Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, January 5, 2021

ĐI THÌ NHỚ Ở THÌ THƯƠNG! - Tủy bút của Tiểu Yên

 

Sông Thach Hãn.
Ảnh: NKP.

Viết ngắn: 

ĐI THÌ NHỚ Ở THÌ THƯƠNG!

Tiểu Yên


Về Quảng Trị yêu thương!

Nghe trọ trẹ “răng, mô, tê, rứa” mà trong lòng êm êm như có một sợi dây đàn đang rung. Đi thì nhớ, ở thì thương. Chao ôi, xa tận đâu, tha phương gót buồn mỏi mệt, vẫn muốn được trở về giang tay nằm sõng xoài ôm đất mẹ, hít thở mặn mòi mùi nắng gió hương vị quê hương. 

Đi thì nhớ, ở thì thương. Quay quắt nhớ cái nực của gió Lào, nắng nồm nam trưa mùa hè quật rát da cháy thịt. Da diết nhớ cái lạnh tê tê muốn đục vào tận xương tận tuỷ những ngày đông buốt giá. Rưng rưng nghe tin bão lũ, lại quặn lòng rơi nước mắt. Bao nhiêu lúa đòng đang vụ, bao nhiêu mái nhà tốc mái, thương những em thơ sau con nước, lại tíu tít hồn nhiên cắp sách đến trường, dấu chân mòn vẹt những con đường còn đỏ quạch phù sa nước đọng.

Quảng Trị yêu thương! Miền Trung yêu thương!

Đi thì nhớ, ở thì thương. Thương từ những cọng rau vườn nhà xanh non, ngọt mát mẹ mỗi ngày vun trồng, tưới tắm. Nhớ mùi vị những món ăn nặng mùi ớt, mùi ném, mùi mắm, mùi ruốc. Đi ngang xứ Quảng, nhắn nhủ người phương xa, đừng quên ghé thưởng thức tô cháo vạc giường Diên Sanh nức tiếng, gật gù ăn cho biết món bánh ướt làng Phương Lang để tự mình ngẫm nghĩ tại sao nó lại ngon và hấp dẫn hơn rất nhiều so với món bánh cuốn miền Nam, qua Hải Lăng thì nhớ dừng lại ăn đôi ba cái bánh lọc Mỹ Chánh... Dân xứ Quảng, ai không từng ăn qua con cá diếc, cá dét, ăn qua nấm tràm; ai chưa từng uống qua vị đắng nhân nhẫn mà ngọt thấu cuống họng của vị chè Vằng. Vườn tiêu, vườn cà phê, vườn cam Khe Sanh…mỗi mùa vẫn sây trĩu quả, chắt chiu trái ngọt hương lành. Đồ ăn thức uống dân dã, bình dị, cũng giống như những con người quê quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, bốn mùa an nhiên mặc thời tiết miền Trung nắng mưa nghiệt ngã. 

Quảng Trị yêu thương!

Đi thì nhớ, ở thì thương. Nhớ vị biển mặn, nhớ cát trắng phau Cửa Tùng, Mỹ Thuỷ… Nhớ một ngôi trường Bồ Đề còn trơ khung đổ nát, hay ngôi trường Nguyễn Hoàng ngày xưa nay đã đổi tên nhưng vẫn còn nhiều dấu ấn. Nhớ đường lên La Vang mỗi mùa hành hương nhộn nhịp. Nhớ cây cầu Hiền Lương phân đôi giới tuyến, đất Vĩnh Linh khoai sắn ngọt bùi cùng địa đạo Vĩnh Mốc, nhớ Thành Cổ 81 ngày đêm khói lửa kiên cường bên dòng sông Thạch Hãn mà bến hoa đăng mỗi năm một lần lại rợp đèn hoa tưởng niệm, cung đường 9 xẻ dọc Trường Sơn cứu nước,…

Quảng Trị yêu thương! Đi thì Nhớ mà Ở thì Thương! Thương như một mối tình số kiếp. Dăm ba bận lại quẩy ba lô tìm về, quay lưng đi còn bịn rịn. Niu níu bước chân xa. Hẹn lòng sẽ trở lại. Bởi đó là nơi chôn nhau cắt rốn khi ra đời, bởi đó là nơi nguồn cội vẫn nhắc nhở trong tim. 


Tiểu Yên, chắp bút tháng 03 năm 2016.

vanhongha2411@yahoo.com.vn







READ MORE - ĐI THÌ NHỚ Ở THÌ THƯƠNG! - Tủy bút của Tiểu Yên

Monday, January 4, 2021

NGỤ NGÔN Ê-DỐP (57-60) - Ngọc Châu dịch sang thơ song thất lục bát

 


 

57. Người  Nông dân và chim Đại bàng

 

Đại bàng bị mắc vào lưới bẫy

Bác Nông dân nhìn thấy nhưng tha

Quí loài này nên thả ra

Còn chim cũng chứng tỏ là biết ơn

 

Thấy bức tường chon von sắp đổ

Bác ta đang tựa cổ áp lưng

Chim xà xuống, móng giật tung

Túm khăn gói, sải cánh bung lên trời.

 

Bác nông đân bật người hớt hải
Nhưng Đại bàng trả lại gói ngay
Khi cầm gói bọc trên tay
Quay về chỗ cũ mới hay sập tường

 

Chuyện diệu kì, lạ thường trước mắt

khiến bác hay, chim rất khôn ngoan
không vô tình, đã trả ơn.

Đại bàng kia có nghĩa hơn khối người.

 

The Peasant and the Eagle

A Peasant found an Eagle captured in a trap, and much admiring the bird, set him free. The Eagle did not prove ungrateful to his deliverer, for seeing the Peasant sitting under a wall which was not safe, he flew toward him and with his talons snatched a bundle from his head. When the Peasant rose in pursuit, the Eagle let the bundle fall again. Taking it up, the man returned to the same place, to find that the wall under which he had been sitting had fallen to pieces; and he marveled at the service rendered him by the Eagle.
 


58. Hai người đàn ông và con gấu

 

Hai người bạn cùng nhau tản bộ

Xuôi theo con đường nhỏ giữa rừng

Thì con gấu lớn bỗng dưng

Từ đâu xuất hiện ngang đường họ đi

 

Một  leo cây cực kì nhanh lẹ

Thoát xa nanh vuốt quỉ chắn đường

Người kia hết cách vô phương

Đành giả vờ chết, giữa đường lăn quay

 

Con gấu đến ngửi tai “người chết”

Đưa chân ra sờ miết mấy lần

Anh ta không hề động thân

Gấu nghĩ chết thật, lần thần bỏ đi.

 

Anh  leo giỏi tức thì xuống đất

Hỏi thăm khi gấu mất tăm hơi:

“Chuyện gì kín thế cậu ơi

Ghé tai nó hỏi tận nơi cơ mà?!...


“Ồ, nó nhắc tôi là cần thiết

Nghĩ suy khi muốn kết bạn đường

Với người gặp chuyện bất thường

Thì mặc xác bạn tìm phương cứu mình...”

