Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, April 18, 2019

CẢM NHẬN VÀI BÀI THƠ CỦA "BÀ CHÚA THƠ LỤC BÁT" - Nguyên Lạc


    
                                 Nhà thơ Nguyên Lạc


BÀI "ĐỌC TẬP THƠ BẤT TƯƠNG PHÙNG, KHÔNG TIN..."

I. NHỮNG TRÍCH ĐOẠN
Tình cờ đọc được bài "Đọc Tập Thơ Bất Tương Phùng, Không Tin Của Phạm Hiền Mây" của nhà bình thơ Trần Trung Thuần thấy hay hay, xin được ghi ra đây vài trích đoạn "ấn tượng" của bài viết ĐỌC TẬP THƠ...[1]
[ ... Ý tôi muốn mở bài viết hôm nay về thơ Phạm Hiền Mây, qua tập Bất Tương Phùng Không Tin do nhà Nhân Ảnh ở San Jose, Mỹ, xuất bản năm 2018, tôi vừa nhận được đầu năm mới, 2019, từ một người gửi ở Tiểu Bang Nevada, cũng Mỹ. Phạm Hiền Mây thì ở Việt Nam, ngay tại thành phố Hồ Chí Minh. Phạm Hiền Mây, nói theo lối của Xuân Diệu, mới đã: đây là Bà Chúa Thơ Lục Bát Nước Ta! Cả tập thơ Bất Tương Phùng Không Tin toàn thơ Lục Bát dày tới 250 trang, tổng thể là 100 bài rất dài hơi.
...
Cuối năm ngoái và đầu năm nay, tôi có hai cái hạnh phúc: năm ngoái, 2018, nhận tập Lục Bát Tản Thần của Nguyễn Hàn Chung gửi cho từ Texas, Mỹ, năm nay, 2019, nhận tập Bất Tương Phùng Không Tin của Phạm Hiền Mây (do ai) gửi cho từ Nevada. Trước hết là tôi Biết Ơn bạn bè luôn luôn chúc tôi có hạnh phúc, sau là Biết Ơn hai tác giả đều "chuyên khoa" làm thơ Lục Bát, theo cách định nghĩa của Nguyễn Du.
Thơ Lục Bát của Nguyễn Hàn Chung là loại thơ có tư cách Nguyễn Hàn Chung: Nói thẳng, nói thật, nói tuột luốt cái tư duy có trong đầu mình, trong bụng mình, không đụng hàng ai hết...thỉnh thoảng có giống giống chút thôi bởi không dè...người ta (Nguyễn thị Hoàng Bắc, Sơn Núi, Bùi Giáng...) lại có tư duy như Nguyễn Hàn Chung, không khéo mà thành Công Duy...(như chữ Tư Sản đã thành Công Sản vậy). Thơ Nguyễn Hàn Chung: Vui và Tuyệt Cú Mèo (dùng chữ Tuyệt Tác thì lễ phép hơn nhỉ?).
Thơ Lục Bát Phạm Hiền Mây...có thể "trùng thanh" nhiều người (toàn bậc thượng thừa) như Hồ Dzếnh, Trân Huyền Trân, Nguyễn Du, Huy Cận, Cung Trầm Tưởng..., có thể "trùng ý" nhiều người (toàn thể ai...hay yêu và hay buồn). Cái tài của Phạm Hiền Mây là làm thơ Lục Bát hay quá và đều tay quá, không chỉ một tập thơ dày cộm này, Bất Tương Phùng Không Tin! Phạm Hiền Mây có một đứa con thật mà có tới ba đứa con tinh thần, và chắc không ngừng ở số ba!
...
Bây giờ tới chuyện Phạm Hiền Mây, không khen là tôi đắc tội (không phải Phạm Hiền Mây đẹp mà tôi ve vãn). Tôi tin nếu Xuân Diệu còn sống thì Xuân Diệu cũng bái phục Phạm Hiền Mây như Xuân Diệu từng làm điều đó với Hồ Xuân Hương, Bà Chúa Thơ Nôm. Dù tôi "phát biểu": Phạm Hiền Mây Là Bà Chúa Thơ Lục Bát, hơi hướng Xuân Diệu, nghĩ có sao đâu? Có thể có người bảo tôi "ninh tinh", thì cứ lý lụn đi nào, coi ai lụn bại, ai thành công. Nếu "kết lụn" thua nghiêng về tôi, tôi sẽ méc Má tôi: tại Má sinh con ở Nam Bộ...phận!
...
Tôi không có nhận xét nào thêm để dài dòng về một thi tài độc đáo là Nữ Thi Sĩ Phạm Hiền Mây. Chuyện của Phạm Hiền Mây qua thơ (Tôi chỉ biết thơ, thú thật hổng biết Thơ Ca hay Thi Ca nghĩa là làm sao?). Tôi coi Phạm Hiền Mây như một đóa hoa mai. Nhất sinh đê thủ, rồi. Tôi coi Phạm Hiền Mây là Bà Chúa, tôi nghĩ Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn không bắt lỗi tôi
Tôi không còn gì để nói thêm! ](Trần Trung Thuần)

II. VÀI SUY NGHĨ VỀ BÀI ĐỌC TẬP THƠ

1. Đọc lời khen của nhà bình thơ Trần Trung Thuần, tôi chợt nhớ lại bài thơ  “Lời mẹ dặn” của Phùng Quán:

Lời mẹ dặn
Phùng Quán

Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao doạ giết
Cũng không nói ghét thành yêu…

2. Đây là vài ý nghĩ của các bạn tôi khi đọc bài khen thơ trên:
- Chưa từng thấy có lời khen "tuyệt vời" như vầy
-  Quảng cáo tập thơ cô thi sĩ trẻ quá siêu!

THƠ CỦA "BÀ CHÚA THƠ LỤC BÁT"

Theo lời giới thiệu: "Phạm Hiền Mây, nói theo lối của Xuân Diệu, mới đã: đây là Bà Chúa Thơ Lục Bát Nước Ta!"(Trần Trung Thuần), tôi mạo muội ghé qua "vương cung"  (Facebook) của "bà chúa" để thưởng thức các bài thơ tuyệt với như lời "quảng cáo".
Thấy gì?
-- Đúng là nơi "vương giả" chỉ dành riêng cho thiểu số tót vời, giới thượng lưu.
Này nhé: - Dầy đặc trong các bài thơ những cụm từ  "hàn lâm": Hư không, vô ngôn, miên khê,  miên trường, miên du, uyên nguyên, phiêu bồng, địa đàng, thiên cổ, cát bụi, nguyên sơ, phù vân, cố thổ, tà huy, tà dương và nhiều nhiều nữa.
Gặp ở đây nhiều chữ của Phật giáo, của các triết gia, đặc biệt là của thi sĩ Bùi Giáng những chữ mà ông thường dùng một cách nhuần nhuyễn.

