Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, October 6, 2020

CHÙM THƠ “BÓNG…” CỦA LÊ VĂN TRUNG

 



BÓNG CHIM HUYỀN THOẠI


Có con chim lạ bay về

Làm rơi hạt lệ bên bờ chiêm bao

Gọi ngàn xưa, tìm ngàn sau

Tàn phai theo những sắc màu thời gian

 

Có con chim lạ xa đàn

Bay hoài vô định chưa tàn giấc mơ

Lệ người úa một câu thơ

Buồn rơi lên nấm hoang mồ tình xưa

 

Bay về đâu giữa hư vô

Tiếng kêu buốt nghẹn phút giờ tử sinh

Tóc người chảy một dòng sông

Có nghe sóng động chập chùng nỗi đau

 

Chim về đâu? Tôi về đâu?

Nghìn xưa nối với nghìn sau mịt mờ

Lệ người rụng một tiếng kêu

Còn nguyên tôi với niềm đau cuối cùng.

                                                                              

 

BÓNG MÂY THIÊN CỔ BÂY GIỜ CÒN BAY

 

Ta về nhìn bóng ta xưa

Bóng mây thiên cổ bây giờ còn bay

 

Ta về tàn cuộc thiên tai

Cạn cơn dâu biển, cạn ngày thanh xuân

Ta về như sóng vô âm

Vỗ vào hiu quạnh lạnh bầm máu xương

Ta về lạc giữa mù sương

Nghe sầu tận tận nghìn phương dội về

 

Dòng sông nào đợi chờ ta

Chảy về đâu những cơn mơ nhạt nhàu

Ta về lạc giữa đời nhau

Tay cầm giọt lệ nhớ màu mắt xưa

 

Bóng mây thiên cổ bây giờ

Còn bay với bóng đời ta mịt mù.

                            


BÓNG QUÊ HƯƠNG

 

Nghe bạn nói trời Houston lạnh buốt

Nhìn mù sương thương sợi khói quê nhà

Tôi ở miền Đông đang mùa nắng hạn

Giọt mồ hôi bỏng rát đất cằn khô

 

Khi tàn cuộc cũng đành thân lưu lạc

Như dòng sông đã biệt cội xa nguồn

Kéo vạt áo lau khô dòng nước mắt

Phương trời nào cũng thấy bóng quê hương

 

Nghe bạn nói thèm một lần trở lại

Tôi ôm thầm trăm khát vọng ra đi

Mà vết thương chung vẫn còn sưng tấy

Lịch sử là những bi khúc phân ly

 

Tôi miền Đông, chẳng là tên lưu xứ

Cũng đau lòng buổi muối mặn gừng cay

Cũng canh cánh bên trời xưa áo lụa

Thuở vàng thu, vàng cả giấc mơ dài.

                           

 

BÓNG TÌNH AI VỪA CHẠM GIẤC MƠ CHIỀU

 

Tôi cứ mơ màng nghe trong những chiều gió muộn

Tiếng của một người thảng thốt gọi tên tôi

Tiếng của một người nghe như tiếng của chiều rơi

Rất gần gủi mà vô cùng xa vắng

 

Và tiếng nói mang mang như tiếng đàn trải dài nhiều nốt lặng

Mà làm rung thanh sắc của hư vô

Mà làm rung nhịp phách những dòng thơ

(Ôi đôi mắt trầm hương môi ngà mắt ngọc)

 

Em có nghe không tiếng chiều rơi thảng thốt

Tiếng chiều rơi như tiếng lá tình bay

Như giấc mơ tôi chạm xuống vai gầy

Ôi phố thuở vàng thu Vàng lời nhung lụa

 

Ôi phố thuở quàng tay ôm vàng nỗi nhớ

Em qua phố vàng vàng lụa cõi thơ tôi

Không biết chiều đang gọi tên tôi

Hay tôi thảng thốt gọi tên người

 

Lời của gió? Của mưa?

Của vàng vàng ảo mộng?

Lời của thiên thu? Của trăng sao?

Của chiều phơi áo mỏng?

Bóng tình ai vừa chạm giấc mơ chiều

 

                                     Lê Văn Trung


READ MORE - CHÙM THƠ “BÓNG…” CỦA LÊ VĂN TRUNG

ĐỌC “ÂN TÌNH XỨ HUẾ” THƠ BÍCH TRẦN - Châu Thạch

 
   
                       Nhà thơ Bích Trần

 

ÂN TÌNH XỨ HUẾ

Em mắc nợ Anh 
một chiều mưa,
Xin trả lại 
Anh buổi nắng trưa,
Giọt nắng hong khô chiều ướt lạnh
Truyền Anh hơi ấm, nhớ hương xưa.

Em mắc nợ 
Anh một tình yêu,
Xin trả lại 
Anh một buổi chiều,
Tay Anh nắm chặt bàn tay ngọc,
Cõi lòng ấm áp biết bao nhiêu.

Em mắc nợ 
Anh một trái tim,
Xin trả lại 
Anh ngàn cánh chim,
Gió lộng, trời cao, anh bay mãi
Rong ruỗi khắp nơi thỏa chí trai !

Em mắc nợ 
Anh một vòng tay,
Cười vui trả nợ phút giây này,
Có ai biết được ngày sau gặp,
Mây trời theo gió một lần bay.

Ta mắc nợ nhau 
một kiếp đau,
Hãy lấy bình an trả khổ sầu,
Trầm tư - Buồn bã không còn nữa
Mây bay, nước chảy, gió qua cầu !

                                      Bích Trần

READ MORE - ĐỌC “ÂN TÌNH XỨ HUẾ” THƠ BÍCH TRẦN - Châu Thạch

ĐẾN VÀ ĐI - Trần Mai Ngân

 

     


Có những người đến với ta và rời đi chỉ vô tình như đám mây bay qua bầu trời.

Cho dẫu cách đến và đi như thế nào thì ít nhiều cũng để lại lòng ta những điều quên nhớ...

