tại Châu Đức, tỉnh Bà Rịa. Hiện nay Võ Thị Như Mai sống ở miền Tây nước Úc và là giáo viên đang dạy học tại trường Dryandra.

"Bên kia tít tắp đại dương" là tập thơ thứ hai của Võ Thị Như Mai, sau thi phẩm "Tản mạn thơ" được Nhà xuất bản Văn Nghệ phát hành từ năm 2009.

Võ Thị Như Mai tại  buổi ra mắt tập thơ Bên Kia Tít Tắp Đại Dương ở Quảng Trị

Tập thơ gồm hơn 50 bài thơ và 6 bài tản văn, mà phần lớn là những bài được Võ Thị Như Mai sáng tác khi ở phương trời miền Tây nước Úc, bên kia bờ đại dương tít tắp mù khơi. Người đọc bắt gặp những vần thơ với ngôn từ giản dị, trong sáng, chân thật và đầy cảm xúc. Với một tâm hồn nhạy cảm, Võ Thị Như Mai đã bắt những con chữ chạy theo cảm xúc của mình khi trong lòng chợt rung lên tha thiết trước những hình ảnh đầy ấn tượng. Võ Thị Như Mai viết về những vùng đất đã từng qua, từng sống, viết về tình yêu, về những hoài niệm một thời chưa xa về hình bóng quê nhà: Hải Lăng – Quảng Trị, một thời nghèo khó hay Đà Lạt ngàn hoa của một thời mộng mơ. Võ Thị Như Mai viết những câu thơ chứa chan tình yêu với niềm tin hạnh phúc:


"là em, là em, là em
là em nồng nàn, em tha thiết
là em cài nụ hồng lên môi
dõi mắt trông biền biệt
ưu tư và lụy phiền


là em, là em thôi, rất hiền
có khi buồn cũng khóc
là em, là em gánh giấc mơ nặng nhọc
trên đôi chân nhẹ tênh
là em của lênh đênh
trong màu mắt anh có còn không, đắm đuối

em gói mùa xuân giấu vào hộp tuổi
xóa đi những vết nhăn
em hái tặng anh nụ hôn vĩnh hằng
đặt vào trong túi áo
để em nghe trái tim anh táo bạo
riết róng nhịp tình gần ...."


(Trích "Là em")

Trong khoảnh khắc, người đọc bỗng cảm thấy cuộc sống điềm nhiên xanh, tràn đầy yêu thương trước những câu thơ của Võ Thị Như Mai:

"sinh nhật tháng năm
gửi yêu thương vào tóc bím
đôi má hồng ngây thơ mười tám
vào cái nháy mắt vu vơ lưu luyến rất đằm
có những khoảnh khắc chỉ hòa tan vào máu thịt một lần không hơn
dòng chảy suy tư âm thầm trêu phạm trù cảm xúc
rừng hoa Linh Lan hòa chung nhịp nhớ nhung kết thành ca khúc
cho hành giả nghiêm trang khe khẽ hát trong chiều

mấy mươi cái mặn mà
và thế là có một mùa quá đỗi thương yêu!"



(Trích "Điềm nhiên xanh")



Toàn bộ tập thơ " Bên kia tít tắp đại dương" thể hiện nỗi niềm của một người con gái sống xa quê hương, xứ sở. Nỗi cô đơn ở phương trời xa lạ:



"một mai thức dậy thấy mình trơ trọi giữa sa mạc hoang vu
không người thân, không cây xanh, không mái hiên râm mát
hơi thở cũng chẳng phải của mình, e rằng hồn đi lạc
quờ quạng bên nào cũng trống vắng như nhau"



(Trích "Như có như không")


Và, trong con tim bé nhỏ luôn luôn hướng vọng về quê hương đất mẹ với nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi:



"ở xứ người có loài kangaroo
cứ mỗi sáng chúng nhảy lui nhảy tới
thảo nguyên trải dài vời vợi
mơ quê hương ở cuối chân trời


một chiếc lá cong khô chao rơi
đã bắt đầu yêu nơi dừng chân này anh ạ
chỉ sợ cuối thu gom mưa về nhiều quá
mỗi giọt rơi là một nỗi nhớ người
..."

(Trích "Một ngày trở lạnh")

Đối với người Việt chúng ta, xuân về tết đến là ngày gia đình sum họp, những đứa con đi xa đều trở về đoàn tụ dưới mái ấm gia đình. Riêng đối với những ai sống xa quê hương, xứ sở, nay chỉ còn "đón tết online":


"mùa xuân này con đón Tết online
đón Tết qua phone nghe tiếng Mẹ ấm trong hơi thở
đọc thơ bạn đó đây yêu mùa xuân lách khách cười hớn hở
con trai hồn nhiên chưa biết Tết quê mình
...

bao năm rồi con đón Tết online
may mà vẫn còn nghe nàng xuân khều lanh canh trong trí nhớ
may mà vẫn còn nghe hơi ấm của mẹ qua phone trong từng nhịp thờ
bên khung cửa xứ người lặng lẽ một nụ mai
bên khung cửa xứ người nỗi nhớ bẻ làm hai"



(Trích "Đón tết ")

Võ Thị Như Mai viết những câu thơ thật giản dị đến tự nhiên. Không có một từ nào thốt lên nỗi thương nhớ đau buồn. Nhưng, sao khi đọc xong chúng ta nghe lòng mình nặng trĩu và cay cay trên đôi mắt...

Trong tập thơ chỉ có một bài duy nhất Võ Thị Như Mai viết theo thể thơ lục bát. Ý và lời nhuần nhuyễn, sâu sắc, tạo được độ rung, đưa người đọc trở về với những thương nhớ xa xăm trong cuộc đời:



"hình như người vẫn như xưa
xốn xang mắt biếc đong đưa nụ cười
chuyển mùa lá nõn xanh tươi
quạnh hiu là bởi dế lười ca thôi

Em về khua bớt đơn côi
gieo câu lục bát đãi bôi nỗi lòng
dương như bưởi đã trổ bông
mưa đã ngớt phía dòng sông nắng đầy

nhập nhằng ký ức tuột tay
ngờ đâu quên bẵng tháng ngày xa xăm
thưa rằng có dịp về thăm
vết thương màu nhớ gửi trăm cánh chuồn

ủ mềm kỷ niệm rồi buông
dặm trường mê mải, nỗi buồn đang vui"



(Bài lục bát duy nhất)


Qua tập thơ "Bên kia tít tắp đại dương" của Võ Thị Như Mai, chúng ta nhận thấy: Những bài thơ hấp dẫn được người đọc là những bài thơ được viết từ những rung động chân tình. Người đọc đều cảm thấy có hình ảnh và tâm sự của mình trong thơ.



Võ Thị Như Mai là một người "yêu thơ cực kỳ". Chúng tôi tin rằng trong tương lai Võ Thị Như Mai sẽ có những tác phẩm thơ làm say đắm, lay động tâm hồn người yêu thơ nhiều hơn nữa.

* Lê Ngọc Trác

Email:
lengoctraclg@yahoo.com
READ MORE - Lê Ngọc Trác - "BÊN KIA TÍT TẮP ĐẠI DƯƠNG":NỖI NIỀM CỦA NGƯỜI CON GÁI XA QUÊ

Thursday, April 14, 2011

NGỌC DIỆP - VỀ QUẢNG TRỊ ĂN CHÁO CHÀNG HƯƠNG



Một bát cháo chàng hương ngon là sự trộn lẫn giữa mùi thơm của hành, vị nồng cay của ớt và vị ngọt lành từ thịt chàng hương. Chỉ cần 15.000 đồng là đã có một tô cháo chàng hương thật ngon và nóng hổi.

Mùi thơm ngòn ngọt của thịt chàng hương, của hành, của vị nồng cay từ ớt quyện vào theo hơi nóng bay lên nức mũi, làm tô cháo trở nên cực kì hấp dẫn. Ảnh: Ngọc Diệp.

Quảng Trị quê tôi, mùa nắng thì nóng gay gắt đến khô rát cả mặt người, còn mùa mưa cứ dầm dề kéo dài suốt tháng. Vào những ngày mưa, loài chàng hương xuất hiện rất nhiều, cũng là mùa để người dân đi bắt chàng hương về chế biến thành món ăn đơn giản, ngon và đậm hương vị của vùng đất này: cháo chàng hương.

Ở thị xã Quảng Trị có nhiều quán bán cháo chàng hương. Vẫn có những người ở thành phố Đông Hà, sau giờ tan tầm cũng vượt quãng đường 12 km để đến thị xã Quảng Trị nhấm nháp tô cháo chàng hương. Những người đi xa, nếu có dịp ghé qua thị xã cũng đến đây thưởng thức món cháo đặc sản này.

Các quán thường đông khách nên hay phải đợi lâu. Đợi đến sốt ruột, lúc chủ quán bưng tô cháo ra, mùi thơm ngòn ngọt của thịt chàng hương, của hành, của vị nồng cay từ ớt quyện theo hơi nóng bay lên nức mũi, làm tô cháo trở nên hấp dẫn. Chỉ cần 15.000 đồng là đã có một tô cháo chàng hương thật ngon và nóng hổi.

Để có một bát cháo chàng hương ngon thì cách ướp thịt chàng hương là quan trọng nhất. Ướp như thế nào mà thịt chàng hương ngấm với gia vị, khi nấu chung với gạo, thịt không bị mềm mà ăn vào vừa cảm thấy dai, lại đậm đà vị ướp.

Vào độ tháng 8, tháng 9 âm lịch, tiết trời lúc này đã vào mùa mưa, khi đó cũng là mùa đi bắt chàng hương tại ven các bờ ruộng. Người ta bắt về làm sạch và bán cho các quán. Bình quân 1kg thịt chàng hương có giá 125.000 đồng.

Và vào quán độ thời điểm này lúc nào cũng có cháo để ăn. Còn những mùa khác, chàng hương có ít, bởi vậy nếu ai may mắn đi ăn sớm thì có cháo, còn ăn trễ hết cháo là chuyện thường.