I. Phân tích một số chữ tiêu biểu được dùng trong thơ

Xin tạm phân tích một số chữ của "bà chúa" Phạm Hiền Mây dùng  trong các câu thơ. Có gì không đúng xin bà giảng dạy thêm.
- Miên trường
Tiếng Hán Việt (H) giống như tiếng Anh (E) tính từ đứng trước danh từ, ngược với tiếng Việt(V).
Thí dụ: Bạch mã (H) White horse (E) Ngựa trắng (V)
Do đó "miên trường" không phải là giấc ngủ dài, mà là dài rất dài: Trường  = dài; miên = dài (miên viễn).
Áp dụng vào các câu thơ:
"thiên lý dặm miên trường mù không" ̣Phạm Hiền Mây (PHM)]
(thiên lý dặm = ngàn dặm đã dài rồi, thêm miên trường = rất dài vào, ôi!)
"mới cơn bụi cát miên trường đêm say"(PHM)
"ừ anh mật ngọt miên trường giọt môi"(PHM)]
tôi thấy chúng sao ấy, nếu không nói là vô nghĩa!
- Tà dương ̣
Tà dương ̣hay tịch dương: Mặt trời lúc sắp lặn, có nghĩa là buổi chiều gần tối.
Câu thơ: "có em chiều xuống tà dương"  (PHM) dư chữ "chiều xuống"
- Vô ngôn
Vô ngôn là cụm từ của Phật giáo với nghĩa không lời. Sóng tràn thì phải động mới tràn, nghĩa là có âm thanh:  Xem như có lời.
Vậy câu thơ: "sóng tràn vô ngôn" thi sĩ muốn nói về điều gì? Vô ngôn?
- Biển ngâu
Trong "mai đời dẫu khóc biển ngâu" có hai chữ "biển ngâu"
Sự tích Ngưu Lang - Chục Nữ gặp nhau ngày mùng 7 tháng 7 âm lịch, ngày mưa Ngâu (Ngưu) sụt sùi. Bắc cầu "ô thước" qua "sông" Ngâu chứ đâu có "biển" Ngâu: Biển làm sao bắc cầu. Lại nữa, dãi ngân hà giống như dòng sữa, nhìn như dòng sông chứ đâu phải khắp bầu trời mà gọi là biển?
- Miên khê
Miên khê là khe nước đứng yên (ngủ), giang đầu là đầu nguồn sông lớn... vậy câu sau đây có nghĩa là gì?
"giang đầu nguyệt bóng miên khê"
Và "nguyệt bóng" là gì tôi tìm từ điển không thấy, xin bà chúa giải thích cho biết?
Hai chữ "nguyệt bóng" này làm tôi nhớ đến "sự đảo chữ"

II. Bàn sơ lược về đảo chữ

Tôi thấy "bà chúa thơ" rất "sính" đảo chữ. Mời đọc những chữ này: Nắng vạt, hoặc nghi, phai phôi, nguyệt bóng, trùng muôn... nhiều nhiều nữa.
Thí dụ:
"hư không níu trùng muôn bớt dài"
Trùng muôn nghĩa là gì vậy nữ sĩ?

Tôi thấy đa số những cụm từ đảo trên gợi ra nhiều vấn đề. Bà chúa thích "đố chữ"?
Xin có vài ý kiến qua trích đoạn dưới đây:

[...Phép đảo chữ (đảo từ):
Đảo: Ngược, đảo ngược.
-- Trong nói đảo người ta thường dùng lối chuyển đổi trật tự, vị trí các chữ trong một nhóm chữ (nhóm từ)
-- Ta phận biết được ba trường hợp trong phép đảo chữ:
1. Chữ mới khi được đảo có thể xem như cùng nghĩa với chữ trước khi đảo:
Ngồi ngủ/ ngủ ngồi.
Đứng ăn/ ăn đứng
Khổ đau / đau khổ...
2. Chữ mới khi được đảo sẽ "vô nghĩa", nghĩa là không thể nào đảo được.
Chữ mới khi được đảo sẽ "vô nghĩa", nghĩa là không thể nào đảo được.
Độc đáo / đáo độc: Đáo độc vô nghĩa
Độc lập/ Lập độc: Lập độc vô nghĩa
Tà huy / huy tà: Huy tà vô nghĩa
- Khờ khạo / khạo khờ: Khạo khờ vô nghĩa.  
- Vừa vặn / vặn vừa:  Vặn vừa vô nghĩa.
Muôn trùng / trùng muôn: Trùng muôn vô nghĩa
câu thơ:
Hư không níu trùng muôn bớt dài (PHM): vô nghĩa.
Các thi sĩ nên xét lại! Nếu có nghĩa xin các thi sĩ cho biết tên từ điển Việt nào?
3. Chữ mới khi được đảo khác nghĩa với chữ trước khi đảo, nghĩa có khi trái nghịch...]
(Đảo Chữ - Nguyên Lạc)

Sẵn dây xin được ghi ra trích đoạn về ngôn ngữ thơ mà tôi tâm đắc của Lê Hữu
[... Ngôn ngữ thơ là chữ nghĩa, hình ảnh, ý tưởng … chỉ có ở trong thơ hơn là trong đời thực. Có điều, khi đọc, nghe, ta cảm thấy như là có thực, có ý nghĩa và chấp nhận được; hơn thế nữa, lại còn rung cảm vì thứ ngôn ngữ ấy. Bất kỳ cách diễn đạt nào làm cho người ta đọc ra thơ, nghe ra thơ, hiểu ra thơ muốn “nói” điều gì, đều là ngôn ngữ thơ.
Chữ nghĩa cần có sự phát minh, sáng tạo hơn là lặp lại rập khuôn người đi trước. Những vô thường, vô vi, phù vân, phù ảo, hư ảo, hư không, tà huy, miên trường… mà người làm thơ cố đưa vào bằng được trong thơ mình thường có một vẻ gì khập khiễng, gượng gạo như một kiểu tạo dáng kém tự nhiên, đôi lúc khiến câu thơ tối tăm, khó hiểu.
Thường, thơ khó hiểu thì khó hay; thơ tạo dáng thì khó tạo được cảm xúc.
[Lê Hữu: Thơ lục bát còn, tiếng Việt còn]

III. Cảm nhận hai bài thơ tiêu biểu của "bà chúa thơ lục bát"

1. Hai bài thơ tiêu biểu
Các bài này đã được phổ nhạc và được rất nhiều thi sĩ  "lão thành" có tiếng khen (like), tức nhiên nó phải hay và chắc tôi không cố ý chọn lầm.