Ta nhớ một người cũ bằng cả sự quý thương. Vì hoàn cảnh người và ta phải đôi đường. Những điều người để lại cho ta là kỉ niệm đẹp.  Ta nhớ người bằng sự tiếc nuối và giọt nước mắt...

Ta hay nhớ một người khi ùa đến bên ta luôn đem lại cho ta nụ cười, niềm vui . Ta yêu mến biết chừng bao. Bây giờ xa rồi mà nghĩ lại, nhớ lại nụ cười vẫn còn vương đọng trên đôi môi. Ta gọi tên người và nói lời cảm ơn...

Cũng có người chỉ đem lại phiền muộn nước mắt cho ta. Ta bỏ quên người và tha thứ. Cuộc đời muôn màu, con người cũng lắm mặt, lắm lòng! Thôi ta không trách...

Cũng có khi ta hết một lòng nhưng người toan tính từng một bước chân. Cuối cùng ta cũng hiểu ra. Rời xa là đương nhiên. Thỉnh thoảng người ấy cũng đi ngang trí nhớ của ta.

Ta chỉ mỉm cười cho sự không xứng đáng...

Và đến lúc nào đó... như bây giờ đây. Trong ta không còn điều chi quan trọng giữa đối xử và nhớ quên với người.

Ta chỉ ơn ai đã thật lòng bên cạnh và chia sẻ. Ta xin trân trọng để trong một ngăn tim dù người ở xa hay gần gũi...

Và với những người như đám mây đen bay qua bầu trời , ta cũng mỉm cười khi nhớ lại... Rồi họ cũng qua đi với sự giả dối và trả lại cho ta một màu trời trong xanh thật đẹp!

Cảm ơn cuộc đời những đến và đi!

                                                                  Trần Mai Ngân


READ MORE - ĐẾN VÀ ĐI - Trần Mai Ngân

Monday, October 5, 2020

TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ (Kỳ 5) – Nguyên Lạc


LOẠI TRÀ – DANH TRÀ (tt)

III. Các loại trà khác

1. Việt nam

Trước khi nói đến trà Việt, tôi xin nhắc lại sơ lược quan niệm về nguồn gốc trà.

Theo Đỗ Ngọc Quỹ: “Từ tài liệu khảo cứu của Uỷ ban Khoa học Xã hội thì người ta đã tìm thấy dấu tích của lá và cây chè hóa thạch ở đất tổ Hùng Vương (Phú Thọ). Xa hơn nữa, họ còn nghi ngờ cây chè có từ thời kỳ đồ đá Sơn Vi (văn hóa Hòa Bình). Cho đến nay, ở vùng Suối Giàng (Văn Chấn-Nghĩa Lộ-Yên Bái), trên độ cao 1.000 mét so với mặt biển, có một vùng chè hoang khoảng 40.000 cây chè dại, trong đó có một cây chè cổ thụ lớn nhất, ba người ôm không xuể.” (Webside Đặc Trưng). Một chứng cứ tư liệu khác: Thiền Uyển Tập Anh, mục Tăng thống Huệ Sinh (?-1064) có nói đến một địa danh gọi là Núi Trà ở Bắc Ninh, như sau: “Năm 19 tuổi, Sư bỏ đời, cùng Pháp Thông chùa Hạc Lâm thờ Định Huệ chùa Quang Hưng làm thầy. Học thiền mỗi ngày một tiến. Định Huệ vỗ về mến chuộng. Từ đó, Sư dạo khắp tòng lâm, hỏi hết thiền chỉ rồi đến đỉnh Bồ Đề núi Trà trác tích. Mỗi lần vào định, trải qua năm ngày mới dậy. Người bấy giờ gọi Sư là Đại sĩ nhục thân”. Tiến sĩ Lê Mạnh Thát chú thêm: Núi Trà “Tức núi Nguyệt Thường hay núi Bạch Sắc ở huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Đại Nam Nhất Thống Chí, tỉnh Bắc Ninh, mục Sơn xuyên nói: “Núi Nguyệt Thường, tại phía tây nam huyện Tiên Du ba dặm, một tên là núi Bạch Sắc, cũng gọi là núi Trà. Tương truyền Lý Thánh Tôn đến chơi núi đó và cho tên Nguyệt Thường. Núi hơi cao, đá đất lẫn lộn. Trên núi có liu, dưới núi có đền Cao Sơn. Năm Tự Đức thứ 3 (1850) triều ta liệt vào hạng danh sơn, chép vào sách cúng. Núi này hiện có đỉnh Bồ Đề không, chưa thể biết được.” Khả năng núi này là núi có cây trà hoang mọc nhiều là điều không phải không thể tin. Lê Quý Đôn dẫn Trà Kinh của Trung Hoa viết: “Trà là một loại cây quý ở phương Nam, cây như cây qua lô, lá như lá chi tử , hoa như hoa tường vi trắng, quả như quả tinh biền lư, nhị như nhị đinh hương, vị rất hàn” (Vân Đài Loại Ngữ – Phẩm Vật). Vậy cây trà lúc đó người Việt gọi là qua lô, giống như cư dân vùng Vân Nam gọi là đồ (sau người Trung Hoa thêm một vạch ngang và đọc là trà). Sách Trung Hoa cũng thừa nhận cây trà vốn có trong tự nhiên tại Việt Nam, cuốn Nghiêm Bác Tạp Chí, Đào Hoằng Cảnh, người san định lại Thần Nông Bản Thảo, mượn lời Lý Trọng Tân viết: “Trà ở Giao Chỉ như rêu xanh, vị cay gắt gọi là trà đắng”. Như vậy trà là cây bản địa Việt Nam được người Trung Hoa đánh giá cao, nên việc tiến cống trà thời Đinh là điều không phải là khó hiểu”.

– Ở Việt Nam, trà xanh hay chè xanh còn dùng chỉ nước vối. Trà xanh thôn dã này chọn lá trà bánh tẻ (không quá non hay quá già) cho vào nồi đồng đun đến khi có sắc màu vàng xanh đem ra dùng. Cũng có khi người ta chế thành cao: Nước trà xanh đun đến khi cạn vơi một nửa, tiếp thêm nước, thêm ít đường tán, gừng giã nhỏ và đun tiếp khoảng một ngày đêm cho đến khi dặc sệt lại. Dùng mo chuối hay mo cao làm chổi quét lên giấy bản phơi nắng cho thật khô, rồi phơi sương lại cho dịu. Khi dùng cắt một miếng thả vào nước nóng là có bát chè xanh.