 

Two Men and the Bear 

       Two men were strolling  down a forest path when they came across a bear. One man scampered up a tree and escaped the bear's claws. The other man knew there was nothing he could do, so he dropped to the ground and played dead.

       The bear went up to the man and sniffed about his ears. He pawed at him a few times. Thinking the man was dead, the bear walked away.

     After the bear left, his friend came down from the tree.
     "What did the bear say to you, friend, when he whispered in your ear?" asked his friend.

      "Oh," answered his friend, "He just told me that I should consider about traveling with friends who run out on their friends in times of trouble."

Friendship is tested in times of trouble.

 

59. Sếu và Hổ

 

Sếu già đã nuôi con hổ nhỏ

Bị mồ côi trong ổ của mình
Cùng con sếu nhỏ xinh xinh

Chúng đều nhanh lớn, thân tình với nhau

 

Hai nhóc nhít chơi đâu cũng thế

Luôn cùng đi, bảo vệ bạn mình

Một hôm có anh sếu ranh
Ngang qua bắt nạt, đành hanh đủ điều

Sếu nhỏ cất tiếng kêu khẩn thiết

Khiến Hổ con chẳng kịp nghĩ suy

Nhảy lên cắn cổ tức thì

Chén luôn tại chỗ gã kia ngon lành

 

Đã biết mùi nó thành quen lệ

Coi thịt chim như thể món ăn

Hổ nhìn sang bạn Sếu thân

“Tớ yêu cậu lắm nhưng cần phải xơi”

 

Sếu chẳng kịp tung người bay liệng

Trở thành món tráng miệng Hổ con

Bẩm sinh ẩn giấu lúc non

Lộ ngay ra lúc trăng tròn hỡi ai!


The Tiger and the Crane 

       An old crane had adopted an orphaned tiger cub and raised the little animal along with his own baby. The two infants grew up side by side and became to be good friends and playmates. They never quarreled and played happily together.

       One day another larger crane came along and treated the young one harshly. He bullied the little crane so badly that the young one cried out for help. Up rushed the tiger and without any thought, he gobbled  up the bully crane.

     Now having the taste of flesh in his mouth, he realized how good the bird taste. He turned to his little playmate.

      "How much I love you, little crane!" exclaimed, the tiger, and he had the bird for dessert.

That which is inbred nside will reveal itself outwardly.


 

60. Nho xanh 

 

Cáo đói ngấu loanh quanh tìm đến

Vườn nho đầy quả chín thơm ngon

Chưa khi nào Cáo đói hơn

Nho thì chín tuyệt vời luôn - nhất đời!

 

Mỗi tội nó treo hơi cao chút

Cáo nhảy lên lần một, vươn người

Không ăn thua, cóc tới nơi

Lại vươn mình nhảy lần hai, nhưng mà…

 

Chùm nho mọng cứ xa tầm với

Nhảy lần ba cho tới lần năm

Uổng công, vẫn chẳng ăn nhằm

Cáo ta tức tựa gai chằm, chịu thua

 

“Nho này hẳn còn chua phải biết”
-Thốt ra khi giã biệt dàn nho-

Hái vào đĩa bạc dâng cho

Ông đây cũng chẳng sờ mò làm chi!”

 

Ở đời thật dễ khinh khi

Thứ mà không có cách gì chạm tay.

 

Sour Grapes  

       A very hungry fox walked into a vineyard where there was an ample supply of luscious looking grapes. Grapes had never looked so good, and the fox was famished. However, the grapes hung higher than the fox could reach. He jumped and stretched and hopped and reached and jumped some more trying to get those yummy grapes, but to no avail. No matter what he tried, he could not reach the grapes. He wore himself out jumping and jumping to get the grapes.

       "Those grapes surely must be sour," he said as he walked away, "I wouldn't eat them if they were served to me on a silver platter."

It is easy to hate what you cannot have.



READ MORE - NGỤ NGÔN Ê-DỐP (57-60) - Ngọc Châu dịch sang thơ song thất lục bát

CUỐI ĐÔNG – Thơ Tịnh Bình

 


CUỐI ĐÔNG
 
Tiếng chim hót mơ màng kẽ lá
Chợt nghe hoa nắng rụng đầy sân
Xanh phiến gió ru lời tơ nõn
Khúc giao mùa khẽ chớm bâng khuâng
 
Mênh mang sương trắng dường tiếc nuối
Chiếc bóng mùa đông phía xa dần
Đồng chiều ươn ướt lời rơm rạ
Dáng khói mơ hồ chưa muốn tan
 
Cạn vơi ngày tháng niềm lịch mỏng
Buồn vui năm cũ cũng phù vân
Trộm nghe ai hát lời nho nhỏ
Cánh chuồn cõng nắng báo tin xuân...
 
                                     TỊNH BÌNH
                                      (Tây Ninh)

READ MORE - CUỐI ĐÔNG – Thơ Tịnh Bình

NHỮNG THỦ THỈ BAN MAI - Thơ Võ Thị Như Mai



 Võ Thị Như Mai

NHỮNG THỦ THỈ BAN MAI

 

Kìa là một đoá hồng

Thăm thẳm màu áo tím

Này mắt môi trìu mến

Muôn vạn dặm cách xa

 

Trên nẻo đường em qua

Cài mây lên tóc rối

Tơ trời em dệt vội

Hương cúc vượt địa cầu

 

Trời bảo mình xa nhau

Để thử lòng bão tố

Tuyết rơi ngoài cửa sổ

Trắng xoá đến mềm lòng

 

Giãn cách giữa mùa đông

Vị tha hơn em nhỉ

Bình trà hình quả bí

Pha một tách mà thương

 

Dăm phút đi sai đường

Thế giới thành nông nổi

Giữa khoảnh khắc bối rối

Trái đất thắm xanh hơn

 

Kìa là một đoá hồng

Thăm thẳm màu áo tím

Em thợ cày tinh nghịch

Dành trọn tâm hồn mình

 

Tâm hồn đan bằng hương

Điểm hương trà hoa cúc

Tâm hồn đan bằng sách

Trồng hạt giống tương lai

 

Những thủ thỉ ban mai

Lời hát bông hoa tuyết

Chỉ tình yêu bất diệt

Xoá tan mọi lỗi lầm

 

Buổi sáng anh trầm ngâm

Bên bình trà quả bí

Hương cúc thơm tinh tuý

Bình minh em, thợ cày

 

1.1.2021

VTNM

<vonhumai@yahoo.com>

READ MORE - NHỮNG THỦ THỈ BAN MAI - Thơ Võ Thị Như Mai

GIỠN CHƠI CÙNG CHỮ NGHĨA: TÌNH VÀ TỬU - Nguyên Lạc

 


Lời cẩn báo:
Cấm trẻ dưới 18 tuổi. Các bà suy nghĩ cẩn thận.
 
