Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, June 20, 2022

KHÔNG THỂ LÀ PHÁN QUYẾT – Thơ Khaly Chàm

 

 

không thể là phán quyết
 
chẳng dám khoe, cỏ luôn hồn nhiên trần trụi
tự uốn thân bám vào nhau xoắn xuýt tuyệt vời
cùng thinh lặng ngắm mặt trời nhú lên từ đất
với nắng mưa hè độ lượng sóng âm rơi
 
giấc mộng an lành thì thầm trong giọng nói người ơi
đặc tính luôn tỏa hương thơm mùi diệp lục
dìu dắt mẹ ta đi khập khiễng qua truông lầy ký ức
phù sa đen mù mắt khóc đất nhiễm mặn thật rồi!
 
những linh hồn rung chuông chờ thánh lễ lên ngôi
vị ngữ sáo mòn trong lời kinh cầu siêu độ…
này em, ta nhấm nháp những con tò he từng ngày khát đói
ám tượng cứ vây quanh ảo giác bóng vô thường
 
đời ta mãi nhảy múa trên vòng mắc xích tai ương
chuyện ái tình bùng nhùng có phải là chướng nghiệp
thơ của ta những con chữ khùng điên lộn kiếp
thương lũ chim thiên di nhặt nhạnh tạm no lòng
 
thôi thì hãy rợn xanh theo mùa như cỏ
lay lắt khiêm nhường nào nghĩ chuyện phục sinh
sao không thể hôn nhau rồi thổn thức lời tình
dù mềm nhũn héo khô cũng chỉ là hư ảnh
 
khaly chàm
ttcuchi 6/2022
 
READ MORE - KHÔNG THỂ LÀ PHÁN QUYẾT – Thơ Khaly Chàm

VIẾT HOA VIẾT THƯỜNG CÁC DẤU TRONG CÂU - Nguyên Lạc

 
Tác giả bài viết Nguyên Lạc
 

VIẾT HOA HAY VIẾT THƯỜNG?
 
Viết hoa (upper case), viết thường (lower case) là một vấn đề tế nhị, cần bàn thảo kỹ lưỡng. Thấy một số bạn, nhất là các bạn trẻ ở VN viết hoa các chữ/từ một cách tùy tiện, tôi xin ghi ra đây vài ý riêng chủ quan mời các bạn cùng thảo luận.
 
1.
Hãy xét bài ca dao:

"Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con"
                  (Công Cha Nghĩa Mẹ)
 
Theo tôi, hai chữ “thái sơn” trong bài ca dao trên nên viết thường (lower case), Thái Sơn viết hoa (upper case) không chính xác.
Chắc các bạn sẽ hỏi tại sao?
 
Giải thích:
Vì nếu hai chữ thái sơn viết hoa, chúng ta sẽ đem hữu hạn thế cho vô hạn:
– “thái sơn” (viết thường, danh từ chung) là núi rất lớn, vô hạn (thái= rất bự, rất lớn; sơn= núi). Còn “THÁI SƠN” (viết hoa, danh từ riêng) là một ngọn núi bên Tàu, chỉ cao khoảng 1450m (đo được, hữu hạn). Vậy nếu viết hoa: THÁI SƠN thì không phải là hữu hạn thay cho vô hạn sao?
– Nghĩa mẹ= “nguồn nước chảy ra vô tận, không dứt”, đối với “THÁI SƠN” (viết hoa: danh từ riêng) đo được chỉ khoảng ngàn mét. So sánh ra thì công cha như số không. Sao bội bạc với cha quá thế?
– Còn nếu viết “thái sơn (viết thường: danh từ chung) = lớn, bự vô hạn”, công cha sẽ gần như bằng công mẹ.
Do điều này, ta phải dùng thái sơn danh từ chung (viết thường). Hai câu đó tôi nghĩ nên viết như vầy:
Công cha như núi... thái sơn (to vô cùng)
Nghĩa mẹ như nước… trong nguồn chảy ra (luôn không dừng).
– Xin nói thêm: Thái sơn, sơn hà (viết thường, danh từ chung) tượng trưng đất nước, tổ quốc; nếu chúng viết hoa (trở thành danh từ riêng) thì sẽ không còn nghĩa này nữa, mà thành tên ngọn núi Tàu, tên riêng vùng nào đó…
 
2.
Thử áp dụng những điều bàn trên vào các câu thơ sau đây của nhà thơ Nguyên X. xem sao?
Câu thơ Nguyên X (tên hư cấu) viết như vầy:
 
"Trưa chín HÈ, PHƯỢNG đỏ thật thương
Tiếng ve nấc nỗi niềm vương rất lạ"
                                    (Thí dụ minh họa)
 
Nhà thơ Nguyên X cố tình viết chữ HÈ và PHƯỢNG hoa, chắc tác giả cho là nó “ấn tượng” hơn!
Theo tôi, chữ “phượng”, "hè" viết thường hay hơn và nhiều nghĩa hơn.

Giải thích:
 
-- PHƯỢNG viết hoa là danh từ riêng chỉ chính xác một nghĩa: người con gái, tên người con gái. Viết hoa chữ PHƯỢNG có thể làm hỏng ý bài thơ: Rõ ràng là bài thơ nói về mùa hè buồn, hoa phượng nở đỏ: nếu viết hoa chữ PHƯỢNG, thành ra cô gái PHƯỢNG “đỏ mặt”- hoa phượng mất dấu ở đây- thì còn gì mà liên hệ đến ve sầu câu dưới? Chữ phượng viết thường- danh từ chung - bao gồm cả hoa phượng, mùa phượng, mùa bãi trường và người con gái…
-- Tương tợ như vậy về chữ HÈ- viết hoa- cũng khiến người ta nghĩ đến một anh chàng tên HÈ nào đó.
Mong các nhà thơ, nhất là các nhà thơ trẻ chú ý đến điều này. Hãy mở lòng lắng nghe tha nhân góp ý, ai tự thỏa mãn sẽ bị dừng lại, hay đúng ra sẽ bị lùi lại so với sự tiến bộ của người khác.
 