VẼ EM…

vẽ em
bằng hết đời
sầu
anh tô lại đẹp từ đầu giấc mơ
từ đầu buổi mắt xanh thơ
còn trong veo nắng màu tơ sợi trời

**
còn chân gót hát ca lời
vẽ em
anh vẽ mưa rời rợi
đau
tay vời vợi níu tay nhau
mùa đông hoài gạt lệ dàu dàu vương

**
mùa đông hoài vắng người thương
hoài thiên lý dặm miên trường mù không
vẽ em
bằng hết chờ
trông
đợi anh tịch lặng mênh mông bóng gầy

**
trăng treo cao bóng lên đầy
tiếng khuya lả tả trắng bầy rong rêu
trắng dòng lá mục lêu bêu
vẽ em
anh vẽ vạc kêu sương
tàn

**
vẽ em
bằng nỗi vui
tràn
anh hoàng hoa xuống cội vàng cánh xương
cội hoàng hoa đóa uyên ương
mây hoàng hoa bến mộng thường vân lâu

**
yêu cho bằng hết bể dâu
sông
anh ru cọ ơ ầu
vẽ em… .

VÔ CÙNG TRĂM NĂM… .

yêu anh
cuộc
mộng nghìn trùng
dấu cô lý bến mịt mùng xa xăm
gót chân viễn xứ mù tăm
bâng khuâng bờ vắng em nằm chờ mai

**
bâng khuâng cõi vốn phôi phai
yêu anh
từ độ chia hai mây
trời
đất mơ gặp gỡ nhau đời
tạc câu huyền sử bời bời uyên ương

**
ghi rằng trời đất vấn vương
mới cơn bụi cát miên trường đêm say
yêu anh
yêu
cả gầy tay
hương thơm ngón thắp em ngày ái ân

**
hương xanh đôi thắp phù vân
thắp men tình muộn màng trần gian không
còn gì ngoài gió mùa đông
yêu anh
em
trái tim hồng cánh môi

**
yêu anh
yêu
vĩnh hằng ngôi
chỉ duy nhất một bồi hồi xưa sau
hàng mi khép lúc giọt mau
rót riêng em giấc ngủ màu bao dung

**
như nhiên đã lối về chung
em yêu anh
rất vô cùng
trăm năm…
(Phạm Hiền Mây)

2. Vài nhận xét

a. Vài ý đóng góp:
Đây là vài ý của bạn tôi đóng góp khi chúng tôi trao đổi về 2 bài thơ tiêu biểu trên:
-- Người được gọi là " Bà chúa lục bát" có giọng thơ hơi sáo rỗng:
"mùa đông hoài vắng người thương
hoài thiên lý dặm miên trường mù không
vẽ em
bằng hết chờ
trông
đợi anh tịch lặng mênh mông bóng gầy" (sic)

Các câu khác cũng vướng lỗi gần giống vậy. Ví dụ:
"còn chân gót hát ca lời
vẽ em
anh vẽ mưa rời rợi
đau
tay vời vợi níu tay nhau
mùa đông hoài gạt lệ dàu dàu vương" (sic)

-- Khổ 2:
"Còn chân gót hát ca lời" là ý gì?
"Mùa đông hoài gạt lệ dàu dàu vương": Câu này có ăn nhập gì với câu đầu (còn chân gót hát ca lời) của đoạn thơ không? Đã vậy lại vừa thừa vừa thiếu, Thừa cái kể lể, thở than; thiếu mất hình ảnh thương sầu, ly biệt.

-- Khổ 3:
Câu đầu rất ổn, nhưng câu kế vừa thừa lại vừa lang bang.
"Thiên lý" là ngàn dặm rồi, vậy "Thiên lý dặm" nghĩa là gì đây?
Lại nữa, "Thiên lý" đã diễn tả được cái cách biệt, cái xa xăm nghìn trùng rồi, lại nối theo hai chữ "miên trường" (thôi thì cứ hiểu theo ý tác giả "miên trường" là đằng đẵng, là vô cùng) vậy thì cái " thiên lý dặm miên trường" nên hiểu sao đây? (Chữ "hoài" đầu câu là phó từ, 2 chữ "mù không" phía sau là ngữ động từ mình tách ra)
-- Hai bài thơ khác nhau, mỗi bài đều có 2 chữ "miên trường"
"hoài thiên lý dặm miên trường mù không"
"mới cơn bụi cát miên trường đêm say"
đúng là đặt ở hai ngữ cảnh khác nhau. Tuy nhiên xét kỹ thì hai cụm chữ:
"Miên trường mù không"
"Miên trường đêm say"
Giai địêu lập lại, cách dùng lập lại, ý tưởng không khác. Nghĩa là tác giả tự bị TRÙNG TÁC với chính thi phẩm của mình.
[Đỗ Phú]