Ngọc Diệp

Nguồn: donghuongquangtri.0rg



CÙNG CHỦ ĐỀ
LÀNG TÔI LÀNG CHẮT CHẮT - ĐINH THANH HẢI
AM THUC QUANG TRI - HOANG PHU NGOC TUONG
CANH AM LANG LAM - NGUYEN DANG DUONG
TAN MAN VE OT - HA THACH HAN
READ MORE - NGỌC DIỆP - VỀ QUẢNG TRỊ ĂN CHÁO CHÀNG HƯƠNG

MẶC HY - TẾT Ở CHIẾN KHU BA LÒNG - Hồi ký



Thế là tôi và Lê Lự, mấy đêm nay, lại được nằm chỏng khoèo trên mấy tấm ván nóc chuồng trâu nhà mẹ An tại Khe Giữa để đón một cái Tết thứ hai ở chiến khu Ba Lòng.
Sau trận càn Phong Thu, Phòng Chính trị Phân khu bị tổn thất một số cán bộ bị địch bắt, trong đó có anh Đàm Viết Bằng ở Đoàn Văn công chúng tôi. Họ bị đầy ra Côn Đảo, năm 1954 mới được trao trả. Ở đồng bằng, trận càn Phú Vang, Đội Tuyên truyền tỉnh Thừa Thiên bị địch vây. Các anh Trọng, Thuyên, Ngọc, Chung... bị bắt và cùng bị đầy ra Côn Đảo. Vợ chồng nhạc sĩ Nguyễn Hồng bị Tây bắn chết. Chúng dẫm nát cây đàn ghi ta của anh. Sau trận càn, nhân dân đã chôn mộ cây đàn giữa 2 ngôi mộ vợ chồng nhạc sĩ.
Năm ngoái, ở nhà mẹ An, tổ văn nghệ báo chí còn cùng nhau đón giao thừa. Bấy giờ, anh Nguyễn Khắc Thứ và anh Trần Quốc Tiến cùng anh Văn Tôn được phái vào nhà in Mặt trận, trông nom việc ra báo. Anh Đình Quang và anh Bửu Tiến được cử ra vùng tự do Thanh Nghệ để thành lập đoàn văn công mới. Các anh khác được điều động về đơn vị. Trước đó, tôi và Lê Lự được về công tác ở Trung đoàn 95 dưới đồng bằng, nên thoát được trận càn. Nay lên lại chiến khu, chính thức cầm quyết định về Trung đoàn, thành lập Đội Tuyên truyền Văn nghệ. Trong khi chờ anh Vũ Lân, bí thư chi bộ, hiện đang công tác ở đồng bằng về ký giấy giới thiệu sinh hoạt đoàn thể, chúng tôi được ra ở nhà mẹ An và được phát mỗi người 5 kilôgam "gạo thối". Tây càn quét phá mùa, trận lụt lịch sử năm 1950 như muốn thử thách ý chí của quân dân ta. Thóc chôn dưới đất bị ngập nước, phơi khô, chỉ được xay hết lớp trấu. Gạo nấu lên có mùi thum thủm, phải quạt cho nguội hết mùi mới ăn được. Xin lỗi, khi đi đồng, hạt cơm còn nguyên.
Mấy đêm qua, mưa lạnh, ôm nhau, đặp mấy tấm phông màn làm chăn, rét quá, không ngủ được, nên đêm nay, mệt quá, ngủ thiếp đi từ đầu hôm, không nghe được tiếng súng đón giao thừa ở Phòng Tham mưu.
Sực tỉnh dậy, trời đã sáng. Một ngày nắng đẹp bắt đầu. Ánh nắng từ phía biển, tuy bị rặng núi Trấm che lấp vẫn tràn vào vùng núi chiến khu. Rừng sáng bừng lên. Hai cánh đồng hai bên bờ sông Thạnh Hãn, đồng bào vừa trỉa bắp. Cây bắp đã cao bằng gang tay. Những chiếc lá màu xanh non rung rinh theo gió trên nền cao đất đỏ tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp. Trong lớp tán cây rậm rạp ở dốc làng Hạ, lũ vượn vẫn kéo dài tiếng hú nghe lảnh lót, đón một ngày nắng đẹp.
Đêm qua, chúng tôi đã cố ý gấp gọn bộ quần báo bằng vải si ta (Liên khu 5) đặt lên gối ở đầu giường, để có được nếp là, diện vào ngày đầu xuân.
Hai chúng tôi chuẩn bị xuất hành, trong túi rủng rỉnh mấy chục đồng phụ cấp mới được phát.
Ra khỏi nhà, định sang cơ quan Tỉnh đội ở ngay sát cạnh, chúng tôi gặp ngay Khánh, người của Tỉnh đội đang giặt dưới bến. Đợi Lự đi trước vài bước, Khánh dúi vào tay tôi mấy chiếc bánh thuẩnn (bánh quả bàng) và mấy chiếc bánh in, bọc giấy xanh đỏ. Khánh đã có người yêu là anh Chẩn cũng ở tỉnh đội. Nhưng đối với anh lính miền Bắc xa nhà là tôi, Khánh vẫn có cảm tình riêng! Sau 1954, Khánh và Chẩn cưới nhau và hình như ở thị xã Đông Hà.
Cán bộ tỉnh đội đi chúc Tết gần hết, chúng tôi gặp anh Nguyễn Viêm. Anh Nguyễn Viêm, sau 1954 ra Hà Nội được cử đi học nhạc ở nước ngoài và về công tác nghiên cứu ở Viện Âm nhạc và đã mất ở Hà Nội.
... Đến Đá Nổi, chúng tôi vào chúc tết đầu tiên nhà anh Bùi Tá Bàng, ty trưởng ty Công an Quảng Trị. Dạo mới vào chiến trường (đầu năm 1949), chưa có nhà cho Đoàn, chúng tôi được chia nhau ở nhà dân tại Đá Nổi. Tôi ở nhà anh Bàng, vợ anh, chị Bốn có 2 cô em là o Năm và o Sáu. Chị mở quán bán xôi thịt hoong, chè hoa cau, chè đậu xanh đánh, kẹo lạc đổ trên bánh đa.. Vì sợ lũ, nhà nào cũng đổ nền cao, muốn lên nhà phải trèo mấy bậc. Anh Bàng trực cơ quan, các anh tiếp chúng tôi miền nở, ân cần mời ăn đủ thứ. Chúng tôi trả tiền, các anh không nhận... Tết mà!...
Chúng tôi ghé Quân y Trung đoàn thăm chị Quý, y tá, người yêu của anh Kinh Kha, cán bộ tiểu đoàn E95. Anh Kha người Huế, hào hoa, tiếng Pháp rất giỏi. Nhớ nhất là bài hát "Bao giờ anh lấy được đồn Tây" (Phạm Duy) anh dịch nguyên văn ra tiếng Pháp và hát rất đúng nhạc" "Mà tanh (matin) căng (quand) rô-dê (rosée) Phờ lù (Floue) mông-ta-nhơ (montagne) - dịch câu:
"Buổi mai khi sương rơi mờ trên núi!"
Anh Kinh Kha sau công tác ở Bộ Ngoại giao, lấy vợ Hà Nội ở phố Tôn Thất Thiệp và đã mất được 6 năm.
Chúng tôi ghé ty thông tin Quảng Trị, gặp anh Lương An đang ngồi một mình.
Anh Lương An khoe với chúng tôi, báo tỉnh vừa in bài "Ba Lòng" của anh. Đến giờ những câu thơ:
"Đò em lên xuống Ba Lòng
Chở người cán bộ lên vùng chiến khu..
... Ai về bến Trấm thì lên,
Về cho sơm sớm, mưa đêm khó chèo... tôi vẫn nhớ!
Chúng tôi nhắc đến anh Văn Tôn tức Vĩnh Tôn (một hoàng thân). Ba anh là ông Bửu Phu, tri huyện Cam Lộ, sau thăng lên tỉnh trưởng, anh ruột là Vĩnh P. hay làm thơ, lấy bút danh là "Tú bạc nhạc" từng là cán bộ chính quyền ngụy. Chỉ nửa ngày đường về Huế, là Tôn sẽ được sống trong nhung lụa! Anh Tôn vẫn ở với kháng chiến cho đến hoà bình, tập kết ra Bắc ở Hà Nội, công tác ở nhà xuất bản Phổ Thông. Thập kỷ 60, xin ra ngoài biên chế, về sống ở Cảnh Dương (Quảng Bình). Hàng ngày, vị hoàng thân ấy, cởi trần, mặc quần đùi, ra biển câu cá, chiều đem ra chợ bán, lấy tiền đong gạo nuôi thân. Còn nhớ các mẹ thường kêu nhau: "... Ra mua cá của thằng Tôn mà nghe nó đọc thơ!. Tôn! đọc thơ đi mi!". Cho đến khi bài thơ "Cồn Cỏ" được giải thưởng báo Văn Nghệ Trung ương ký tên Hải Bằng, ta mới biết Hải Bằng là Văn Tôn (Vĩnh Tôn) một trong những hội viên đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam. Hải Bằng đã đi xa hơn 5 năm...
Một ngày đầu xuân nắng đẹp cực kỳ, hai chúng tôi làm một cuộc du xuân vòng quanh hai bờ sông Thạch Hãn. Lúc trở về, qua con đò ở Khe Giữa, ánh nắng chiếu trên mặt sông loang loáng. Chúng tôi chúc Tết bác lái đò. Mái chèo đưa nhẹ. Những giọt nắng tranh nhau nhảy múa, hoà tan, chạy nhanh trên mặt sông.
Đã quá trưa, mệt nhưng không muốn nghỉ. Vừa lúc ấy, anh Lân đem quyết định và giấy giới thiệu sinh hoạt, phân công chúng tôi về xây dựng đội tuyên truyền văn nghệ của Trung đoàn 95. Niềm vui bừng lên trong tôi. Nhìn về phía dốc làng Hạ, lũ vượn thôi không hú và cắn nhau riu ríu nữa. Chim trong các vòm cây đua nhau hót. Tôi lấy cây đàn ghi ta và giấy bút, nắn nót viết hai chữ thật to "Xuân rừng":
- "Núi nằm im trong nắng mới xuân về, rừng rung theo làn gió nhẹ lay.
mây lờ trôi lang thang như mang nỗi sầu oán để lãng quên ngày tháng.
Líu líu líu, lo lo chim hót khắp trời hoà cùng tiếng suối reo.
Róc rách, rót đều vào vách đá rêu xanh như muôn tiếng đàn.
Bài hát viết ở giọng Rê thứ, tiết tấu vui, rộn ràng, tôi đệm theo điệu Bô lê rô. Thời gian này, các điệu nhạc khiêu vũ như Fox, Rumba, Cha cha cha... bị cấm kỵ. Nhưng niềm vui trong lòng tôi vào một ngày đầu xuân nắng đẹp thôi thúc tôi không thể làm khác. Lời 2 quay lại:
"Bao ngày, năm với tháng cách xa quê nhà ta yêu dấu mãi từ lâu
Lên rừng ta vui với cây, với lá, cùng với tiếng suối trong ngàn lau.."
Đoạn 2, chuyển điệu sang Rê trưởng, tươi sáng:
"... Mong sao ngày mai, nhân dân vui trong tiếng hò
Tô bao lòng trai, cùng mừng cuộc đời tự do.."
Tiếng hát lên cao trào:
"Ta vui ngày mới, phấp phới dưới ánh cờ hồng
Xuân sang tràn lan, Hoà bình vui khắp non sông!"
Bài hát hoàn thành ngay trong ngày mùng 1 Tết năm ấy. Về đến Trung đoàn, lo xây dựng đội tuyên truyền với các anh Tuyến, anh Xuân Lư, anh Lê Lự, (thời chống Mỹ tham gia đoàn Văn công Giải phóng Trị Thiên, về hưu ở Thanh Hoá và đã mất vì đau tim gần 10 năm) cùng anh Thắng... nên không có điều kiện dựng bài "Xuân rừng". Phần khác, bài hát hơi khó hát, tiết tấu hơi xa lạ, nên anh em cũng không ủng hộ nhiệt tình.
Hoà bình năm 1954, cùng với bài "Gặp nhau dưới trăng" ban ca nhạc Đài TNVN giới thiệu trên sóng. Chị Minh Đỗ và Thanh Hiếu hát "Gặp nhau..", tôi đệm sáo, chị Thái Thị Sâm đệm Pianô. Sau thu đĩa, anh Nguyễn Hữu Hiếu phối âm, chị Thương Huyền và Mai Hanh hát.
Riêng ban nhạc đài có đem hai bài ra phối theo điệu Rumba và Bô lô rô tập chơi vui với nhau.
Ôi! thời gian.. nửa thế kỷ đã qua! Ở cái tuổi gần 80, ngồi nhớ lại những kỷ niệm xưa. Gần đây, xem bộ phim tài liệu về Ba Lòng, tôi không khỏi ngậm ngùi nhớ về những đồng đội, đồng chí đã đi xa, những người bạn học như anh Nguyễn Quán, anh Lê Thanh Ban, anh Nguyễn Vược, anh Đỗ Xuân Bảng đã nằm lại ở mảnh đất này, một mảnh đất đã từng là "thủ đô" của cuộc kháng chiến chống Pháp gọi là Bình Trị Thiên khỏi lửa.
Xin cho tôi thắp nén nhang nhớ về những đồng đội, những người bạn ấy và cũng mong một ngày nào đó, Ba Lòng sẽ được công nhận là di tích lịch sử kháng chiến chống Pháp như mảnh đất Củ Chi anh hùng ở miền Nam thời chống Mỹ.
Một đêm mùa thu ở Hà Nội 2003
M.H
tapchisonghuong.com.vn
READ MORE - MẶC HY - TẾT Ở CHIẾN KHU BA LÒNG - Hồi ký

