TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
Chúc Mừng Năm Mới
Thursday, February 3, 2011
Wednesday, February 2, 2011
NỮ CA SĨ TÂN NHÂN

Tiểu sử và sự nghiệp
Bà tên thật Trương Tân Nhân, sinh năm 1932 tại làng Mai Xá, xã Gio Mai, huyện Gio Linh, Quảng Trị, trong một gia đình trí thức. Cha bà là ông đốc Hy, mẹ là con gái trong một gia tộc họ Hoàng. Lớn lên bà học tại trường nữ sinh Đồng Khánh (Huế).
Cách mạng tháng 8 thành công, bà thoát ly gia đình theo cách mạng khi mới 13 tuổi. Bà tham gia đội phản gián, làm nhiệm vụ đưa tin, rải truyền đơn. Năm 1949, bà tham gia vào Đoàn Văn công Quân đội mặt trận Bình Trị Thiên và Trung Lào. Năm 1954, bà là diễn viên đơn ca tại Đoàn Ca múa Nhân dân Trung ương. Năm 1963, bà theo học khoa Thanh nhạc Trường Âm nhạc Việt Nam và tốt nghiệp năm 1968. Từ năm 1969 đến năm 1972, bà tu nghiệp tại Nhạc viện Sofia, Bulgaria. Về nước năm 1973, bà làm việc tại Đài Phát thanh Giải phóng, rồi Đài Tiếng nói Việt Nam. Bà còn là ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhạc sĩ Việt Nam khóa II. Bà còn tham gia công tác đào tạo diễn viên cho Lào, xây dựng dàn hợp xướng cho các đội hợp xướng thiếu nhi ở Thủ đô Hà Nội.
Tân Nhân có một giọng nữ cao trữ tình, đậm chất miền Trung. Bà thành công với nhiều ca khúc dân ca và trữ tình cách mạng như Xa khơi (Nguyễn Tài Tuệ), Tát nước đêm trăng, Nắng Ba Đình, Tình quê, Ru con (dân ca Nam Bộ), Tình quê hương (Trọng Bằng), Anh về miền Bắc, Chim Pongkle (Nhật Lai), Lăm tơi, Bên nôi con mẹ hát (Lê Lôi), Câu hò bên bờ Hiền Lương (Hoàng Hiệp - thơ Đăng Giao), Nhớ... và một số ca khúc nước ngoài. Đặc biệt với Xa khơi, được thu âm vào thập niên 1960, bà được đánh giá là người thể hiện thành công nhất ca khúc này, và đây cũng là một ca khúc gắn liền với tên tuổi của bà, được công chúng yêu thích và đón nhận rộng rãi.
Tân Nhân đã được trao tặng Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất và danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú (1988). Bà mất vào ngày 14 tháng 2 năm 2008 tại Thành phố Hồ Chí Minh, thọ 76 tuổi.
Đời sống riêng
Năm 1949, trong trận càn ở Phong Lai, bà đã mất liên lạc với cơ sở. Tưởng bà đã chết, trường Huỳnh Thúc Kháng (nơi bà đang theo học) đã tổ chức truy điệu bà. Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ - người bạn học cùng quê - đã viết ca khúc Xuân chết trong lòng tôi để tưởng nhớ tới bà :
... Xuân ơi xuân
Chim xa đàn
Xuân ơi xuân
Ngờ đâu xuân chết trong lòng tôi
Trong tiếng đàn...
Về sau bà đã yêu Hoàng Thi Thơ. Sau này ông Hoàng Thi Thơ sang bên kia chiến tuyến, riêng bà lúc đó đang mang thai. Về sau, Tân Nhân ở lại đất Bắc nuôi dạy con là ông Lê Khánh Hoài (lấy họ theo người cha dượng tức người chồng thứ hai của bà là nhà báo Lê Khánh Căn nguyên phụ trách Phòng Văn nghệ Đài Tiếng nói Việt Nam (cơ sở 2, tại TPHCM) và nguyên Trưởng ban Bạn đọc Báo Nhân Dân. Hiện nay ông Lê Khánh Hoài đang làm phóng viên, hoạt động trong lĩnh vực điện ảnh và kịch nghệ. Bà có 2 người con với người chồng thứ 2 là ông Lê Khánh Châu và bà Lê Khánh Như. Ông Lê Khánh Châu hiện là Giáo sư, Tiến sỹ Khoa học của Đại học Bochum - Cộng hòa Liên bang Đức.
Theo vi.wikipedia.org
---------------------------------

ĐẶNG ANH ĐÀO - TÂN NHÂN THỜI ẤY
Cho đến tận tháng bảy năm nay, tôi mới biết rằng chỉ cần đi một đọan đường ngắn là có thể gặp lại chị. Đối với nhiều người, nói đến Tân Nhân là nghĩ đến Xa khơi, một bài hát của Nguyễn Tài Tuệ, và cũng thể là hình ảnh của một thời Tân Nhân – soliste nổi tiếng, từ sau 1954 đến những năm 60. Nhưng với tôi, dẫu có thấp thỏang gặp lại chị trong thời gian ấy, những ấn tượng khó quên nhất về người_con_gái_hát lại gắn với thời chị còn là một nữ sinh, hai bím tóc kết dày nặng, tràn đầy sức sống của tuổi thiếu nữ.