b. Ý nghĩ riêng tôi:
-- Trước hết xin có ý kiến: Rong rêu và lá mục thường xanh đậm (xanh rêu) hoặc xanh đen chứ không thể nào màu trắng. Làm gì mà "trắng bầy rong rêu"?
-- Theo chủ quan của tôi, trong con người cái tôi chia ra hai phía, hay nói một cách đơn giản là có hai cái tôi nhỏ: Cái tôi lý trí và cái tôi cảm xúc:
. Cái tôi lý trí do lý trí chi phối, mang tính hơn thiệt, đúng sai, được thua.v.v.. Trong cái tôi này có chứa cái tôi sợ hãi. Biết rằng mình không thích, biết rằng dối gian... nhưng vẫn phải làm. Cái tôi  sợ hãi này thì có nhiều  thi sĩ,  văn sĩ XHCN đã kinh qua và lên tiếng rồi. (Nếu tôi nhớ không lầm là Tô Hoài)
. Cái tôi cảm xúc: Đây là cái tôi đích thực, cái tôi nhân bản, cái tôi của thương yêu, cái tôi cảm nhận sự thua thiệt, không cần tiền tài,danh tiếng, vân vân và vân vân. Nhà thơ rất cần cái tôi này.
Một bài thơ hay khi nào "cái tôi cảm xúc" lên làm chủ, đè "cái tôi lý trí" xuống. Do đó, người ta thường nói: Tình yêu thường "mù quáng" là vậy. Nghĩa là lý trí "đi chổ khác chơi": Thơ mà chỉ có lý trí, chỉ sắp xếp chữ, không có cảm xúc thì thơ chắc không gây một hiệu ứng nào đối với người đọc, và chắc sẽ bị quên mau .
Hình như tác giả Phạm Hiền Mây đưa cái tôi lý trí lên "đỉnh", đè bẹp "cái tôi thực sự, cái tôi cảm xúc".
Nói như nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, đại khái: - Thơ loại này (lý trí làm chủ) "Ào ào lá đổ nhưng chẳng thấy mùa thu đâu!: Thơ thiếu vắng" hồn thơ"
Hai chữ "cảm xúc" cũng xuất hiện trong định nghĩa về thơ của William Wordsworth:
"Poetry is the spontaneous overflow of powerful feelings: it takes its origin from emotion recollected in tranquility”.[3]
"Thơ là sự tuôn trào tự phát của cảm xúc mạnh mẽ, bắt nguồn từ cảm xúc được hồi tưởng trong sự tĩnh lặng"
-- Xin được ghi ra đây vài ý về "thơ mở ngõ"
[... Về thơ mở: 
Thơ muốn "hay" phải là thơ mở, nghĩa là bài thơ tác giả mở ngõ, mời độc giả dự phần, đưa tâm tư của riêng mình vào. Độc giả bây giờ không còn là người bàng quan và sẽ nghĩ rằng thơ viết cho mình, nên rất thích thú, thấy bài thơ hay thêm.
- Xin giới thiệu bài thơ mở của thi sĩ Trần Phù Thế,  thi sĩ mời các bạn gởi tâm sự riêng mình vào:
khóc
tuổi thơ
khóc
kiếp người
từ đâu tiếng khóc gọi mời nỗi đau?
khóc là cười chẳng được sao? 
(khóc cười - Trần Phù Thế)...]
[Vài Khái Niệm Về Việc Dùng Chữ Trong Thơ - Nguyên Lạc]

Một bài thơ hay khi ta cảm thấy hình như thơ ấy viết riêng cho ta, thấy có cuộc đời riêng của ta trong đó. Thơ mở rộng cánh cửa để ta đặt cuộc đời riêng mình vào. Nếu tất cả đã được nói ra hết rồi thì độc giả bây giờ chỉ là người bàng quan và từ đó nghĩ thơ viết cho ai chứ đâu phải cho mình; do đó thơ sẽ bớt hay.
Trong các bài thơ của Phạm Hiền Mây, hình như thi sĩ đã nói lên "hết tất cả"rồi, không còn gì để  độc giả đóng góp thêm được nữa. Không còn "ngõ" nào để vào "lâu đài" thơ "Bà Chúa", chỉ đứng ngoài cửa nhìn vào. Hay nói chính xác hơn, thi sĩ  Phạm Hiền Mây là ông thầy đang "giảng đạo", độc giả chỉ biết lắng nghe và tuân theo. Hoặc như Trần Trung Thuần đã nói: Phạm Hiền Mây là  "Bà Chúa thơ lục bát VN", nên "Bà Chúa" đang ban "huấn từ" cho người dân, đã đầy đủ rồi phải tuân theo, không được ý kiến. Chữ nghĩa ơi là chữ nghĩa!
Qua trên là những cảm nhận của tôi và bạn tôi về các bài thơ tiêu biểu của "Bà Chúa thơ lục bát VN", giờ xin thử đọc thơ của "người dân dã".

THỬ ĐỌC VÀI BÀI LỤC BÁT CỦA "NGƯỜI DÂN DÃ"

Xin thử đọc vài bài thơ mà theo tôi "cái tôi đầy cảm xúc" làm chủ: Thơ của "người dân dã", thi sĩ Quỳnh Nga, người tôi chỉ tình cờ biết qua Facebook.
Đây là vài bài thơ với lời lẽ giản dị, đọc hiểu ngay, không "hàn lâm", không "đố chữ", khỏi cần chạy tìm từ điển:

CÁI ĐÊM TRĂNG MỎNG EM TỪ TÔI NGHIÊNG

Cái đêm mưa gió ướt đầm
Cái đêm tôi nhớ điếng bầm ruột đau
Cái đêm ta nợ nần nhau
Cái đêm ân ái mùa sau để dành

Cái đêm phiến nhớ long lanh
Cái đêm tơ lụa mong manh khôn cùng
Cái đêm em chạm ngại ngùng
Cái đêm tôi đợi cháy bừng đêm tôi

Cái đêm hôm ấy phải rồi
Cái đêm cánh gió gọi trời sang thu
Cái đêm em tóc hương nhu
Cái đêm trăng mỏng em từ tôi nghiêng...

GÕ CỬA THÁNG GIÊNG

Tôi về gõ cửa tháng giêng
Hỏi ai giấu tuổi hồn nhiên đâu rồi?
Tháng giêng tôi mở cửa tôi
Tìm mong gặp lại một thời chân quê

Tháng giêng tôi đón tôi về
Áo vàng hoa với đường đê hoa vàng
Nghe hồn quê rộng thênh thang
Nghe tôi về giữa nồng nàn yêu thương!
(Quỳnh Nga)

***
Đó là thơ lục bát của hai người, "bà chúa" và "người dân dã", tự các bạn cảm nhận và phán đoán.

                                                                      Nguyên Lạc
.....................
Ghi chú:
[1] ĐỌC TẬP THƠ BẤT TƯƠNG PHÙNG, KHÔNG TIN CỦA PHẠM HIỀN MÂY.
[2]. Tôi đồng ý với Trần C. Trí không dùng chữ “từ”, vì nó chính là cội rễ của tất cả những “từ” độc hại khác. Xin xem:
"từ và chữ" - Trần C. Trí
[3] (William Wordsworth Quotes, Brainy Quote, brainyquote.com)

READ MORE - CẢM NHẬN VÀI BÀI THƠ CỦA "BÀ CHÚA THƠ LỤC BÁT" - Nguyên Lạc

CHÂN THƠ DU MỤC - MacDung đọc thơ Lê Yên



CHÂN THƠ DU MỤC

MacDung                                           


Sắc Xuân quyến rủ gần kề. Triền đông hanh nắng giao mùa. Mọi lo toan, biến động, sớm chốc bỏ qua, dành niềm vui ấm áp đón chào năm mới! Áp lực công việc lãng quên, nhường chỗ cho những ánh mắt và nụ cười thân ái…

Xuân! Hoa cỏ đâm chồi nảy lộc. Hương đồng nội nhuộm mùi rạ và phảng phất lời ca tiếng hát ngân vang…