Wednesday, April 13, 2011

TRƯƠNG CÔNG HỐT - BA LÒNG: KHE TRÂU, TRẤM VÀ KHE HUYỆN (1948-1953) - Hồi ký


Chiến khu Ba Lòng ngày nay ( Ảnh SGGP)




Nói đến chiến khu Ba Lòng, không thể nói đến Khe Trâu, Trấm và Khe Huyện. Đó là địa danh của 3 căn cứ kháng chiến nhỏ, xem như là ngoại ô của Ba Lòng.

Ở Trấm, trên bờ sông Thạch Hản, có đồn Công an kháng chiến, án ngữ đường thủy lên Ba Lòng. Ở đây có một vạn đò, dân nôốc, sống bằng nghề chài lưới và buôn bán nhỏ, cá nguồn thì nhiều và to.

Các đò thuyền ban ngày cũng luôn luôn cảnh giác máy bay giặc, khi cần thì ẩn dưới lùm cây cổ thụ nghiêng mình xuống mặt nước sông. Chung quanh đồn Công an, có một số đông đồng bào, đủ thành phần, phần nhiều từ thị xã Quảng Trị tản cư lên đây làm ăn từ ngày giặc Pháp chiếm thị xã, họ sống chủ yếu bằng nghề nương rẫy và buôn bán.

Hàng hóa ở đây cũng khá phong phú. Giữa ta với địch, ranh giới chính thì rạch ròi thế đấy ( kẻ đi xâm lược với người chống xâm lược) nhưng về kinh tế, đặc biệt là kinh tế hàng hóa, thì vẫn có sự trao đổi, do những đường dây buôn lậu thuốc tân dược, sữa, ny lông, giấy pơ luya, giấy than v.v … và tất nhiên đã động đến việc ngăn chặn, mà chủ yếu là chuyên về chống gián điệp, biệt kích.

Từ bến đò Trấm, hằng ngày đến chiều tối, là có ba bốn chiếc đò chở khách và hàng hóa lên bến Ba Lòng, rồi lại trở về cho kịp sáng để tránh máy bay. Những chuyến đò ngược gặp những chuyến đò xuôi Ba Lòng- Trấm, trong đêm tối thăm thẳm, trên làn sóng nước đen ngòm của đoạn sông độc đạo khoảng 15 km, vẫn vang lên man mác giữa núi rừng những câu hò mái nhì êm ái, với nội dung nhớ làng mạc, nhớ người thân, căm giận quân thù. Đôi lúc cùng vang lên câu hát “Hồng hà mênh mông trôi nước về xuôi …” của một anh bộ đội nào đó ngồi ở đằng lái của một chiếc đò đi ngược.

Hai chuyện đau lòng đã xảy ra ở Trấm. 

Khoảng năm 1950 – 1951, một anh dân quân ở dân quân ở đồng bằng (vùng ven biển), lên có việc ở Trấm. Trưa nóng, anh xuống sông tắm, hai bờ sông chỉ cách nhau khoảng 40 mét, vốn là tay bơi giỏi, anh sải tay bơi qua bơi lại như lướt hai ba vòng, nhưng đến vòng thứ tư, thì người ta chỉ thấy cái đầu của anh và hai tay giơ lên ngoắt vẫy vẫy kêu cứu, hình như có ai đấy dưới nước kéo anh xuống. Vạn đò cả hai bên bờ, nhưng dân thuyền chài có tục lệ chỉ vớt người chết chìm chứ không vớt người chưa chết. Vì vậy, cuối cùng, anh dân quân dần dần chìm xuống, và một lúc sau thuyền chài mới đem lưới ra kéo xác anh lên. Hồi ấy người ta đồn rằng, ở dưới nước sông Ba Lòng có con ngồng thường hay quấn (vì mình nó dài) chặt bất kỳ con vật nào nó gặp, lắm khi voi bơi qua sông cũng bị chết vì bị ngồng quấn chặt lấy bốn chân. Mãi về sau, tôi mới hiểu và có thể giải thích hiện tượng ấy như sau: ở những đoạn sông thượng nguồn, dưới lòng sông thường có những ghềnh đá hóc hiểm, do vị trí và hình dạng của chúng, nước sông ở chỗ ấy chảy thành những vòng xoáy tạo nên những lực kéo xuống, do đó nếu bơi lội gặp vòng xoáy thì tất nhiên bị tai nạn, nhưng đối với thuyền có hình dài và rộng, gặp những chỗ nước xoáy, với những tay lái vững vàng vẫn có thể điều khiển cho thuyền bè không bị xoáy tròn và tiến lên được, tuy có khó khăn.

Lại thêm một chuyện nữa làm đồng bào cả khu vực Trấm xúc động. Ông Năm (một đồng bào người khu 5) hôm ấy dẫn 2 con trâu vào rừng làm rẫy, đi được một quãng, 2 con trâu ngước sừng lên, rồi chạy thụt lùi. Ông tức giận cứ thúc trâu đi tới, thì một con cọp nhảy chồm ra, tát mạnh vào đầu ông Năm, ông cũng kịp đánh vào con cọp một nhát rựa, con cọp hét đánh một tiếng rồi lẫn vào rừng, lúc này ông Năm còn tỉnh quay lưng trở về nhà, mà vẫn chưa tự biết rằng vuốt cọp đã bứng hết cả một mảng háng của mình, kể cả đôi mắt. Ông trở về nhà theo quán tính, nằm xuống gọi đứa con trai đến (mới 15 tuổi). Cơn đau nhức nhối ghê rợn đã đến với ông, y tá đã đến băng bó, nhưng làm gì mà chữa được vết thương độc hại của móng vuốt cọp, và tối hôm ấy ông Năm đã chết.

Vùng Trấm, vùng rừng cỏ tranh có lắm cọp, ở đây có một lão thiện xạ bắn thú rừng, có lần ông làm một chòi cao và cho treo một tảng thị trâu lớn, rồi ông ngồi trên chòi, súng 2 nòng cầm tay chờ đợi, một con cọp lớn thấy mồi chạy đến, lập tức tiếng súng nổ, chỉ một phát đầu cọp, nó chết ngay và nằm dài như con ngựa lớn. Chú Trương Công Chương đã đến tận nơi và kể lại.