– Người Việt nói đến trà Tàu có nghĩa nói trà ướp hương, vì thời trước loại trà nhập từ Trung Hoa thường là loại trà này. Sau này tuy gọi là trà Tàu nhưng đa phần là trà sản xuất tại Việt Nam, nhưng theo phương cách ướp hương riêng của VN. Trà Tàu hay trà ướp hương có thể ướp bằng hương liệu hay bằng hoa tươi. (Các bạn nên nhớ ướp hương liệu – tự nhiên hay nhân tạo sẽ làm mất vị chát, tanin, tuyệt vời của trà, nhất là trà quý; cũng như uống trà với sửa, đường, chanh …́)

Hai loại trà sen và trà lài nổi tiếng của Việt Nam là hai loại trà ướp hương, dân dã còn có trà ngâu, trà sói hay quý phái hơn là trà ướp thủy tiên, trà ướp hoa quỳnh.

– Trà sen

Người Việt có loại trà độc đáo là trà sen. Trà sen là một loại trà xanh ướp với hoa sen để lấy hương thơm tự nhiên của loài hoa này. Phương pháp chế biến đa dạng và rất độc đáo. Sau đây là một vài cách chế biến trà sen:

. Dùng tay tách nhẹ nhàng những cánh hoa sen ra cho đến khi nhìn thấy đài hoa và nhị hoa màu vàng, chỉ tách hoa đủ lớn để có chỗ đổ trà vào. Rồi lấy trà đã chuẩn bị trước, đổ vào trong bông sen khoảng 15-20g trà để cho hương sen thấm vào trà vừa đủ. Dùng tiếp lá sen tươi cắt thành miếng lớn vừa đủ bọc bông hoa lại rồi dùng lạt buộc túm lại ở cuống hoa. Rồi để qua đêm tới sáng hôm sau lấy ra dùng hay sấy nhẹ để dành;

. Bứt lấy nhị sen rồi ướp với trà một đêm hay cho nhị sen và trà vào bếp hong cho hương sen quyện vào trà.

– Trà Lài

Trà Lài cũng là một loại tra ướp hương nổi tiếng ở Việt Nam, Chúng được ướp hương hoa lài hoàn toàn tự nhiên. Sau này người Trung Hoa cũng có làm ra một số sản phẩm trà mang hương vị loài hoa này gọi là Hương Phiến Trà. Trà xanh trải một lớp rồi hoa lài trải một lớp, cứ như thế mà làm cho đầy. Bên trên phủ một lớp giấy bản trong vài ngày, rồi lấy ra đem sao nhẹ.

– Trà Tước Thiệt

Theo An Nam Chí Lược của sử gia Lê Tắc có ghi “Vào tháng 5 năm thứ 8 niên hiệu Khai Bảo, Đinh Liễn có tiến cống nhà Tống sừng tê giác, ngà voi và trà “lưỡi chim”. Sách Địa Dư Chí Lược của cụ Nguyễn Trãi, ghi ấy là trà Tước Thiệt, còn gọi là trà móc câu hay trà mi – thuộc Châu Ô, Châu Lý.

Đồ vật tiến cống phải là đồ quí hiếm, nước nhận không có, vậy mà Trung Hoa cho trà Tước Thiệt này là của họ.

– Trà Mạn

Trà Mạn Hảo: là một loại trà xanh ướp nổi tiếng Bắc Bộ thời thuộc Pháp và hay được Nguyễn Tuân nhắc đến trong tác phẩm của mình. Trà mạn hảo nổi tiếng đến mức hóa thân vào câu ca dao sau:

Làm trai biết đánh tổ tôm,

Uống trà Mạn Hảo, xem nôm Thúy Kiều.

Trà mạn là tiếng gọi chung các loại trà xanh (lục trà) ở miền ngược (nên còn gọi là trà mạn ngược; đặc biệt vùng Hà Giang). Ngày xưa người ta lên miền ngược Hà Giang hay lên tận Mạn Hảo mua trà về đều gọi chung là trà Mạn hay trà Mạn Hảo. Vì thế việc buôn trà thời xưa rất vất vã, phải lên miền ngược mua mang về, ca dao có câu:

Chồng tôi thường ngược sông Ngâu,

Mua chè Mạn Hảo tháng sau thì về

Nhà buôn đi ngược lên miền núi mua trà hoang hái từ vùng này về ướp các loài hoa như nhài, sói, sen, thủy tiên, … Loại trà Mạn Hảo ông Nguyễn Tuân nói là loại trà ướp hoa sói, và chỉ miền Bắc mới có thói quen ướp trà bằng hoa sói, trong Nam chuộng hoa lài hơn. Chứng tỏ cây trà có gốc bản địa miền thượng du Bắc Bộ Việt Nam.

Trà ngon có tiếng hiện nay gồm có trà Bắc Thái, trà Lâm Đồng, trà Bảo Lộc của Việt Nam.– Trà Quế

Ở miền nam Việt Nam có 1 loại trà dân dã, gọi là trà Quế, thường trồng ở hàng rào, có thể uống tươi hoặc cho vào cối giã giập, phơi khô để uống dần.

2. Đài Loan

Trà trân châu: là thức uống được chế biến từ trà xanh hoặc trà đen được các cửa hàng đồ uống tại Đài Trung, Đài Loan phát triển từ những năm 1980. Đặc điểm của trà trân châu là khi bị lắc, một lớp bọt nước mỏng được tạo thành trên bề mặt và dưới đáy còn các hạt bột sắn trắng

Nó được chế biến từ lá chè trộn với các hạt trân châu làm từ bột sắn. Trà trân châu có hương vị từ hoa quả hay trà. Người Anh gọi trà này là “bubble tea” còn người Pháp dịch sát là “thé aux perles” hay dịch theo người Anh “thé aux bulles”. Mỗi ly trà có một cái ống hút, khi hút phải những hạt “trân châu” bột sắn người uống trà vừa thưởng thức hương vị trà vừa nhai nhai hạt trân châu dẽo dẽo.