3.
Thử bàn về chữ "Đoài" trong câu thơ sau đây (Tôi tự chế, có thể giống thơ tiền nhân) để minh hoạ thêm:
 
"Tôi nhớ xứ Đoài thăm thẳm lắm"
 
-- Về chữ “Đoài”
Trong “Hậu thiên bát quái” của Kinh Dịch, quẻ Đoài nằm vị trí hướng tây (Chấn hướng đông), nên trong văn chương, nhắc tới "đoài" là người ta muốn nói tới hướng tây. Hướng tây cũng là hương mặt trời lặn, tượng trưng cho buồn bã, thương nhớ, nhớ về và "chiều đời"…
Đoài có nhiều nghĩa nói trên nếu nó được viết thường - danh từ chung.
-- Trong câu thơ để minh họa trên, chữ "Đoài viết hoa- danh từ riêng- là tên của xứ tác giả nhớ đến, nhớ về. Chỉ là tên xứ mà thôi, không gì khác.
So sánh ta thấy "Đoài" (viết hoa) không nhiều nghĩa như chữ "đoài" (viết thường).
Qua những nhận xét trên, chúng ta nên chú ý cẩn thận khi viết hoa hay viết thường.
 
4.
Vài điểm cần để ý về viết hoa (upper case):
- Viết hoa mẫu tự đầu sau dấu chấm, đứng đầu câu.
- Viết hoa danh từ riêng, tựa bài viết, tên sách, tên vở kịch v.v...
- Những trường hợp này, ta vẫn giữ lối viết hoa. Thí dụ ta viết: “nét gian hùng Tào Tháo”, "mưu lược Khổng Minh", “nụ cười Bao Tự”... ; thay vì “nét gian hùng tào tháo”, "mưu lược khổng minh", “nụ cười bao tự”...
- Cách viết hoa hay viết thường (upper case or lower case) một chữ cũng thay đổi theo thời gian, và có lẽ cũng dần dần hòa theo trào lưu thế giới. Thí dụ trong văn chương, nhất là báo chí Anh Mỹ ngày nay, chữ viết hoa ngoài việc dùng cho danh từ riêng, còn được dùng để nhấn mạnh ý. Những chữ cần chú ý hay nhấn mạnh họ viết hoa: Thí dụ như viết là “Monroe Doctrine” thay vì “Monroe doctrine”. Do đó nhiều người Việt, trong đó có tôi, viết là “Chủ Thuyết Monroe” thay vì “chủ thuyết Monroe”, với suy nghĩ là muốn nhấn mạnh ý.
 
CÁC DẤU TRONG CÂU
 
- Thường dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm phẩy, dấu chấm than, dấu chấm hỏi, dấu ba chấm... nên đặt ngay sau mẫu tự cuối của chữ phía trước và cách mẫu tự chữ sau một khoảng hẹp (một mẫu tự).
- Dấu chấm phết [;] (point virgule) là dấu trung hòa giữa dấu chấm và dấu phết, nằm ở giữa câu dài, lấy mệnh đề sau bổ sung cho mệnh đề trước (khi chưa nên dùng dấu chấm, dứt câu). Sau dấu chấm phết không viết hoa.
- Dấu 2 chấm [:] (deux points) đặt trên cùng hàng được dùng đề kể ra những sự vật do mệnh đề đi trước đặt ra:
. Nếu nhiều sự vật được kể ra sau dấu 2 chấm, thường câu chữ được đề nghị xuống hàng và viết hoa mẩu tự đầu.
. Nếu chỉ kể một vài sự vật nhỏ sau dấu 2 chấm thì không cần xuống hàng và cũng không cần viết hoa mẩu tự đầu. 
- Về ba chấm (...): Chỉ 3 chấm thôi, không 2 hoặc 4, 5, 6, 7... nếu ý rằng còn nhiều điều nữa. Giống như trên FB có ghi (... : nhiều options). Nếu ghi 2, 4, 5, 6... là chuyện khác. Thường ghi 4, 5, 6... dấu chấm rồi xuống dòng có nghĩa tác giả muốn ghi chú điều gì đó.
-Ngoặc đơn (parenthèse), ngoặc kép (double parenthèse) phải bao sát chữ hoặc nhóm chữ trong ngoặc nhưng phải để trống một khoảng cách (space) với mẫu tự cuối của chữ phía trước và mẫu tự đầu của chữ phía sau. Thí dụ: Khoảng cách (space) với mẫu tự cuối. Con đó “mồm loa mép giải” lắm.
- Về dấu chấm than, còn gọi văn hoa là dấu cảm thán (point d’exclamation) hay dấu chấm hỏi (point d’interrogation): Theo tôi, tối đa 3 dấu là đủ, viết thêm thừa. Thí dụ !!!, ???
Giải thích:  ! buồn, !! buồn nhiều, !!! rất buồn. Viết thêm không cần thiết, dư.
Tương tợ: ? thắc mắc, ?? thắc mắc nhiều, ??? rất thắc mắc.
 
