Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, February 18, 2019

VÀI KHÁI NIỆM VỀ VIỆC DÙNG CHỮ TRONG THƠ - Nguyên Lạc



                              Tác giả Nguyên Lạc



       VÀI KHÁI NIỆM VỀ VIỆC DÙNG CHỮ 
                                                     TRONG THƠ
                                                        Nguyên Lạc
Lời nói đầu:
Trong bài viết CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ “NGHIÊNG” CỦA LA THỤY (http://vannghequangtri.blogspot.com/2019/02/cam-nhan-ve-bai-tho-nghieng-cua-la-thuy.html ) được nhiều độc giả đồng cảm, tôi đã bị nhà bình thơ Châu Thach- Tran Trương Văn và fans tấn công bằng "ngôn ngữ văn hóa đường phố", tôi bắt buộc phải trả lời ông, nếu không thì "thất kinh". Đây là vài lời của "văn hóa chửi, văn hóa đường phố" của ông:"Với lại những người dốt nát mà háu danh thì tự kiêu tự đại, diễn đàn có góp ý đúng cũng cho sai". (Trạn Trương Văn - Châu Thạch)
Để trả lời những "chủ quan" về phê bình của ông Châu Thạch, cũng như nói rõ tiêu chí của riêng tôi về thơ, giải thích thêm rõ về cảm nhận bài thơ "Nghiêng" của La Thụy tôi -  "người dốt nát" như ông CT đã chửi - post bài này lên các web trong và ngoài nước. Bài này đã được in trong tạp chí văn học nghệ thuật VĂN HỌC MỚI xuất bán tại California tháng nầy 2/2019. Đây là web side của VĂN HỌC MỚI ( https://vanhocmoi.com/)
Trân trọng - Nguyên Lạc
***
Dẫn nhập
Bài này được viết ra với tấm lòng yêu thương tiếng Việt, yêu thương văn thơ Việt. Tác giả muốn dâng tấm tình này đến các người trẻ đồng cảm thương yêu thơ văn nước nhà. Ngôn ngữ Việt nhiều nghĩa và tuyệt vời lắm, tiếng nước ngoài (ngoại ngữ) không bì được. Có một số người vì ngộ nhận, vì "sính ngoại", muốn chứng tỏ ta đây, khoe mẽ... nên đã rẻ rúng nó. Tôi sẽ thử bàn về cách dùng từ Việt trong thơ hầu giúp các người trẻ suy nghĩ lại, kẻo bị chao đảo bởi những nhận xét sai lầm, đánh giá thấp chữ nghĩa quê nhà.
Bài này trinh bày sơ lược những trãi nghiệm tác giả kinh qua trong quá trình học hỏi các bậc đàn anh với tấm lòng cầu tiến, bỏ qua câu "văn minh, vợ người". Các bạn trẻ hãy luôn luôn học hỏi và trau dồi , đừng tự thỏa mãn nếu muốn tiến xa. Hy vọng các bạn tìm được trong nầy vài điều hữu ích.
Cũng xin cẩn báo rõ: Đây chỉ là ý kiến chủ quan, chắc còn nhiều sai sót,  có gì xin các bậc tiền bối có tiếng tăm bỏ qua cho.- Nguyên Lạc

CÁC KHÁI NIỆM

Vài khái niệm cần thiết:
1. Theo Nguyễn Anh Khiêm (Ký Ức Sơ Sài) thì tiến trình ngôn ngữ như sau: Đủ chữ/ đủ ý: Thoại  –> đủ chữ/ nhiều ý: Văn  –> ít chữ/ nhiều ý: Thơ.
Do vậy trong thơ càng ít chữ mà càng nhiều nghĩa (NÉN) thì thơ càng hay; không cần phải ầu ơ ví dầu ,”hoa lá cành” cho dài ra, làm bài thơ loãng, dễ chán.