Đầu năm mới Nguyên Lạc biên khảo bài tiếu nầy mến gởi đến các bạn thân thương cùng với lời chúc dzui dẻ, “không có ghẻ”.
Tại sao lại chúc “không có ghẻ” ?
– Không có ghẻ tức nhiên là không nghèo, có thể là giàu. Tôi xin giải thích:
 
READ MORE - GIỠN CHƠI CÙNG CHỮ NGHĨA: TÌNH VÀ TỬU - Nguyên Lạc

Sunday, January 3, 2021

PHÚC ĐỨC CÓ PHẢI LÀ BIẾN THỂ CỦA THUYẾT LUÂN HỒI - NHÂN QUẢ? - Đặng Xuân Xuyến

 



PHÚC ĐỨC CÓ PHẢI LÀ BIẾN THỂ

CỦA THUYẾT LUÂN HỒI - NHÂN QUẢ?

*

Du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, từ những năm đầu công nguyên, Phật Giáo đã được tín ngưỡng truyền thống của người Việt tiếp nhận, dung hòa và uyển chuyển phát triển qua thời gian, trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong đời sống dân tộc.

Xưa tới nay, không ít người Việt Nam ta quan niệm Phúc Đức được hình thành từ thuyết Luân Hồi - Nhân Quả của Phật giáo. Nhiều người cho rằng Phật khuyên chúng sinh sống nhân đức để phúc ấm truyền đời cho con cháu, vì thế, người Việt ta mới thường nói: Gieo nhân nào gặt quả ấy.

Thực ra, quan niệm Phúc Đức đã manh nha hình thành từ thời An Tiêm với bãi An Tiêm ở Thanh Hóa. Người Việt xưa tin như bây giờ chúng ta tin là có nhân có quả nhưng nhân quả chỉ được hiểu đơn giản là “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”, “ác giả ác báo” và quan niệm Nhân - Quả chỉ được xem như là một lời khuyên về luân thường đạo lý.

Chúng ta đều biết phúc và đức là hai phạm trù khác nhau: Phúc là cái ta đang được hưởng, đức là những điều tốt đẹp ta đang làm để (sẽ) được hưởng phúc ở mai sau. Phúc lớn có thể ảnh hưởng tích cực tới số phận của con người, thậm chí tới nhiều đời, đến khi phúc cạn thì cuộc sống sẽ sảy ra những họa hoạn liên tiếp, bất khả kháng trên nhiều lĩnh vực.

Mối quan hệ giữa phúc và đức như một quy luật tất yếu nên nhiều khi người ta gộp hai khái niệm này vào làm một mà đương nhiên hiểu nôm na rằng: Nếu anh sống có đức thì đời anh sẽ được hưởng phúc. Quan niệm như thế rất đúng về giá trị giáo dục đạo đức, nhưng có những trường hợp nếu quan niệm như vậy sẽ “lý giải” không được thỏa đáng. Chảng hạn, có người gian tham, độc ác mà cả đời vẫn gặp may mắn, hạnh phúc, trong khi có người suốt đời chỉ lo làm việc thiện lại gặp nhiều oan trái, cơ cực. Trong những trường hợp như thế, người ta lại tách phúc và đức ra làm hai phạm trù để thốt lên câu than: “Ông ấy sống có đức mà không được hưởng phúc” hoặc “Bà ấy ăn ở thất đức nhưng được hưởng phúc nên đời sướng vậy.”... Những câu than kiểu giải thích như thế nghe vẫn chưa được “hợp lý”, chưa được “thỏa đáng”, nên cổ nhân mới chua thêm rằng:

“Cây xanh thì lá cũng xanh

Cha mẹ hiền lành để phúc cho con”

Hay:

“Phúc đức tại Mẫu”

“Mồ mả làm khá người ta.”

Khi Nho Giáo thâm nhập vào nền văn hóa Việt Nam (Nho giáo là một hệ thống đạo đức, triết lý và tôn giáo do Khổng Tử (Trung Quốc) phát triển để xây dựng một xã hội thịnh trị, du nhập vào Việt Nam những năm Bắc thuộc.), đứng trước những trường hợp trên đã không đưa ra một lời giải thích, lại “đổ tuột” là do ông Trời đã an bài số mệnh nên con người mới gặp phải những nghịch cảnh trớ trêu như vậy. Nếu căn cứ vào thuyết Thiên Mệnh của Nho Giáo thì “Ông Trời” đã được đẩy lên vị trí toàn năng, có quyền chi phối và quyết định mọi diễn biến của cuộc đời. Con người chỉ là “đồ chơi” trong bàn tay của tạo hóa: Phải chịu sự sắp đặt của ông Trời, dù chỉ là những điều nhỏ nhặt nhất, con người cũng phải “y án tuân theo số mệnh”, không được tự do hành động, càng không được phép “cãi lại Mệnh Trời”:

“Ngẫm hay muôn sự tại trời

Trời kia đã bắt làm người có thân

Bắt phong trần phải phong trần

Cho thanh cao mới được phần thanh cao”

(Nguyễn Du - Truyện Kiều)

Nho giáo đã không đi tìm căn nguyên của sự “bất công” đó mà dùng thuyết Thiên Mệnh để trốn trách trách nhiệm, cho rằng Trời đã quyết định mọi sự thành công hay thất bại của con người, dù cố gắng đến đâu, muốn “cải số” thế nào thì con người cũng không thể vượt ra ngoài “khuôn thiên của số mệnh.”. Tất tật mọi chuyện, dù là sức khỏe, tuổi thọ hay hạnh phúc gia đình, công danh, tài lộc.... đều do ông Trời cầm cân nảy mực.

Quan điểm “tại Trời” của Nho giáo đã làm “tê liệt” ý chí phấn đấu vươn lên của con người, “ru ngủ” con người trong tư tưởng an phận, trông chờ sự đổi thay của số mệnh vào đấng thần linh tối cao là thượng đê (ông Trời). Đây là quan điểm tiêu cực, thụ động, triệt tiêu mọi nỗ lực phấn đấu của con người, gián tiếp làm nhụt tính hướng thiện, tiến thủ trong bản tính của con người. Và đấy cũng là điều trái ngược với nếp sống tình cảm của người Việt, đối lập với quan niệm về phúc - đức trong tín điều của người Việt, vì thế ông cha ta mới có câu: “Đức năng thắng số” hay “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều” (Nguyễn Du) để gián tiếp phủ định phần nào tư tưởng Thiên Mệnh của Nho giáo.

Trong khi Nho giáo đề cao yếu tố Trời và khẳng định con người bị chi phối tuyệt đối bởi số mệnh, thì Phật giáo lại không chấp nhận việc con người chịu sự an bài của số phận, mà cho rằng sự chuyển hóa của con người đều do Nghiệp mà ra: “Con người là chủ nhân của Nghiệp, là kẻ thừa tự Nghiệp...” (Kinh Tiểu Nghiệp phân biệt - Trung Bộ III), nên đương nhiên con người sẽ không thể và không bao giờ thoát được những Nghiệp do mình tạo ra.