Vài thí dụ minh họa về các điều nói trên:
 
Em đẹp như hoa. Anh thích lắm!
Ổi, xoài, sầu riêng tôi đều thích.
Có phải không? Em đã yêu anh!
 
Ông Nguyên (tác giả bài văn) đã nói với tôi như thế.
 
Rất mong quý độc giả góp ý thêm cho hoàn chỉnh.
Chuyện phiếm về dấu chấm câu và ngắt câu:
 
Nước VN Xã hội chủ nghĩa có chủ trương “Cai đẻ” bằng khẩu hiệu: "Gia đình có hai con, vợ chồng hạnh phúc". Tại một phường nọ, dân chúng đọc được trên biểu ngữ 2 hàng chữ to tướng viết:
Gia đình có hai con vợ
Chồng hạnh phúc.
 
Nguyễn Trùng Dương là lực sĩ đô vật ở tỉnh Bắc Ninh, miền Bắc VN. Anh được truyền tụng trong câu ca dao được viết xuống hàng, đúng với thể lục bát như sau:
 
Bắc Ninh có cậu Nguyễn Trùng
Dương vật rất khỏe cả vùng thất kinh.
 
Bộ môn thê thao Badminton, thời VNCH gọi là Vũ cầu - vì trái cầu phần trên kết băng lông vũ của gà hay chim cho dễ bay. Miền Bắc gọi là Cầu lông. Chữ “Cầu lông” là danh từ kép đã bị tách rời ra trong 2 câu lục bát Bút Tre:
 
Chị em mặc váy đánh cầu
lông bay phấp phới qua đầu các anh.
 
Dấu chấm câu khi dùng với ngoặc đơn và ngoặc kép:
- Trong tiếng Anh, dấu chấm câu đặt trong ngoặc kép, thí dụ: "I am happy." she said.
- Đối với ngoặc đơn thì khi đặt bên trong, khi bên ngoài: (Nếu nguyên câu nằm trong ngoặc đơn thì dấu chấm nằm bên trong, như thế này.) Còn nếu chỉ có một phần của câu đặt trong ngoặc đơn thì dấu chấm nằm ở ngoài (như thế này).
 
LỜI KẾT
 
Chữ Việt chúng ta tuyệt vời lắm, đừng “ngộ nhận” nó kém so với chữ nước ngoài. Hãy cùng nhau làm chữ Việt tuyệt vời thêm.
Trong các “nghề chơi”, chơi văn chương chữ nghĩa là cao sang nhất; nhờ nó ta mới phân biệt được người thấp người cao, ai sang ai hèn, chứ không phải ở giàu nghèo.
 
"Chơi cho lịch mới là chơi,
Chơi cho đài các, cho người biết tay"
(Cầm Kỳ Thi Tửu– Nguyễn Công Trứ)
 
Ở đời, ai cũng thích đưa ra cái mới, cái lạ; nhưng nên nhớ, cái mới, cái lạ và cái ngược đời, vô lý chỉ cách nhau sợi tóc: Độc giả và thời gian sẽ phán xét.
                                                                                      
Nguyên Lạc

READ MORE - VIẾT HOA VIẾT THƯỜNG CÁC DẤU TRONG CÂU - Nguyên Lạc

Saturday, June 18, 2022

CUNG TIẾN, ĐỜI LẬP TỪ NHỮNG ĐÊM HOANG SƠ - Nguyễn Đức Tùng



Chị em của thơ thì có nhiều: tùy bút, truyện ngắn, tiểu thuyết, báo chí, phim ảnh, kịch nghệ, nhưng đối với tôi, người thân nhất, người chị em ruột của thơ, chính là ca khúc.
 
Cung Tiến là một sự kết hợp như vậy: giữa ca từ và âm nhạc, giữa thơ và ca khúc. Thơ ca. Sự liên kết giữa thơ và ca đã có từ lâu đời, ngày một chia xa trong thế giới hiện nay. Thơ ngày một xa rời ca khúc, ngày một gần với văn xuôi, rời bỏ tính âm nhạc của ngôn ngữ. Các nhà thơ hiện nay gần như không làm thơ dưới tác động trực tiếp của âm điệu. Họ viết để truyền tải các ý tưởng nhiều hơn. Khi chúng ta nghe một bài hát, những chữ trong bài hát ấy vang lên không còn là những chữ chúng ta đọc trên giấy nữa, chúng biến đổi trở thành chữ khác, một sự lai ghép giữa âm nhạc và ngôn ngữ. Khi đọc lời:
 
Chờ nhau hoài cố nhân ơi
Sương buồn che kín nguồn đời
 
Tôi vừa nhìn thấy màn sương buông xuống, vừa nghĩ đến bóng người đi trong ấy, càng lúc càng xa. Điều ấy cũng xảy ra khi tôi đọc chúng như câu thơ. Nhưng người nào từng nghe Cung Tiến qua Duy Trác hay Thái Thanh, Lệ Thu hay Anh Ngọc, sẽ không thể đọc thế nữa, như câu thơ thông thường, người ấy phải đọc khác đi. Phải đọc như đang hát. Và khi hát như thế, dù chỉ hát thầm, hai chữ cố nhân ấy sẽ khác đi, hình ảnh người đi trong sương cũng khác. Cũng vậy, bốn chữ “che kín nguồn đời” khi được ngân lên như một ca từ, hình ảnh cũng biến đổi, sâu hơn, dào dạt hơn.
 
Cái chết làm nên đời sống của chúng ta. Cũng như mất mát làm nên âm nhạc. Cái chết của một người, một nghệ sĩ, một quê hương.
 