Chính thời khắc này, một tác giả đã làm nên điều kỳ diệu khiến người đọc liên tưởng đến câu: Cực Phát Chi Sơ, với tình yêu dành tặng người du mục. Đồng cỏ là bạn. Trăng sao tựa đèn. Kỳ hoa dị thảo có mặt như chứng nhân cho một thi phẩm xuất sắc ra đời…

       Nguyên tác

           XUÂN NỒNG

           Tác giả: Lê Yên 

          Ta đứng lặng
          Bên triền Đông vời vợi
          Đợi thời gian
          Mang xuân về tới
          Đưa tay với
          Gom mây trời xanh biếc
          Trải xuống đời
          Ta bày tiệc mời em
          Chiều có xuống
          Này em ta nâng nhé!
          Thảm cỏ kia
          Ta nhặt hết gai đời
          Bước đi em
          Đôi chân trần thật khẽ
          Em dịu dàng
          Ta ngỡ giấc chiêm bao
          Này đêm Xuân
          Trăng cười bẽn lẽn
          Ta quay sang
          Mượn gió buông rèm
          Mượn sao kia
          Giăng đèn ru em ngủ
          Giấc nồng say
          Ta thèm mộng thiên đàng
          Bình minh lên
          Ngày mới đợi chờ em
          Đừng sợ nhé!
          Hãy dang tay chào đón
          Nụ hôn nồng
          Ngất say hương tình ái
          Thêm một lần
          Em mở trái tim yêu. 

            Lê Yên. 1/19 

Sự lạc quan trong tư tưởng và bản thể thi phẩm rực rỡ sắc màu với tinh chất lưu ly. Ánh sáng chói lòa bên triền Đông như báo hiệu ngày mới bởi điều huyền diệu mà cuộc sống đương đại đã đánh mất. Mải cuốn theo đời sống vật chất, loài người như đồng hóa cùng công nghệ. Cạnh tranh nhau bằng nhiều hình thức để rồi bỏ quên câu: Tri túc tiện thị túc. Đãi túc hà thời túc (Nghĩ đủ sẽ thấy đủ. Đợi đủ sẽ không đủ) Thế nào là ngôi nhà tiện nghi dành cho tổ ấm? Bạn sẽ chưa bao giờ hài lòng với những gì mình hiện có! Tiền bao nhiêu mới gọi là Đủ!? Một bài toán nan giải và chẳng ai muốn phí thời gian cho những việc vô bổ… Thi phẩm như khúc hát người du mục thuở nguyên sơ chưa chạm tay đến mảnh giấy được mệnh giá gọi là: Tiền…

Bình minh trên thảo nguyên lóng lánh ánh mặt trời. Xuân đến theo nắng ấm với ngàn hoa đua nở. Khúc mở đầu đầy cuốn hút:

       “Ta đứng lặng
        Bên triền Đông vời vợi
        Đợi thời gian
        Mang xuân về tới…”

Thảo mộc, cây trái, gia súc là tài sản người dân du mục. Họ sống cùng thảo nguyên với trời xanh trải rộng, đồng cỏ mút mắt. Tình yêu thiên nhiên và con người như hòa làm một. Gái trai đến với nhau bằng chân tình chưa hề để ý đến vật chất, bởi đơn giản “vật chất” của họ là đồng cỏ, là sao trời… Thiên nhiên như ngôi nhà mẹ luôn luôn ở cạnh mình. Vậy món quà dâng tặng cho người mình yêu gom hết lại sẽ là gì???

       “Đưa tay với
        Gom mây trời xanh biếc
        Trải xuống đời
        Ta bày tiệc mời em…”

Chất thơ ngây ngất, tỏa sáng như thế giới siêu thực – điều mà loài người đã lãng quên lâu lắm rồi chưa bao giờ nghĩ đến. Tứ thơ gợi nhớ đến người da đỏ Châu Mỹ sơ khai, sinh sống với nghề săn bắt hái lượm. Họ thể hiện tình yêu bằng chân tình chưa bao giờ biết đến ngoa ngữ. Tặng vật cho tình yêu có chi ngoài những chiếc răng thú chứng minh chiến tích lòng dũng cảm bên cạnh sự trung thực…

Cristoforo Colombo tìm ra Châu Mỹ, nhìn khía cạnh nào đó đã xóa tan một dân tộc có cuộc sống chất phác giàu sức cuốn hút. Cuộc sống của họ đơn giản, đầy ắp bản tình ca nhưng xã hội văn minh không thể với tới. Sự văn minh không tiếp cận với lạc hậu sống đời nguyên thủy: Lều tạm, bếp cỏ, thịt nướng… Và thể hiện Tình Yêu bằng chất liệu cũng đơn giản, trong khi xã hội hiện đại những cho rằng Lãng Mạn: “Đưa tay với gom mây trời xanh biết. Trải xuống đời ta bày tiệc mời em…”

Đẹp! Ai cũng thấy vậy chứ nào dám ao ước. Tôn vinh nó nhưng lại xa rời cái đẹp vốn không hiện thực. Như chính người da đỏ chưa hề biết đến thuốc kháng sinh trước khi có sự xuất hiện của người da trắng. Người da đỏ Vong Quốc trước những cuộc di dân đồ sộ đi tìm miền đất hứa hẹn tiềm năng… Còn con người hiện đại phải chăng đã Vong Ngả khi chạy theo đồng tiền rồi chợt có chút lặng lòng lắng nghe tiếng thơ…

       “Chiều có xuống
        Này em ta nâng nhé!
        Thảm cỏ kia
        Ta nhặt hết gai đời
        Bước đi em
        Đôi chân trần thật khẽ
        Em dịu dàng
        Ta ngỡ giấc chiêm bao…”

Bò Bison là nguồn thực phẩm chính của người da đỏ. Người ta ước tính thời điểm hoàng kim độ khoảng 50 triệu con. Nhưng từ khi người da trắng xuất hiện, trong thời gian ngắn chỉ còn 2000 cá thể tồn tại… Điều này nói lên rằng, khi tiếp cận văn minh loài người nhận được nhiều thứ mới lạ, nhưng lại đánh mất cái đẹp vĩnh viễn không thể khôi phục lại được. Thế giới tinh thần bị đảo lộn thay vào đó bằng sự thống trị vật chất từng thế hệ bị cuốn theo.