Lý giải về sự khác biệt giữa quan niệm Nghiệp - Báo của Phật giáo với quan điểm Thiên Mệnh của Nho giáo, sách Phật giáo viết: “Điểm khác nhau cơ bản giữa Nghiệp và Số mệnh ở chỗ, Nghiệp do chính con người tạo tác, có tính chất duyên sinh, bất định tính và vô ngã nên Nghiệp có thể chuyển hóa được. Do đó, con người có thể thay đổi, chuyển hóa Nghiệp báo của chính mình từ xấu thành tốt, từ ác thành thiện hoặc ngược lại.”. Như thế, quan điểm về Phúc - Báo của Phật giáo là do tự mình làm tự mình chịu, dẫu là cha con cũng không ai chịu thay cho ai được, càng không liên quan gì đến tổ đức (Kinh Nê Hoàn). Việc tích đức của tổ tiên chỉ có thể tạo được nghiệp đồng cảm khiến cho người có phúc sẽ sinh làm quyến thuộc chứ không truyền được phúc đức cho con cháu mà con cháu muốn được hưởng lâu dài cái phúc của mình thì phải tự chăm lo, gieo trồng nhân thiện, luôn tạo nghiệp lành, từ bi, hỉ xả...

Luật Nhân Quả của Phật giáo không bị thời gian hạn chế, có khi đời trước gieo nhân, đến đời này gặp đủ nhân duyên thì kết thành quả, có khi gieo nhân ở đời này nhưng phải tới mấy kiếp sau, khi hội đủ nhân duyên mới kết thành quả (Kinh Nhân Quả). Đây chính là câu trả lời, là cách lý giải cho những nghịch cảnh: “Ông ấy ăn ở hiền lành, đức độ nhưng toàn gặp phải chuyện oan trái” hoặc “Bà ấy gian tham, độc ác mà cuộc đời lại toàn may mắn, hạnh phúc”...

Như vậy, thuyết Luân Hồi - Nhân Quả của Phật giáo ngoài việc đã đáp ứng được bản tính hướng thiện của người Việt, lý giải những “bế tắc” mà văn hóa bản địa “bất lực”, còn khúc xạ và hóa thân vào với tín điều của người Việt nên không ít người mới tin rằng Phúc - Đức là một biến thể của thuyết Luân Hồi - Nhân Quả.

Xét về giá trị giáo dục đạo đức thì quan niệm Phúc - Đức của người Việt  và thuyết Luân Hồi - Nhân Quả của Phật giáo xem ra khá gần gũi, tương đồng và cả 2 đều đề cao tính hướng thiện của con người, nhưng không vì thế mà cho rằng: Phúc Đức là biến thể của thuyết Luân Hồi - Nhân Quả. Bởi lẽ quan niệm “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”, “mồ mả làm khá người ta” là nếp nghĩ truyền thống của người Việt, và phúc đức ấy chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, nhiều mối quan hệ, trong khi thuyết Luân Hồi - Nhân Quả của Phật giáo khẳng định Phúc - Báo là do tự mình làm, tự mình chịu.

Do đặc tính nổi bật của Phật giáo là tính tổng hợp và tính linh hoạt nên khi Phật giáo được truyền vào Việt Nam, được các thiền sư người Việt bản địa hóa, Phật giáo đã sớm uyển chuyển hòa quyện vào văn hóa truyền thống của người Việt, cùng song hành với sự phát triển của dân tộc, nhưng vẻ tinh khiết vốn có của kinh điển Phật giáo vẫn giữ được và chưa từng gián đoạn trong việc truyền thừa nên Phật giáo (Việt Nam) ngày càng cắm rễ sâu chắc trong văn hóa tín ngưỡng của người Việt và trở thành tôn giáo có sức ảnh hưởng sâu rộng nhất ở Việt Nam.

Phải chăng chính vì thế mà không ít người mới cho rằng Phúc Đức là một biến thể của thuyết Luân Hồi - Nhân Quả.

--------

- Trích từ TÌM HIỂU VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG TRONG DÂN GIAN của Đặng Xuân Xuyến ; Nhà xuất bản Thanh Hóa 2007 -

READ MORE - PHÚC ĐỨC CÓ PHẢI LÀ BIẾN THỂ CỦA THUYẾT LUÂN HỒI - NHÂN QUẢ? - Đặng Xuân Xuyến

BIỂN... - Thơ Trần Mai Ngân

 



BIỂN...


Chiều xuân tôi về ngồi trước biển
Biển lặng im không sóng ồn ào
Nước bốc hơi an táng bữa hôm nào
Kết thành mây... mây bay về người cũ...

Chiều xuân vết thương tôi mưng mủ 
Môi còn in vết cắt nụ hôn
Dấu sẹo này năm tháng sẽ vùi chôn
Huyệt mộ lạnh tình yêu trăng và gió

Xuân vẫn đến đầy tràn đâu đó
Khắc nghiệt nồng phai cuộc chia tay
Đường nối trái tim đứt đoạn lâu dài
Chia hai nửa mảnh đời ta riêng lẻ!

Trần Mai Ngân
tranmaingan.2015@gmail.com
READ MORE - BIỂN... - Thơ Trần Mai Ngân

Friday, January 1, 2021

TẢN MẠN VỀ VĂN HÓA GÓI BÁNH CHƯNG NGÀY TẾT - Hoàng Xuân

 

Ảnh từ trang berich.vn

TẢN MẠN VỀ VĂN HÓA 

GÓI BÁNH CHƯNG NGÀY TẾT


Hoàng Xuân

 

Cứ mỗi dịp tết đến, xuân về, nhà nhà ngoài việc dọn dẹp, sắm sửa, tân trang thì một việc không thể thiếu, đó là gói bánh chưng. Ngày xưa, gần như nhà nào cũng chú ý đến công việc này, vì đây là truyền thống của tổ tiên dân tộc. Tuy nhiên, ngày nay đã có nhiều thay đổi, một bộ phận không nhỏ gia đình đã không trực tiếp gói bánh chưng nữa, mà chuyển sang đặt hàng. Việc này phần nào làm mất đi truyền thống xưa, và cũng vì thế mà nhiều người trong gia đình không biết gói bánh chưng.