Ôi, những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một kiếp xa xôi
Buồn sớm đưa chân cuộc đời
 
Nghe nhạc Cung Tiến, các bài hát, tôi chú ý lắng nghe những chữ của ông.
 
Người ơi, chiều nào có nắng vàng hiền hòa sưởi ấm nơi nơi?
Người ơi, chiều nào có thu về cho tôi nhặt lá thu rơi?
Tình có ghi lên đôi môi
Sầu có phai nhòa cuộc đời
Người vẫn thương yêu loài người và yên vui cuộc sống vui
 
Lời tự nhiên, chân thành, sang cả. Đó là tâm sự của một chàng trai mới lớn, bắt đầu biết yêu, mơ mộng. Hơn thế, đó là thẩm mỹ của một người trẻ tuổi được giáo dục tử tế, chịu ảnh hưởng của văn học tiền chiến và thơ mới. Hoài cảm là lòng hoài niệm về một thế giới tốt đẹp, tình yêu đã mất, thiên đường tan vỡ.
 
Chờ hoài nhau trong mơ
Nhưng có bao giờ thấy nhau lần nữa
 
Ca từ của Cung Tiến diễm lệ. Về một mặt nào đó, là sự kế thừa các nhạc sĩ đi trước như Văn Cao, Đặng Thế Phong, Đoàn Chuẩn, và các nhà thơ như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử. Nghe ông, tôi thường nghĩ đến Đoàn Chuẩn:
 
Giòng đời trôi đã về chiều
Mà lòng mến còn nhiều
Đập gương xưa tìm bóng
 
Đặc điểm của ca từ Cung Tiến là việc dùng chữ hoặc đặt câu rất mới:
 
lòng cuồng điên vì nhớ
còn nhớ mãi trưa nào thời nào vàng bướm bên ao
buồn sớm đưa chân cuộc đời
 
Vàng bướm khác với bướm vàng, đó không phải chỉ là sự đảo chữ, còn hơn thế nữa, chữ vàng đi trước làm ra cả một không gian màu sắc được vẽ lên bởi cánh bướm. Nó làm chúng ta nhớ lại cách nói của người nước ngoài, ví dụ trong thơ Đường, Thôi Hiệu:
 
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
 
Trong khi Ngô Tất Tố dịch:
 
Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn
Ngàn năm mây bạc vẩn vơ bay
 
Thì Vũ Hoàng Chương dịch là:
 
Vàng tung cánh hạc đi đi mãi
Trắng một màu mây vạn vạn đời
 
Màu trắng, màu vàng át cả không gian, trắng đi trước mây, vàng đi trước hạc. Những câu được Cung Tiến viết cách đây hàng nửa thế kỷ, bây giờ vẫn mới. Trong khi còn là một nhà văn, một dịch giả, có cơ hội tiếp cận với văn học nghệ thuật và âm nhạc phương Tây, ông vẫn giữ một tâm hồn Đông phương thơ mộng lạ thường. Cung Tiến là sự kết hợp giữa truyền thống Đông phương và âm nhạc hiện đại phương Tây, giữa một ngôn ngữ quý phái và tâm hồn chất phác, ngây thơ. Những kết hợp ấy thật quý báu, ngày càng hiếm. Đó là kết quả của một nền giáo dục vào thời ấy, ở Hà Nội, ở miền Nam, thiếp lập bởi những giá trị tự do mà nhạc sĩ thường xuyên theo đuổi, lặng lẽ nhưng cương quyết. Tôi nghe bài hát của ông từ năm mười bốn tuổi, lúc ấy tôi chưa hề biết yêu là gì, vậy mà vẫn say đắm chất ngất với dòng nhạc mượt mà:
 
Ôi những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một kiếp xa xôi
Buồn sớm đưa chân cuộc đời
Lời Đường thi nghe vẫn rền trong sương mưa
 
Vào tuổi ấy tôi chỉ mới đọc vài bài Đường thi, chưa biết buồn là gì, nhưng sao tôi vẫn cảm thông với tác giả khi ông mơ hoài một kiếp xa xôi? Hay phải chăng trong mỗi con người chúng ta đều có một kiếp trước truyền lại, một tình yêu bất thành được ký gởi, một quê hương tan vỡ được báo trước?
 
Các nhà thơ và nhạc sĩ Việt Nam thời trước nói nhiều về hoài niệm. Hoài niệm của Cung Tiến cũng không khác, chỉ là ông đã đẩy nó đến tận cùng, làm cho nó trở thành nguồn hứng khởi lớn, của tình yêu tha thiết đối với quê hương, hoài bão không cùng của sự trở về, lòng thương tiếc khôn nguôi về một thiên đường đã mất. Các nhạc sĩ khi viết ca khúc được một quyền ưu tiên mà các nhà thơ không có: được phép lặp lại nhiều lần một số chữ, được phép cắt bỏ hoặc nối dài nhiều câu. Nhiều nhạc sĩ Việt nam phổ nhạc cho các bài thơ, nhưng thường là thơ có vần, như Phạm Duy phổ thơ Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên. Cung Tiến đã sớm phổ thơ tự do, như của Thanh Tâm Tuyền, một điều khá hiếm như Du Tử Lê từng chỉ ra. Đó là nói về âm nhạc Việt Nam, nhưng trên thế giới, thơ tự do lại là phổ biến trong các ca khúc chịu ảnh hưởng của nhạc rock, opera, jazz. Người ta nói nhiều đến việc thơ được phổ nhạc bởi các nhạc sĩ, ít người để ý rằng ca từ trong các bài hát cũng ảnh hưởng ngược lại đến thơ hôm nay.
 