…Ngôi nhà nhỏ ở trong ngõ, hoặc là hẻm, sẹc, theo lối gọi của người dân Sài Gòn. Giọng nói vẫn ấm và trầm, chỉ không còn độ lan tỏa đến ngợp người của ngày xưa. Có năm, lên gác nhà tôi ở Hà Nội, chị bảo “Ở dưới sân nghe, cứ tưởng là cãi nhau, hóa ra các con trai em nói chuyện”. Chắc chúng đã làm khổ đôi tai của ca sĩ. Giọng Tân Nhân êm mượt như nhung, nhưng thời chúng tôi còn là học sinh trường Huỳnh Thúc Kháng, đâu có micro, vậy mà giọng hát ấy khi cất lên rung động cả khỏang không và đêm tối bao la. Trong những đêm liên hoan ấy, sang lắm mới có đèn măng sông, mà lại còn phải tắt ngay nếu có tiếng rù rì của máy bay địch. Tôi đứng dưới đám đông học sinh và dân làng, tất cả lặng đi, ngước nhìn bóng chị in rõ trên nền trời, tiếng ca mở rộng hết cỡ, những bài hát phơi phới của ngày ấy như Nắng Ba Đình, và cả những bài hát đậm sắc giọng miền Trung, như bài Bà Mẹ Gio Linh… Khi gặp nhau ở “nhà riêng” (có nghĩa là nhà dân cho chúng tôi ở nhờ), bọn “tiểu tư sản” chúng tôi được nghe những bài hát khác. Tôi nhớ mãi lần đầu tiên chị tới nhà, ngôi nhà tranh nhỏ bé rung lên như không chứa nổi giọng hát của chị. Đó là những bài như Thiên Thai, Trương Chi… Sérénade của Schubert, và cả Quand Le Soleil D’or Descend (Khi mặt trời vàng lặn xuống…) mà diễn viên Shirley Temple nổi tiếng đã hát trong bộ phim tôi được xem từ thời trước Cách mạng, Cô gái của khu rừng bị nguyền rủa. (Chị nói thời còn là một học sinh trường Đồng Khánh Huế, nhờ giọng hát mà con bé nhà quê như chị đã được Nam Phương hòang hậu mời tới cùng với mấy đứa bạn con nhà quyền quý, cho ăn bánh ga tô và hát…Để rồi mới 14 tuổi đã “thóat ly” đi kháng chiến). Hôm đó, chị ca bài Xuân chết trong lòng tôi, một bài hát được Nhạc sĩ-Người tình viết cho chị trước đó ít lâu, khi tưởng rằng Tân Nhân-Mùa xuân của anh đang ở chiến khi Bình Trị Thiên_Trung Lào đã bị địch giết chết trong một trận càn… Lúc này đã được ban chỉ huy chiến trường cho về đi học tiếp, chị hát, còn Nhạc sĩ-Người tình đệm đàn, dường như là một kết thúc có hậu. Hôm chị đến nhà chúng tôi, nắng rực rỡ trong vườn. Dù lúc này chị đã gặp lại trường xưa, người cũ, nhưng lúc chị cất tiếng hát “…Bướm rồi lìa hoa/ trùng phùng xa lắm…”, cảm kích vì mối tình của nhạc sĩ, nước mắt chị vẫn chảy dài trên gò má hồng như trái bồ quân, làm đôi mắt đen to rợp hàng mi dày của chị gần như xanh biếc lại. Chị mặc một tấm áo bằng vải thô trắng-ngày nay là mốt, là hàng xịn- nhưng thời ấy là thứ vải dệt tay của dân quê thuộc lọai rẻ nhất. Dù nổi tiếng về nhan sắc, nhưng với Tân Nhân không mấy ai lúc bấy giờ đánh giá hết vẻ hiện đại, bí quyết của sức hấp dẫn ở chị: tràn trề sức sống mãnh liệt, chân chất của một vùng đầy sỏi đá, cô bé từng lên “lòi” ăn móc ăn sim tím cả môi, chân trần lội “hói”, ra tắm sông Thạch Hãn, hát theo giọng hò khoan và những điệu đưa đò khỏe mạnh thừa hưởng từ người mẹ ấy lại rất tài tử với những điệu “hát Tây” của thời Tino Rossi, Shirley Temple,… Chúng tôi chỉ cần đòi “Tân Nhân hát đi”… là chị cất tiếng. Ở Tân Nhân, có gì đó vừa sâu thẳm, vừa phù phiếm, vô tư. Cho tới ngày chị rời trường. Bởi thật trái khoáy, dẫu lời ca của người nhạc sĩ ấy đã “truy điệu” nhầm cái chết của Tân Nhân, nhưng lại trở thành lời tiên báo của một cuộc chia tay: “Bướm rồi lìa hoa”… Thời ấy, đã có những người trở về vùng quê cũ địch chiếm để rồi bị kẹt lại họăc cũng có khi vì “phồn hoa quen vui em ra đi”. Chỉ có điều người ra đi ở đây không phải là cô gái mà là nhạc sĩ.
Cô nữ sinh nhí nhảnh và nhẹ dạ ấy đã làm đủ nghề, kể cả lao động chân tay cực nhọc để nuôi con. Chị dệt vải, chằm nón, gánh gồng, dạy trẻ… Chị không hoàn toàn giống những nữ sinh yếu đuối tản cư từ thành thị về. Lúc này, trong chị càng trỗi dậy sức sống, bắt nguồn từ người mẹ gắn bó với ruộng đồng, người cha từng phiêu bạt kiếm sống tận Viengchian, đất Lào. Vả chăng, Tân Nhân ở đâu cũng rất dễ gần gũi dân làng, được họ cưu mang. Cho đến ngày nhạc sị Nguyễn Văn Thương từ ngòai Bắc “lội bộ” tới - như lời chị kể - đón chị từ ngôi làng heo hút ấy, về nhập đòan Văn công Trung ương. Chị cùng “lội bộ” ra Bắc, cắp theo chiếc nón cời, hai bộ quần áo.
Hòa bình lập lại, năm 1954, màu áo dài đang mốt của Hà Nội là màu xanh cổ vịt, màu đỏ tím của hoa mười giờ… Tấm ảnh đen-trắng thời ấy không giữ lại màu áo, nhưng đã xuất hiện một Tân Nhân mới, áo dài cổ điển, gương mặt điển hình cho một cô gái Huế. Tôi không mấy khi đến Nhà Hát Lớn và các rạp lộng lẫy ánh điện thời bình để nghe biểu diễn ca nhạc, tôi cũng chưa có rađio. Nhưng các loa phát thanh, rất hào phóng, tỏa ra mọi góc phố. Tôi rất thích Bài Ca Hy Vọng do Khánh Vân hát. Và những đợt sóng của Ra Khơi, với sức lan tỏa của giọng ca Tân Nhân, người trước đây đã làm rung động cả không trung lấp lánh sao trời, những đêm thôn dã, chẳng cần đến micro. Rồi chị trở thành người mẹ của ba đứa con, nhưng những người bạn của tôi nói rằng từ khung cửa sổ căn phòng ở khu tập thể Cầu Giấy 9 mét vuông (ở chung) của chị, họ vẫn nghe thấy Tân Nhân luyện giọng vút lên, hạ xuống mãnh liệt mỗi sớm mai.
Dẫu sao, chính Tân Nhân sớm hiểu hơn ai hết rằng trong nghệ thuật biểu diễn, nghề xướng ca thuộc vào lọai đoản mệnh nhất. Chị cảm thấy đã đến thời mà thành công không thể kéo dài nhờ giọng ca trời phú. Cũng may, vào những năm 70-72, chị đã được cử đi đào tạo bài bản ở nước ngòai, không bị rơi vào tình cảnh mà câu vè hồi ấy tếu táo: “Khi người ta cần trẻ thì tôi đã già/ Khi người ta cần đàn bà thì tôi là đàn ông/ Khi người ta cần công nông thì tôi là trí thức/ Khi người ta cần đức thì tôi lại có tài/…”. Và Tân Nhân vẫn là một soliste số một của những bài đậm chất dân ca. Với phần đệm của dàn nhạc dân tộc, trong đó có cây đàn bầu của Mạnh Thắng, chị đã tạo nên một hình ảnh Việt Nam bằng tiếng hát, ở những Đại hội Thanh niên, liên hoan sinh viên quốc tế. Trong khi đó, các ca sĩ khác bắt đầu biểu diễn những lọai hình nghệ thuật nước ngòai. Tôi đến nhà hát lớn, xem Quý Dương đóng Evgueni Oneguine, thanh mảnh bên cạnh một Tachiana Ngọc Dậu có dáng đẫy đà của người ca sĩ opera người Nga.Thật hay nhưng cũng buồn cười khi nghe Quý Dương hát trên đủ mọi cung bậc: Yếu ém/ Yều èm/ Yếu ém/ Yều èm (Yêu em…). Anh nổi tiếng đến nỗi một nam sinh ở trường tôi dạy, khi phát bệnh điên, đã làm cho cả trường cười rũ rượi. Mỗi lúc tan trường, với cái tên tự xưng là Trùng Dương, cậu ta đứng hát (khá hay) ở ngòai cổng trường và gào lên: “Cây cao đâu có sợ gió cả/ Trùng Dương đâu có sợ Quý Dương”. Đấy là thời mà Trần Hiếu với giọng nam trầm, hát những bài hát Nga bi tráng thật hợp, đặc biệt là bài Hò kéo gỗ trên sông Volga. Nhưng Tân Nhân với tôi bao giờ cũng mới.