Gói bánh chưng, với tôi nó đã gắn bó trong suốt 30 năm qua, từ khi còn là cậu bé lên 10. Khi ấy gia đình thường mượn những người già tuổi, có kinh nghiệm nhất trong xóm, làng (việc này chỉ hi hữu, còn thông thường thì nhà ai gói của nhà ấy), chỉ sau 2 lần nhờ như thế, tôi đã học được cách gói bánh, và lần thực hành đầu tiên là bới trộm gạo dẻo để gói và tranh thủ nấu khi người lớn đi làm đồng. Cũng tết năm ấy (khoảng năm 1990), tôi xin mạnh dạn tự gói bánh chưng tết mà không phải mượn hàng xóm nữa. Thế là từ đó đến nay, cứ mỗi dịp tết đến tôi đều bày biện sản vật để gói. Với cách gói hầu như chỉ bằng lá chuối và không cần đến khuôn, tuy nhiên gần đây do lá chuối khan hiếm, tôi chuyển sang học cách gói lá dong bằng khuôn. Việc chuẩn bị cho gói bánh chưng cũng có nhiều công đoạn. Đầu tiên là khâu chuẩn bị: những khúc củi to, chắc để khi đun sẽ cháy được lâu. Sau đó là lá, nếu lá chuối thì đi xin hàng xóm, lá dong thì mua. Lá phải to, rửa sạch, phơi cho hơi héo (nếu gặp tiết trời mưa thì phải nấu chín hoặc hơ lửa). Khi gói phải cắt, tỉa cho đúng kích thước. Tiếp đến là gạo nếp, thường chọn nếp thơm, dẻo. Trước khi gói phải ngâm qua đêm, gói xong để bánh vào nồi cũng phải ngâm vài tiếng trước khi đun lửa. Thịt thường chọn loại ba chỉ để vừa mỡ, vừa nạc hoặc chọn xương sườn thái khúc hơi to một chút. Đậu xanh phải bỏ vỏ và cũng ngâm qua đêm, sau đó nấu rồi giã nhuyễn, làm như thế này để có bánh vừa ngon, vừa thơm, vừa béo, lâu hỏng. Ngoài ra còn có dưa hành, tiêu.

Sau chuẩn bị đến công đoạn gói, gói xong tiến hành luộc. Trước đây thường gói và luộc đúng vào đêm giao thừa, để vừa nấu bánh vừa đón năm mới thông qua không khí lúc trước là trên đài, sau tiến bộ hơn là trên tivi. Ngày nay thường làm trước 1 đến 2 ngày, để đêm giao thừa giảm áp lực công việc và được nghỉ ngơi, xem truyền hình trực tiếp. Bánh thường nấu liên tục trong 12 tiếng đồng hồ, nghĩa là nếu nấu lúc 17 giờ chiều nay thì phải đến 5 giờ sáng hôm sau mới vớt ra. Mọi người quây quần bên nồi bánh chưng cảm thấy ấm áp và gần gũi, ôn lại những chuyện năm cũ, hàn huyên những chuyện đã làm được và chưa làm được trong năm qua, mong ước những điều tốt đẹp ở năm mới....

Công việc đầu tiên sau khi bánh đã được luộc chín, là ngân qua nước giếng và lau khô chiếc bánh cho ráo nước và chọn cặp bánh đẹp nhất để đặt trang trọng trên ban thờ tổ tiên, ông bà. Việc này như thể dâng lên tổ tiên một thứ sản vật quý giá và tinh túy nhất của trời đất mà con cháu đã dành dụm được trong suốt một năm qua. Thông thường thì ba ngày tết được thay cúng bằng 3 cặp bánh. Con cháu cũng sẽ lần lượt ăn bánh sau khi cúng ông bà xong. Những cặp bánh còn lại sẽ được con cháu đi học, đi làm ăn xa mang theo để làm quà. Tôi nhớ thời sinh viên, ai tết xong mang bánh đến phòng ở cùng nhau ăn quả thật thích thú.

Ngày nay, chiếc bánh chưng thực tế phần nào giảm đi sự trọng thị trong bữa ăn, bởi xã hội no ấm, con người có nhiều món ăn hơn, cái đói không như trước. Ấy vậy cho nên, tết ngày xưa, ăn to hay nhỏ thì đi tết nhà nhau thường hỏi “nhà làm được mấy cặp bánh chưng?”. Nếu trả lời 10 cặp trở lên, thì nhà đó ắt sẽ ăn tết to, ngược lại nếu nói “nhà em làm chỉ được 1 hoặc 2 cặp vừa cúng”, thì chắc chắn đó là nhà nghèo. Tuy nhiên, dù giàu hay nghèo, tết đến nhà nhà đều gói bánh chưng mục đích đầu tiên là thờ cúng ông bà, tổ tiên. Có muôn chuyện về chiếc bánh chưng. Nhưng dù thời gian, lịch sử có thay đổi thế nào, thì gói bánh chưng vẫn là một phong tục đẹp rất cần được lưu giữ và phát triển, có lẽ đưa loại hình này thành một di sản quý giá của dân tộc và nhân loại. Xuân đã về, tết đến, kính chúc mọi người có nồi bánh chưng như ý.

            Hoàng Xuân

(Địa chỉ: Nguyễn Xuân Hoàng, trường THCS Quảng Long, Ba Đồn, Quảng Bình.  hoangxuan1979@gmail.com.)

READ MORE - TẢN MẠN VỀ VĂN HÓA GÓI BÁNH CHƯNG NGÀY TẾT - Hoàng Xuân

QUÊ MIỀNG - Thơ Chu Vương Miện


Sông Hiếu nhìn từ làng Điếu Ngao.
Ảnh Phạm Đình Quát. 

QUÊ MIỀNG

quê miềng Ba Bến nông hều
bè tre bè nứa ngược chiều nước lên
nhìn về Bồ Bản, Trung An
làng chài làng biển con thuyền con cua
nhìn nhau dư tháng đủ mùa
đủ năm chưa chẵn nên chưa ngỏ lòng
Một vòng xuân hạ thu đông
anh theo lính trận nhiều năm trụ rừng
mới hay em đã có chồng
làm dâu xứ nẫu tháp đồng tháp thau
tháp vàng tháp bạc chộ nhau
mà ta hai ngả sông Cầu sông Ba
quê miềng ngoài nớ bao xa
anh về thăm lại Đông Hà phố xưa
con sông qua những men dừa
đường xuyên Lào Việt còn bưa tiếng gào
tình anh phơi áo bên rào
gió bay lật đật mặt ao bèo nhèo
Hạnh Hoa còn đứng vói theo
hoa xoan nở tím bên hào lũy xưa
tình ta mưa gió cợt đùa

Chu Vương Miện

Tên thật: Nguyễn Văn Thưởng 
Bút hiệu khác: Phương Hoa Sử
Sinh năm1941, tại Phục Lễ, Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An.
(nay thuộc Hải Phòng). 
Hiện cư ngụ tại Rancho Cucamongo, Cali., USA
READ MORE - QUÊ MIỀNG - Thơ Chu Vương Miện

HOA THỦY TIÊN - Chu Vương Miện

 




READ MORE - HOA THỦY TIÊN - Chu Vương Miện

Wednesday, December 30, 2020

BUFFET COFFEE – Thơ Lê Phước Sinh

 

           Nhà thơ Lê Phước Sinh


BUFFET - COFFEE
 
Sài Gòn buổi sáng, sương mờ ảo
bên cạnh tàng xanh, nụ nấm nở hương nồng
những nàng Tiên mười tám, mười sáu
giọng ngọt ngào:
 - Cà Phê, mời Anh...
 