Mối quan hệ giữa thơ và ca từ rất phức tạp. Thực ra không nên tìm ở trong lời của các bài hát những phát hiện cao siêu, các triết lý, các ý tưởng lớn. Điều đó đã có tiểu thuyết, thơ, trường ca, kịch. Công việc của một nhạc sĩ khác hẳn, người ấy cần một ngôn ngữ sáng sủa, sự kết hợp đẹp giữa thơ và nhạc, đơn giản hóa các sự vật; cất lên tiếng nói bằng một ngôn ngữ đã thay đổi. Một chữ thông thường trong lời nói khi được gieo vào ca khúc, được hát lên, ngân nga với độ dài ngắn khác nhau, cao thấp khác nhau, giữa âm thanh của các khí cụ khác nhau, tự chúng đã tạo ra những chất liệu, những ý nghĩa mới. Thế mà, ở những nhạc sĩ tài năng, như Cung Tiến, Ngô Thụy Miên, Đoàn Chuẩn, Trịnh Công Sơn, lời do chính họ viết, hoặc những bài thơ được họ phổ nhạc và làm biến đổi đi dưới áp lực của âm nhạc, còn mang lại cho người nghe những điều khác hơn thế nữa, những ý tưởng.
 
Đời lập từ những đêm hoang sơ
Thanh bình như bóng trưa đơn sơ
Nay đời tan biến trong hư vô
Chết đầy từng mồ oán thù
Máu sương tơi bời nhiều mùa thu
 
Không những chỉ là những ca từ đẹp mà còn là cách nói mới, không những chỉ là cách nói mới mà còn là dòng suối của tình yêu, của tư tưởng, chảy từ nguồn dân tộc, mà lúc nào cũng mới, thương xót, vỗ về.
                                                                            
Nguyễn Đức Tùng

READ MORE - CUNG TIẾN, ĐỜI LẬP TỪ NHỮNG ĐÊM HOANG SƠ - Nguyễn Đức Tùng

Wednesday, June 15, 2022

HOA THƯỢC DƯỢC - Chu Vương Miện

 








READ MORE - HOA THƯỢC DƯỢC - Chu Vương Miện

TRÊN CÀNH QUÊN CHIẾC ÁO SEN – Thơ Tịnh Bình

       Nhà thơ Tịnh Bình
 

TRÊN CÀNH QUÊN CHIẾC ÁO SEN
 
Xin đừng rơi giữa tàn phai
Cõi lòng im ắng cạn ngày chiều lên
Vườn hoang chim hót buồn tênh
Mây còn bay mãi bồng bềnh lối thu
 
Ban mai thánh thót sương ru
Giấc mơ cỏ ướt vô ưu vô phiền
Lá vàng neo chốn tịch nhiên
Mùa thu yên ngủ giữa miền trăng thơ
 
Bướm bay khuất chốn xa mờ
Tình thu diễm mộng hững hờ lối quen
Trên cành quên chiếc áo sen
Vườn ai đóng cửa cài then lâu rồi...
 
TỊNH BÌNH
(Tây Ninh)

READ MORE - TRÊN CÀNH QUÊN CHIẾC ÁO SEN – Thơ Tịnh Bình

NHỮNG ĐOÁ HỒNG ĐẤT MẸ | ƯỚC GÌ CÓ EM LÀ HÀNG XÓM - Thơ Trần Đưc Phổ

 

Nhà thơ Trần Đức Phổ

Những Đóa Hồng Đất Mẹ


Tôi đã gặp trên quê hương Quảng Ngãi
Những mẹ già, những người chị, người em
Trong dáng dấp, nụ cười tôi như thấy
Nết đảm đang, và vẻ đẹp dịu hiền

Ngọn Thiên Bút kẽ tô màu mắt biếc
Dòng Trà Giang tắm gội tóc nhung huyền
Điệu Ba Lý ngọt ngào mà tha thiết
Câu Bài Chòi sao quá đỗi hồn nhiên

Tiếng cười thơm mùi đường phèn, đường phổi
Làn da nâu đậm hương sắc mạch nha
Không chảnh chọe, không kiêu kỳ, phách lối
Mà đơn sơ, đằm thắm sống chan hòa

Tuy nhỏ nhắn như cây cau, cành liễu
Nhưng kiên cường trước mưa nắng gió sương
Với cha mẹ là người con chí hiếu
Với cháu con lo chu đáo trăm đường

Xin cảm ơn những đóa hồng đất mẹ
Cho tôi yêu thêm Quảng Ngãi nhiều lần
Nơi từng đã sản sinh bao thế hệ
Đổ máu đào để tô thắm giang san.
.

Ước Gì Có Em Làm Hàng Xóm


Ta đương thức mà ngỡ mình nằm mộng
Mơ thấy em tuổi đôi tám trăng tròn
Mắt long lanh, ngực căng tràn sức sống
Dường như vừa gặp gỡ đỉnh Vu Sơn

Nếu có được giai nhân làm hàng xóm
Sá gì đâu những cái giậu mồng tơi
Cũng mặc kệ ông trời mưa hay nắng
Không nhớ tơ, ta chỉ nhớ em cười

Đừng chê ta gã đàn ông thô lỗ
Đời không còn Liễu Hạ Huệ đâu em
Ôm gái đẹp mà lòng trơ như gỗ
Ngồi chung xe đưa mắt ngó, chẳng thèm!

Hãy tưởng tượng nếu đời không mỹ nữ
Làm đàn ông khổ sở biết bao nhiêu
Sẽ chẳng có anh hùng hay thi sĩ
Và trần gian là cảnh vãn chợ chiều!