Khe Trâu chỉ cách Trấm khoảng 4 km, đi đường rừng chỉ độ 40 phút là đến nơi. Năm 1950, tôi được phân công về công tác ở Khe Trâu trong ban phản gián do anh Trương Công Huỳnh làm thủ trưởng. Cũng vài tháng sau, cả cơ quan Ty Công an cũng dời về đây. Vì sao không ở Ba lòng mà về Khe Trâu? Gần vùng địch hơn? Cơ quan Uỷ ban kháng chiến tỉnh cũng dời về đây. Âý vì: hồi ấy có khẩu hiệu từ trên xuống “tích cực cầm cự chuẩn bị tổng phản công”, cán bộ lãnh đạo cũng như quân dân địa phương, nhận thức một chiều khẩu hiệu ấy. Do nôn nóng, và trước một số thắng lợi chống càn hoặc diệt địch, người ta chưa nghĩ sâu, nghe đến mấy chữ “chuẩn bị tổng phản công”, thì nghĩ rằng thời cơ tổng phản công đã đến rồi, quên mất vế đầu của khẩu hiệu “tích cực cầm cự”, mà đã tích cực cầm cự, thì đã thực sự cầm cự thắng lợi triệt để chưa? Do đó sinh ra chủ quan thỏa mãn. Một phần lớn cơ quan đầu não tỉnh, huyện dồn về những vùng tuy cũng là rừng núi (ví dụ: Khe Trâu, Khe Huyện, chỉ sau vài phút là máy bay Pháp ở sân bay thị xã có thể bay đến nơi …) để nắm được nhanh chóng tình hình địch, và trong chốc lát có thể tràn vào hang ổ địch …
Riêng về phía Ty Công an, cho một số anh em xây dựng một hội trường lớn ven bờ sông, có thể chưa trên 50 người họp. Cơ quan làm việc của tôi cũng lộ thiên gần đấy, có làm nhà bí mật ở trong rừng, nhưng làm việc ở ngoài này cho thoáng đảng hơn.

Phiá hữu ngạn sông, các dãy nhà của cơ quan Uỷ ban Kháng chiến tỉnh cũng lồ lộ thanh thiên bạch nhật.

Về phần tôi lúc ấy, trong thâm tâm vẫn có suy nghĩ, nếu máy bay Pháp lên oanh tạc, thì mình sẽ xử như thế nào? Chạy vào rừng ư? Được, nhưng rừng còn cách xa trên 30 mét, có kịp chăng? Tôi bàn xuống bờ sông (chỉ cách nơi làm việc 4m), phát hiện ra một hang hốc khá lớn và khá kín đáo nhờ lau sậy mọc trùm lên um tùm, thế là yên trí.

Quả thực, chỉ sau vài tháng yên ổn, một buổi chiều khoảng 14 giờ, nghe tiếng máy bay, tôi chạy ra sân thấy chiếc bà già trinh sát, đang bay tới và nghiêng cánh, đảo vòng, rồi lập tức 2 máy bay khu trục lao tới. Tôi cùng 4 anh em khác, kể cả O Lư cấp dưỡng nấu ăn, chạy xuống ẩn nấp vào cái hang hốc của bờ sông nói trên. Bom địch nỗ ì ầm, và đạn liên thanh từ máy bay rải xuống dày đặc như mưa phía đằng trên bờ sông khói tỏa mù mịt. Kiễm (đồng nghiệp) hốt hoảng, định chạy ra khỏi hang ẩn, tôi kéo giằng lại, qua màn lùm lau lách, ngẩng lên nhìn cơ quan mình đang bốc cháy ngùn ngụt.

Thường thường trong giờ làm việc, hồ sơ chúng tôi không để trong nhà, mà để ngoài trời và che đậy, nên lúc chạy trốn, chúng tôi rất kịp thời mang tài liệu cầm tay và máy chữ theo, nên nếu có cháy, thì chỉ cháy xác nhà thôi. Nhưng lần này, sực nhớ lại còn quên cái hòm đựng 10 quả đạn mocta (đạn moctiê nhỏ). Do đó, cơ quan cháy một lúc, thì những quả đạn bỏ sót kia nổ đùng đùng, chiếc khu trục của địch hai ba lần chúc xuống, trút đạn liên thanh thêm vào.

Nhưng chỉ sau nửa giờ, máy bay địch rồi cũng rút đi, chắc chắn bọn chúng nghĩ rằng đã hoàn thành phi vụ tiêu diệt căn cứ Việt minh. Chúng tôi ra khỏi nơi ẩn núp, nhảy lên bờ.
Qủa thật, tất cả các nhà cửa, hội trường, nơi làm việc đều cháy trụi, một em bé 7 tuổi con của một đồng bào bị bom vùi lấp, nhưng cứu kịp. Còn ngoài ra không ai hề hấn gì, mặc dù hôm ấy, ở hội trường lớn có cuộc họp do Uỷ ban Kháng chiến tỉnh triệu tập, tất cả tản kịp vào rừng.

Tối hôm ấy, anh em cán bộ nhân viên công an ăn cơm với bí ngô bị lửa đốt cháy, mà ban quản lý cơ quan đã mua và tích lủy trên 30 quả.

Rồi vài ngày sau “đón tiếp” đến trận càn lớn của hải lục không quân địch vào chiến khu Ba Lòng (năm 1950).

(Viết xong tháng 8/1987).
TRƯƠNG CÔNG HỐT


READ MORE - TRƯƠNG CÔNG HỐT - BA LÒNG: KHE TRÂU, TRẤM VÀ KHE HUYỆN (1948-1953) - Hồi ký

Wednesday, April 6, 2011

LỮ THƯỢNG THỌ - CHÙM THƠ



BÀI CHO CON

Con đã đứng bên đời Cha lận đận

Câu ca dao ru giấc ngủ chưa yên

Cha quỵ khát giữa dốc đời phiền muộn

Chỉ riêng con là trái ngọt trăm miền.

04 / 1993



BÀI CHO VỢ

Một ngày sống, cứ phân vân

Kéo trăm nỗi nhớ vào gần chiêm - bao

Cây đa chú cuội nơi nào?

Một câu nói dối bay vào Cổ - Thi.

10 / 1993



BÀI CHO TA

Mất hết chiếu chăn nằm võng ngược

Đời trôi theo cơm áo chôn chân

Mười năm tìm ý bài thơ cũ

Lưu lạc phương này Thân một Thân.

02 / 1994

READ MORE - LỮ THƯỢNG THỌ - CHÙM THƠ

Wednesday, March 30, 2011

TRƯƠNG THỊ HẰNG NGA - EM MUỐN



Tình em sẽ gỏ cửa trái tim anh
Em tin rằng có một ngày như thế
Một ngày kia mắt em không ngấn lệ
Đôi môi nồng đón nhận những nụ hôn.

Tình em hương dịu dàng tỏa ngát thơm
Trong vườn yêu lời ngọt ngào anh rót
Khúc tình ca sắc nhớ thương thánh thót
Theo em, anh đi suốt cuộc đời này.

Xin gởi trao bằng trọn trái tim say
Hương tình yêu:mắt, môi, niềm nhung nhớ...
Cả trời thơ nảy mầm trong dang dở
Ngút ân tình như sóng ngã về anh.

Tình em sẽ vĩnh cửu đẹp, bền xanh
Trái tim anh vì em mà mở cửa
Cháy khát khao nổ bùng lên ngọn lửa
Soi dặm trường cho ta đến ngày mai.

TTHN
READ MORE - TRƯƠNG THỊ HẰNG NGA - EM MUỐN

Friday, March 25, 2011

LÊ BÁ LƯ - CÔN ĐẢO HIỀN HÒA: MỘT LẦN ĐẾN THĂM


Lê Bá Lư, quê quán làng Bích La Đông, Triệu Phong, là một nhà báo công tác tại Thông Tấn Xã Việt Nam - thành phố Hồ Chí Minh


Lần trước, chúng ta đã theo anh ra thăm đảo Phú Quý, nay lại cùng anh ra thăm Côn Đảo -xưa là một nhà tù khét tiếng, nay là khu du lịch sinh thái tuyệt vời - để thăm những bãi biển hoang sơ, những con đường đẹp nhưng khá vắng vẻ và thăm mộ chị Võ Thị Sáu ở Nghĩa trang Hàng Dương.


Bút ký



Rời sân bay Tân Sơn Nhất, sau 45 phút, chuyến bay 8501K của hãng hàng không Vietnam Airlines đã đáp xuống sân bay Cỏ Ống, đưa chúng tôi đến với Côn Đảo - hòn đảo ngọc của Tổ quốc, thuộc tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.

Con đường nhựa từ sân bay về trung tâm huyện Côn Đảo dài hơn 13 km, uốn lượn quanh bờ biển và nhiều chỗ lên đèo xuống dốc. Phía bên trái là biển, bên phải là núi đồi và rừng nguyên sinh. Dọc hai bên vệ đường, lác đác những chùm hoa bông giấy đỏ rực xen với những cành hoa anh đào trắng xóa…




Cảm nhận đầu tiên khi đến khu trung tâm Côn Đảo là một khu đô thị mới hiền hòa nằm bên bờ biển. Những con đường nhựa sạch bóng giữa hai hàng cây bàng và bằng lăng cổ thụ tươi xanh.

Ngoài những khu di tích để lại, các công trình hạ tầng kiến trúc, giao thông, cơ quan hành chánh, khách sạn, nhà hàng, khu resort, nhà ở… đều mới xây dựng…

Ấn tượng nhất là công viên phía trước khu Bảo tàng di tích lịch sử, trải dài khoảng 300 mét dọc theo đường Tôn Đức Thắng, với những vườn hoa, cây cảnh xinh tươi đủ sắc màu, xen lẫn các tượng đài nghệ thuật bằng đá, tạo nên một cảnh quan vừa lộng lẫy vừa tôn nghiêm quyến rủ du khách.