                                            Lê Phước Sinh


READ MORE - BUFFET COFFEE – Thơ Lê Phước Sinh

XUÂN SANG – Thơ Nhật Quang

 





XUÂN SANG
 
Giọt sương đẫm lá long lanh
Bình minh thả vạt nắng xanh chan hòa
Gió đưa ngan ngát hương hoa
Bướm ong thơ thẩn, la đà rong chơi
 
Nàng xuân duyên dáng mỉm cười
Mây hồng lơ lửng giữa trời êm mơ
Tiếng xuân dịu ngọt cung tơ
Lâng lâng khúc hát, vần thơ rộn ràng
 
Bên hiên gió thoảng nhẹ nhàng
Rung rinh cánh mỏng mai vàng nở tươi
Xuân tô sắc thắm cho đời
Bình yên khắp chốn người người đón xuân.
 
                                                 Nhật Quang

READ MORE - XUÂN SANG – Thơ Nhật Quang

TRĂNG MÀU MẬN CHÍN - Truyện ngắn - Nguyễn Đức Tùng

 


TRĂNG MÀU MẬN CHÍN 

Nguyễn Đức Tùng 

Năm ấy cô mười tám tuổi, tốt nghiệp trung học, vừa thi xong kỳ thi tuyển vào trường cao đẳng. Cô mới đến Canada năm năm, từ trại tị nạn. Cô đến trường ban ngày, ban đêm làm việc ở Mac Donald, đôi khi tiệm ăn khác. Cuối tuần cô đi lau dọn nhà cho cô giáo chủ nhiệm kiếm thêm tiền. Cô buồn ngủ suốt ngày. Những khi không đến trường, không làm việc, cô ngủ bù trong cái phòng nhỏ của mình, chật chội, ẩm, tối. Cửa sổ phòng cô nằm ngang mặt đất, nhìn ra thấy bụi cỏ xanh tốt, đôi khi một con dế dương râu nhìn cô chằm chặp. Nhưng cô nằm mơ những giấc mơ đẹp, ngoài cửa sổ hoa lê trắng, lựu đỏ, hoa anh đào hồng mọc lấm tấm. Cô thức dậy khi nghe tiếng chuột chạy. Nhà vắng, cô lục thức ăn nguội trong bếp, ngồi ăn một mình, xong thu dọn hành lý vào cái ba lô, như kiểu người ta đi hiking. Cô gặp ba cô ở cửa, ông vừa đi làm về. Đi đâu, con gái Suzanne? Con đi chơi với chúng bạn. Cô nói dối. Cô rất sợ ba cô, một người đàn ông hiền hậu nhưng nóng tính, sáu năm trong trại cải tạo biến ông thành một người khác, ít nói, rầu rĩ, cáu gắt. Ông cấm cô có bạn trai quá sớm, cấm đi chơi về khuya. Cô không bao giờ dám tâm sự với ông. Cô sẽ đi về Sakatoon bằng chuyến xe buýt đường dài, sẽ ở lại ba hay bốn đêm ở đó, trong nhà một đứa bạn gái. Để làm gì? Cô không biết rõ lắm. Cô có một giấc mộng, một kế hoạch làm giàu. Cô muốn các em cô được ở nhà sang trọng, mẹ cô không phải đi làm trong hãng may với bàn tay đau nhức, lẩy bẩy, tối nào cũng bắt cô xoa bóp. Trong khi ở đây mùa hè, chim chóc hót líu lo, thì ở phía bắc Saskatchewan, trời trở lạnh. Chuyến xe buýt chạy đơn độc trên đường, về chiều tuyết bỗng xuống mịt mù, cô nhìn thấy trên ngọn đồi, dưới thung lũng, những con chó sói đầu tiên trong đời. Những con báo hoa. Mèo rừng. Những con coyotes. Những cánh đồng lúa mì đã gặt, đồng cỏ “hay” trồng cho ngựa ăn, loại cỏ cuộn thành bó tròn lăn trên mặt đất lấm tấm hạt tuyết trắng như hoa cúc. Liệu cô có thi hỏng kỳ thi vừa qua không.

Cô không biết. Cô học kém môn toán, sinh vật, khoa học, tiếng Pháp, tóm lại môn nào cô cũng lơ mơ vì vào học ngang giữa chừng, không hề chuẩn bị, sau mấy năm bỏ học trong trại tị nạn, từ năm chín tuổi. Trong khi tụi bạn có đủ thức ăn, quần áo, nghỉ ngơi, giải trí, sự hướng dẫn, xe đưa đón, thì cô không có gì cả. Cô đi xe buýt mỗi ngày mất hai giờ từ nhà đến trường, trường về nhà. Không có đủ sách vở. Không có giờ để ngủ. Người ốm yếu. Nhưng giọng nói của cô trong veo như nước suối trong bình pha lê đặt ngay ngắn giữa bàn trong nhà cô giáo chủ nhiệm. Đi học trong mùa đông lạnh giá cô chỉ có một cái áo khoác mỏng màu xám, ngồi trong lớp cũng mặc y vậy. Cô giáo bảo: Suzanne, em làm sao thế, cởi áo ngoài ra chứ. Nhưng cô không cởi được, vì lạnh. Cha mẹ cô là người tị nạn, không nhận tiền trợ cấp chính phủ, các em còn nhỏ, đứa nhỏ nhất bảy tuổi, đứa lớn mười ba, ba đứa con trai, không giúp được việc gì, cô phải làm thêm để phụ mẹ. Cô không nghĩ rằng cô sẽ thành công bằng đường học vấn, nhưng cô tin cô sẽ thành công một cách nào đó, ngày mai, hay tháng sau, hay năm sau. Cô sẽ kết thúc lớp mười hai, nhận bằng tốt nghiệp. Cô đã để dành đủ tiền may bộ quần áo mặc trong lễ ra trường. Tháng trước ba cô dẫn cô đi chụp một tấm hình thật đẹp, mang áo choàng, mũ, khăn, một thiếu nữ xinh xắn như thể vừa tốt nghiệp từ một trường danh tiếng, Harvard chẳng hạn. Khi đi học cô chỉ vừa đủ điểm để thi đỗ các môn. Cô mơ ước làm y tá nhưng biết không đủ sức, cô sẽ cố gắng vào học một trường cao đẳng cộng đồng, rồi sẽ bỏ học giữa chừng vì đuối sức trước khi bị đuổi học, sẽ ghi danh học một lớp đánh máy, sẽ xin làm một chân thư ký ở các văn phòng địa ốc hay luật sư, và để đủ tiền sinh hoạt, cô sẽ đi làm thêm buổi tối ở tiệm Mc Donald nhiều năm nữa, nơi cô được chủ tin tưởng, sẽ làm thêm giờ với lương tối thiểu nhưng cô sẽ bỏ việc một tiệm ăn khác, vì chỗ đó quá xa, người quản lý, một anh chàng Á châu đứng tuổi, giọng nói ngọt ngào, thích đề nghị chở cô về nhà buổi tối, thỉnh thoảng cho cô những món quà nhỏ, làm cô ngại. Trước khi nghỉ ở đó cô cần phải xem thử người ta có chịu tăng giờ ở Mc Donald không. Tiền thuê nhà đang lên tháng này, nhà sáu miệng ăn trong đó ba đứa trẻ, ba người lớn, ở một tầng hầm basement tối và ẩm, mẹ cô kêu đau nhức ở đầu gối, bây giờ lan ra cả khuỷu tay, bàn tay. Buổi tối bà kêu cô xức dầu nóng ở những khớp xương đau nhức. Cô cầm bàn tay của mẹ lên, bà mới năm mươi tuổi mà những khớp xương thứ nhất ở hai bàn tay của bà sưng lên và cong lại như móng vuốt của loài chim. Cô thương mẹ, muốn làm nhiều giờ.