7/06/2022 

--
tranducpho
ducphot946@gmail.com
READ MORE - NHỮNG ĐOÁ HỒNG ĐẤT MẸ | ƯỚC GÌ CÓ EM LÀ HÀNG XÓM - Thơ Trần Đưc Phổ

HÀ TIÊN – Thơ Trần Mai Ngân



 

HÀ TIÊN
 
Về Hà Tiên
Đêm nằm nghe con sóng vỗ
Biển mặn tràn bờ lao xao
Xoá đi dấu tích ngọt ngào
Đêm hôm ấy trăng sao đi ngủ sớm…
 
Đêm Hà Tiên
Hẹn dẫn nhau ta đi trốn
Tìm bình yên trên những vòng xe
Đèn phố vàng hắt xuống vỉa hè
Ôm thật chặt sợ xa nhau mãi mãi…
 
Đêm Hà Tiên
Anh lạc em - lạc đời - lạc lõng
Lạc đôi môi - hương ấm vòng tay
Em có cầu trời đừng để nhạt phai
Hà Tiên đó, dấu chấm nhỏ trên bản đồ - anh và em đã đến!
 
Trần Mai Ngân

READ MORE - HÀ TIÊN – Thơ Trần Mai Ngân

ĐỌC TẬP THƠ “MÙA THU NẮNG KHÓC” CỦA PHẠM ĐỨC MẠNH - Châu Thạch

 

Châu Thạch thành thật cảm ơn nhà thơ  đã gởi tặng tập thơ “Mùa Thu Nắng Khóc” do nhà xuất bản Hội Nhà Văn vừa xuất bản đầu tháng 5/2022.    
Nhà thơ Phạm Đức Mạnh quê quán Xuân Trường, Nam Định, là một nhà thơ được ái mộ trên văn thi đàn, đã  xuất bản 8 tập thơ,  trong đó Châu Thạch đã từng viết cảm nhận khi đọc tập thơ “Em Đừng Rủ Nhớ Đi Xa” của tác giả.

“Mùa Thu Nắng Khóc”là một tựa đề hơi khó hiểu, bởi vì một năm nắng có 4 mùa, nắng mùa xuân thì tươi hồng, nắng mùa hè thì chói chang, nắng mùa thu dịu mát, chỉ có  nắng mùa đông mới có thể gọi là nắng khóc vì bầu trời thiếu nắng, âm u. Vậy để hiểu vì sao tác giả lấy tựa đề tập thơ là “Mùa Thu Nắng Khóc” thì ta phải đọc qua bài thơ “Mùa Thu Nắng Khóc” in trong tập thơ nầy, bài thứ 40  trang 62;
 
Nâng niu làn gió
Hái đóa hương đồng
Cài lên mộ Mẹ
Thơm trời mênh mông
Mẹ nằm trong nhớ
Trái tim tình làng
Mùa thu nắng khóc
Thương chiều lang thang
 
Con xa quê mãi
Đời cũng bạc rồi
Đường trần nghiệt ngã
Đắng hồn mồ côi...
 
Cầm tập thơ trên tay, ở trang đầu, hàng chữ “Kính dâng Mẹ Cha tuyển thơ nầy: MÙA THU NẮNG KHÓC – Con trai Phạm Đức Mạnh” đã cho tôi một cảm mến tự nhiên đến trong tâm hồn. Đọc bài thơ “Mùa Thu Nắng Khóc” lòng tôi thêm ngập tràn cảm xúc, bởi nhà thơ đã hư cấu tiếng khóc của ánh nắng mùa thu để gởi nỗi nhớ Mẹ của mình vào đó. Hôm qua tôi viết về bài “Màu Của Gió” thơ Như Không, hôm nay tôi viết về bài “Múa Thu Nắng Khóc” của Phạm Đức Mạnh, cả hai cụm từ đều khó hiểu nhưng đều đem dến cho tâm hồn tôi sự thăng hoa của một người thấy được ý thơ sâu xa bằng trực giác cúa mình. 
 

Bài thơ “Mùa Thu Nắng Khóc” chỉ có 3 khổ thơ nhỏ mọn, nhưng chỉ ngay ở khổ thơ đầu ta đã thấy mộ Mẹ nằm trên cánh đồng trăng thanh gió mát về đêm, hoa thơm cỏ lạ về ngày và bầu trời mênh mông vô tận như tình yêu của mẹ  đã từng gởi cho đời: “Nâng niu làn gió/Hái đóa hương đồng/Cài lên mộ Mẹ/Thơm trời mênh mông”.
  
Rồi thi khổ thơ thứ hai “Mẹ nằm trong nhớ/ trái tim tình làng/Mùa thu nắng khóc/ thương chiều lang thang” cho ta nhận biết trái tim của Mẹ là trái tim nhân hậu mang đầy đủ hồn quê mộc mạc, hy sinh và yêu thương vô tận. “Mẹ nằm trong nhớ”  không phải là mẹ nhớ mà là con nhớ mẹ, người thân nhớ mẹ, xóm làng nhớ mẹ, ngôi nhà thân yêu nhớ mẹ, mãnh vườn, lũy tre nhớ mẹ, cho đến “Mùa Thu Nắng Khóc” nghĩa là mùa thu cũng nhớ mẹ nên ánh nắng buồn như muốn khóc. Mùa thu thì nắng đẹp, cho nên mùa thu nắng có khóc thì cũng khóc dịu dàng êm ái như giọt lệ mỹ nhân. Bởi vậy tác giả cho nắng mùa thu khóc để thơ đầy thi vị của hương, của hoa và của gió trời.
  