Côn Đảo không có phương tiện giao thông công cộng. Khách đến đây theo đoàn thì có xe đưa rước từ sân bay hoặc bến tàu về khu trung tâm. Xe hơi cho thuê với giá 1 triệu đồng/ngày. Ngoài ra, phương tiện đi lại phổ biến là xe ôm. Khách có thể thuê một bác xe ôm với giá 300.000 đồng/ngày để đi mọi nơi. Muốn tự do khám phá thì có thể mướn 1 xe gắn máy với giá từ 100.000 đồng – 120.000 đồng/ngày (xe số hay tay ga). Rẻ hơn là xe đạp, với giá 30.000 đồng/ngày.

Muốn du ngoạn, khám phá các hòn đảo chung quanh thì khách có thể thuê ghe thuyền hoặc ca nô để đi. Từ đảo lớn Côn Sơn đến đảo xa nhất là Hòn Cau chừng 20km, một chiếc thuyền chở 20 người, sáng đi chiều về có giá 5 triệu đồng. Khách cũng có thể ở lại qua đêm trên các đảo; một số đảo có phòng nghỉ dã ngoại hoặc lều, võng phục vụ.

Người dân Côn đảo rất hiếu khách và dễ thân thiện. Anh Huỳnh Văn Ngà, 52 tuổi, “tài xế xe ôm” sống lâu năm ở đây, đã đưa tôi đi nhiều nơi trên đảo, và qua anh tôi đã biết thêm nhiều sự tích cũng như đời sống sinh hoạt thực tế của bà con nơi đây. Tôi cũng đã được Ngọc Quỳnh, một cô gái Côn Đảo có nét đẹp hồn nhiên, làn da trằng hồng, hàm răng đẹp đều như ngọc, hướng dẫn đi thăm một số nơi. Quỳnh đang làm việc cho dự án resort cao cấp Việt Nga vừa khởi công xây dựng ngày 20/3 vừa qua. Buổi tối chia tay, ngồi ở quán cà phê Côn Sơn, nhìn ra biển trong đêm trăng 13 mơ màng, Quỳnh đã cho tôi biết thêm nhiều điều thú vị về "đất nước - con người" của hòn đảo ngọc, và đã để lại trong tôi những ấn tượng khó quên khi rời xa nơi đây...

Nhìn chung, ngoài những khu resort, khách sạn, nhà hàng cao cấp phục vụ khách du lịch, đời sống nhân dân trong các khu dân cư Côn Đảo còn đơn sơ, trầm lắng. Đường sá thưa thớt người đi lại, ngoại trừ những lúc trời giông bão, biển động mạnh, ghe thuyền vào trú ẩn, hàng ngàn thủy thủ lên bờ thì đảo mới rộn ràng lên. Toàn đảo chỉ có một khu chợ tập trung, vài ba nhà hàng hải sản, dăm bảy quán ăn bình dân và quán cà phê; khoảng hơn chục tiệm bán hàng tạp hóa, đồ lưu niệm, cắt tóc…

Giá cả sinh hoạt ở đây hầu như mọi thứ đều đắt đỏ hơn đất liền rất nhiều. Giá phòng nghỉ 1 ngày - đêm ở khách sạn mini trung bình từ 500.000- 800.000 đồng cho 2 người; nhà nghỉ “bèo” lắm cũng phải 300.000 đồng. Một dĩa cơm bụi 30.000 đồng; ly cà phê đá vĩa hè giá 15.000 đồng; một nồi lẫu dê hoặc hải sản nhậu bình dân rẻ lắm cũng phải 200.000 đồng…

Đáng chú ý ở đây là đường sá sạch sẽ, an ninh trật tự rất tốt, xe cộ để ngoài đường không cần khóa. Ý thức chấp hành luật pháp người dân rất cao, gặp đèn đỏ, mọi người đều ngừng lại, dù đường vắng hoe và không có bóng dáng cảnh sát giao thông nào cả…

Côn Đảo là một quần đảo, gồm 16 đảo lớn nhỏ, cách thành phố Hồ Chí Minh 230km, Vũng Tàu 185km, Cần Thơ (cửa sông Hậu Giang) 83km; tổng diện tích tự nhiên (phần đất liền) là 76km2 , nhưng chỉ đảo lớn Côn Sơn (52km2) là có dân ở.

Hùng vĩ giữa biển khơi, khí hậu quanh năm ôn hòa, với nhiều tài nguyên biển, rừng phong phú, đa dạng, nhưng từ thời Pháp thuộc cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Côn Đảo chỉ được biết đến như là một hệ thống nhà tù khét tiếng, là nơi giam cầm hàng vạn chiến sĩ cách mạng và những tội danh nguy hiểm nhất. 36 năm trở về trước, đảo chỉ có trại lính, tháp canh và nhà tù, chưa có dân sinh sống. Cho đến nhiều năm sau giải phóng, Côn Đảo cũng vẫn còn đậm nét hoang sơ, với số dân chưa đến 1.000 người, sống nghề chài lưới, nương rẫy.

Ông Trương Hoàng Phục, Bí thư huyện ủy Côn Đảo cho biết, tiềm năng đảo mới được đánh thức trong vòng 5 năm trở lại đây, kể từ khi Đề án phát triển kinh tế- xã hội Côn Đảo đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng 10/2005, với mục tiêu: Xây dựng Côn Đảo trở thành khu kinh tế- du lịch và dịch vụ chất lượng cao, gắn với bảo tồn, tôn tạo di tích cách mạng đặc biệt của Việt Nam; bảo đảm quốc phòng, an ninh; gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế của cả vùng phía Nam Tổ quốc…. Qua đó, Côn Đảo được hưởng một số cơ chế chính sách ưu tiên, ưu đãi của Chính phủ về nguồn vốn đầu tư, và có những điều kiện thuận lợi hơn trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như nguồn vốn của các thành phần kinh tế khác.

Tiềm năng bắt đầu được khơi dậy, Côn Đảo đang từng ngày “đổi thịt thay da”, kinh tế địa bàn không ngừng phát triển, cơ sở hạ tầng ngày càng khang trang, hiện đại. Nhiều doanh nghiệp nhà nước, tư nhân đã mạnh dạn đầu tư kinh doanh các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, vật liệu xây dựng, lương thực, thực phẩm…và các nhà đầu tư trong nước và quốc tế đã tìm đến.

Đến nay, Côn Đảo đã có 12 dự án đầu tư nước ngoài, với tổng vốn đăng ký 52 triệu USD; trong đó có 2 dự án đã hoàn thành đi vào hoạt động, 3 dự án đang triển khai và 2 dự án đã được cấp phép. Đầu tư trong nước có 9 dự án, tổng vốn đăng ký 1.000 tỷ đồng, vốn thực hiện 170 tỷ đồng; trong đó 3 dự án đã đi vào hoạt động, 3 dự án đã được chấp thuận chủ trương và 3 dự án đang tiến hành thủ tục...

Các khu du lịch, nhà hàng, khách sạn hiện đại đã mọc lên. Trong đó có dự án resort Đất Dốc 100% vốn đầu tư nước ngoài trị giá 38 triệu USD; dự án khách sạn 3 sao Sài Gòn-Côn Đảo của Tổng Công ty du lịch Sài Gòn, vốn đầu tư 100 tỷ đồng… Du lịch nhân dân cũng đang từng bước hình thành và phát triển, một số nhà nghỉ và khách sạn mini đã được xây dựng. Một số hộ gia đình đã đầu tư nâng cấp nhà ở, tổ chức phòng trọ cho thuê… Hiện nay trên địa bàn Côn Đảo có 13 khách sạn, nhà nghỉ các loại có sức chứa 500 khách đang hoạt động..

Sân bay Côn Đảo đã được đầu tư nâng cấp, mở rộng đường băng đưa vào khai thác các loại máy bay có sức chở đến 90 hành khách/chuyến, với 2 chuyến bay mỗi ngày giữa Côn Đảo – thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại. Từ ngày 27/3/2011 máy bay sẽ được tăng lên 4 chuyến/ngày. Về vận tải biển, Côn Đảo có 2 tàu khách, sức chở 390 hành khách và 134 tấn hàng hóa, mỗi ngày một chuyến đi về giữa Côn Đảo và thành phố Vũng Tàu.
Hệ thống tín dụng ngân hàng thực hiện tốt việc cho nhân dân vay vốn sản xuất kinh doanh. Dịch vụ bưu chính viễn thông phát triển nhanh, gần 70% hộ dân có điện thoại cố định và di động; 20% hộ dân đã sử dụng đường truyền internet tốc độ cao…

Công tác giáo dục đào tạo của huyện đã đạt những thành tự đáng kể. Trường lớp, cơ sở vật chất dạy và học được xây dựng khang trang. Hầu hết các em trong độ tuổi đều đi học. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp các cấp và thi đậu vào đại học đạt mức khá so với toàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.


Huyện có 1 Trung tâm y tế quân dân y tương đối hiện đại, với 30 giường bệnh nội trú và đội ngũ y, bác sĩ, điều dưỡng 44 người, đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh cho người dân, du khách và ngư dân đánh bắt tại ngư trường Côn Đảo, cũng như thực hiện tốt công tác y tế dự phòng tại địa phương.

Côn Đảo hiện nay chỉ có chính quyền một cấp, dưới cấp huyện không có cấp xã mà chỉ có 9 khu dân cư với tổng số dân hơn 6.000 người. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ 2010- 2015 xác định chuyển dịch cơ cầu kinh tế huyện theo hướng tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ- du lịch - công nghiệp, giảm tỷ trọng nông-ngư nghiệp. Huyện tập trung thúc đẩy chuyển mạnh vốn đã đăng ký các dự án đầu tư sang vốn thực hiện; đẩy mạnh đầu tư kết cấu hạ tầng, thu hút đầu tư các khu du lịch chất lượng cao; đồng thời chú trọng đào tạo và thu hút nguồn nhân lực chất xám, trình độ chuyên môn kỹ thuật cao đến đảo phục vụ lâu dài cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Để đạt mục tiêu đề ra, trước mắt huyện tập trung phát triển nhanh một số ngành dịch vụ có lợi thế so sánh và là thế mạnh của đảo, như du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, thể thao, khám phá thiên nhiên… Đẩy mạnh các chương trình quảng bá tiềm năng, cùng những đặc thù địa lý hoang sơ quyến rủ của đảo để thu hút các nguồn đầu tư trong và ngoài nước.