2.  Theo tôi:  Trong văn chương, dùng chữ bình thường, bình dị mà đủ nghĩa tốt hơn dùng chữ hoa mỹ mà vô nghĩa, sáo rỗng. Tuyệt nhất là dùng chữ bình thường mà tạo được nghĩa bất thường.
Đây là ý kiến của nhà văn Nguyễn Thị Thảo An
[...Dùng những từ đời thường đôi khi nghe ngô nghê, tưởng chừng như không thể là ngôn ngữ thơ, nó là ngôn ngữ trẻ con, của vỉa hè,... nhưng nếu biết đặt đúng vị trí nó sẽ trở thành những "viên ngọc" sáng lóng lánh, làm nổi bật ý nghĩa của câu thơ.
Ví dụ: "Đem thân làm gã tù lưu xứ/ Xí xóa đời ta với đất trời".  Chữ "xí xóa" là chữ của trẻ con, thế mà đặt ở câu thơ này thật tuyệt] (Nguyễn Thị Thảo An)

3. Trong văn, văn phạm phải rõ ràng và chữ thường có một nghĩa chính xác. Ngược lại trong thơ, sự chính xác văn pham đôi khi không cần thiết lắm; chữ càng nhiều nghĩa càng tốt, để người đọc suy đoán theo trãi nghiệm riêng mình. Thơ phải mở ra để độc giả dự phần vào - thơ mở - thì mới hay. Xin xem thêm về điều này ở bài: "Show Do Not Tell" của tôi đã đăng trên các trang Web (1)

4.  "Thơ khác hơn văn xuôi ở chỗ đặt cơ sở trên cảm giác về âm vận, tiết điệu. Cũng thời bao nhiêu chữ, bao nhiêu câu đó, phải lựa chỗ, lựa nơi, thêm chữ nầy, bớt chữ kia, cố sắp xếp làm sao tạo được cái cảm giác bồi hồi cho người đọc. Mỗi chữ, mỗi lời phải xôn xao, nhảy múa, linh động… Từ cái tính chất xao xuyến, chơi vơi đó, nhà thơ dẫn dắt độc giả vào cõi mông lung của cảm giác, chuyện khó như nhảy xuống nước mò trăng" (Võ Kỳ Điền – Vài nét lạ trong thơ Lưu Nguyễn)

5.
-- Một bài thơ hay phải hội đủ ba yêu tố: Vần, nhạc và họa . Thơ hay là phải có vần điệu, nhạc diệu và hình ảnh (họa). Nhờ những điều này, thơ mới dễ đi vào hồn người; thiếu một trong ba thì không thể là thơ hay được
Đọc, cảm nhận thơ như "làm tình", gặp được giai nhân (thơ hay) sẽ đạt tới thống khoái. Thơ không có vần, nhạc và họa cũng giống như "bộ xương", thịt da đã mất hết, ai có thể ôm ấp, làm tình với bộ xương?
-- Một con đường thẳng có 2 ngả :trước, sau. Tùy theo "hệ quy chiếu" của riêng mỗi người mà đi, cho nên cái gọi là tiến bộ hay lạc hậu chỉ là cách gọi. Hệ quy chiếu của "con ếch" ngồi đáy giếng khác với hệ quy chiếu của con chim trong bầu trời xanh rộng. Bạn có quyền đi theo con đường cửa bạn, chỉ có điều quan trọng là con đường đó dẫn tới đâu và phía trước có HỐ THẲM hay không? kẻo rồi tiêu đời . Ở đời người ít hiểu biết thường tìm lý lẽ để biện minh. Không rành hoặc không làm được về vần luật thường viện cớ này cớ nọ!

6. Theo tôi, một bài thơ hay khi ta cảm thấy hình như thơ ấy viết riêng cho mình, thấy có cuộc đời riêng của mình trong đó. Thơ mở rộng cánh cửa để ta đặt cuộc đời riêng mình vào. Nó bây giờ không phải của riêng tác giả nữa, mà là của chung, hoặc nói theo cách khác, của riêng người đọc, người đồng cảm. Cùng cái HỒN THƠ đồng cảm này, người đọc có quyền nghĩ theo, dịch theo - nếu thơ tiền nhân - kinh nghiệm đặc thù riêng mình, có quyền diễn đạt theo ngôn ngữ, chữ nghĩa hiện đại riêng mình
Xin ghi ra những điều tôi tâm đắc về thơ từ Nguyễn Hưng Quốc:

"Thơ mở ra, gợi ra man mác những nỗi niềm tâm sự chung. Thơ là một cảm xúc đi tìm một đồng cảm. Thơ là tiếng nói một người nhân danh tất cả mọi người trong hoàn cảnh ấy, số phận ấy. Nhà thơ chỉ độc quyền được cho mình một cánh cửa. Sau cánh cửa kia là của mọi người.
Trên núi Kính Đình ngày xưa chỉ một mình Lý Bạch ngồi buồn hiu hắt ngắm mây bay chim bay nhưng còn nỗi cô đơn của ông, nỗi cô đơn ấy là của chung của nhân loại. Cả ngàn năm nay, mỗi khi con người lẻ loi trước thiên nhiên thì chợt nhớ lại, đọc lại "Chúng điểu cao phi tận / Cô vân độc khứ nhàn / Tương khan lưỡng bất yếm / Duy hữu Kính Đình san". Ngỡ như nỗi cô đơn và niềm bâng khuâng ấy là của riêng mình. [Nguyễn Hưng Quốc]

7. Là thơ Việt, người thơ, kể cả người bình thơ phải thủ đắc một số thơ của tiền nhân, căn bản triết lý Đông Phuơng để dùng nó khám phá những hàm ẩn, “ý tại ngôn ngoại” của bài thơ. Người thơ cũng nên học hỏi thêm để biết vài thủ pháp về thơ, biết sơ lược về cách phân tách ngôn ngữ cần thiết cho thơ, cho sự bình thơ [Nguyên Lạc: MỘT CÁCH BÌNH THƠ] (2)

8. Không có sự may rủi trong thơ hay như một thi sĩ  "có tiếng" đã nói:  -  "Đây là trường hợp sự biểu hiện của tác phẩm lớn hơn ý đồ tác giả. Người đọc phân tích cái hay cái đặc dị mà tác giả không hề nghĩ tới"[ thi sĩ Nguyễn Hàn Chung]
Theo tôi thì ngược lại: Người làm thơ hay cũng giống như "người đánh cờ giỏi",  "nhà quân sự tài" phải đoán trước các thế trận sẽ xảy ra:
-- Một người đánh cờ giỏi là người phải đoán trước những nước cờ mà mình phải gặp khi đặt con cờ xuống. Biết mình tại sao thắng, chứ không phải hên xui. Nếu không tiên đoán được thì là người đánh cờ dở.
-- Nhà chiến lược, quân sự tài giỏi cũng giống vậy, phải tiên đoán trước tiến quân của ta / địch, dự đoán trước các nước để giành chiến thắng, chứ không có chiến thắng nhờ may rũi. Như truyền thuyết nhà chiến lược Khổng Minh. Nếu nhờ mày rủi mà thắng thì tướng đó không phải là người tài
Câu nói: "Biểu hiện tác phẩm lớn hơn ý đồ tác giả, tác giả không biết" thì rõ ràng có "sự may rủi hên xui" rồi. Như vậy thì tác giả tài gì?

9. Xin lại được ghi ra đây những câu bàn về thơ hay mà tôi tâm đắc của ông Lê Hữu:
[... Ngôn ngữ thơ là chữ nghĩa, hình ảnh, ý tưởng … chỉ có ở trong thơ hơn là trong đời thực. Có điều, khi đọc, nghe, ta cảm thấy như là có thực, có ý nghĩa và chấp nhận được; hơn thế nữa, lại còn rung cảm vì thứ ngôn ngữ ấy. Bất kỳ cách diễn đạt nào làm cho người ta đọc ra thơ, nghe ra thơ, hiểu ra thơ muốn “nói” điều gì, đều là ngôn ngữ thơ.
Chữ nghĩa cần có sự phát minh, sáng tạo hơn là lặp lại rập khuôn người đi trước. Những vô thường, vô vi, phù vân, phù ảo, hư ảo, hư không, tà huy, miên trường… mà người làm thơ cố đưa vào bằng được trong thơ mình thường có một vẻ gì khập khiễng, gượng gạo như một kiểu tạo dáng kém tự nhiên, đôi lúc khiến câu thơ tối tăm, khó hiểu.
Thường, thơ khó hiểu thì khó hay; thơ tạo dáng thì khó tạo được cảm xúc.
-- Ý tưởng
Câu thơ đẹp thường có mang theo ý thơ đẹp. Ý tưởng mờ nhạt, có mới mà không hay, hoặc có hay mà không mới, thường kém sức hấp dẫn. Ý tưởng cần sáng tạo hơn là vay mượn.
Biệt ly dù ở ga nào,
cho tôi ngồi một toa tàu lãng quên     (Hôm nay, Nguyễn Tất Nhiên)
-- Hình ảnh
Hình ảnh tô đậm thêm những tình ý trong thơ. Ý tưởng đẹp, minh họa bằng hình ảnh đẹp, thường đọng lại về lâu về dài trong tâm tưởng người yêu thơ.
Người lên ngựa, kẻ chia bào  
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san     (Truyện Kiều, Nguyễn Du)
-- Âm điệu:Thơ, nhạc và tranh
-Thơ, nhạc và tranh nhiều lúc vượt ra ngoài biên giới của ngôn ngữ. Cái làm cho thơ “không biên giới” là ý tưởng và hình ảnh (đôi lúc chữ nghĩa) hơn là âm điệu - vần điệu, nhịp điệu hay nhạc điệu. Đọc một bài thơ hay của nước ngoài ta thấy nhiều phần cái hay là hay về ý tưởng hoặc hình ảnh...]
[Lê Hữu: Thơ lục bát còn, tiếng Việt còn] [3]