Khổ thơ thứ 3 là lời tạ lỗi với mẹ của tác giả, người con ở xa ngàn dặm, đã từng như Trần Trung Đạo “Mười năm tóc mẹ màu tang trắng/ Trắng cả lòng con lúc nghĩ về” để rồi muốn “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười” mà nào đâu đổi được! Nhà thơ Trần Trung Đao hạnh phúc hơn, còn nghe được tiếng mẹ để thốt lên “Tiếng ai như tiếng lá thu rơi”, còn nhà thơ Phạm Đức Mạnh thì xót xa hơn: “Con xa quê mãi/Đời cũng bạc rồi/Đường trần nghiệt ngã/Đắng hồn mồ côi...” nghĩa là chẳng bao giờ còn  được nghe “Tiếng ai như tiếng lá thu rơi” như Trần Trung Đạo nứa. 
  
“Mùa Thu Nắng Khóc”, môt bài thơ mang linh hồn của cả tập thơ, và cả tập thơ mở rộng chủ đề của “Mùa Thu Nắng Khóc”. Tập thơ gồm có 102 bài thơ trong đó nhiều bài thơ mang biết bao nỗi niềm, với biết bao tiếng nấc yêu quê hương, thương cha và nhớ mẹ.   
 
Ta hãy đọc một khổ thơ nỗi niềm:
 
Nghẹn ngào uống cả thu say
Gạn từ cơn khát tháng ngày chờ mong
Nghiêng nghiêng trở giấc mơ hồng
Một thời vùng vẫy gãy dòng sông tương
                                            (Nỗi Niềm)
   
Ta hãy đọc thêm một nỗi lo của tác giả, một nỗi lo làm cho trống rỗng cả không gian:
 
Nếu một mai mẹ đi… đi… đi mãi
Hoa hồng đổi màu, bông nào cho mẹ bao dung
Thế gian với con là khoảng trồn vô cùng…
                      (Nếu Mai Không Còn Mẹ)
  
Rồi ta hãy đọc không phải chỉ nắng khóc vì nhớ mẹ, mà cho đến thơ cũng đã dành nhà thơ để khóc:
 
Đêm đêm tôi ngồi nhớ mẹ
Tiếng lòng ướp ngọt sông quê
Sắc hương ngát thơm kỷ niệm
Lời ru dắt lối say về
 
Cầu làng thôi buồn hóa đá
Chuông tâm chùa lại ngân vang
Mùa chay hương sen thiền tịnh
Nam mô Phật đãi cả làng
 
Về quê ùa lên nhà mẹ
Lặng ngồi tước lệ sầu cay
Bốn mùa miên man gió hát
Cha cười gảy nhớ vàng bay
       (Câu Thơ Dành Khóc)
 
Tôi nghĩ không cần viết chi thêm gì nữa, vì chỉ hai bài thơ “Mùa Thu Nắng Khóc” và “Câu Thơ Dành Khóc” đã làm toát yếu được cho cả tập thơ. Cả tập thơ là tiếng thổn thức của người con lìa quê hương dài năm tháng. Tiếng thơ là tiếng khóc không u uất, không tràn lan giọt lệ, mà như tiếng nước mây đồng vọng, mà như tiếng gió trong nắng mùa thu. “Mùa Thu Nắng Khóc” có tiếng thơ như “tiếng lòng ướp ngọt sông quê”, như “Bốn mùa miên man gió hát”, để cho người đi xa nhớ “Sắc hương ngát thơ kỷ niệm” mà theo “Lời ru dắt lối say về”. Hãy đọc “Mùa Thu Nắng Khóc” của Phạm Đức Mạnh vì đó là “Lời ru dắt lối ta về” với song thân ta, với quê hương ta và với muôn vàn kỷ niệm mà ta nhớ ta thương.                                                        

Châu Thạch  

READ MORE - ĐỌC TẬP THƠ “MÙA THU NẮNG KHÓC” CỦA PHẠM ĐỨC MẠNH - Châu Thạch

KỶ NIỆM – Thơ Lê Phước Sinh


 

           Nhà thơ Lê Phước Sinh


KỶ NIỆM
 
Anh biết, mùa Hạ nắng gắt
Phượng hồng còn đỏ mặt kia
Viết vội vài dòng lưu bút
tháng năm nhớ thuở xuân thì...
 
                LÊ PHƯỚC SINH

 

READ MORE - KỶ NIỆM – Thơ Lê Phước Sinh

Monday, June 13, 2022

NGẪU NHIÊN CÙNG MÙA HẠ - Thơ Khaly Chàm

 


ngẫu nhiên cùng mùa hạ
 
sấm chớp lóe trong vòm mây mùa hạ
siêu nhiên âm vỡ trắng giữa khôn cùng
điếng hồn chưa, trừng mắt nhìn cốc rượu
quán tưởng đời tro lạnh của riêng chung (?)
 
hình diễm ảo phủ lên niềm đau trắng
xếp lại đi em… dối trá với thật thà
dường như bóng hai ta đang xoắn xít
che dấu được gì lộ vết cắn tinh ma
 
hãy cố chạy vượt qua niềm tuyệt vọng
vấp ngã rồi nhớ mở mắt lặng thinh
con chữ ta cụt đuôi tìm ánh sáng
trong dạ người tình ngời sáng ý tâm linh
 
khởi sinh rồi, đã và đang biến chủng
hoa khắp cùng hiện hữu tỏa hương thơm
những tồn tại cứ trườn qua lồng ngực
đất thở nồng nàn sao phải tiếc nụ hôn?
 