Đến nỗi hôm nay đây, gặp mặt chị, câu đầu tiên tôi hỏi là: Chị ơi, ai đặt tên cho chị mà hay thế? Một cái tên tôi không hề thấy ai có, cho đến nay.
Thời gian ăn thịt những đứa con của mình_ huyền thọai cổ đại đã nói vậy. Song tôi vẫn nhận ra giọng nói, ánh mắt Tân Nhân, biểu tượng của thanh sắc một thời. Chị cười buồn, nói rằng nhìn lại, chị thấy vì nghệ thuật, chị đã sống hết mình. “Nhưng đôi khi cũng thấy cực quá em ơi, nhất là tội nghiệp cho ba đứa con…” Làm sao được, tính cách trời sinh. Cả chị và chồng chị_ thanh tao, trong sáng và thông minh, đúng với chất của dòng họ Lê Khánh_ cả hai đều xa thực tế. Nerhu từng nói: tư tưởng một người có thể thay đổi, nhưng tính cách thì không. Có một câu danh ngôn Trung Quốc cũng có hàm ý tương tự: Giang sơn dĩ biến, bản chất nan di. Chị hỏi tôi xem có biết nơi chung cư nào tốt, chị muốn bán cái nhà này đi. Chị nhớ Hà Nội, nhớ miền Bắc. Tôi bảo chị nhà Hà Nội đắt một cách vô lý, và giờ đây chắc sức khỏe chị không thể chịu nổi cái nóng Hà Nội. Chị bảo: “Ừ, trái đất nóng lên rồi. Chị mong bán cái nhà cũ đi để thừa được một ít tiền tiêu”. Nhưng chị có mua nổi khí hậu ở đây mang ra ngòai ấy không?
Khi tôi ra về giữa trưa, ngẩng nhìn thấy trên hẻm, bầu trời xanh lồng lộng, mây bồng bềnh. Không hiểu sao tôi lại nhớ đến câu hát của Nguyễn Vĩnh Tiến nói về “Nắng to, gió to...”. Rồi nhớ đến chuyện chị gặp Bác Hồ, tình cờ móc túi mình làm rơi tiền, người ca sĩ ấy, do một liên tưởng hồn nhiên đã hỏi: “Bác ơi, Bác có tiền không ạ?” Giờ đây, con người ấy vẫn ngơ ngác giữa đời thường, giữa thực tế mới. Nhưng với tôi, chị không cũ chút nào.
Đ.A.Đ
(Đã đăng trên báo An ninh thế giới)
PHẠM BÁ NHƠN - CHÙM THƠ XUÂN
MÙA XUÂN SANG
Làng xóm tưng bừng đón xuân sang
Đất trời tô đậm nét hân hoan
Luống cải cuối vườn hoa nở rộ
Trước sân hé nụ gốc mai vàng
Đám trẻ đùa nô rộn tiếng cười
Cụ già ngồi nhớ tuổi đôi mươi
Có cô thôn nữ nghiêng vành nón
Má hồng thêm đậm nét son tươi
Có kẻ từ lâu mới trở về
Một nhà sum họp giữa làng quê
Nếp thơm nồi bánh xanh màu lá
Khói cuộn hương bay tỏa bốn bề
Năm tháng trôi theo bước thời gian
Tha hương cũng đã mấy đông tàn
Tình cũ quê xưa lòng canh cánh
Chớ để xuân sau đến muộn màng
Xuân đến xuân đi xuân lại sang
Cuộc đời một chuỗi hợp và tan
Kiếp người còn lại bao năm tháng
Chớ để ngày xuân sớm lỡ làng.
XUÂN MỚI
Xuân đến xuân đi, giữa đất trời
Để người nhớ lắm, dáng xuân ơi
Bao mùa giữ trọn, lời ước hẹn
Nay đã về đây, với cuộc đời
Mời xuân nhấp cạn chén cùng tôi
Một mai duyên nợ kết thành đôi
Say sưa ngủ giấc trong vườn mới
Rộn rã đào mai đã nở rồi
Nắng vẫy chào xuân vừa đang tới
Chen chân góc phố chật niềm vui
Chúc mừng năm mới, mừng thêm tuổi
Nội ngoại sum vầy khách tới lui
Rồi đây chim én qua đầu núi
Để giữa đất lành lá vẫn xanh
Âm thầm tôi gọi tên mùa cũ
Lặng lẽ vườn em trái trỉu cành
XUÂN ĐI
Lặng nhìn vạt nắng ngang qua
Dường như xuân đã vừa xa mất rồi
Chén trà đắng lịm môi tôi
Lã lơi mây trắng buồn trôi cuối trời
Ước gì nắng ở đây chơi
Cùng ta suốt cả một đời với xuân
Trăm năm dẫu cũng bao lần
Vẫn còn vẹn kiếp phong trần dẻo dai.
XUÂN VỘI VÀNG
Xuân đến xuân đi vô tình quá
Bao mùa người vẫn mịt mờ xa
Ta nghe từng nỗi xao xuyến lạ
Cứ chảy tràn qua trước cổng nhà
Ngoài hiên giọt nắng rơi lác đác
Ngọn gió bên thềm vọng tiếng em
Vô tình chiếc lá khua xào xạc
Trong mắt mơ màng dáng thật quen
Hỡi ơi duới bến đàn chim én
Lưu luyến gì đây mãi lượn vòng
Có phải say nhìn ta bẻn lẽn
Vì cùng ước hẹn với chờ mong
Năm nay thấy bóng xuân vàng óng
Đôi mắt long lanh dáng dịu dàng
Có lẽ vì chàng đang đứng đợi
Nên nàng vội bõ kẽ lang thang./.
P.B.N
Tuesday, February 1, 2011
VÕ VĂN HOA - CUỐI NĂM NGỒI UỐNG CÀ PHÊ VỚI NHÀ NGHIÊN CỨU VƯƠNG THỪA ÂN

Ta về Nhà cổ cà phê
Để cho hoài niệm bốn bề lao xao
Nhìn đất thấp, nhìn trời cao
Nghệ Kiều nho nhã lối vào cỏ hoa
Ngồi đây đếm giọt sương mà
Ai hay ngõ hạnh vàng sa nẻo trời !
V.V.H
TRƯƠNG LAN ANH - BÂNG KHUÂNG CHIỀU BA MƯƠI

Chiều ba mươi
anh trở lại
tìm em
còn khoảng vắng
gió về lay động!
Lá vàng rơi
ừ thôi lá nhé
trút đi nỗi buồn
ngày cuối
phôi pha!
Chiều ba mươi
vắng bóng em rồi
ta cùng lá vàng
sót về sau cuối!
Chiếc lá ơi!
ta cùng phận mỏng
mong gì hơn
hoá kiếp nỗi buồn!
Chiều ba mươi
sót lại chiếc lá rơi
lá vàng ơi
ai chia tay vội vã
sót chút Đông
sau cùng trên lá
ta trở về
trong giá lạnh sương sa!
Ngày mai xuân về
Lộc biếc xanh non
Nắng xuân hong
Tình em hồng biết mấy!
Ta ước là gió xuân
trỗi dậy
níu em về
Xoá khoảng lặng
hồn ta!