Lãnh đạo huyện khẳng định, trong giai đoạn 2011- 2015, Côn Đảo phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm 17,65%; riêng du lịch tăng bình quân hàng năm 28,72%. Đến năm 2015, GDP bình quân đầu người ở Côn Đảo đạt 2.800 USD và tổng doanh thu du lịch trong 5 năm đạt 608 tỷ đồng.

Xây dựng Côn Đảo trở thành khu kinh tế du lịch -dịch vụ chất lượng cao trên cơ sở phát triển du lịch bền vững và bảo vệ môi trường tự nhiên. Mục tiêu phấn đấu của Côn Đảo trong vòng 5 năm tới sẽ thu hút đầu tư vào du lịch từ 5- 7 dự án nước ngoài, với tổng mức đầu tư từ 200- 400 triệu USD và 5-7 dự án trong nước quy mô lớn, tổng mức đầu tư khoảng 1.000 tỷ đồng. Thu hút khách du lịch đến Côn Đảo năm 2015 đạt khoảng 100.000 lượt người, trong đó du khách nước ngoài chiếm hơn 20%.

Đi đôi với tập trung phát triển kinh tế, huyện không ngừng củng cố xây dựng Côn Đảo thành khu vực phòng thủ vững chắc về an ninh quốc phòng; tăng cường giáo dục tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Xây dựng các lực lượng vũ trang vững mạnh toàn diện, đảm bảo giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn./.


(Bút ký của Lê Bá Lư)
READ MORE - LÊ BÁ LƯ - CÔN ĐẢO HIỀN HÒA: MỘT LẦN ĐẾN THĂM

Thursday, March 24, 2011

VÕ THỊ NHƯ MAI – MÙA XUÂN CỦA TUỔI HAI MƯƠI

Ảnh minh họa


Sao không là cỏ hoa

Để mãi trong im lặng

Sao không là hai giọt nắng

Rớt xuống đời xa lạ vu vơ

Bốn câu thơ dễ thương không rõ tựa đề và tác giả trong trang Mực Tím thuở nảo nao mà tôi thường lẩm nhẩm mỗi khi tâm trạng vui vẻ, chẳng hiểu sao tôi lại thuộc và nhớ mãi. Đôi khi người ta chẳng lý giải được vì sao họ cảm mến người này mà ơ hờ với kẻ khác, vì sao họ không thể nào quên được một kỷ niệm nho nhỏ và dễ dàng thả vào quá khứ điều mình đã từng gắn kết và quen thuộc cả một khoảng thời gian dài.

Mấy năm trở lại đây, tôi thích đọc thơ của nhiều người khác nhau và Mùa Xuân Cuối Trường của nhà thơ Võ Văn Hoa là một bài hiếm hoi trong số rừng thơ ấy khiến tôi thuộc lòng ngay từ lần đầu tiên xem trên Văn Nghệ Quảng Trị, như bài thơ ngày xưa trên Mực Tím đã in vào trí nhớ.

Hôm ấy, tôi tìm một trang vở học sinh và nắn nót chép lại Mùa Xuân Cuối Trường bằng bút bơm mực, phải viết đến lần thứ ba mới cảm thấy hài lòng. Có cảm tưởng như mình là cô học trò nhỏ hiền lành với những dòng chữ đang ráo mực, ngồi bâng khuâng cuối hiên trường dõi mắt xa xăm với dòng ý nghĩ bộn bề, nét ưu tư điểm lên đôi chân mày nhíu lại một tí.

Bài thơ lớn hơn tôi hai tuổi và tác giả viết bài ấy khi bước sang tuổi hai mươi.

Tuổi hai mươi, của ưu tư và lo toan khi bước vào ngưỡng cửa cuộc sống. Tuổi hai mươi luôn tự hỏi liệu có quá muộn để thay đổi một quyết định, một hướng đi mới. Tuổi hai mươi băn khoăn liệu mình đã thực sự chín chắn chưa, ước mơ đặt ra có thực hiện nổi không và thế nào là lý tưởng sống cao đẹp. Tuổi hai mươi vạm vỡ và tràn đầy nhựa sống, ngoài mong ước sớm ra trường để tìm một công việc tốt, còn là niềm tin được dang rộng vòng tay bảo vệ, che chắn và bao bọc người thân. Tuổi hai mươi còn là điểm khởi đầu để bắt đầu suy nghĩ về tình yêu và định hướng cho một mái ấm gia đình.

Bây giờ còn gì để nói

Khi bên ngoài úp cánh mùa xuân

Ta tưởng người đi không bến đợi

Nên chẳng cần chi như mọi lần.

Đối với tôi mà nói, tuổi hai mươi của mình trôi qua khá nhạt nhẽo, là công thức chung được đúc khuôn bằng ngọn nến sinh nhật lấp lánh, bằng những ngày đi bộ đến trường đại học, chăm chỉ ghi điểm và thích được ngắm những đôi bạn hạnh phúc tay trong tay đến giảng đường và góp gạo thổi cơm ở cùng nhà trọ (về sau này hiếm lắm mới có một đôi thành vợ thành chồng).

Tuổi hai mươi của tác giả xem chừng chất chứa suy tư khi trải rộng lòng mình trên trang giấy,nhưng dù có nhiều điều để thổ lộ đến đâu, khi mùa xuân đến, khi những đoá hoa thơm ngát rực rỡ điểm sắc tô son cho những khu vườn, vỉa hè, công viên, chàng trai trẻ chợt thấy mình muốn được bước những bước chậm rãi, khoan thai dừng lại để cảm nhận hương xuân tràn ngập đất trời.

Ta cũng gặp cô em bé nhỏ

Hai năm hoài bướm trắng cũng thành xanh

“Mây” buồn nhớ xuôi chân về đỉnh núi

Gió còn thương nên vấn víu cây cành!

Mùa xuân trong đôi mắt chàng trai có bóng dáng của một cô em bé nhỏ đang từng bước trưởng thành, một hình ảnh thoáng gặp rồi xa xăm vời vợi, để cho cái nhớ nhung cứ lẩn quẩn và kéo dài da diết, để trong từng bước chân thong dong chiêm ngưỡng chiếc lá xuân thi thoảng vướng víu chút hoài niệm yêu thương lãng đãng mơ hồ.


Còn gì không em, khi mùa xuân đến

Ta âm thầm đếm bước mãi đi xa

Buồn lắm lúc khi trường đời hiển hiện

Cuộc đời này sao chỉ khúc cuồng ca!


Nếu bạn đã từng đi qua tuổi hai mươi tươi đẹp, chắc chắn rằng bạn cũng có những trở trăn như thế này, cuồn cuộn cảm xúc thế này với những triết lý sâu xa, tưởng chừng như đã thấu hiểu gần như mọi chuyện, qua bao gió biển sóng gào như thể đã bước qua một phần lớn nấc thang cuộc đời. Hơn lúc nào hết, những cuộc chia tay tạm biệt gần như đem lại quá nhiều muộn phiền dẫu biết rằng mỗi một người đều có ước mơ riêng chân trời riêng để theo đuổi.

Bây giờ còn gì để nói

Khi em còn hoài bão cao xa

Ta thầm nói: Ừ, thôi kiếp mới

Kiếp vừa rồi đường có nở thêm hoa!


Để rồi sau cùng chàng trai trẻ cũng chấp nhận sự thật của hiện tại dẫu còn nhiều nuối tiếc, rằng có hội ngộ thì có tạm biệt, rằng cuộc sống còn thênh thang và ở tuổi hai mươi cũng chỉ mới là điểm khởi đầu. Và đúng như vậy, gần ba mươi bảy năm trôi qua còn gì, ba mươi bảy năm để những vần thơ không chỉ dừng lại ở niềm yêu thương nuối tiếc của một mùa xuân cuối trường, ba mươi bảy mùa xuân đơm bông kết nên hàng trăm bài thơ hay về đủ mọi đề tài của Võ Văn Hoa hiện thời, của một Võ Văn Hoa có mặt trên từng con đường làng quê và phố xá và trong lòng của bạn đọc.


Đôi khi thì thầm lời bài thơ, tôi tự hỏi không biết tác giả nghĩ ngợi gì khi tình cờ đọc lại và có ai trong số độc giả cũng thuộc lòng Mùa Xuân Cuối Trường như tôi không. Và nếu một lần bạn tình cờ nhìn thấy một chàng trai trẻ đang ngồi tư lự trên ghế đá trường Đại Học với dáng dấp vô cùng thân quen khiến bạn cứ ngờ ngợ và chăm chú nhìn mãi. Chàng trai đeo kính với đôi mắt một mí và khuôn mặt thông minh ấy là qúy tử của nhà thơ Mùa Xuân Cuối Trường chứ không phải chính tác giả đâu nhé.

Tây Úc 12/3/2011

VTNM

READ MORE - VÕ THỊ NHƯ MAI – MÙA XUÂN CỦA TUỔI HAI MƯƠI

Wednesday, March 23, 2011

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG - MỘT CÕI TRỊNH CÔNG SƠN (3)

Trịnh Công Sơn, Bửu Ý, Nguyễn Trọng Tạo và Hoàng Phủ Ngọc Tường

Căn Nhà Của Những Gã Lang Thang
Theo tôi, người ta không nên dính líu quá nhiều đến quá khứ nhưng người ta cũng khó lòng đoạn tuyệt với quá khứ. Bởi vì, chẳng phải sao, quá khứ là những gì thân thuộc nhất của tâm hồn và quá khứ là" khu vườn bí mật" của tâm hồn; có thể nói quá khứ là tài sản quý báu còn lại sau cùng của đời người, mãi mãi không thay đổi. Đó là lý do tại sao tôi cứ khăng khăng ở lại ngôi nhà này khi Sơn đã cùng gia đình dọn vào sống ở thành phố Hồ Chí Minh và giao căn nhà ở Huế lại cho tôi.