hồn nhiên chứ, những hạt mưa mùa hạ
chân lý xoay vòng phúng dụ để tư duy
cát dưới chân cuộc lưu đày trôi mãi
ta là ai?
với hư vô, chạm cốc rượu, cười khì
 
ttcuchi mưa 2022
khaly chàm
 
READ MORE - NGẪU NHIÊN CÙNG MÙA HẠ - Thơ Khaly Chàm

VẨN VƠ VỀ CHUYỆN NGỰA MUỐN HÓA RỒNG - Đặng Xuân Xuyến

 


VẨN VƠ VỀ CHUYỆN

NGỰA MUỐN HÓA RỒNG 

- Nhân chuyện Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long vừa bị khởi tố -

*

 Đã tuổi ngựa thì chạy ở dưới đất thôi cho đắc dụng, hợp với lẽ tự nhiên của đạo Trời Đất lại viển vông đòi vút bay tận trời cao. Ừ, nếu chót ham hố thế thì cũng thôi mà làm con chim sâu đi, vừa thỏa thích lượn lờ trời cao, vừa nhẩn nha bắt sâu bọ để chén cho phĩnh cái bụng lại giúp môi trường được xanh sạch đẹp còn tạo thêm chút công quả, biết đâu nhờ thế sẽ được Trời cao thương tình miễn giảm tội rắp tâm “lách luật” mà cố phạm luật Trời, lại cứ khăng khăng đòi hóa Ngựa thành Rồng, mà phải là Rồng xanh nữa cơ thì oạch cái rớt xuống tận vực thẳm là “oạch” quá đúng với "quy trình” “kiến tạo".

 

Ừ, cũng lạ. “Chạy” đến được “ghế” đấy mà ngồi vào chắc cũng tốn bao sức lực cơ mưu, cũng lắm Thầy tướng thuật lý số phò tá ủ mưu sao không lưu ý câu: "Lợi 48 - thiệt 54" cổ nhân đã nhắc nhở?! Sao chỉ hiểu vế cổ nhân lưu ý: 48 tuổi được hưởng nhiều lợi lộc thì 54 tuổi sẽ gánh chịu nhiều thiệt hại về người hoặc của mà không chịu hiểu cố nhân chủ tâm nhắc nhở: giai đoạn từ 48 đến 54 tuổi hãy chủ ý buông bỏ Tham Sân Si, sống thiện tâm, tạo nhiều phúc lành giúp đỡ chúng sinh để tự tiêu trừ Họa Nghiệp sẽ quật vào các năm 57, 58, 59 tuổi nếu đương số Phúc báo được hưởng quá mỏng? Các cụ cũng nói "49 chưa qua 53 đã đến" vậy mà năm 53 tuổi (2018) không những không bị Hạn vật mà còn được thăng chức thăng quyền, đến năm 2020, vào tuổi 55 lại được thăng quyền thăng chức thêm lần nữa, được hưởng Phúc báo như thế là may mắn, đã hơn khối người vậy mà không lo tích thiện tu thân để kéo dài Phúc báo lại hí hửng tưởng ảnh hưởng của câu "lợi 48 thiệt 54" đã hết nên cố chén thật đẫy, cho bóng nhẫy môi, cho phĩnh cái bụng... mà không biết rằng đến hết tuổi 60 mới tập tễnh bước ra khỏi vòng khắc chế của Hạn kỳ này.

 

Cổ nhân cũng lưu ý: họa phúc có thể đến trước hoặc đến sau trong vòng 1 năm, không nhất thiết phải đúng Hạn kỳ nên đừng bao giờ chỉ nhăm nhắm nhìn vào mấy con số 48, 49, 53, 54 mà quên rằng đấy chỉ là những con số mốc để nhắc nhở chúng sinh phải lo sống thiện, tạo nhiều phúc lành thì mới mong được an ổn trong vòng 12 năm Thái Tuế cương tỏa.

 

Nhìn gương anh Tổng đốc Nguyễn Đức Chung (sinh năm 1967) cách đây vài năm mà không rút kinh nghiệm: 2013 ở phía nửa sau của tuổi 47, ứng với câu "lợi 48 thiệt 54" thì "lợi" đến sớm hơn vài tháng, anh ấy chễm chệ ngồi lên ghế Tổng đốc đất Rồng Bay bổng lắm lộc nhiều, khối kẻ rỏ rớt rỏ dãi thòm thèm... Thế mà anh ấy vẫn cứ cố vét thêm cho thật nhiều lợi lộc thì năm 2020 (tính tuổi âm lịch là 54) anh ấy phải rơi vào vòng lao lý với 3 vụ trọng án để khép lại cho đúng Hạn kỳ, cho đủ Quả báo để Nghiệp quật như chế tài của Luật Luân hồi Nhân quả.

 

Uầy... Vơ vẩn vài câu linh tinh về chuyện Ngựa muốn hóa Rồng vừa để mua vui, vừa có thêm bài đưa lên trang blog Tiếng Lòng và Trang Đặng Xuân Xuyến.

 

Thứ 6, ngày làm việc cuối tuần, chúc các "tình yêu" tràn đầy năng lượng! 

*.

Hà Nội, sáng 11 tháng 06-2022 

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 

.

 

READ MORE - VẨN VƠ VỀ CHUYỆN NGỰA MUỐN HÓA RỒNG - Đặng Xuân Xuyến

HOA THƯỢC DƯỢC VÀNG - Chu Vương Miện





 

READ MORE - HOA THƯỢC DƯỢC VÀNG - Chu Vương Miện