T.L.A
MINH TỨ - VỀ BÊN MÁI NHÀ XƯA

Có những lúc mệt nhoài trên những nẻo đường rong ruổi, bỗng thèm được quay về bên mái nhà xưa, để được tĩnh tâm, chìm đắm trong miền ký ức thời thơ ấu hồn nhiên trong trẻo, để quên hết những nhọc nhằn trong gánh nặng mưu sinh. Thực ra tôi cũng đã từng ra đi, có lúc cũng muốn chen chân vào chốn phồn hoa đô hội, nhưng cuối cùng lại quay về nơi tôi đã ra đi.
Sống trên đời ai cũng mong có một mái nhà bình yên để đi về sớm tối. Ngôi nhà là nơi trú thân gắn bó với những kỷ niệm tuổi thơ cho đến khi lớn lên, kể cả khi nằm xuống của mỗi đời người. Một ngôi nhà rường cổ xưa nằm ở vùng ngoại vi thành phố Đông Hà của tôi cũng chẳng có gì đáng nói, nhưng mỗi lúc đi xa tôi lại trông về. Ngày ba tôi còn sống, sợ sau này các con không giữ lại ngôi nhà cổ, ông quyết định nâng cấp tu sửa ngôi nhà. Hồi đó tôi muốn can ngăn vì ông đang bệnh nặng, nhưng ông đã quyết nên đành nhượng bộ. Cũng may nhà vừa tu bổ xong, ba tôi yếu dần, rồi trút hơi thở cuối cùng trong ngôi nhà mà ông bà đã một đời tạo dựng. Ba tôi mất, mẹ tôi vẫn đi về trong căn nhà đơn chiếc. Tôi biết mẹ khó có thể nguôi quên nỗi nhớ về ba, về bao kỷ niệm nơi mái nhà xưa hai người đã sống với nhau đến tuổi thất thập của đời người.
Cũng căn nhà này của gia đình tôi có lẽ là ngôi nhà duy nhất của cả vùng ngoại vi thành phố Đông Hà còn tồn tại sau những đợt không kích của Mỹ trong chiến cuộc mùa hè đỏ lửa Quảng Trị năm 1972. Hai quả đạn pháo từ Hạm đội 7 ngoài khơi đã rơi trúng căn nhà, cùng 5 quả bom tọa độ ở 4 phía cách nhau chỉ mấy chục mét. Thế mà kỳ lạ, ngôi nhà 4 mái như cái bánh ít vẫn đứng vững, đất đá của bom đạn hất lên phủ kín căn nhà, trở thành một chiếc hầm cho bộ đội trú quân. Sau Hiệp định Paris, gia đình tôi từ nơi di tản trở về, sửa sang lại nhà để ở. Hồi đó có phái đoàn các nước phương Tây đến thăm tỉnh Quảng Trị giải phóng, chính quyền tỉnh đưa đoàn đến thăm nhà tôi, một ngôi nhà còn sót lại sau chiến tranh. Ngày đó tôi mới lên chín tuổi, thấy thực đơn mời khách của tỉnh chỉ có dưa hấu, kẹo Hải Hà và nước chè Bắc Thái (khi khách ra về chị tiếp tân có để lại cho gia đình một ít làm quà).
Tôi nhớ trong khi một vị khách phương Tây hỏi chuyện chủ nhà, người phiên dịch của đoàn định phiên dịch thì bất ngờ ba tôi nói chuyện trực tiếp với vị khách ấy bằng tiếng Pháp, đại ý là sau chiến tranh, tất cả đều bị hủy diệt, duy chỉ lũy tre và ngôi nhà rường này còn trụ vững được như là một tinh thần Việt không thể khuất phục trước bạo tàn. Cả phía lãnh đạo tỉnh lẫn các vị khách nước ngoài ngớ ra, không ngờ rằng một nông dân ở vùng giải phóng lại nói chuẩn tiếng Pháp đến thế. Sau này khi lớn lên, tôi biết thêm nhiều người bạn của ông rất nể phục ông về vốn tiếng Pháp và chữ Hán nôm, mặc dù hồi trước ông chỉ mới học hết chương trình tiểu học thời Pháp thuộc.
Ra đi từ lũy tre làng, nghề làm báo đã đưa tôi đến nhiều vùng đất, được biết thêm bao điều mới mẻ cảm thấy yêu thêm đất nước, quê hương của mình. Những chuyến đi xa cho tôi có thêm nhiều bạn bè, càng thấy mình có may mắn được trở về sống và viết trên quê hương. Quê hương với tôi thật có cái gì đó rất đỗi thân thương tưởng như có thể cầm nắm được, thế mà với bao người vẫn cứ thấy xa xôi, hiển hiện trong nỗi nhớ khôn nguôi.
Nhớ lần ra công tác ở quần đảo Trường Sa, bất chợt giữa bạt ngàn sóng gió trùng dương tôi bắt gặp bác sĩ Nguyễn Hoàng Phong, Trạm trưởng quân y đảo Trường Sa Đông. Hỏi chuyện mới biết Phong là bạn đồng niên, quê gốc ở huyện Triệu Phong, nhưng quê hương chỉ còn là chấm nhạt nhòa trong ký ức vì bố mẹ Phong đi tập kết, sinh ra anh ở ngoài Bắc. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, bố mẹ anh về công tác ở thành phố Hồ Chí Minh. Làm việc với chỉ huy đảo, tôi biết được anh là bác sĩ giỏi được tăng cường cho đảo và anh đã xử lý rất nhiều ca mổ khó cho lính đảo cũng như ngư dân đi biển thành công trong điều kiện thiếu thốn nhiều bề ở đảo. Khi chia tay, Phong hẹn có dịp sẽ về thăm quê, nhưng ba năm qua rồi, anh vẫn còn ở lại với đảo xa.
Lại nhớ lần vào thăm đất mũi Cà Mau, anh em đồng nghiệp kết nối cho tôi gặp một bác sĩ quê ở Gio Linh, Quảng Trị là anh Trương Quang Thận. Anh em ở Báo Cà Mau đùa anh là bác sĩ “thận” nhưng lại giỏi mổ “ngoại”. Mà thật, ở đất mũi này, anh nổi tiếng là bác sĩ ngoại giỏi chuyên môn và có tấm lòng nhân từ, chăm lo cho sức khỏe của người bệnh như người thân của mình. Hôm thức trắng với anh ở Cà Mau, anh nói nhiều về tình quê, về nỗi nhớ da diết của người con tha hương. Cái vùng đất Cát Sơn ở Trung Giang đã gắn bó với anh thuở hoa niên đầy gian khó nhưng cứ trăn đi trở lại trong anh không thể dứt ra được. Tôi an ủi anh bằng câu thư pháp của một người bạn: “Có anh đi bốn phương trời/Nơi đâu anh đến cũng trời quê hương”, chợt thấy khóe mắt anh ngân ngấn nước.
Vâng, cũng có những năm tháng xa quê, mới thấy nỗi hoài hương là hình bóng không thể dứt ra được. Nhà báo, nhà văn Phan Quang từ quê nghèo Quảng Trị đi ra, rồi thành danh ở đất Hà thành, đã từng đi qua không biết bao nhiêu vùng đất trên thế giới, thế mà quê hương trong tác phẩm văn học cũng như tác phẩm báo chí của ông mới thiết tha và diệu vợi làm sao. Dù bận trăm công nghìn việc, năm nào ông cũng dành thời gian về thăm quê nhà Hải Thượng, Hải Lăng; khi thì ông về để thắp hương cho tổ tiên ông bà; khi thì ông về với những thùng sách của chính ông viết để tặng cho con em trong làng, trong xã, như là sự tri ân của ông với đất mẹ quê hương...