3. Mỹ

– Trà túi lọc

Trà túi lọc (tea bag): được Thomas Sullivan một tay buôn trà của New York phát hiện ra năm 1904. Thật tình cờ khi ông gửi tặng các mẫu thử trà trong các túi vải cotton muslin cho khách hàng của mình. Một vài khách hàng lại nghĩ rằng ông dùng túi vải này để thay cho cái lọc bằng kim loại, họ bỏ nguyên túi trà vào ấm rồi chế nước nóng dùng. Các khách hàng của Sullivan đã phản hồi lại việc sử dụng trà trong các túi bằng vải cotton muslin là rất thuận tiện và nhanh chóng thay vì các dụng cụ lọc trà bằng kim loại. Và họ cũng góp ý thêm cho Thomas Sullivan về những chiếc túi vải này quá dày, trà khó ngấm.

Năm 1920 các loại trà túi lọc đã phổ biến trên khắp nước Mỹ và để biến nó trở thành ngành công nghiệp trà túi lọc kiếm bộn tiền cho các nhà kinh doanh trong ngành trà như Thomas Lipton cha đẻ của thương hiệu trà Lipton là một trong những người đầu tiên chiếm lĩnh thị trường trà túi lọc. Họ đã nghiên cứu và thay đổi từ việc sự dụng loại vải lụa cotton muslin sang sử dụng một loại giấy lọc như ngày hôm nay chúng ta vẫn đang sử dụng.

Và đến ngày hôm nay trà túi lọc đã có lịch sử hơn 100 năm

Trà túi lọc thường được khử tanin bớt nên uống sẽ ít chát, hiện ở Việt Nam có nhiều loại trà túi lọc nhưng nhiều người biết đến là trà Lipton nhãn vàng, trà Dimah, …

– Trà hòa tan

Trà hòa tan (instant tea): Năm 1946, công ty Nestle, Mỹ, lần đầu tiên tung ra thị trường loại trà hòa tan (gọi là trà dùng liến). Trà này sản xuất từ trà đen bằng chiết xuất từ trà vụn hay lá trà lên men chưa sấy khô. Dịch chiết đó đem cô đặc thành bột bằng nhiều phương pháp như đông khô, sấy chân không… Sấy nhiệt độ thấp như vậy giúp giữ lại hương vị của trà.

Xin nên nhớ rằng, các danh trà, các trà hảo hạng không bao giờ ướp hương, vì hương liêu sẽ làm mất tính chát tuyệt vời của những trà này. Cũng như người sành điệu không bao giờ ăn ngọt trong lúc uống trà.

(Còn tiếp nhiều kỳ) 

                                                                    Nguyên Lạc


READ MORE - TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ (Kỳ 5) – Nguyên Lạc

Sunday, October 4, 2020

ĐỨA TRẺ CHƯA KỊP LỚN - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân

Nhà văn Lê Hứa Huyền Trân

ĐỨA TRẺ CHƯA KỊP LỚN

Truyện ngắn

LÊ HỨA HUYỀN TRÂN


           Tôi thường yêu thích những điều khác lạ trong cuộc sống, như cái cách tôi thích cơn mưa mùa hạ hoặc ăn một que kem buốt lạnh vào mùa đông. Tôi lại đôi khi có những cái rồ dại của tuổi đôi mưa như đạp xe dưới cơn mưa thật chậm hoặc uống một ly trà thật đắng để thấy tái tê nơi đầu lưỡi khi đã bước qua tuổi ba mươi một cách nhanh bất ngờ. Tôi lại thích được nũng nịu trong vòng tay của ba, hoặc thèm thuồng một cái xoa đầu của mẹ để dù có nói “mày lớn tướng rồi con ạ”, ba mẹ vẫn trao tôi, cứ như tôi hãy còn bé thơ và tôi ước mình nhỏ lại như thế.

          Cũng lâu lắm rồi tôi mới về thăm nhà sau những bộn bề cuộc sống. Phụ nữ tuổi ba mươi không rơi vào guồng quay công việc thì cũng rộn cả ngày với việc chăm sóc chồng con. Nhà ở quá xa khiến tôi ít có cơ hội về thăm, mỗi khi tạt ngang về thường là những lần mau chóng như chỉ kịp nhìn một tia nắng bạc vắt ngang mái tóc ba mẹ khiến mình lầm tưởng ba mẹ vẫn chưa già… Mùa hè này đi kèm mùa dịch, mang theo cho tôi cả những nỗi lo và những gánh nặng trong công việc, cứ mỗi lần như thế tôi lại tìm về nhà như một bến đỗ bình yên. Tôi biết mình ích kỉ nhưng khi tôi cứ ngày càng bé lại tôi lại không muốn thoát ra khỏi vòng tay yêu thương đó.

          Vừa thấy tôi về ba mẹ đã lục tục kéo nhau đi chợ, khi về lại bày ra đủ thứ nào là thịt xay, nào là khổ qua, nào là bánh tráng. Tôi biết thể nào hôm nay cũng sẽ có khổ qua nhồi thịt và chả ram vốn là hai món tôi thích nhất. Bếp nhà tôi lại được hong lên đỏ lửa buổi trưa hè, cái nắng nôi bên ngoài như hun căn bếp nhỏ làm giọt mồ hôi lấm tấm trên lưng ba, ướt nhòe cái áo. Mẹ lo cạy ruột khổ qua nhồi thịt, và để lại một ít làm nhả chả ram, khi tôi cứ vừa tạt xuống bếp nhất định không cho. “ Nắng nôi mà xuống chi, lên trên thềm ngồi cho mát đi “- ba gắt gỏng. Tiếng mắng của ba cứ như tiếng yêu thương dội ngược, lời ngọt ngào của đàn ông vốn thường được thể hiện qua hành động. Một đợt mưa rào rơi xuống khóe mắt tôi nhẹ nhàng…

          “ Mấy nay nắng nôi mua khổ qua về ăn cho mát”, “ Con bỏ ít dưa tủ lạnh, cả nhà rảnh bổ ăn, hoặc ngâm nước là lòng dưa mát lâu”, ba mẹ cứ luôn tay vừa nấu ăn vừa dặn dò tôi cứ như tôi chỉ vừa rời nhà ba mẹ về nhà chồng như những ngày đầu tiên. Bữa cơm nhanh chóng thành hình, ba với tay lấy cái cốc gốm pha ấm chè để nguội rồi trưa kịp bỏ cục đá lạnh vào thành trà đá cho tôi uống.

