TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
Chúc Mừng Năm Mới
Wednesday, August 5, 2020
KHÚC RU THÁNG TÁM, QUÊ NHÀ NGHE NHỚ NGHE THƯƠNG..., CHIỀU BÊN SÔNG QUÊ - Thơ Tịnh Bình
HOÀI NIỆM HÀNH - Thơ Kha Tiệm Ly

ĐỌC “EM ĐỪNG RỦ NHỚ ĐI XA” THƠ PHẠM ĐỨC MẠNH - Châu Thạch
Tuesday, August 4, 2020
ĐỀN THỜ TỐNG TRÂN - CÚC HOA Ở PHÙ CỪ, HƯNG YÊN - Đặng Xuân Xuyến
ĐỀN THỜ TỐNG TRÂN - CÚC HOA Ở PHÙ CỪ, HƯNG YÊN
Tục truyền rằng, vào thời nhà tiền Lý (bia Văn Miếu ở Hưng
Yên ghi là thời Trần) ở xã An Đô, tổng Võng Phan, huyện Phù Dung (nay là thôn
An Cầu, xã Tống Trân, huyện Phù Cừ) có một người họ Tống, tên gọi Thiệu Công
thuộc dòng dõi thi thư, lấy vợ người xã Phù Oanh cùng huyện Phù Dung, tên là
Đào Thị Cuông. Vợ chồng sống rất nhân từ, hay làm điều thiện... nên nhà Trời đã
sai thiên sứ xuống đầu thai. Mang thai 11 tháng, bà Đào Thị Cuông mới sinh một
cậu bé khôi ngô, tuấn tú vào ngày rằm tháng Tư năm Bính Ngọ.
Lên 3 tuổi, Tống Trân đã rất giỏi âm luật, cha mẹ rất yêu
thương nên đặt tên là Trân. Lên 5 tuổi, Tống Trân đã có khí chất thông minh,
thiên tư sáng suốt, học một biết mười, trên từ thiên văn, dưới đến địa lý đều
am hiểu tinh tường.
Khi Tống Trân cùng mẹ lang thang hành khất, đến Sơn Tây vào
một gia đình trưởng giả giàu có ăn xin, được Cúc Hoa (con gái ông trưởng giả)
đem lòng yêu mến vì tài đối đáp thông minh của Tống Trân. Ba người đưa nhau trở
về quê hương làm ăn.
Đến năm Tống Trân 7 tuổi vua Lý Nam Đế mở khoa thi để tuyển
chọn nhân tài và đến ngày 29 tháng 9, Tống Trân vào kinh ứng thí, cả ba kỳ đều
đỗ thủ khoa. Đến ngày mồng 1 tháng 2 năm Quý Sửu, ông đỗ Trạng Nguyên. Vua khen
rằng: Kẻ sĩ cả nước chỉ có một Tống Trân là tướng tài mà không có người thứ
hai.
Ngày mồng 10 tháng 4, vua ban cho cờ biển, một nghìn vuông gấm
và mười đĩnh vàng cho về vinh quy bái tổ.
Trở về làng bái yết tổ tông, thăm hai bên nội ngoại, khao vọng
làng xã trong một tháng, rồi cưới nàng Cúc Hoa làm vợ. Tống Trân làm nhà ở làng
Phù Oanh, cho vợ trông coi rồi trở lại kinh thành. Được ba tháng, vua cử ngài
đi sứ sang Bắc quốc. Vua Trung Quốc dùng đủ mọi cách để thử tài Tống Trân,
nhưng quan Trạng đều ứng đối trôi chảy, xử thế mưu trí. Vua Trung Quốc khen là
nhân tài thứ nhất trong 18 nước chư hầu và phong làm "Lưỡng quốc trạng
nguyên". Vua Tầu muốn gả con gái cho nhưng Ngài từ chối, vì thế bị giam
vào chùa Linh Long trong một trăm ngày, không cho thức ăn, nước uống. Tại đây,
ông đã nảy ra sáng kiến bẻ ăn tượng phật (được làm bằng chè lam để thử tài trạng
nước Nam) và uống nước lã, nên một lần nữa, vua Tàu phục tài bèn phong làm
"Phụ quốc thượng tể Đẩu Nam Tống đại vương".
Mười năm đi sứ, khi Tống Trân trở về thì Cúc Hoa đang bị ép
lấy chồng khác. Tống Trân giả dạng người hành khất để dò la tình ý, biết Cúc
Hoa vẫn thủy chung với mình, khen Cúc Hoa đủ tam tòng, tứ đức, thực là nữ trung
Nghiêu, Thuấn. Tống Trân đón vợ về, cùng nhau đoàn tụ. Vua biết chuyện, đã
phong cho Cúc Hoa làm "Quận phu nhân".
Khi Lý Nam Đế băng hà, Triệu Quang Phục lên ngôi hiệu là Triệu
Việt Vương, có vời Tống Trân ra làm "Phụ chính đại thần". Được hơn mười
năm, Tống Trân ngoài 60 tuổi, mới dâng biểu cao quan về quê dạy học. Cúc Hoa
không có con, lại mắc chứng bệnh đau bụng, ba hôm sau thì mất (ngày 3 tháng 3).