Quê hương, hai tiếng ấy với tôi bình dị như bờ tre gốc rạ, như cái giếng đầu làng, nguồn nước mà cả làng dùng chung; là hình ảnh lam lũ của cha mẹ ta, của người anh, người chị trên cánh đồng xa; là mái nhà chật chội, đụng đâu cũng thấy cột kèo, không còn phù hợp với nếp sống hiện đại. Nhưng quê hương gắn với mái nhà xưa, với bà con lối xóm, là nơi chúng ta đã sinh ra và lớn lên, nếm trải qua những năm tháng gian khó nhưng bình yên bên mái ấm gia đình.
Cứ mỗi khi thấy bất an trong lòng, tôi lại quay về bên mái nhà xưa. Nơi ấy chỉ còn bóng mẹ đổ xuống mỗi buổi sáng chiều. Bây giờ tôi đã chuyển đến ở căn nhà mới, nhưng hôm nào cũng về bên mái nhà xưa yêu dấu để thắp nén tâm hương, bởi như người ta nói: “Có ngôi nhà hoàn thiện nhưng con người thì chớ để dở dang”. Hình như đó là ý của giáo sư Huỳnh Như Phương thì phải.
M.T.
Monday, January 31, 2011
HỒ SĨ BÌNH - GAM MÀU VÀNG ĐỎ CỦA BẰNG
Họa Sĩ Tôn Thất BằngSinh 1964 tại Quảng Trị.
Là thành viên của hội Mỹ Thuật Tp. HCM.
HỒ SĨ BÌNH - GAM MÀU VÀNG ĐỎ CỦA BẰNG
Mấy năm gần đây, Tôn Thất Bằng trở về với gia đình ở Đà Nẵng để sống và vẽ. Nhìn vào loạt tranh mới của anh, họa sĩ Phan Ngọc Minh nhận xét: “Bằng đã có một độ chín trong nghệ thuật, nhất là sở đắc gam màu vàng đỏ trên chất liệu sơn dầu khá ấn tượng...”.
Tốt nghiệp khoa âm nhạc Trường cao đẳng Nghệ thuật Huế năm 1990, Tôn Thất Bằng lặn lội vào Sài Gòn tìm việc. Giai đoạn khởi nghiệp khá lận đận. Sống xa nhà, nghề âm nhạc không đủ đắp đổi qua ngày, anh tranh thủ vẽ thêm tranh, gởi hờ ở những gallery quen biết để kiếm sống. Thời gian học ở Huế, do khoa âm nhạc gần với khoa mỹ thuật nên anh có dịp tiếp xúc, tìm hiểu và gần gũi với anh em họa sĩ. Cái vốn hiểu biết hội họa từ đấy, cộng với nỗi đam mê cái nghề tay trái đã giúp anh giải quyết được phần nào nỗi lo cơm áo trong những ngày đầu xa xứ.
Thế rồi có một lần Tôn Thất Bằng theo bậc đàn anh đến thăm nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Khi được xem những bức tranh chụp lại của anh trong album, người nhạc sĩ tài hoa thi thoảng gật gù rồi nhỏ nhẹ: “Cái này được, cái kia lạ...”. Chỉ thế thôi, nhưng Trịnh Công Sơn chắc không bao giờ biết rằng, chỉ mấy cái gật đầu của anh đã có tác dụng quyết định số phận nghệ thuật của một họa sĩ trẻ mới tập tễnh vào nghề. Đó là tiếng gõ cửa của định mệnh và nghệ thuật để Tôn Thất Bằng tự tin hơn khi dấn thân vào hội họa.
Một vài năm sau lần gặp gỡ ấy, năm 1997 anh có cuộc triển lãm cá nhân đầu tiên ở TP.HCM. Trong lòng tác giả của phòng tranh khi ấy vẫn chất chứa bao phân vân lo lắng. May mắn là tranh của anh được đón nhận, thậm chí được một vài bậc đàn anh động viên, coi đó là sự xuất hiện của một họa sĩ trẻ đầy triển vọng.
Tranh của Tôn Thất Bằng thời ấy là một chuỗi ký ức tuổi thơ ở cái thị xã lặng lẽ bên sông Thạch Hãn. Tuổi thơ êm đềm không thể tìm lại và cả cái thị xã ấy gần như đã bị hủy diệt trong bom đạn chiến tranh. Có lẽ cái tâm trạng tiếc nuối quá khứ cùng những hoài niệm mênh mang đã tạo nên một không gian giàu biểu cảm trong tranh anh với những đề tài dung dị, gần gũi: những chiếc cặp học trò trên bãi cỏ, một vùng lá vàng mùa thu tuổi nhỏ, những trò chơi nhảy dây, cỡi ngựa mà bọn học trò chẳng ai không biết, chiếc áo trẻ con bỏ quên ngoài bờ dậu, buổi trưa hè rực nắng ở bến sông... và được thể hiện bằng màu sắc trong trẻo, óng mượt.
Bằng vẽ bằng ký ức, vẽ bằng sự cảm nhận của trái tim chứ không phải từ cái nhìn thấy. Bất chấp những quy chuẩn của bố cục, hình khối..., những hình và màu cứ trào ra thật tự nhiên. Nhưng đằng sau sự hồn nhiên, ngọt ngào vẫn phảng phất đâu đó trong tranh một thoáng thảng thốt và nỗi ám ảnh chiến tranh mất mát. Có lẽ sự kết hợp của hai tính chất ấy đã tạo nên một ngôn ngữ hội họa gây được cảm xúc nơi người xem.
Sau đó, từ 1997-2006, Bằng đã có những gặt hái đáng kể: hơn mười cuộc triển lãm nhóm và cá nhân tại nhiều gallery ở Singapore, Hong Kong, Brussels (Bỉ), Philadelphia, New York (Mỹ), Melbourne (Úc), Tokyo (Nhật)... Đến hôm nay, khi đã có thể sống đường hoàng bằng hội họa, khi nhìn lại chặng đường đã qua, anh vẫn chưa hết ngạc nhiên và không ngờ rằng sự tình cờ của số phận khiến anh cầm cọ thay vì chơi đàn lại đem đến nhiều niềm vui và hạnh phúc đến thế.
Loạt tranh mới chủ yếu khai thác cặp màu vàng và đỏ. Màu vàng được sử dụng trong một không gian rộng, màu đỏ nhằm tạo hình. Hai gam màu theo nhau biến tấu, trao đổi hợp lý, chứng tỏ tác giả đã tự tin hơn rất nhiều. Hình ảnh của đôi bé gái, bình hoa, bình rượu, đồng tiền xu, lá, ngựa gỗ... trong tranh của Tôn Thất Bằng dù được xử lý già dặn nhưng vẫn mang nét hồn nhiên, ngộ nghĩnh.
Những khuôn hình trong tư thế bay bổng, lãng đãng, la đà: mái tóc thiếu nữ hình bó lúa, những mái nhà nghiêng mềm rũ tóc, chiếc lá “rơi như là rơi nghiêng”, con ngựa gỗ với con mắt săm soi ngoái lại, cái bào thai bồng bềnh bắt nguồn cho sự sống... xuất hiện theo một môtip đã quen thuộc trong tranh anh nhưng không gây cảm giác đơn điệu, trùng lặp. Sự nổi trội của gam màu đỏ, vàng làm cho tranh sáng lên, vui nhộn, phản ánh tâm trạng của tác giả, không còn man mác tiếc nuối như trước đây mà đang rộn ràng niềm vui sống.