Tuân Tử là nhà triết học, đại diện trường phái Pháp gia phương Đông cho rằng: Ngày xưa không có chiến tranh bởi đất rộng người thưa. Ngày nay người đông của ít nên chiến tranh liên miên… Chiến tranh đại diện cho tư hữu. Khi loài người tách biệt khỏi đời sống quần thể tức đã bước vào sự tư hữu. Tư hữu xuất hiện, vật chất tất nhiên được đề cao. Từ đó nét đẹp thế giới nguyên sơ bị tổn hại nghiêm trọng và phút chốc trở thành quá khứ luôn luôn bị chối bỏ. Còn đâu cảnh:

       “Này đêm Xuân
        Trăng cười bẽn lẽn
        Ta quay sang
        Mượn gió buông rèm
        Mượn sao kia
        Giăng đèn ru em ngủ
        Giấc nồng say
        Ta thèm mộng thiên đàng…”

Phương pháp nhân hóa và lối tả ước lệ của tác giả Lê Yên như kéo người đọc về đời sống du mục. Ở đấy chỉ có thiên nhiên và Chân Tình mở cửa. Không thước đo vật chất nào tác động đến cảm xúc nam nữ trong sắc Xuân gợi tình. Tình yêu tinh khiết chạm vào trái tim vốn chai sạn nếp đời, muốn thoát ra nhưng không thể, khi thực trạng con người đang bị “bỏ tù” trong xã hội vật chất đầy khắc nghiệt…

Xuân Nồng đẹp và quyến rủ bởi cái Chân được đề cao. Khi đời sống vật chất khiến con người mòn mỏi rồi ao ước quay về với đơn giản – cho dù đó là cuộc sống du mục…

Tác giả Lê Yên đã đem cái chân chất quá khứ thay cho sự Lãng Mạn hôm nay, đánh vào lòng trắc ẩn mà thực trạng Thất Bại, Bất Đắc Chí trong xã hội hiện đại ngập tràn… Quà  tặng cho người mình yêu chỉ ước lệ, không thể nắm bắt như bản thể cuộc sống hiện đại. Điều tác giả muốn nói là Chân Tình xuyên suốt thi phẩm được đề cao.…

Tư tưởng thi phẩm chỉ định: Dù bạn chọn cách sống như thế nào vẫn có biệt lệ. Và sự khác biệt thâm nhập cảm xúc người đọc khi Lê Yên xóa sổ “vật chất”, quay về với đời sống nguyên thủy làm bạn cùng trăng sao, đón gió bình nguyên bát ngát của buổi hồng hoang xa xưa…

       “Bình minh lên
        Ngày mới đợi chờ em
        Đừng sợ nhé!
        Hãy dang tay chào đón
        Nụ hôn nồng
        Ngất say hương tình ái
        Thêm một lần
        Em mở trái tim yêu.”

Bình minh trên thảo nguyên chắc phải khác với đô thị bằng độ sáng và sạch trong môi trường. Tinh chất trời đất giữa không gian mênh mông tiếp nhận một tình yêu chẳng hề pha nhiễm tạp chất, chính điều này giúp cho thi phẩm tỏa sáng trước mắt người thưởng thức…

Xuân Nồng là viên ngọc lạc loài trong xã hội đầy ắp những mối quan hệ thật giả khó phân. Và để thi phẩm in dấu ấn, tác giả Lê Yên đã chọn cách sống Thật, nhằm tự khẳng định giá trị bản thân cùng đứa con tinh thần ra đời trong tiết Xuân giao, giàu sức thuyết phục…

Đêm Xuân trong veo, trên nền trời lấp lánh ngàn vạn tinh tú. Nhưng nhất định sẽ có một ngôi sao rực rỡ không phải vì sắc đẹp mà bằng sự lung linh của buổi hồng hoang phi vật chất, mặn nồng ánh pha lê hữu tình…

CHÂN THƠ  DU MỤC – Giúp ai cũng hiểu rằng: Dù có thể mất tất cả, nhưng khi tiếp cận Vong Ngả là vực thẳm muôn đời… 


VL – 31.1.2019 

MacDung

READ MORE - CHÂN THƠ DU MỤC - MacDung đọc thơ Lê Yên

HƯỚNG VỀ PHẬT ĐẢN QUA KINH THÁNH CẦU - Mặc Phương Tử


Hướng Về Phật Đản Qua Kinh Thánh Cầu
(K. Trung Bộ I, 26)
Mặc Phương Tử
 
Đức Phật hay Đạo Phật, mặc nhiên đã đóng góp sự lành mạnh, và hiện hóa vào trong mọi tầng lớp xã hội loài người, và muôn loài một cách đích thực hơn bao giờ hết, cho dù từ ngàn xưa hay cả đến ngàn sau.

Hằng năm, giao thời Xuân-Hạ, mùa Phật Đản đang tới gần khắp nơi trên hành tinh nhân loại, đối với những ai có phát khởi lòng kính tin hướng tâm đến tinh thần giáo lý của Đức Phật, đều có những giây phút tư duy nghĩ về ngày Đức Phật Đản Sinh.

Một Đức Phật lịch sử, đã thật sự có mặt, và tận mắt thấy biết trong cuộc sống lạc thú nơi thế đời, nhưng lại có sự tu tập từ bỏ các dục, có sự thành tựu chứng đắc vô thượng an ổn, không còn bị chi phối các khổ nạn triền ách thế gian, có hành đạo giáo hóa chúng sanh, và cuối cùng có tịch diệt niết bàn viên mãn.

Đức Phật Đản Sinh và tịch diệt cách đây đã hơn 25 thế kỷ. Thế nhưng, toàn bộ tinh thần nội dung giáo lý thâm diệu của Ngài vẫn luôn khẳng định sự tồn tại một cách hùng hồn bất tuyệt, trong sáng và hòa nhập qua từng dòng chảy an bình vào cuộc sống xã hội con người, muôn vật trong mỗi thời đại từ ngàn xưa, và mãi cho đến tận ngàn sau.

Chúng ta nghĩ rằng; nếu một xã hội phát triển tốt, thì cũng chính do sự nhận thức đúng đắn lành mạnh từ phía của con người phát triển. Song song với sự phát triển ấy, Tâm Từ, Vô Tham cùng với Giới-Định-Tuệ cũng phải được phát triển trong hàng ngũ người đệ tử Phật có thể hiện qua sự tu tập nhu nhuyễn, thuần tịnh để dẫn đến một trạng thái ;
“Tâm giải thoát và Tuệ giải thoát”.

Do đó, sự xuất hiện của Đức Phật có hai mục đích là ; giữ sự im lặng của bậc Thánh (tu thiền) và trình bày sự Khổ, Khổ Tập cũng như con đường đưa đến Diệt Khổ. Phật dạy :
“ Nầy các tỷ kheo, có hai sự tầm cầu nầy, Thánh cầu và phi Thánh cầu”. Với tuệ quán thanh tịnh siêu nhân, Đức Phật đã thấy rõ “Những gì tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già…, tự mình bị bệnh…, tự mình bị chết…, sầu…, ô nhiễm… lại đi tìm cầu cái bị ô nhiễm.”