          -Xưa mày với ba thích này nhất, hè là cứ vòi má pha một bình uống đã!

          Tôi nhớ cái cốc gốm này non chục năm trước tôi với ba cùng đi đến nhà gốm đầu làng, 

          Nặn hai ly gốm cha con này, ba tỉ mẩn còn cốc tôi làm xấu xí, ba vẫn giữ tới giờ… Vẫn nhất quyết không cho tôi xuống bếp, ba ra trước nhà hái thêm mấy lá đinh lăng và mớ cải cay vào cuốn vội một cuốn đưa tôi thử đầu tiên. Tôi nhớ thuở nhỏ nghịch ngợm mỗi khi ba nấu ăn cứ quấn quýt ngay chân, để khi ba chiên được mẻ đầu tiên sẽ giấu mẹ cho tôi một cây ăn vụng… Bây giờ vẫn thế, vẫn cuốn chả ram vào cải cay đưa tôi thử đầu tiên, chăm bẵm tôi như ngày tôi còn nhỏ. Ba mẹ cứ xới cơm rồi ngồi nhìn tôi ăn, cứ thúc ăn này ăn kia, con gái ba mươi tuổi đầu mà vẫn dặn dò như trẻ nít nôi ba tuổi. Và tôi tự nhiên thích thế, thích cái cảm giác trái ngược này : một đứa trẻ mang hình hài người lớn trong mắt ba mẹ.

            Tôi gắng thu xếp ngủ với ba mẹ một đêm, khuya tôi trằn trọc khó ngủ, ra thềm hóng gió thấy ba còn ngồi. Vừa nhìn thấy tôi, ba vội nói :” Có mệt mỏi gì nói ba nghe”, cứ như thực ra ba biết tôi đang có chuyện và luôn thức để đợi tôi nếu tôi cần một người để tâm sự. Và tôi cứ òa khóc mà kể với ba trăn trở cứ như một đứa trẻ về mách ba khi bị ai bắt nạt vậy…

            Qua từng ấy năm, ngôi nhà vẫn luôn là bến đỗ, và sau từng ấy thời gian tôi vẫn là một đứa trẻ chưa kịp lớn trong mắt đấng sinh thành. Dù tôi có gồng mình trước cuộc sống ra sao, lo cho gia đình nhỏ chu tất như thế nào, tôi vẫn luôn là một đứa con bé nhỏ cần bàn tay của ba mẹ chở che trong suốt năm tháng của cuộc đời. 

Tác giả: Lê Hứa Huyền Trân

Hội viên Hội VHNT Tỉnh Bình Định

 


READ MORE - ĐỨA TRẺ CHƯA KỊP LỚN - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân

PHẠM NGỌC THÁI VỚI BÀI THƠ TƯỢNG TRƯNG ĐIỂN HÌNH - Trần Đức

 


PHẠM NGỌC THÁI 

VỚI BÀI THƠ TƯỢNG TRƯNG ĐIỂN HÌNH   

                                                                     TRẦN ĐỨC

                                           Nguyên CB Viện ngôn ngữ và văn hóa dân gian

                        

 

Trần Đức

                

                                                

        NGƯỜI ĐÀN BÀ TRẮNG

                       

                   Người đàn bà đi trong mưa rơi

                   Chứa một trời thầm như hoa vậy...

                                     (Tặng Bích Đào)

 

Chiếc mũ trắng mềm em đội bầu trời

Khóm mây trắng bay nghiêng trôi trên tóc

Đôi mắt em đong những áng mây

Người đàn bà trắng!

 

Em đi - về... chao những hàng cây

Hồ gió thổi lệch vành mũ đội

Thấm đẫm mình em cả thềm nắng gội

Xoã ngang vai mái hất tơi bời

 

Nỗi niềm thao thức

Những đêm trăng nước...

Chùm trinh em hát: Đấy chỗ thiên thai !

Người đàn bà ai mà định nghĩa?

 

Đường xưa đó về đây, em ơi!

Những con đường đã đầy xác lá rơi

Xác ve, xác gió và xác của mưa

 

Em không biến thành đá để hoá Vọng Phu

Anh cũng không làm chàng Trương Chi

                                    suốt đời chèo sông vắng

Ta không đi theo Con Đường Lông Ngỗng Trắng

Dẫu hình hài khắc mãi tim nhau!

 

Vết thương lòng không dễ đã lành đâu

Những đêm sao buồn, những đêm gió khát

Khúc thơ tình anh lại viết về em

Người đàn bà ngậm cả vầng trăng...

 

                 Phạm Ngọc Thái

           (trích "Tuyển thơ chọn lọc", Nxb Hồng Đức 2019)

 

image.png

 

LỜI BÌNH: "Người đàn bà trắng" là một trong những bài thơ tình của nhà thơ Phạm Ngọc Thái, được viết theo thi pháp của dòng thơ tượng trưng hiện đại châu Âu - Trên con đường vô định của tình yêu. Những đêm hoang vắng và sâu thẳm của không gian mênh mông, lòng nhà thơ vẫn âm thầm, khắc khoải nhớ về mối tình đã qua:

                     Những đêm sao buồn, những đêm gió khát

                     Khúc thơ tình anh lại viết về em

                     Người đàn bà ngậm cả vầng trăng...