Nhưng cuộc đời của cô còn ở phía trước, tình yêu đối với cuộc sống, sự mơ mộng không hề phân biệt người giàu kẻ nghèo, học sinh giỏi và bọn dốt nát như cô. Cô sẽ để dành tiền và thuê một căn phòng cao ráo sáng sủa, vì ở tầng hầm ẩm thấp mẹ cô ngày càng đau khớp. Cô sẽ mua bảo hiểm nhân thọ, loại rẻ nhất, và nếu dư dả hơn cô sẽ giúp mẹ mua bảo hiểm giáo dục cho các em. Rồi cô sẽ chơi stocks, đó là những năm mà chứng khoán đang lên trên thị trường. Rồi cô sẽ thắng vài vụ, thắng nữa, giàu lên trong một đêm, và trong khi chưa kịp ăn mừng, cô sẽ mất sạch sau một đêm, như tất cả những người khác. Nhưng cô không tự tử. Bây giờ thì cô đang ngồi trên xe buýt, hàng ghế sau cùng, ấm áp, dễ chịu, nghĩ đến tương lai trong khi ngoài trời tuyết rơi mù mịt, bầy quạ đậu đen cả một nhành cây, những con chó sói hú gào trên ngọn đồi giữa những cánh đồng phía bắc của tỉnh Sakatchewan. Cô ngủ gật. Giấc mơ dẫn người ta đi xa.

Cô thức dậy, bàng hoàng mở mắt thấy mọi người trên xe đang xếp hàng ra cửa gần hết. Xe đang dừng trên bến xe. Cô hoảng hốt lao xuống, cúi người kéo cái ba lô nặng trĩu của mình từ gầm xe. Xe vẫn nổ máy rì rầm làm cô nóng cả ruột. Cô nhìn quanh, thở phào nhẹ nhõm. Khi xe đã chạy, khi những người hành khách đã tản đi mọi nơi, cô tò mò đứng nhìn những tấm bảng chỉ đường, ngơ ngác. Cô tiến lại một người đang đứng chờ xe buýt ở phía bên kia đường. Người đàn bà da trắng mập mạp, vẻ mặt cáu kỉnh, chắc có điều gì buồn bực. Bà ta khẳng định với cô rằng cô đã lo sợ đúng, tức là cái chỗ cô định xuống không phải ở đây. Quá sớm, bà ta bảo thế. Cô xuống quá sớm, chưa vào đến trạm xe buýt trong thành phố mà cô cần đến. Từ đây đến đó bao xa? Ba giờ lái xe. Cô kinh hãi. 

Cô nhìn trời bầu trời xám, tuyết mỏng đã ngừng rơi nhưng mây bay qua lớp lớp, mây màu bạc, mây màu chì cuồn cuộn như sóng, như nỗi lo âu của kẻ xa nhà. Cô ra đường, đứng sát lề để cho người lái xe dễ thấy, ngoắt tay lia lịa, cô vẫn thấy những cô gái chàng trai làm thế trên đường cao tốc. Bà già lúc nãy, hóa ra là người tử tế đi ngang qua, ghé tới gần cô, bảo cô muốn đón xe quá giang phải không, vậy thì phải đi ra chỗ kia kìa, cạnh đường cao tốc, trong này là đường hẻm ai mà đón, hở con bé nhóc tì. Cô nhớ ra, cám ơn rối rít. Xốc cái ba lô trên vai chạy về phía đường lớn có những đoàn xe đang chạy. Cô vẫy mỏi cả tay không xe nào dừng lại. Con người ngày càng bớt tử tế, cô nghĩ, nhớ lại rằng mới cách đây dăm năm khi mới đến, cô thấy người ta đón xe dễ dàng trên đường, thế mà nay cô đứng cả tiếng đồng hồ không người nào ngó tới. Chỗ cô đứng ngay ở vòng cua gấp, xe chạy nhanh, ít người chịu khó dừng lại. Cô sẽ thất bại một lần nữa, như đã từng thất bại trong môn toán, môn hóa học, môn sinh vật, tiếng Pháp.

Thế rồi anh đến. Trong chiếc xe Honda Prestige cũ, màu đỏ hai cửa, kiểu thể thao, hai ngọn đèn trước có cái chụp như cái mũ, khi bạn bật đèn thì nó mở ra khi bạn tắt đèn thì nó sập lại, tuy vậy đôi khi nó làm ngược lại, bạn bật đèn mà đường tối thui. Anh thắng gấp, vì nhìn thấy cô muộn, bánh xe trước siết lên mặt lộ, kêu khẽ. Xe anh đỗ sát lề đường, các xe tải lớn chạy qua vun vút thổi mát cả mặt. Anh mở cửa. Khi cô lí nhí cám ơn thì anh không trả lời, chỉ khẽ gật đầu. Cô thấy anh có vẻ đáng ghét, khinh khỉnh, lạnh lẽo. Thực ra anh đang mải nhìn đường, lúc ấy đã tối, xe tải chạy gấp quá, rầm rập, nguy hiểm, phải một lúc sau anh mới ra được hòa vào dòng xe cộ. Cô ngồi im thin thít, cái túi xách như ba lô kẹp giữa hai đùi, lòng lo lắng đủ thứ. Cô không nhìn mặt anh, chỉ đoán đó là một chàng trai lớn hơn cô nhiều tuổi, mười hoặc mười lăm tuổi, tức là ngoài ba mươi, mặt rắn rỏi, cái nhìn trầm tư. Người cao nhỏng, mặc chiếc áo khoác ngắn, loại không thấm nước. Anh mở nhạc. Lần đầu tiên sau nhiều năm cô nghe lại một băng nhạc cũ. Tiếng người ca sĩ ngân nga trong khoảng không gian mờ tối, hẹp, ấm, của chiếc xe nhỏ. Anh có lẽ là người thích nghe nhạc, nhịp tay nhè nhẹ lên vô lăng. Anh huýt sáo theo bản nhạc. 