Hình như trong mỗi góc đầy bóng tối của căn nhà này, trên chiếc bàn bằng gỗ mộc của Sơn để lại, và trong chiếc ghế làm bằng sợi mây heo to mà Cường thường ngày vẫn ngồi vẽ, đều dậy lên mùi hương lặng lẽ của tuổi trẻ chúng tôi. Hồi ấy gia đình Sơn sống ở ngôi nhà này, còn tôi và

Đinh Cường thì sống chung ở một căn nhà thuê ở hẻm Bến Ngự bên kia sông. Tôi quên sao được hình ảnh của Cường thường treo một cánh tay lên cổ, bông băng và thuốc đỏ băng kín, giả vờ làm bị thương để vẽ về chiến tranh. Tôi ngồi chấm bài trước bàn làm việc, trong căn phòng im lặng, trong khi bên ngoài hàng rào chè tàu xình xịch một đoàn tàu dài xuôi Nam chở theo những gương mặt quen thuộc ở lớp học, cố nhoi ra bên ngoài cửa sổ như để nói lời vĩnh biệt với tôi. Vâng, chúng tôi lớn lên bằng tuổi chiến tranh; và đó là nền tảng hội họa sơn dầu của Đinh Cường, của nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn; và của tuổi trẻ bi thảm của chúng tôi đang loanh quanh ở thành phố này.

Buổi tối, Cường và tôi thường thả bộ qua nhà Sơn ở phía bên kia chiếc cầu nhỏ để cùng Sơn đi lang thang dọc sông Hương. Phía ngoài căn nhà Sơn đang sống là một hành lang dài, và ở dưới đường, quãng trước mặt nhà có những cây long não đại thụ chừng thuộc thế hệ những cây đầu tiên của thành phố còn lại sau những cơn bão. Ở đầu kia đường, có một cây xà cừ to lớn, về mùa thu lá vàng chói nguyên cả cây, giống y như mỗi chiếc lá đều được thợ kim hoàn đúc bằng vàng. Phía cuối hành lang là một dòng sông nhỏ mà chúng tôi thường đứng ngắm qua mỗi cơn mưa. Dưới cơn mưa, dòng sông phẳng lặng và hình như rộng hơn; trên mặt nước trong xanh này, thánh thót hàng ngàn giọt mưa sáng chói, và reo ca như những phím dương cầm "Ôi những dòng sông nhỏ, lời hẹn thề là những cơn mưa “, như trong bài hát của Sơn.
Tấm kính nơi chiếc cửa lớn nhìn ra mặt tiền nhà Sơn đã vỡ từ lâu, Sơn cũng lười không gắn lại; gió heo may bên ngoài cứ thổi thẳng vào nhà, nghe văng vẳng như tiếng người. Sau này về sống trong căn nhà của Sơn, tôi ngồi viết ở phòng sau, cứ nghe tiếng người ta gọi tên mình ở trước cửa. Giờ này hai đứa bé đều đi học, căn nhà trở nên quạnh hiu lạ lùng, tôi thường mong có bạn đến chơi. Nghe tiếng gọi ngoài cửa tôi mừng quá, đặt bút chạy ra mở cửa. Hóa ra chỉ là tiếng gió thổi, mấy chiếc lá khô theo cơn gió chạy dài dọc hành lang.

Căn phòng sau, do Sơn tự thiết kế, bày biện làm phòng học; tôi thường đến vào giờ nghỉ, để dạy thêm cho các em Sơn. Phải thành thực nói rằng vào hồi đó ở Huế, hội họa trừu tượng đang xa lạ với công chúng, nên trong bạn bè, Cường vẫn được tôn sùng như một người thuộc "Thế kỷ ánh sáng".

Thỉnh thoảng Cường vào Sài Gòn tổ chức triển lãm. Có lần, tôi đang bận dạy học thì được văn phòng nhà trường chuyển cho một tấm vé máy bay. Đó là tấm vé của Cường gửi để rủ tôi lên dự cuộc triển lãm của Cường mở ở Đà Lạt. Tôi còn nhớ đó là một ngày lễ Noel, và bức tranh Thiếu nữ trong màu hoa anh đào của Cường được nhiều người hỏi mua, trong đó Cường vẽ một khuôn mặt thiếu nữ từ khung cửa sổ của một biệt thự đang đăm đắm cúi nhìn xuống một nụ hoa anh đào đầu mùa. Ở Huế, Cường có vẽ tặng tôi bức Cầu say trong đó, những nét vẻ nguệch ngoạc, chiếc cầu Trường Tiền nổi bật trên nền màu gạch và một chấm đèn màu vàng le lói trên cao, như một dấu hiệu của ý thức. Có lẽ đó là cơn say của chúng tôi trong những đêm lang thang ở Huế.

Ở Huế đi lang thang cũng là một sinh hoạt văn hoá. Cường luôn luôn ăn vận đàng hoàng, lúc nào cũng như mới, và thường sang phòng tôi gọi tôi đi chơi. Tôi mặc một chiếc vét cũ của anh Đỗ cho, áo khoác vào dài quá nửa vế, dệt bằng sợi len thô, có lẽ là áo anh Đỗ thường mặc vào ban đêm, lúc đứng chờ chị Quỳ ở ga tàu điện ngầm ở Paris. Thỉnh thoảng, chúng tôi còn có Ngô Kha nhập bọn; Ngô Kha, vốn là thi sĩ khá nổi tiếng bị động viên làm sĩ quan quân đoàn I đóng ở Đà Nẵng. Thỉnh thoảng Ngô Kha ra Huế nghỉ phép và cùng đi lang thang với chúng tôi.
Chúng tôi thường ra khỏi nhà vào lúc đêm đã khuya, đường phố vắng không có xe cộ, cũng không có người. Chúng tối thường ghé vào cư xá đại học rủ anh Đỗ đi chơi; vào giờ ấy chị Quỳ đã đi ngủ, và anh Đỗ còn ngồi một mình, nhấm nháp ly cà phê pha loãng và đọc truyện chưởng Kim Dung. Chúng tôi coi cuộc đi chơi bắt đầu từ nhà Sơn, lúc ấy, mọi người đã đông đủ. Chúng tôi đi theo đường phố dọc sông Hương, kéo sang cầu Trường Tiền và ngồi ở một quán cà phê nổi tiếng thời đó. Đường vắng, hai hàng cây muối bên đường như chụm đầu vào nhau thành một cái vòm trên đầu, và con đường Lê Lợi như dài thêm ra dưới ánh đèn đường. Thỉnh thoảng trên đường phố vắng chúng tôi có gặp những người phu quét đường chở lá rụng trong những xe ba gác và đẩy đi cành cạch trên mặt đường. Đi bên Sơn, tôi hát thầm những câu hát của Sơn: “Đại bác đêm đêm dội về thành phố. Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe”.

Còn Ngô Kha thì dọc cho chúng tôi nghe bài thơ mới làm; Kha thích ngâm thơ dưới những hàng cây ban đêm, còn tôi thì thích nghe hết mọi cái ngoài giờ dạy học. Hình như những lúc đó chúng tôi mới nhận thức được rằng con người là một tự do.
Tôi nhớ câu thơ của Ngô Kha làm trong những cuộc lang thang ấy:

Lần hồi sinh trên con tàu cuối cùng
Chung quanh anh phù sa cát đỏ
Anh hỏi thầm về đời mình
Gỗ đá có buồn không?

Trong những cuộc lang thang này, chúng tôi thường gặp Bích. Bích thường mặc quần áo Jean, đầu cạo trọc, vừa lang thang vừa huýt sáo, một điệu nhạc nào đó đang thời thượng trong giới trẻ thành phố. Bích huýt sáo rất hay, thường từ xa nghe tiếng huýt sáo người ta đã biết Bích đang đi lên. Có lần, tôi thấy Bích đi bộ ngang trước nhà Sơn; khi Bích bắt đầu huýt sáo thì người ta đổ ra xem, đứng kín hết cả ban công của ngôi chung cư đầu cầu.

Người ta chết một mình nên cũng sống một mình. Từ đó, chúng tôi xem nhà ở chỉ là một nơi tạm trú, một nơi tạm dừng chân ở cõi đời. Chúng tôi, cả ba người giống nhau, đều quan niệm rằng nghệ thuật chỉ là một cách thế đối diện với cái chết. Từ ấy về sau, người ta không còn nghe tiếng huýt sáo khuya khoắt của Bích nữa. Có lẽ vì cả thành phố không ai có thể huýt sáo hay giống như Bích, mà Bích thì đã bị điều đi quân dịch không biết sống chết ở chiến trường nào. Khắp nơi đều khói lửa mịt mù . . .

Trong những cuộc đi chơi đêm hôm như vậy, Cường rất thích dừng lại đọc một mỹ cảm nào không biết trên những bức tường rêu phong, dưới ánh đèn vàng. Theo ngón tay của Cường, tôi thấy hiện ra nhiều thứ hình trên nền gạch cổ, khi thì một mặt người nhìn nghiêng, khi thì con chim đang bay, thảng hoặc một vài ngôi nhà thờ hoang phế trên đồi.
Đó chính là nguồn cảm hứng đích thực của Cường, và thỉnh thoảng, tất cả lại hiện ra trên khung vải của Cường, dưới một màu rêu xám ảm đạm và sang trọng, rất được quần chúng hâm mộ trong các phòng triển lãm, từ đó bạn bè gọi đùa là tranh sơn dầu của Đinh Cường thuộc trường phái “rêu phong".