     Chữ "ngậm" ở đây mang biểu tượng của thơ siêu thực: Nàng là cả vầng trăng hay "vầng trăng" chứa trong tấm thân của nàng? Đồng thời cái vầng trăng này, còn để chỉ cái "tòa thiên thai" của người đàn bà - Câu thơ đã được mỹ hóa, sâu xa. Hình ảnh "sao buồn, gió khát"... đều mang ý nghĩa tượng trưng cả: Những ngôi sao trên vòm trời xa xôi, ngọn gió đêm vô tình - Nó cũng hiu hắt như nỗi vắng vẻ, trống trải của lòng chàng.

 

     Tác giả gọi em là "người đàn bà trắng", thực ra khi ấy em vẫn còn là một thiếu nữ: Từ chiếc mũ vải trắng mềm một thưở nào em thường đội lệch trên đầu, lẫn vào trong khóm mây. Khóm mây đó lại vờn bay trên mái tóc nàng - Tất cả đều trở thành ấn tượng để nhà thơ mô tả về người đẹp:                                Chiếc mũ trắng mềm em đội bầu trời

                      Khóm mây trắng bay nghiêng trôi trên tóc

                      Đôi mắt em đong những áng mây

                      Người đàn bà trắng!

     Đó là đôi mắt của mùa thu huyền diệu và xa thẳm.  Bích Khê cũng từng mô tả về đôi mắt đẹp của nàng mỹ nữ, trong bài thơ "Tranh lõa thể" nổi tiếng của ông: Mắt ngời châu rung ánh sáng nghê thường /- Nó chìm ngập một thế giới, chiếu rọi vào ngõ ngách tâm hồn của thi nhân. Hay như Xuân Diệu tả về đôi mắt của người yêu, cũng thật kỳ ảo:

                      Mắt em thăm thẳm như màu gió

                      Thơ cũng vàng trong như nắng hanh

 

     Trở lại với bài "Người đàn bà trắng": Đôi mắt em đong những áng mây /- Như thể đã bao lần nhà thơ từng phiêu du trong đôi mắt ấy. Nó bộc lộ một sự hiền hòa, nhân ái. Tác giả lấy hình ảnh của vũ trụ qua cảm xúc mà mô tả, quyện với mái tóc nàng trong mây bay, gió cuốn... hiển hiện dưới bầu trời cao vòi vọi. Bầu trời ấy vừa để nói về tình yêu của người đàn bà ở cõi nhân sinh, vừa là bầu trời của quê hương, đất nước vậy.

     Sang khổ thơ thứ hai - Hình bóng người thiếu nữ hiện lên trong một khung cảnh thiên nhiên rực rỡ:

                      Em đi - về... chao những hàng cây

                      Hồ gió thổi lệch vành mũ đội

                      Thấm đẫm mình em cả thềm nắng gội

     Cả thềm nắng hắt lên mình em như tơ lụa đất trời, có gió thổi, cây đưa... Vẫn chiếc mũ vải trắng mềm xưa mà em thường đội lệch, che lên khuôn mặt đẹp như một vầng trăng - Tất cả đều từ những hình ảnh của thiên nhiên, mà tình thơ vẫn hết sức gợi cảm. Đọc lên ta thấy nôn nao trong người. Bao nhiêu kỷ niệm đã từng được chứng kiến bên cái bờ hồ ấy, trong những tháng năm nhà thơ đã sống êm đềm với hạnh phúc của tình yêu cùng "người đàn bà trắng". Giờ đi lại trên con đường đã qua, anh như nghe thấy cả khúc tình ca đang sống lại: 

                      Xoã ngang vai mái hất tơi bời

 

    Mái tóc của người con gái xưa vẫn xõa bay trên đôi vai trần trắng của nàng. Bồi hồi trong ký ức, hồn nhà thơ tựa con đò mộng lạc vào nơi bến vắng. Chỉ còn nghe thấy tiếng gió táp, mưa sa... cùng những chiếc lá vàng rơi phủ xuống trong trời đất:

                               Đường xưa đó về đây, em ơi!

                      Những con đường đã đầy xác lá rơi

                      Xác ve, xác gió và xác của mưa

     Con đường mà người con gái đã đến với cuộc đời anh, giờ đây hoang dã trong qui luật bụi cát của thời gian. Hình ảnh đoạn thơ nghe như trong giấc mộng: Xác gió, xác mưa, đã đầy xác lá, xác ve trôi... /- Xin trở lại để phân tích sâu thêm về khổ thơ thứ ba:

                       Nỗi niềm thao thức

                       Những đêm trăng nước...

                       Chùm trinh em hát: Đấy chỗ thiên thai !

                       Người đàn bà ai mà định nghĩa?

 

     Hình ảnh câu thơ đã được cách điệu hóa theo tự nhiên: Chùm trinh em hát: Đấy chỗ thiên thai ! /- Biểu tượng mô tả tuy mang màu sắc trừu tượng nhưng vẫn rất gợi cảm.

     "Chùm trinh em hát...": Suy cho cùng, vũ trụ và thế giới đều tồn tại, sinh ra ở đó. Nó vừa vĩ đại và man dại. Nếu không có cái chỗ thiên thai ấy của người đàn bà thì không có cả linh hồn lẫn sự sống, cũng không có ý nghĩa gì về lịch sử của thế giới này - Còn nói về câu:

                        Người đàn bà ai mà định nghĩa?

     Đại văn hào Lép-Tônxtôi - Ông là một thiên tài xây dựng hàng trăm tính cách về đàn bà với những khuôn mẫu khác nhau. Người từng nói những câu đại ý rằng: Không thể đưa ra những nguyên lý có tính khuôn mẫu nhất định đối với người đàn bà, chỉ có những sự tìm tòi, tìm tòi và tìm tòi mãi - Nàng không thể nào định nghĩa được trong sự tồn tại của đời ta? Câu thơ treo trên đầu ta như một câu hỏi vĩnh cửu, lại như thể một định mệnh.