Cô vẫn nhìn thẳng phía trước, không nhìn ngang nhìn ngửa. Anh liếc nhìn cái túi xách giữa hai đùi cô, thấy cộm lên, nghĩ rằng trong ấy có một khẩu súng ngắn, đã lên đạn, lát nữa sẽ kề vào thái dương của anh. Anh nín thở. Một lúc sau anh đổi ý, gợi chuyện. Họ chuyện trò về mọi thứ. Anh học đại học bỏ ngang giữa chừng vì chuyện cá nhân. Chắc lại chuyện thất tình, cô nghĩ, không nói ra, tự cười trong lòng. Anh bỏ học từ Edmonton về đây làm việc trong một nhà máy, đã mấy năm. Có thể anh sẽ đi học trở lại. Trước khi cô xuống xe, anh tự xưng tên mình và kịp hỏi tên cô. Cô mỉm cười không nhắc lại cái tên ấy của anh, nhưng cô ghi nhớ. Anh muốn học làm kỹ sư nông nghiệp. Saskatoon là một trung tâm nông nghiệp. Cô vừa thi xong tốt nghiệp trung học. Anh đưa cho cô một thỏi kẹo sô cô la, có lẽ còn sót lại duy nhất trong cái túi vải sau khi anh lục lọi hồi lâu. Thời ấy xe hơi còn xài băng cát xét. Anh vừa lái xe vừa nhờ cô tìm cho anh một bài hát mà anh muốn nghe. Cô tìm được bài hát ấy, họ cùng nghe. Cô vừa đi học đi làm. Có ba đứa em trai nhỏ nghịch ngợm. Cái phòng ngủ của cô có con dế ngoài cửa. Đó là tất cả những gì họ trao đổi với nhau. 

Đột nhiên cô cảm thấy cô yêu anh.

Không, không phải cô cảm thấy thế. Không phải cô nghĩ thế. Mà cô quyết định thế. Khi người ta còn trẻ, ai cần lý do? Cô chưa từng hỏi anh có vợ chưa. Cô chưa từng hỏi anh bao nhiêu tuổi, tương lai của anh ra sao, anh đã từng theo học trung học ở đây như cô chưa, anh có chơi stocks không. Cô chưa từng hỏi anh có thi hỏng như cô không. Cô chưa từng hỏi anh sẽ thành công hay sẽ thất bại. Ngoài trời tuyết đã tạnh, trên mặt đường vẫn còn những vũng nước đang tan. Anh dừng lại bên đường đổ xăng. Cô đứng từ xa nhìn anh. Cô nhìn bàn tay thanh mảnh của anh cầm cái vòi đổ xăng. Nhìn cái dáng anh từ phía sau lưng. Cái dáng nhanh nhẹn nhưng buồn rầu, tội nghiệp, cô độc. Cô biết anh là người thông minh, nhưng bướng bỉnh, không phải loại người hay gặp được may mắn. Anh vào bên trong tính tiền, khi bước ra, tới gần xe sắp mở cửa, anh đứng sững lại, nhìn lên trời. Thấy cô ngạc nhiên, anh chỉ tay cho cô nhìn theo. Trăng lên. Sau những đợt mưa tuyết ngắn rơi bất chợt, rồi dừng ngay, bầu trời trong và ấm ngay trở lại. Mùa gặt hái sắp bắt đầu. Mùa dâu, strawberries, mùa lê, táo, nho. Trăng tròn, sáng rực, màu vàng đậm ngả sang đỏ, như màu mận chín, nằm ngay trên đỉnh núi. Anh bảo cô, ở đây vùng đồng cỏ người ta gọi trăng rằm mùa này là harvest moon, từ tháng tám đến tháng mười, trăng mùa gặt hái. 

Bây giờ cô đứng đó. Không phải trạm đổ xăng. Trên một bãi đậu xe rộng rãi, tấp nập, vây quanh là shopping malls, trong ánh điện sáng. Cô đứng sững lại vì nhìn thấy anh. Cô nhìn thấy cái má của anh hóp vào, nơi ngày trước hình như là lúm đồng tiền, mái tóc điểm bạc, chiếc cổ cao, gầy, mặc một cái áo khoác xám. Cô thấy anh đang đi tới. Khuôn mặt anh đã già đi, đã khác đi nhiều, nếu đó chính là anh. Má bên phải có sợi râu dài. Cô ngờ ngợ, không tin vào mắt mình. Cho đến khi anh mỉm cười nhìn thẳng vào mắt cô. Cô tưởng anh nhận ra cô, nhưng không phải, anh mỉm cười với một người nào đó phía sau lưng cô, anh đi lướt qua, rõ ràng không chú ý đến cô. Ngày trước cũng vậy, sau khi lên xe phải nhiều phút sau, khi xe cộ vắng trên đường, anh mới thong thả liếc nhìn cô, không phải liếc nhìn, mà cái nhìn chăm chú, rõ ràng. Tôi đang nhìn cô. Anh muốn nói thế, hay cô nghĩ thế. Bỗng người đàn ông quay lại. Suzanne. Anh ta reo lên. Tim đập rộn ràng, cô cố trấn tĩnh, từ từ quay lại. Nước mắt cô ứa ra.

Tất nhiên đó chỉ là sự tưởng tượng của cô. Anh không reo lên như vậy. Anh chưa bao giờ reo lên như vậy với cô. Trong đêm đầu tiên ngủ chung phòng với đứa bạn ở Saskatoon, họ quen thân nhau từ khi còn ở trại tị nạn, cô kể lại câu chuyện hồi chiều, cố tỏ ra tình cờ, không quá hào hứng. Cô bạn vừa ngáp vừa nghe chuyện, ngẫm nghĩ một lúc rồi bảo: ở đây ai cũng thế. Có lẽ cô ta muốn nói ai cũng sẵn sàng làm cái việc tử tế bình thường như thế cả, hay có ý gì khác nữa thì cô không biết. Cô muốn cãi lại rằng tử tế và tình yêu là hai thứ khác nhau, nhưng cô im lặng, quấn cái chăn chặt, cố dỗ giấc ngủ. Lúc này đây trên đầu cô, như sau một mùa đông dài, bầu trời sáng lên trước khi tối hẳn. Phía đường chân trời, cô nhìn thấy mặt trăng, từ từ sáng lên, tròn, to, đỏ sẫm. Vầng trăng gặt hái. Hay là vầng trăng ấy không có thực? Vì nó đỏ quá, như một giấc mơ. Vì vậy nếu người đàn ông ấy quay lại và hỏi: xin lỗi, tên cô là gì?  Cô sẽ im lặng. 

Cô đã từng im lặng khi thi hỏng kỳ thi vào cao đẳng ấy. Cô đã từng im lặng khi ba cô chặn cô ở cửa tát một cái như trời giáng và hỏi: mày đi đâu trong ba ngày qua, đồ con gái hư. Cô sẽ im lặng như khi người quản lý nhà hàng yêu cầu cô ở lại làm thêm giờ đến nửa đêm, nhưng không trả tiền lương overtime cho cô. Hắn chưa bao giờ. Cô đã từng im lặng khi mất sạch tiền trong saving account vào trò chơi chứng khoán năm cô mười chín tuổi, với hy vọng sớm có tiền thuê một căn gác sạch sẽ hơn tầng hầm basement nhìn ra bụi cỏ cao có con dế vuốt râu trầm tư.

Bây giờ anh quay lại hỏi: xin lỗi, có phải tên cô là Suzanne không?

Không. Cô sẽ trả lời người ấy. Xin lỗi, tôi không phải là Suzanne. 


Nguyễn Đức Tùng 



READ MORE - TRĂNG MÀU MẬN CHÍN - Truyện ngắn - Nguyễn Đức Tùng