Sự thâm sâu qua lời dạy trên, tất nhiên không phải vượt ra ngoài cuộc sống nầy mà có được, mà chính nơi sự sâu kính trong lòng cuộc sống mới hiển bày diệu lý thâm sâu. Nếu như ngày nào sự chấp thủ còn có mặt “Đây là tôi, đây là của tôi…” thì mọi vấn đề vẫn còn là sự nắm giữ cái bị sanh, già… ô nhiễm. Bởi vì nguồn gốc của đau khổ là tham và chấp thủ (ngã và ngã sở). Cường độ giao động trong dòng tâm thức con người nói riêng và nói chung là cả một cộng đồng xã hội nhân quần, khuynh hướng phát triển như thế nào về Thiện hay Bất Thiện, Đạo đức hay phi Đạo đức, Giáo dục, Nhân- Nghĩa hay phi Giáo Dục và Nhân Nghĩa. v.v…

Sự lành mạnh hóa sẽ đem lại hưng thịnh sung mãn hạnh phúc và bình an, còn như thấp kém, nghèo nàn bởi do biến chất tha hóa trong tư duy Dục thủ, Kiến thủ… thì mọi biến động bất an sẽ phát sinh cho chính mình và kẻ khác. Đồng thời, mọi việc sẽ manh nha nhiều ác xấu hơn trong cuộc sống con người. Thấy rõ nguyên nhân ấy, Đức Phật đã xác chứng qua lời dạy:

“Có người tự mình bị sanh… già… bệnh… chết, sầu bi, ô nhiễm…Nầy các tỳ kheo, những chấp thủ ấy, Người ấy lại nắm giữ tham đắm, mê say chúng… Như vậy gọi là phi Thánh cầu.” Vì những sự việc trên có liên hệ tích cực đến thế giới ngũ thủ uẩn. Như vậy, đồng nghĩa với đau khổ,  sinh diệt, trầm luân.

Chúng ta thấy, từ một tâm thức náo động và não hại, lại cộng thêm vào những nhân tố giao động và não hại khác, từng khoảnh khắc ý niệm vô thường lại thêm vào trong khoảnh khác vô thường kế tiếp, sự đấu tranh tàn hại do tham đắm, chấp thủ và ô nhiễm gây ra, lại cộng thêm vào những ý niệm đồng tình với những đấu tranh, phẫn hận và những tư duy tàn hại khác… Chính vì vậy, đã tạo nên dòng biến động cường độ cho đau khổ và luân chuyển trong biển sanh tử.

Từ nhận thức trên, Đức Phật đã mở ra một sinh lộ để đến thế giới an bình, đó là một hành động có ý thức giác ngộ ngang qua hiện tượng các pháp rằng :

“Nầy các tỳ kheo, thế nào là Thánh cầu ? Ở đây, có người tự mình bị sanh, già, bệnh, chết, sầu bi, ô nhiễm. Sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh, già, bệnh, chết… Tìm cầu cái vô sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn. Nầy các tỳ kheo, như vậy gọi là Thánh cầu.”

Đức Phật hay Đạo Phật mặc nhiên đã đóng góp sự lành mạnh hóa vào trong mọi tầng lớp xã hội loài người và muôn loài một cách đích thực hơn bao giờ hết, cho dù từ ngàn xưa hay cả đến ngàn sau. Nếu như sự “bị sanh…đến ô nhiễm” tác hại do các chất độc khí tạo ra từ không gian hay từ dòng nước, thì môi trường sống sẽ bị dẫn đến tàn hại, nhiệt não, bệnh tật cho cả một vùng sinh thái.

Nhưng ở đây, sự biến động tàn hại nói trên, nó chỉ là hệ quả của ngọn ngành. Điều mà chúng ta muốn nói đến là phải thấy từ nguồn, từ buổi ban đầu, đó là sự nhiễm hại tàn phá manh nha do những ý niệm tà kiến, những kiến chấp do dục tham cuồng nhiệt, những ác tư duy khát vọng mơ hồ, những tư kiến ích kỷ thấp kém đã bị chìm sâu vào lạc thú thường tình… Thì đây, sẽ tạo thành một vòng xoáy, một trục quay có sức công phá cực kỳ nguy hiểm cho thế giới loài người. Đã có biết bao sự bất ổn, mất thăng bằng từ môi trường cho đến tâm sinh lý, cảm tính, nhân tính, đạo đức từ phía con người.

Tất cả đều do đắm đuối mê lầm mãi miết của sự đi tìm cầu cái “bị sanh… bị ô nhiễm”. Trái lại, tự trong mỗi con người chúng ta ý thức được giá trị sự sống hay cuộc sống một cách đúng đắn cũng như về mọi sự vật hiện tượng (nội giới và ngoại giới), thấy rằng; bản chất của nó không ngừng biến động, luôn chuyển động từ một trạng thái nầy đến một trạng thái khác. Thời như vậy, sẽ dẫn đến ý niệm vô tranh, không nhiệt não, định tĩnh, tâm hiền thiện tươi mát. Chính đây là sự mạch nguồn cho đạo lộ an ổn khỏi các khổ ách.

Có ba giai đoạn của Tâm:

-. Sanh Tâm: giai đoạn nầy là thời điểm giao tiếp giữa Căn và Trần.

-. Trụ Tâm  : Giai đoạn nầy là hệ quả qua quá trình giao tiếp để xuất hiện một dòng lực tham ái, chấp thủ, hữu.

-. Diệt Tâm : Đến giai đoạn nầy, nói lên công năng vận dụng ý thức trong quá trình  có tư duy tu tập để được hữu phần đoạn diệt, sanh nhàm chán, ly tham.

Trải qua ba giai đoạn trên, chúng ta thấy cái nhìn đặc biệt của bậc đạo sư về thiền tư, thiền quán, giúp cho chúng ta có dịp nhìn lại sự dong ruổi của tâm theo dòng luân chuyển bất định trong cõi tử sanh. Trong một bài kinh khác, Đức Phật đề cập đến một trạng thái trói buộc do dục hỷ sinh ra, và cũng chính đoạn trừ mọi dục hỷ mà một hành giả mới được thong dong tịnh lạc, Phật dạy :

                              “Chính HỶ trói buộc đời
                               Tầm cầu dẫn hành đời
                                Do đoạn trừ KHÁT ÁI
                                Mới được gọi NIẾT BÀN”
                                                                         (Kinh Tương Ưng I. 39).