     Tôi bình khổ thơ thứ năm:

                       Em không biến thành đá để hoá Vọng Phu

                       Anh cũng không làm chàng Trương Chi

                                                             suốt đời chèo sông vắng

                      Ta không đi theo Con Đường Lông Ngỗng Trắng

                      Dẫu hình hài khắc mãi tim nhau!

 

     Mảng thơ triết lý về những mâu thuẫn giữa tình yêu và cuộc sống của nhà thơ với "người đàn bà trắng"! Đó cũng là một nghịch lý cuộc đời: Dù tình yêu tan vỡ đã làm cho trái tim anh và em tan nát, nhớ thương nhau suốt đời - Nhưng: Em không (thể) biến thành đá để hóa Vọng Phu /- Và anh cũng không đầy mình để làm mãi cái anh chàng Trương Chi suốt đời chèo thuyền trên con sông quạnh vắng, rồi tương tư nàng Mỵ Nương mà chết !? Hay, cái con-đường-lông-ngỗng-trắng nàng Mỵ Châu đã rắc cho chàng Trọng Thủy theo - Thần tượng thì rất đẹp: Nhưng cuối cùng chàng cũng nhảy xuống biển mà chết, hóa thành ngọc trai giữ tình son sắt với nàng - Nó bi ai quá! Cái hay của khúc triết lý trong bài thơ là nó đã được viết "như đời" - Tình thơ đã không kết thúc bằng sự bi thảm: Đôi trai gái vẫn phải sống và tồn tại, dù là theo chiều gió cuốn cuộc đời. Phải chăng tình thơ cũng là một cuốn tiểu thuyết "cuốn theo chiều gió" như bao bi kịch tình trên bờ bến nhân gian?

     Đây là một trong hai mảng thơ xương cốt nhất của bài. Mảng thơ thứ nhất như trên đã nói, chính là khổ thơ thứ ba:

                      Chùm trinh em hát: Đấy chỗ thiên thai !

                      Người đàn bà ai mà định nghĩa?

     Cùng với khổ thơ thứ năm này làm thành nền tảng như tim óc, tủy sống cho cả tình thi. Tình yêu ấy tháng năm còn sống và đẹp mãi trong trái tim thi sĩ, để:

                     Những đêm sao buồn, những đêm gió khát

                     Khúc thơ tình anh lại viết về em

     Để rồi cuối cùng Phạm Ngọc Thái đã kết thúc bằng một câu thơ đẹp nhất về nàng:

                     Người đàn bà ngậm cả vầng trăng...

 

      Đây là một câu thơ siêu thực chứa đầy trầm tích đã được thăng hoa. "ngậm cả vầng trăng": Một thiên tạo đang nép trong tấm thân của người đàn bà hay chính nàng là một vầng trăng? Cái "vầng trăng" ấy của nàng nó cứ nguyên thủy như hang động thời tiền sử, lại huyền bí tựa thánh linh. Nhưng chao ôi, dù gì thì nàng cũng đã "ngậm" cả cái vầng trăng đó rời bỏ nhà thơ ra đi rồi !? Những tháng năm buồn thương nhớ người yêu, nhà thơ Phạm Ngọc Thái đã viết nên thiên tình ca tuyệt vời này để lại cho thế gian!

     Người đàn bà trắng" là một bài thơ tình hay, có khả năng sống trường cửu với thời gian và nền văn học nước nhà. 

                                                                                                            Trần Đức

READ MORE - PHẠM NGỌC THÁI VỚI BÀI THƠ TƯỢNG TRƯNG ĐIỂN HÌNH - Trần Đức

Friday, October 2, 2020

NHÀ THƠ KHA TIỆM LY ĐOẠT GIẢI NHẤT VIẾT VĂN TẾ NGUYỄN DU: VĂN CHƯƠNG RẺ HƠN BÈO - Châu Thạch



Hiện nay trên đài Truyền hình Thành Phố Hồ Chí Minh thường chiếu một trò chơi gọi là “Thách Thức Danh Hài”. Trong trò chơi này, thí sinh ra đứng trước mặt danh hài Trấn Thành và Trường Giang, họ chỉ cần làm hề cho một trong hai người nầy cười là được tiền. Cười lần 1 lãnh 2 triệu, cười lần 2 được ngay 10 triệu và nếu chọc cho  họ cười đến lần thứ 5 thì  thí sinh ôm về cho mình trọn 100 triệu. Đã có nhiều thí sinh trong vòng 5 phút, lảnh gọn số tiền lớn ấy.

Vừa qua nhân kỷ niệm 255 ngày sinh và 200 năm ngày mất của đại thi hào Nguyễn Du, một cuộc thi viết văn tế cho đại thi hào đã được tổ chức. “Cuộc thi ‘Sáng tác Văn tế Đại thi hào Nguyễn Du’ ” do Hội Kiều học Việt Nam phối hợp với Đài Tiếng nói Việt Nam, Hội Nhà Văn Việt Nam và Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tổ chức từ tháng 2 năm 2019 đến tháng 7 năm 2020 nhằm hướng tới Lễ kỷ niệm 200 năm ngày mất của đại thi hào Nguyễn Du tại trụ sở Hội Kiều học Việt Nam, Ban tổ chức Cuộc thi “Sáng tác Văn tế Đại thi hào Nguyễn Du” đã tiến hành họp hội đồng Chung khảo. Ban tổ chức nhận được nhiều bài dự thi của các cây bút trong nước và nước ngoài thể hiện rõ sự công phu trong việc sưu tầm tư liệu, được sáng tác theo thể Văn tế (tức là bài viết gồm hầu hết các cặp câu biền ngẫu và gieo một vần trắc từ đầu đến cuối bài) nhằm tôn vinh và tái hiện lại cuộc đời, thân thế và sự nghiệp của Đại thi hào Nguyễn Du.

Chung khảo, bài văn tế Nguyễn Du của nhà thơ Kha Tiệm Ly đoạt giải nhất toàn quốc. 