Còn Sơn... Sau những ngày đông vui giữa bạn bè, giữa đám con gái bay lượn trong bộ cánh rất mốt ở Sài Gòn, Sơn lại quay về với sự tĩnh mịch của mùa thu ở Huế. Và tất cả khối lượng âm nhạc phản chiến đồ sộ ký tên Trịnh Công Sơn đều được viết ra từ căn phòng này. Nhạc phản chiến là rất mới đối với quần chúng các đô thị miền Nam thời bấy giờ, trong đó, đối diện với cuộc chiến tranh dữ dằn, người ta thấy một khuôn mặt trẻ mệt mỏi, hờ hừng, không biết hy vọng gì ở tương lai . . .
Chúng tôi đi lang thang trong những đêm mùa hạ, thơm ngát mùi hương ngọc lan, trong những khu vườn tối, và trên trời nhiều mây trắng bay. Tôi ước mơ tập luận văn triết học của tôi sẽ đầy ắp hình ảnh của bạn bè, và cái tự do phù phiếm của tôi sẽ được viết trên nền trời xanh trong nét bút của mây trắng. Qua những cuộc rong chơi trên thành phố mến yêu, giống như những người thợ thủy tinh, chúng tôi thổi hơi thở của mình vào chất nhựa chai của tư duy, để làm hình thành ở đó một thế giới lấp lánh muôn màu dưới ánh sáng nghệ thuật, một thế giới từ không thành có, từ khoảng khắc thành vĩnh cửu, hoặc như bài hát của Sơn "Ta nghe đời rất mênh mông. Trong chân người bước chầm chậm”.

Đêm ấy, chúng tôi lại tiễn đưa anh Đỗ đi quân dịch. Cả anh Đỗ và Sơn đều bị gọi lính vào một trại quân nào đó ở Đà Nẵng vì tham gia một phong trào đòi hoà bình ở Sài Gòn. Sơn đã uống thuốc xổ, để cơ thể mất quá nhiều nước và do đó được hoãn quân dịch. Sau khi ngồi ở quán cà phê, chúng tôi về lang thang dọc sông Bến Ngự. Anh Đỗ xé nát tấm giấy gọi lính, và nằm lăn ra ngủ dưới gốc cây bên đường. Đây là một con đường ven sông có thảm cỏ dày, và hương cỏ đêm khuya thơm lạ lùng làm người ta nghĩ đến một nỗi bình yên nào đó không có ở đời. Khi anh Đỗ ngủ say, Ngô Kha đi nhặt đâu đó những cánh hoa phượng vĩ hồng đem rải quanh người anh, để khi anh ngủ dậy, còn lại dấu vết một hình người trên mặt cỏ. Chiều hôm sau, chúng tôi đưa Sơn và anh Đỗ vào trại Cây Điệp ở Đà Nẵng. Khác với tình trạng nhẹ cân của Sơn, anh Đỗ bị chất độc trong thuốc xổ ảnh hưởng đến tâm thần. Người ta phải thả để anh về, vì anh đã mất hết trí nhớ, không dùng được vào việc binh. Trước ngày lên đường, tôi có việc cần phải lên Đà Lạt, có ý tìm thăm anh Đỗ, định nói với anh một điều. Tôi gặp anh đi thơ thẩn một mình trong rừng thông, mặt ngơ ngác như một người đã quên hết mọi sự ở đời.

Tôi đành quay về Huế một mình và cũng không tiện từ giã anh lúc ra đi.

Đêm ấy. . .
Con sông Hương trôi trong đêm tối, êm đềm như một dải lụa huyền. Ngay trong thành phố, thỉnh thoảng người ta vẫn gặp một vài đám lau sậy um tùm, tưởng như chỗ buộc thuyền của người kỹ nữ bến Tầm Dương xưa và chàng Tư Mã khóc đời bằng dòng nước mắt màu xanh, nên bây giờ dòng nước sông Hương xanh thẳm đến lạ lùng. Sau này, trong những năm đi xa chợt nhớ về anh Đỗ, không hiểu tại sao trong tâm trí tôi vẫn hiện ra một hình người vẽ bằng nét hoa nằm im trên cỏ.

Một chiều, tôi gặp một người giao liên hợp pháp thông báo với tôi ý kiến của Thành ủy nói rằng Toà lãnh sự Mỹ ở Huế đã bị thiêu hủy, thế hợp pháp của tôi và em trai tôi đã hết; và chúng tôi cần rút "lên xanh" để được an toàn, tránh sự nguy hiểm từ phía địch. Đi hay không là tuỳ bọn tôi, nhưng phải trả lời ngay bây giờ để tổ chức tiện bố trí đường dây. Tôi đồng ý là phải đi, trời đất rộng bao la mà ở đây không có một chỗ dung thân cho anh em tôi. Đã hết rồi những cuộc lang thang với bạn bè...

Từ chỗ trú ẩn bên kia sông Bến Ngự, tôi sang ăn bữa cơm chiều cuối cùng với nhà Sơn. Tôi vẫn duy trì những buổi dạy kèm với em Sơn giữa những đợt đấu tranh của thành phố. Vào giờ học, Thủy, em của Sơn, nói với tôi rằng theo lời dặn của Ngô Kha, thì quân đội của tướng Nguyễn Cao Kỳ sẽ kéo đại quân ra Huế để đàn áp cuộc nổi dậy. Kha dặn tôi hãy tìm một nơi khác, lên Trường Sơn cũng được, tạm tránh lúc tranh tối tranh sáng của cuộc tiến công. Theo tin tức quân báo của Kha nhận từ đoạn Đà Nẵng, thì lực lượng thủy quân lục chiến của Kỳ sẽ chĩa mũi nhọn vào những người của phong trào mà họ cho là nguy hiểm, ngay từ lúc họ đặt chân đến Huế để tránh hậu hoạ. Ngô Kha cùng với chiến đoàn ly khai của anh sẽ kéo dài cuộc cầm cự trên đèo Hải Vân, để tạo điều kiện cho tôi đi thoát. Sau đó, đơn vị của Kha sẽ về bám Lăng Cô đánh "du kích". Kha hy vọng ít lâu sau, Kha và tôi sẽ tái ngộ ở một hang đá nào đó của Trường Sơn.

Ôi? Ngô Kha, thằng bạn khẳng khái của tôi! Ngày tôi về Huế, được tin Kha đã bị địch thủ tiêu sau Hiệp định Paris lòng tôi dấy lên một nỗi đau đớn chưa từng thấy. Làm như thể chiến tranh vẫn chưa đủ ác liệt đối với tôi? Làm như nhiều năm khổ vẫn chưa đủ cho tôi đáng với tư cách thay mặt những bạn bè tại ngôi nhà này để đứng về phía những người kháng chiến.

Trong bữa ăn, tôi ngỏ lời tạm biệt gia đình Sơn và nhờ Sơn chuyển lời tạm biệt đến cha mẹ tôi; tôi cầu mong song thân cố gắng bảo trọng, mai mốt đất nước hoà bình, anh em tôi lại về.

Tạm biệt nhé, những nẻo đường lang thang tôi đi suốt đời không hết; tạm biệt dòng sông đẹp và buồn và uể oải như một thiếu nữ đài trang; tạm biệt con chuồn chuồn đậu lay lắt trên ngọn cỏ may ven sông; tạm biệt thành phố với những ngôi chùa yên tĩnh như ở một cõi đời nào khác. Tạm biệt ngôi nhà với tuổi trẻ và những cuộc lang thang trĩu nặng phiền muộn của chúng tôi; hết chiến tranh tôi sẽ về ngồi đây, thật lâu...

Thanh niên, Xuân 2001
Huế. 29/1O/2000
READ MORE - HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG - MỘT CÕI TRỊNH CÔNG SƠN (3)

Friday, March 18, 2011

LA THỤY - CHÙM THƠ



La Thụy là bút hiệu của thầy giáo Đoàn Minh Phú, quê Quảng Trị, đang dạy học ở La Gi, Bình Thuận.
Xin mời các bạn thưởng thức thơ của anh.


       THÙY HIÊN (* )

Chiều tàn sương lung linh
Vườn hồng mơ chim xanh
Thùy Hiên, em trong vườn
Bừng lòng bao là thương

Môi hồng gieo buồn vương
Mơ hồ chờ anh hôn
Lâng lâng và chơi vơi
Yêu em không còn lời

Hồn chiều in lên mi
Thuyền tình xuôi mây đi
Ồ nàng hay sao trời
Thiên hà hay trùng khơi ?

Hồn anh dâng bâng khuâng
Đàn lòng sao ngân vang
Cung trầm rung miên man
Lời trên môi thì thầm

Lời chiều muôn năm xưa
Òa tràn trăm sông thơ
Mênh mang tà huy bay
Thùy Hiên vàng trăng gầy

*Thùy Hiên : Tên người thiếu nữ



                 TÌNH XƯA

Sầu thu mênh mang thương rừng phai
Tương tư bâng khuâng nhiều canh dài
Lời trăng vương gieo hờn lên môi
Đêm đêm mơ ai nhìn mây trôi

Đêm đêm mơ ai nhìn mây trôi
Chừ đây uyên ương không còn đôi
Rồi em sang ngang trên thuyền hoa
Giang hồ phiêu bồng ru đời ta

Giang hồ phiêu bồng ru đời ta
Lênh đênh trùng khơi đùa phong ba
Vàng trăng giăng tơ khơi tình xưa
Tình ơi ! Tình ơi ! Đừng đong đưa



                  HỒ CẦM

       Vang đêm thanh hồ cầm ngân
Trăng ngà giăng tơ cung trầm buông lơi
       Lâng lâng tình đang lên khơi
Hồ, xừ, xang … lòng chơi vơi canh dài
       Mơ hồ hồn xưa liêu trai
Mồ thu hoang vu chừ ai u hoài
       Vương mang chi, đàn ngân dài
Lưu dư hương … ồ trang đài về đâu
       Tương tư sao, đàn dâng sầu
Say men nồng hay say màu thời gian
       Vời chân mây, nhòa non ngàn
Bâng khuâng heo may, mơ màng hơi thu
       Ai phiêu diêu trong sương mù
Người muôn năm … từ thâm u quay về
       Trần gian kia còn si mê?
Hồ cầm cao cung, thương hề niềm xưa
       Rơi rưng rưng từng âm thừa
Sao trời lung linh đường tơ chìm dần
                                           LA THỤY
READ MORE - LA THỤY - CHÙM THƠ