Tranh của Tôn Thất Bằng được các nhà sưu tập nước ngoài, Nhật, Hàn Quốc ưa chuộng, và có người từng đưa ra nhận xét khá lạ: ông chọn tranh của họa sĩ này vì đơn giản nó rất... khó chép, khó làm hàng “nhái”, một vấn nạn của hội họa Việt Nam hôm nay.
Theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần
Sunday, January 30, 2011
PHẠM HÒA VIỆT - XUÂN NỒNG

Thắp sáng màn đêm ấm lửa hồng
Giao thoa trời đất giữa thinh không
Chúa xuân nhẹ gót từ đâu đến
Mà đã bắc cầu tiển giá đông…
Ta đợi nàng xuân trên gác cao
Sương khuya ngây ngất nụ mai đào
Đâu đây vẳng tiếng người xưa lại
Trong khói trầm hương tỏa ánh sao…
Ta thấy thời gian chậm bước đi
Phương Nam kiều diễm nét xuân thì
Lắng nghe tiếng hát Hà Hồi vọng
Ngàn thớt voi thiêng bước diệu kỳ…
Ta uống cùng em chén rượu cay
Rét chung chăn mỏng với men say
Ta ôm trời đất cho nồng gối
Kim cổ tứ bàng vũ trụ quay…
Ta muốn bên em ngắm Xuân nồng
Trăm hoa đón nắng mới ngoài song
Cho em viết tiếp dòng tâm tưởng
Cho thỏa lòng son với má hồng…
Tặng TT
P.H.V
Saturday, January 29, 2011
LÊ NGỌC PHÁI - KÝ ỨC NGÀY XUÂN

Năm mới sắp đến rồi, con nhớ quá
Những ngày xuân yêu dấu ở quê nhà
Mẹ bận rộn suốt ngày theo chợ tết
Em phụ giúp mua sắm đủ hàng quà
Cha sửa soạn trên bàn thờ Tiên Tổ
Bình mai tươi hé nở những nụ vàng
Bộ lư đèn bóng loáng ngát trầm nhang
Mâm quả tết, cầu an khang năm mới
Đường vào sân, cỏ hoa như ngày hội
Cờ phướn bay phất phới đón xuân về
Bà nội ngồi kể chuyện tết say mê
Bên nồi bánh, tình quê in đậm nét
Chiều tất niên, con mừng năm cũ hết
Thương mẹ cha mà chẳng biết nói chi
Tự trách mình sao quá đỗi khù khì
Rồi thầm nhủ “ mẹ ơi thương mẹ lắm”
Đêm trừ tịch, bên ngoài trông im ắng
Cảnh trong nhà ấm cúng biết là bao
Anh em con chia sẻ chút tự hào
Sự đồng cảm tình yêu và hạnh phúc
Trời đã khuya, mẹ vẫn còn lục đục
Cha loay hoay cho tới lúc nửa đêm
Tiếng pháo nổ làm chúng con tỉnh giấc
Đón nàng xuân nhè nhẹ bước lên thềm
Cúng giao thừa, cha dâng lễ trang nghiêm
Mẹ kính cẩn cúi đầu lâm râm vái
Mong chúng con được mọi điều ưu ái
Thân quyến gia đình mãi mãi bình yên
Sáng mùng một, quây quần mừng tuổi mới
Mỗi thành viên chúc tết một đôi lời
Đến mùng hai, chúng con về thăm ngoại
Qua chiếc cầu tre con nhớ suốt đời
Cứ mỗi năm khi xuân sắp trở lại
Lòng bâng khuâng nhớ tới tết quê nhà
Lời mẹ dặn dò con tạc dạ:
Thế hệ tương lai rạng rỡ ông bà.
L.N.P
Trích từ tập thơ DÒNG SÔNG KÝ ỨC
NXB VĂN HÓA VĂN NGHỆ TP.HCM, 2010
Friday, January 28, 2011
LINH ĐÀN - ĐÃ ĐẾN LÚC NHÌN LẠI ÂM LỊCH

Lịch của Nhật không có ngày âm lịch
Âm Lịch đóng một vai trò cực kỳ rườm rà, rắc rối, câu nệ và dị đoan lâu dài trên đất nước Việt Nam. Nó đã tạo nên một sự nô lệ thần thánh, mà người Việt ta chịu sự áp đặt một cách phi lý. Vậy hôm nay chúng ta phải cần nhìn lại Âm Lịch, nó có thiết thực bổ ích cho con người không, hay nó là một rào cản làm trì trệ sự tiến hóa của mọi thời đại,
Âm Lịch là gì ; Nói một cách khái quát : Âm Lịch là lịch tính theo MẶT TRĂNG, người Trung Hoa cổ đại dựa theo hiện tượng đêm trăng để tạo nên âm lịch, thực ra âm lịch không phải là huyền bí như người xưa tưởng. Âm Lịch vẫn ứng dụng cho khoa thiên văn là một phần của khoa học, nhưng người xưa chưa chứng minh được mặt trời là định tinh, từ đâu có ánh sáng của mặt trăng và vòng quay của quả đất, chẳng qua họ tìm ra năm tháng ngày giờ cũng tương đối chính xác là nhờ nương theo sự hiển nhiên của mặt trăng, cộng thêm kinh nghiệm lâu đời mà có.
Cách tính tháng dựa theo hiện tượng đêm trăng tròn và đêm không trăng làm thành một tháng, tháng có 30 ngày gọi là tháng đủ, tháng có 29 ngày gọi là tháng thiếu, càng về sau người ta thấy thời tiết luân hoán nhau trong 12 tháng ấy có sự trùng họp trở lại, nên người xưa ghép lại thành một năm trong đó có 7 tháng đủ và 5 tháng thiếu; rồi cứ 5 năm lại có hai năm 13 tháng, gọi là năm nhuận, mà người xưa gọi tam niên nhất nhuận, nhị niên tái nhuận. và chia mỗi năm thành 24 tiết đế áp dụng cho nông nghiệp.

Lịch Thái Lan có ghi thêm Phật lịch
Về sau người ta thêm thiên can (giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quý) và địa chi (tý, sửu, dần, mẹo, thìn, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi) thiên can và địa chi hòa lại (trong đó có lục giáp : giáp tý, giáp dần, giáp thìn, giáp ngọ, giáp thân, giáp tuất) và (lục ất : ất sửu, ất mẹo, ất tỵ, ất mùi, ất dậu, ất hợi ; tiếp đến lục bính, lục đinh, luc mậu, lục kỷ, lục canh, lục tân, lục nhâm, lục quý…cho đến quý hợi là 60 lần) để đặt tên cho ngày giờ, tháng năm . Nếu như âm lịch dừng lại ở đây không thêm phần bói toán, dị đoan vào thì cũng khá hoàn hảo về khoa học tự nhiên, ứng dụng cho đời sống con người vẫn tốt.