Nhận được lời mời của Ban Tổ Chức cuộc thi, nhà thơ Kha Tiệm Ly cất công từ Mỹ Tho ra Hà Tỉnh để nhận giải thưởng lớn và vinh dự của đời mình. Ai cũng tiên đoán lần nầy Kha Tiệm Ly trúng lớn, số tiền ít nhất cũng cao hơn nhiều lần so với trò chơi diễn hề trên TV, hoặc bằng một cuộc nhậu của các vị tai to mặt lớn. Có lẽ nhà thơ Kha Tiệm Ly cũng nghĩ thế, ông mời thêm hai thi hữu tâm đắc là Du Phong và Ngã Du Tử cùng tháp tùng ra Hà Tỉnh tham dự buổi lễ trọng đại kia. Tiền vào tay thi sĩ thì ai cũng biết sẽ như gió bay thôi, họ dự trù lảnh thưởng xong sẽ bay ra Hà Nội, vào Huế, đến Đà Nẵng, dùng tiền thưởng ấy để chia sẽ niềm vui cùng bạn bè, bù khú cho đến hết thì thôi.

Kết quả:

Nhà thơ Kha Tiệm Ly được vinh dự đứng hàng đầu để chụp ảnh. Phần thưởng vật chất, theo Kha Tiệm Ly cho biết, bằng tiền mặt là 10 triệu đồng, cộng thêm 500 ngàn đồng hỗ trợ tiền di chuyển từ Mỹ Tho ra Hà Tĩnh và trở vào. Số tiền nầy bằng số tiền thưởng cho người diễn hề để Trấn Thành cười trong phút thứ hai. 

Tiền thưởng ít quá, không đủ để đài thọ bạn mình tiếp tục di hành, Kha Tiệm Ly đành để hai bạn mình lên xe quay về Nam trước, còn Kha Tiệm Ly vẫn giữ lời hứa, tiếp tục ghé thăm bạn văn chương bằng cái túi rổng của mình. Cũng may, người người đều yêu mến Kha, chỉ cần gặp Hảo Hán, uống rượu gạo, ăn trái ổi chua để chúc mừng tài năng của bạn mình là thỏa lòng lắm rồi.  

Thật ra nếu đem so bài văn tế Nguyễn Du của Kha Tiệm Ly với câu khẩu hiệu mỗi chữ 1 tỷ đồng, hay so với các cổng chào của huyện của tỉnh dựng trên quốc lộ thì bài văn của Kha Tiệm Ly đạt giá trị cao hơn nhiều. Những thứ vật chất kia rồi sẽ không còn nữa nay mai, nhưng phú của Kha Tiệm Ly sẽ đi vào văn học, để lại cho trăm năm sau vẫn còn đó bài văn tế kỷ niệm 200 năm Nguyễn Du, làm dấu ấn cho thế hệ hậu sinh của chúng ta, kính trọng thế hệ cha ông nó. 

Kha Tiệm Ly đã  phải bỏ 3 tháng để tư duy ngày  đêm vì bài văn tế kia, số tiền mười triệu trả không đủ 1/10 công lao động trí tuệ của ông, còn  9/10 kia không trả cho ông mà đem bài văn tế của ông in vào sách để xuất bản tức là “bóc lột thặng dư lao động trí tuệ” theo Karl Marx có đúng không nhỉ?

Với giá trị của một áng văn chương như bài văn tế của Kha Tiệm Ly, thiết nghĩ chỉ một tờ báo đăng bài văn tế ấy, trả tiền nhuận bút 10 triệu vẫn con ít. Vậy mà một cuộc thi do 3 đơn vị tầm cỡ Việt Nam tài trợ, lại trao giải thưởng quán quân chỉ 10 triệu đồng và 500 ngàn đồng tiền xe di chuyển gần 2000 km đến lãnh thưởng thật là quá ít, ít đến  không ai tưởng tượng nổi. 

Phải chăng văn chương ngày nay rẻ hơn bèo? 

                                                                       Châu Thạch 


READ MORE - NHÀ THƠ KHA TIỆM LY ĐOẠT GIẢI NHẤT VIẾT VĂN TẾ NGUYỄN DU: VĂN CHƯƠNG RẺ HƠN BÈO - Châu Thạch

NHỚ XƯA - Thơ Nhã My, nhạc Nguyễn Hữu Tân



                  Nhà thơ Nhã My



NHỚ XƯA

Nhớ xưa em tuổi mười hai
Cỏ non. Áo mỏng. Chân giày điểm sương
Đường xa hai đứa đến trường
Thương như áo nắng còn vương nắng lành
Bây giờ lối cũ buồn tênh
Bây giờ vắng tiếng em anh những ngày
Nhớ xưa tóc xỏa ngang vai
Hương bay theo gió cho ai thẩn thờ
Đêm về dệt mộng làm thơ
Bây giờ lẳng lặng ngẩn ngơ nhớ về
Nhớ xưa dáng nhỏ tóc thề
Hè sang nắng nhẹ vỗ về vai thon
Ai về nhỏ bước chân son
Để ai gối mộng mỏi mòn đợi trông
Bây giờ người đã sang sông
Nhớ xưa như nhớ mùa đông bẽ bàng

                                            Nhã My


  


READ MORE - NHỚ XƯA - Thơ Nhã My, nhạc Nguyễn Hữu Tân

LÀNG CHÀI - Thơ Trần Mai Ngân





LÀNG CHÀI

Một mình đi ngang qua làng chài
Dự báo thời tiết bão chiều nay
Thuyền đã về neo đầy bến cũ
Mà chúng mình vẫn cứ lạc nhau...

Giông tố đời giết giấc chiêm bao
Anh một phương xa em một phương
Và cứ thế mất dấu con đường
Về tổ ấm của ngày thu cưới...

Biển chiều nay thét gào sóng dữ
Nhấn chìm tan lời nói yêu đương
Em khản tiếng ...biển ơi trả lại
Anh ngày xưa - em cũ ngày xưa...

Làng chài chiều nay ngập gió mưa
Những thuyền neo xếp hàng đứng khóc
Duyên với phận thôi không trách móc
Dẫu thế nào mình cũng lạc nhau...   
                                  
                          Trần Mai Ngân

READ MORE - LÀNG CHÀI - Thơ Trần Mai Ngân