10. Theo tôi: "Cảm nhận đưa tới cảm xúc -tức cảnh sinh tình- rồi cuối cùng đưa tới thơ", do đó điều quan trọng nhất ở thơ là cảm xúc - "cảm xúc thật" của lòng. Những bài thơ sắp xếp chữ do lý trí do kinh nghiệm có thể hay, nhưng chắc chắn sẽ không có HỒN, nghĩa là sẽ không tồn tại lâu trong tâm tưởng con người

 VỀ VIỆC PHÂN TÍCH VÀ DÙNG CHỮ*

Để minh họa những điều nói trên, chúng ta hãy xét sự dùng vài chữ trong các câu thơ sau đây

Cố hương mất dấu, đoài phương ấy
Vẫn mãi trong tôi bóng nguyệt đầy!
(Nguyên Lạc tự chế để minh họa)

Tôi ở nơi này thương nhớ lắm
Xứ đoài bóng nguyệt vẫn rạng, hay?
(Nguyên Lạc tự chế để minh họa)

Trong các câu thơ này, tôi sẽ lần lượt phân tích 5 chữ: đoài, nguyệt , bóng,  đầy và chữ "hay"mà tác giả dùng với chủ ý.
-- Nhận xét đầu tiên: Trong các câu thơ trên, có "đoài" mà có cả vầng trăng (nguyệt) chứng nhân. Đoài là hướng tây (giải thích sau).Tây là từ địa dư giữa bai bờ Đai Dương. Tây còn là phương thương nhớ, vùng ký ức... và còn là cõi về của Nguòi - "về cõi Tây phương" khi chết.
Giờ tôi giải thích trọn nghĩa cách xử dụng các chữ trên:
-- Chữ "đoài " : Trong "Hậu thiên bát quái" của Kinh Dịch, quẻ Đoài nằm vị trí hướng tây (Chấn hướng đông), các nhà Nho -  trí thức xưa ai cũng phải nằm lòng để đi thi, nên trong văn chương, nhắc tới đoài là người ta muốn nói tới hướng tây. Hướng tây là hương mặt trời lặn, tượng trưng cho buồn bã, thương nhớ, nhớ về...cũng là hướng của nước Việt Nam nếu nhìn từ Mỹ. Do đó trong câu thơ nó cũng có thể được nghĩ là phương thương nhớ, vùng ký ức, là cõi về đối với người sống ở Mỹ như  đã nhận xét trên
Đoài cũng có nghĩa đoài đoạn - "thương nhớ đoài đoạn".
Đoài ở đây có nhiều nghĩa như vậy với điều kiện:  Viết thường - danh từ chung, chứ không viết hoa -  danh từ riêng như trong bài "Đôi Mắt Người Sơn Tây" của Quang Dũng.
Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
(Đôi mắt người Sơn Tây - Quang Dũng)
(Chữ Đoài, viết hoa danh từ riêng- ở đây chỉ nhớ người (tên Đoài) hay nhớ quê (tên Đoài) thôi)
Tôi sẽ giải thích rõ điều này sau, ở phần "Viết Hoa Hay Viết Thường"
-- Chữ "nguyệt": Chữ nguyệt - viết thường, danh từ chung - tượng trưng cho trăng, chứng nhân hoặc khuông mặt, người con gái, và xa hơn nữa là khoảng trời xưa cũ, niềm nhưng nhớ.v.v...và xứ sở, quê hương. Chữ Nguyệt - viết hoa, danh từ riêng - it nghĩa hơn, chỉ là tên người con gái (Nguyệt), hoặc tượng trưng cho bóng dáng thân yêu.Có một số người ngộ nhận viết hoa thì Nguyệt mạnh nghĩa hơn, "ấn tượng" hơn; cái gì cũng muốn viết hoa vô tình làm giảm nghĩa. Như đã nói, sẽ giải thích rõ ở phần dưới