Điều mà chúng ta thấy ở giáo lý duyên khởi (12 nhân duyên), đó là lý do vì sao Đức Phật giải thích về con người lại phải có mặt trong cuộc đời nầy. Và vì sao Đức Phật lại do dự không muốn trình bày “Pháp” mà Ngài đã trải nghiệm và sau khi thực chứng vô thượng bồ đề, Phật dạy:

“Đối với quần chúng ưa ái dục, khoái lạc ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý (y tánh duyên khởi pháp), thật khó mà thấy được tất cả hành là tịch tịnh, tất cả sanh y đều được từ bỏ, ái được đoạn tận, ly dục, ái diệt, Niết bàn”.

Theo lý duyên khởi, tương quan tương duyên với nhau mà các pháp khởi lên, chuyển biến và đoạn diệt. Do đó, thiền tư thiền quán lại đóng một vai trò quan trọng trong việc tu tập để chuyển hóa. Nếu như không nhận thức được rằng: “Tự mình bị sanh… lại đi tìm cầu cái bị sanh…” chính ở đây, vị ấy không thấy lý duyên khởi của vạn hữu. Và trái lại là đoạn trừ mọi kiết sử, thấy được định lý y tánh duyên khởi pháp, thực tập, dẫn đến một trạng thái tịch tịnh Niết bàn. Do sự chứng ngộ và thành tựu trên, bậc đạo sư đã nói lên lời kệ:

                                “Hết thảy pháp không nhiễm
                                  Hết thảy pháp xã ly
                                  Ta sống chân giải thoát
                                  Đoạn tận mọi khát ái…”

Đến đây, Đức Phật cho biết thêm về sự cột trói đối với vị đang tu tập, chính là năm dục tăng trưởng (sắc, thinh, hương vị, xúc) khi được khởi lên “ khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục hấp dẫn… không thấy sự nguy hại của chúng, không rõ sự xuất ly khỏi chúng mà thọ dụng chúng… Các người đã rơi vào bất hạnh, đã rơi vào tai họa. Thời như vậy, vị ấy đã bị ác ma xử như ý muốn, không vượt khỏi tầm mắt của ác ma”. Một điều nữa, mà chúng ta cần phải thấy ở lời dạy qua bài kinh nầy là:

-. Nếu như vị có tu tập, không sanh tâm tham đắm, không bị sự cấu nhiễm là vấn đề cần thiết, không để lại những vết tích trên con đường giải thoát, như cánh chim bay vào hư không, đó là kết quả của người tu theo Phật.

Cho nên năm chi thiền Sắc giới (Tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm) và Tứ thiền Vô Sắc giới, trú và Diệt Thọ Tưởng, thấy với trí tuệ, các lậu hoặc không còn. Chính ở đây là cứ địa, là nơi trú ẩn an ổn, bấy giờ hành giả thật sự vượt khỏi tầm mắt của ác ma, vượt thoát khỏi những ý lực của ác ma, vị ấy đã làm cho ác ma mù mắt.

Với những ý nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu nôm na rằng: Do nhiếp tâm chánh niệm tĩnh giác, rõ biết được Khổ và nguyên nhân của Khổ. Đồng thời, tìm cầu đạo lộ an ổn vô thượng, vượt thoát khỏi các triền ách, chấm dứt mọi khổ pháp, thành tựu vô thượng thiện pháp, giải thoát ( Diệt và Đạo).

Với kinh nghiệm bản thân của Đức Phật, từ khi còn là một đạo sĩ lang thang tầm đạo khắp núi rừng hang đọng,  đến khi chứng đạt vô thượng bồ đề là một quá trình tu tập thể nghiệm chơn lý. Sau đó, Đức Phật đã thật sự công bố chánh pháp vào đời :

                                      “Giống lên trống bất tử
                                       Trong thế giới mù lòa…”

Ta thấy, Đức Phật không dấu lại những gì trong bàn tay của một người thầy, Ngài chỉ dạy sự tu tập như chính Ngài đã trải nghiệm.

Hôm nay, với một nghĩa cử mà tất cả chúng ta cùng nghĩ về ngày Đức Phật Đản sinh. Và qua lời dạy của Ngài, trong tinh thần giác ngộ tu tập và giải thoát, với sự hướng tâm chánh niệm ấy, Đức Phật luôn đản sinh trong cuộc đời, và Đức Phật hằng đản sinh từng ý niệm tĩnh thức trong mỗi chúng ta ngay giây phút hiện tại.
                                                                      
                                                      MẶC PHƯƠNG TỬ.



READ MORE - HƯỚNG VỀ PHẬT ĐẢN QUA KINH THÁNH CẦU - Mặc Phương Tử

HOA KINH - Thơ Mặc Phương Tử



HOA KINH


Bóng đời đổ xuống miền hoa cỏ
Ta vẫn ca bài ca nhất phương
Vẫn chiếc áo lì năm tháng cũ,
Vẫn đề thơ hát khúc vô thường.

Bốn phương mây vẫn còn lưu lạc
Và vạn bờ xa tiếng sóng xa
Màu sắc thời gian trôi mãi miết,
Mà đường vô tận biết đâu nhà!

Khúc độc hành vọng mãi tiếng thơ
Bao giờ, ta chả biết bao giờ!
Từ trời Hy Mã mênh mông nắng,
Đến suối Tào Khê mây rũ tơ.

Một sớm ngủ bên bờ cỏ lục
Giựt mình, nghe tiếng giọt sương tan.
Tình hư không gọi hồn mây trắng,
Rộn tiếng chim ca, lộng gió ngàn.

Rồi một mùa sang, hoa phượng nở
Đỏ như màu lửa sáng bên trời.
Vàng con bướm liệng xôn xao nắng,
Sen toả đầm thơm mùa Hạ tươi.

Nhưng lòng hoa Phượng, hoa Sen ấy
Vẫn bốn mùa thơm với sắc màu.
Vẫn nở trong lời KINH NGỌC tụng,
Vẫn ngời trong mỗi giọt trăng sao.

                              MẶC PHƯƠNG TỬ
READ MORE - HOA KINH - Thơ Mặc Phương Tử

CHỊ ƠI! - Nhạc: Mai Hoài Thu - Thơ: Quế Anh - Ca sĩ Đông Nguyễn

READ MORE - CHỊ ƠI! - Nhạc: Mai Hoài Thu - Thơ: Quế Anh - Ca sĩ Đông Nguyễn