Lịch của Singapore
Bức rào cản sự tiến hóa
Càng về sau, người ta cứ thêm dần vào như ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ), đem ứng dụng cho ngày giờ, năm tháng, và cứ 60 lần là có 30 ngũ hành, rồi đem áp dụng mệnh số cho con người là một việc không đơn giản một chút nào, nếu tính mạng gì, thì phải dựa vào lục giáp 2 năm một mạng ; khởi chuẩn tý ngọ, dần thân, thìn tuất. Rồi ngũ hành người ta phân ra năm loại cho một hành như dưới đây :
KIM: xoa xuyến kim, bạch lạp kim, kiếm phong kim, sa trung kim, hải trung kim, MỘC : tang đố mộc, thạch lựu mộc, dương liễu mộc, bình địa mộc, đại lâm mộc, THỦY: đại hải thủy, trường lưu thủy, giang hạ thủy, thiên thượng thủy,
HỎA: lư trung hỏa, tích lịch hỏa, thiên thượng hỏa, địa trung hỏa, sơn hạ hỏa
THỔ: lộ bàng thổ, thành đầu thổ, ốc thượng thổ, bích thượng thổ, sơn đầu thổ vv….
Do đó đã có ngũ hành là có tương sinh = Kim sinh thủy, Thủy sinh mộc, Mộc sinh hỏa, Hỏa sinh thổ, Thổ sinh kim ; đã có tương sinh là có tương khắc = Kim khắc mộc, Mộc khắc thổ, Thổ khắc thủy, Thủy khắc hỏa, Hỏa khắc kim (trong cái khắc có nhiều cái vô lý hết sức.)
Rồi người ta thêm vào 12 trực tốt xấu, ứng dụng cho mọi việc. Đó là : kiến, trừ, mãn, bình, định, chấp, phá, nguy, thành, thâu, khai, bế. ứng dụng vào tiết của mỗi tháng trong năm để tìm trục kiến… và 24 sao tốt xầu gọi là Nhị thập bát tú, đó là : giác, cang, đê, phòng, tâm, vĩ, cơ, đẩu, ngưu, nữ, hư, nguy, thất, bích, khuê, lâu, vị, mão, tất, trủy, sâm, tĩnh, quỷ, liễu, tinh, trương, dực, chẩn. Cách tính nhị thập bát tú tính theo tuần lễ dương lịch khởi Giác vào ngày thứ Năm của 4 tuần nhật để có 28 ngày , cũng không dễ dàng một chút nào .
Thật tệ hại hơn cả là tính theo 12 con giáp : Chuột : Một loài thú đáng ghét nhất, lại tôn lên đứng đầu sổ là nghĩa lý làm sao ? Rồi các loài thú 4 chân lại liên tục là : chó, heo, trâu, cọp, mèo, ngựa, dê, khỉ mà không có một loại chim quý nào đại diện cho loài cầm ở một địa chi, chỉ có gà có cánh nhưng không biết bay, rồi vẽ thêm rồng rắn vào cho có vị, 12 con giáp quả là điều phi lý hết sức khi đem áp dụng tuổi cho con người cao quý thế nầy, hỏi có uổng hay không ?
Các ngày hung thần
Ngày xấu mỗi tháng ấn định 6 ngày tam nương mọi việc đều xấu như sau : sơ tuần mồng 3 mồng 7, trung tuần 12 – 18, hạ tuần 22 – 27
Mỗi tháng có 2 ngày hoặc 3 ngày thọ tử.
Tùy theo địa chi của mỗi tháng để tính ngày sát chủ, rồi còn 4 mùa sát chủ nữa, ngày dương công sát, ngày thiên sư sát địa sư, ngày thiên cẩu hạ thực, ngày lục bất thành, ngày vãng vong, ngày phá bại, ngày cô thần quả tú, ngày hoang vu, ngày hoàng trì, ngày mộc mã sát, ngày diêm vương, ngày nguyệt kỵ, ngày ngũ hư, ngày tử thần, ngày trùng tang, ngày ngũ hổ, ngày đại hao, ngày chu tước hắc đạo, ngày châu cách, ngày nguyệt hỏa, ngày độc hỏa, ngày địa hỏa, ngày địa sát, ngày cẩu tích, ngày thiên địa chuyển sát ….còn rất nhiều và rất nhiều ngày xấu nữa vv…. Nói chung năm , tháng, ngày, giờ cái nào cũng rối rắm, tỷ như năm tuổi hoang ốc (nhà bỏ hoang), tháng cơ khát ( tháng đói khát) vv…….
Các ngày cát thần
Ngày cát thần là ngày tốt như ngày hoàng đạo, ngày bất tương, ngày vượng khí, ngày nguyệt đức, ngày thiên đức, thiên y, thiên thành, v.v.
Ngày cưới gã, và ngày làm nhà, là vô cùng vô tận khó tìm được ngày toàn nguyên, cộng với năm tuổi, ngày tuổi, tháng tuổi đều kiêng, v.v.
Xét thấy vô số vị hung thần, cát thần ấy, cơ chi có một học thuyết như tôn giáo chẳng hạn để tôn sùng, mà ở đây không một mảy may lý thuyết, thế nhưng người ta bảo phải tin tưởng rồi thành ra thói quen, nghĩ một cách chính đáng các vị thần ấy không hiện diện trên đất nước Việt Nam, nhưng trải qua 4000 năm các vị thần ấy dọa dân tộc Việt Nam, thì mình thử nghĩ thần thánh của ai, dửng dưng mà người mình phải chịu áp lực, phải cúi đầu lạy lục, thêm vào đó mấy thầy bói toán chỉ cần học thuộc mấy kiểu nói : dần thân tỵ hợi tứ hành xung, thìn tuất sửu mùi tứ hành hoại. cộng thêm thiên la địa vọng, chỉ cần quyển sách ngọc hạp, quyển vạn sự, với cái miệng múa may lưu loát : tý ngọ ngân đăng giá bích câu, dần thân hán địa siêu sài lãng, thìn tuất yên mãn tự chung lâu, hay kế hán mộc âm vv….là tha hồ đi dọa thiên hạ để kiếm tiền, đồng tiền bất chính mà quá sợ thần thánh nên tiền rất dễ vào túi thầy bói.