Năm năm sau, Tống Trân bị chứng bệnh "mã đao" (hạch ở cổ) và mất ngày
mồng 5 tháng 5 năm Tân Hợi.
Ngài được phong sắc "Thượng đẳng tối linh phụ quốc Tống
Trân đại vương" và về sau được truy phong làm "Thượng đẳng phúc thần".
Theo quy định hàng năm, lễ hội làng được tổ chức từ ngày 10
đến ngày 17 tháng 4 âm lịch, trong đó ngày 13 và 14/4 là ngày hội chính. Ngày
13/4 tiến hành rước kiệu từ các đền, chùa trong làng. Trong ngày chính hội (tức
ngày 14/4) dân làng rước kiệu quan Trạng đi vòng quanh làng với đoàn tuỳ tùng,
cờ xí, võng lọng trông rất uy nghi. Và đến ngày 16/4 lại rước kiệu về các đình,
đền, chùa để an vị. Ngày 17/4 làm lễ bế hội. Lễ hội đền Tống Trân là một trong
những lễ hội lớn nhất của huyện Phù Cừ.
.....................
(Trích từ VÀO CHÙA LỄ PHẬT NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT của Đặng Xuân
Xuyến ; Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin 2006)
*
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
.
KHÓ GÌ QUÊN ĐƯỢC TÌNH - Thơ Đỗ Anh Tuyên
KHÓ GÌ QUÊN ĐƯỢC TÌNH
Gió chiều nay ủ rủ chẳng lay rèm
Trong khoảnh khắc anh nhớ em da diết
Lòng vẫn muốn nói những lời tha thiết
Chợt bóng hình người mẹ khiến anh run.
Đâu chỉ em rưng rức giữa muôn trùng
Anh sánh đặc máu trong tim vì nhớ
Cổ anh nghẹn, anh nghe sao khó thở
Tiếng gầm gừ, hứ há dễ gì quên.
*.
ĐỖ ANH TUYẾN
Địa chỉ: Khu Cộng Hòa, thị trấn Thanh Nê,
huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
Email: dovantuyenbk@yahoo.com.
Monday, August 3, 2020
MIỀN TRUNG CHIỀU NAY TRỞ GIÓ | MẢNH VỞ... | HẠ NHỚ - Chùm thơ Đoàn Vũ
Chùm thơ Đoàn Vũ
Miền Trung chiều nay trở gió
Bao năm ta xa Hà Nội
chống, chèo phiêu bạt áo cơm
miền Trung chiều nay trở gió
liễu rũ hồ Gươm…chập chờn
Hà Nội chồng chất nỗi nhớ
bùi ngùi Tháp Bút-Đài Nghiên
Tây Hồ những chiều lộng gió
tiếng trống Đại La dập dồn!
bao năm ta xa Hà Nội
kiếp người ẩn hiện khói sương
lỡ khi mình chưa về kịp
mẹ già còn ai? cố hương!
ở đây quanh năm sóng vỗ
cát mù tít tắp tháng giêng...
muốn gửi cho ai chút gió
hong khô ngấn tóc nỗi niềm
ngày đi ta chưa kịp nói
chuông ngân rát cổ giáo đường
sân ga còi tàu giục gọi
níu, trì cháy dạ làn hương...
ta mong một ngày trở lại
nhìn hoa đào rộ khoe mùa
ta mong một ngày trở lại
ôm
choàng gợn sóng hồ Gươm.
Mảnh vỡ…
Tưởng nhớ: Viên Trung, Xuân Thắng.
Mảnh vỡ của Hồ Tê Lê(*)
nhọn đến
không cùng
không sắc
không âm
đêm rét cong, con dế túc lạc loài
chiếc bàn đá lạnh như tiền sắc mặt
mùa thu
mùa thu kín cả trời gió giật…
Mảnh vỡ của Hồ Tê Lê
rơi
rơi
ý thơ trầm
câu thơ bổng
những khuya bắt nến làm đèn
xót xa cái thời nông nổi!
gió đã hú tự đầu nguồn
gió đã gọi tự ngàn xưa...?
có thể trăng đã là nhân chứng.
Mảnh vỡ của Hồ Tê Lê
rơi
rơi
mùa thu đùm túm tụ về
những cọng nhang cắm lên bờ hư thực
mảnh vỡ rơi
rơi
ở chốn không cùng…
(*) nhóm thơ lấy tên Hồ Tê Lê – có sử dụng hồ rượu bằng thủy
tinh và trên mặt hồ có ghi: “Phàm làm việc gì, trước phải xét kĩ đến hậu quả của
nó.”
Hạ nhớ
Thời gian
ngoảnh cổ
lại nhìn
mộng
mơ
đi mất
mình
chưa là mình.
hạ về
sắc phượng thắm xinh
đóng đinh nỗi nhớ
treo
cành phượng
xưa…
co ro núp
dưới hiên mưa
ngại phần lụa mỏng
em chưa dám về
lợm lì - nghịch ngợm
sát
kề
ôi
vô duyên quá
bốn bề vô duyên.
ước gì
mưa
mưa
triền miên
cứ treo mải miết
vô duyên
khỏi về.
Ðoàn Vũ – Hội viên hội Văn Nghệ Bình Thuận.
Email: vudoan0102@gmail.com.