Người Do Thái dùng dương lịch có ghi thêm lịch Do Thái cổ
Xét về nông lịch
Dương lịch ứng dụng cho nông nghiệp thuận lợi hơn Âm lịch ; chúng ta thấy 24 tiết khí của Âm lịch, mà tính theo âm lịch thì đôi lúc xê dịch quá xa, hơn nữa nó không phù hợp cho năm nhuận, còn tính theo năm Dương Lịch thì ngược lại rất chuẩn
XEM BẢNG ĐỐI CHIẾU THỜI TIẾT ÂM LỊCH theo DƯƠNG LỊCH
Lập Xuân từ 03 – 04 tháng 2 Dương Lịch (DL) ….Vũ Thủy từ 18 – 19 tháng 2 DL
Kinh trập - 04 – 06 tháng 3 DL…..Xuân phân 19 – 21 tháng 3 DL
Thanh Minh: 04 – 06 tháng 4 DL…..Cốc Vũ : 18 – 20 tháng 4 DL
Lập Hạ : 04 – 06 tháng 5 DL…..Tiểu Mãn : 19 – 21 tháng 5 DL
Mang Chủng 04 – 06 tháng 6 DL…..Hạ Chí : 19 – 21 tháng 6 DL
Tiểu Thử hầu hết 07 tháng 7 DL…...Đại thử hầu hết 23 tháng 7 DL
Lập Thu : 07 – 08 tháng 8 DL….. Xử thử ấn định 23 tháng 8 DL
(Xử Thử theo Việt Hán Từ Điển của Đào Duy Anh)
Bạch Lộ : hầu hết 08 tháng 9 DL…Thu phân hầu hết 23 tháng 9 DL
Hàn Lộ : 08 – 09 tháng 10 DL.. Sương Giáng - - 24 tháng 10 DL
Lập Đông : 07 – 08 tháng 11 DL…Tiểu Tuyết : 22 – 23 tháng 11 DL
Đại Tuyết : 06 – 07 tháng 12 DL… Đông Chí : 21 – 22 tháng 12 DL
Tiểu Hàn : 05 – 06 tháng 1 DL… Đại Hàn : 19 – 21 tháng 1 DL
Sự sai biệt Lập Xuân của năm Âm Lịch :
Năm Canh Tý 1900 Lâp Xuân ngày 5 tháng Giêng Canh Tý (4-2-1900)
Năm Ất Sửu 1925 Lập Xuân ngày 12 tháng Giêng năm Ất Sửu (4-2-1925)
Năm Canh Dần 1950 Lập Xuân ngày 18 tháng Chạp năm Kỷ Sửu (4-2-1950)
Năm Ất Sửu 1985 Lập Xuân ngày 15 tháng Chạp năm Giáp Tý (4-2-1985)
Năm Canh Thìn 2000 Lập Xuân ngày 29 tháng Chạp năm Kỷ Tỵ (4-2-2000)
Năm Quý Mùi 2003 Lập Xuân ngày 4 tháng Giêng năm Quý Mùi (4-2-2003)
Năm Canh Dần 2010 Lập Xuân ngày 21 tháng Chạp năm Kỷ Sửu (4-2-2009)
Năm Ất Mùi 2015 Lập Xuân ngày 16 tháng Chạp Giáp Ngọ (4-2-2015)
Năm Canh Tý 2020 Lập Xuân ngày 11 tháng Giêng năm Canh Tý (4-2-2020)
Năm Ất Tỵ 2025 Lập Xuân ngày 6 tháng Giêng năm Ất Tỵ (3-2-2025)
-Vậy ta thấy sự sai biệt của Âm Lịch quá xa, mà sai biệt của Dương Lịch chỉ một ngày không đáng kể
Sai biệt tiết của năm nhuận âm lịch 13 tháng :
Năm Kỷ Sửu (2009) nhuận hai tháng 5 =tính ngày Mang Chủng (lúa trổ đòng đòng) -Mang Chủng 13 - 5 ÂL (5-6-2009) ; Hạ Chí 29- 5-ÂL (21-6-2009),
-Tiểu Thử 15-5-ÂL (7-7-2009) ; Đại Thử 2-6-ÂL (23-7-2009)
Năm Nhâm Thìn (2012) nhuận hai tháng 4
-Mang Chủng 16-4-ÂL (5-6-2012); Hạ Chí 3-5-ÂL (21-6-2012)
-Tiểu Thử 19-5-ÂL (7-7-2012) ; Đại Thử 4-6-ÂL (22-7-2012)
Năm Giáp Ngọ (2014) nhuận hai tháng 9 =
-Mang Chủng 9-5-ÂL (6-6-2014) ; Hạ Chí 24-5-ÂL (21-6-2014)
-Tiểu Thử 11-6-ÂL (7-7-2014) ; Đại Thử 27-6-ÂL (23-7-2014)
*Vậy ta thấy sự chênh lệch của Dương Lịch không đáng kể
Nên nhớ rằng trong 24 tiết khí thời tiết trong năm, ở Việt Nam chỉ cần vài tiết lấy lệ như : Lập Xuân, Thanh Minh (tảo mộ), Sương Giáng, Lập Thu, Lập Đông chẳng hạn.
Còn Kinh Trập đã có thuốc trừ sâu rầy, Mang Chủng ngày nay người ta cấy lúa ngắn ngày, ít nhất có đến 3 lượt lúa trổ đòng trong năm, Đại Tuyết, Tiểu Tuyết thì ở nước ta không cần đến…
Thủy Triều
Nước lên nước xuống là do sức hút của mặt trăng, nhưng ít ảnh hưởng về nông nghiệp, chỉ ảnh hưởng một phần của nghề cá và thương thuyền ra vào những chỗ sông cạn, trong nghề nghiệp người ta đã quá kinh nghiệm nên không cần đến lịch.
Nhật thực, Nguyệt thực
Nhật thực nhất định xẩy ra vào ngày Mồng Một âm lịch = Mặt Trăng che Quả Đất
Nguyệt thực nhất định xẫy ra vào đêm Rằm = Quả Đất che Mặt Trăng, người xưa tin tưởng 2 hiện tượng trên là sự giao hợp của âm dương, nên mọi việc phải kỵ , và sợ đại dịch, mất mùa, lụt bảo hay sóng thần có thể xẩy ra trong năm đó, nhưng ngày nay thì khoa học đã nhận ra 3 điểm thẳng hàng ( Mặt Trời, Quả Đất, Mặt Trăng đi qua một đường thẳng) nên không ảnh hưởng thời tiết, hiện tượng nầy khoa khí tượng thủy văn ngày nay dự báo chính xác còn dễ hơn âm lịch nhiều lần, kể cả dự báo thời tiết. vì khoa học chứng minh hiện tượng, còn âm lịch chỉ kinh nghiệm hiện tượng mà thôi.

Lịch của CampuchiaTóm lại Âm Lịch chỉ gây ra phiền toái đa đoan, từ tổ tiên ta cho đến ngày nay chúng ta phải gánh chịu cái cồng kềnh khó xử “bỏ thương, sương nặng”, “hay ít, dở nhiều”, cộng thêm cái dị đoan không đáng có trong thời đại văn minh, chúng ta hãy nhìn nước Nhật Bản, họ bỏ hẳn Âm Lịch đã ngoài 60 năm rồi, họ có nghèo đâu, mà họ càng ngày càng văn minh, nước họ trở thành cường quốc công nghiệp phát triển ngang hàng với Âu Mỹ, Nước ta cứ đeo đẵng cái âm lịch lạc hậu, nên nước ta nghèo mãi, vị thế Việt Nam là “cửa ngõ Đông Nam Á” mà cứ chịu nghèo hoài là điều phi lý. Mình thử nghĩ những nước quanh ta như Thái Lan, Phi Luật Tân, Mã Lai Á, họ có dùng âm lịch đâu, chính ngày xưa họ là đàn em VN về mọi mặt, ngày nay mình trở lại làm em họ, thử hỏi như thế có đau không, Nước ta nghèo chính vì một phần bởi Âm Lịch mà ra. Đừng nghĩ tết Âm Lịch là tết cổ truyền, là thiêng liêng nữa, mà ta hãy đoạn tuyệt nó, cho tinh thần rảnh rang để làm ăn, để tiến hóa, không lo không sợ thần thánh quấy rầy, quở phạt ta sẽ bước xa hơn nữa.
Lịch Mả-lai
Khi đã bỏ âm lịch rồi, chúng ta sẽ chuyển các ngày lễ Hùng Vương (10-3-ÂL) và Lễ Hai Bà Trưng (6-2-ÂL), và các ngày giỗ của dòng tộc hay tư gia, qua Dương Lịch là điều không khó.
Linh Đàn