-- Chữ "bóng": Ở vị trí này trong câu thơ trên, đồng nghĩa với nó là chữ "ánh" hoặc chữ "dáng". Tại sao tác giả chỉ chọn chữ "bóng"?
Lý do:
. Chữ "ánh" có thể là rực rỡ, vui tươi... Các câu thơ này là câu "thơ buồn", nên chọn nó thì không hợp
. Chữ "dáng": Nếu dùng chữ này - dáng nguyệt - thường được hiểu chỉ là người con gái, ít nghĩa không đúng với điều tác giả muốn nói. Lại nữa dáng là "trung tính"buồn vui không rõ, cảm xúc không hàm ẩn.
. Chữ "bóng": Đây là chữ mà tác giả nhắm vào, lựa chọn để gởi gắm tâm sự, vì nó chứa nhiều nghĩa và đầy cảm xúc. Bóng nguyệt - nguyệt viết thường - là bóng dáng người con gái, bóng dáng kỷ niệm, bóng dáng quê hương như đã giải thích trên về chữ nguyệt. Bóng thường mờ ảo, buồn. Lại nữa nó liên hệ đến "bong bóng nước", dễ vỡ nếu không cẩn trong, nâng niu. Chữ đầy cảm xúc đúng theo tác giả mong muốn
-- Chữ "đầy": Ở vị trí này của câu thơ cũng có một chữ tương nghĩa là "gầy"  - nguyệt gầy - tại sao tác giả không chọn?
Giải thích:
. chữ "gầy":  "Nguyệt gầy" chỉ tượng trưng cho người con gái. Chữ "gầy" làm ít nghĩa câu thơ
. chữ "đầy": Hợp với chữ nguyệt và tạo nhiều nghĩa hơn:  "Nguyệt đầy"nghĩa người con gái, niềm thương nhớ, chứng nhân, xứ sở, quê hương...vẫn tròn đầy, rực sáng trong tâm
Đó là lí do tác giả chọn chữ "đầy".

LIÊN HỆ THÊM VỀ NHẠC ĐIỆU, THƠ MỞ...

 Sẵn đây tôi liên hệ thêm về nhạc điệu, thơ mở
--  Về nhạc điệu
thử xét các câu:
Ai rồi. như áng mây trôi
Trong tôi vẫn mãi. một thời đã xa! 
(Nguyên Lạc tự chế để minh họa)
Chú ý chữ "mây trôi". Gần giống với nó là chủ "mây trời"
- "mây trôi" tượng trưng cho người con gái, cuộc đời ... bị đưa đẩy trôi đi, nhưng nó vẫn còn tồn tại.
- "mây trời" nhiều nghĩa hơn: - Nó bao gồm cả mây trôi đi, nhưng cũng có thể mây tan, không còn hiện hữu nữa... Lại nữa, "mây trời" lại có nhiều màu, tùy theo tâm trạng người đọc, do đó ẩn tàng nhiều nghĩa hơn.
- Giữa hai cụm từ nầy còn có nhạc điệu: Ta chú ý thấy "mây trời"2 chữ khác thanh nên nhạc trầm bổng hơn "mây trôi" cùng thanh. Phải liên hệ đến những chữ đứng trước và sau nó , để chọn chọn chữ nào cho nhạc điệu trầm bổng.
Và cũng nên nhớ cái nghĩa của chữ so với ý, tứ bài thơ.
Ở bài này tôi chọn "mây trôi", ít nghĩa hơn, nhưng vì bóng hình người con gái chỉ xa khuất, vẫn tồn tại; trong khi "mây trời" nhiều nghĩa hơn nhưng không hợp, kể cả nhạc điệu khi liên hệ với những chữ trước sau nó
-- Về thơ mở:
Chữ "hay?" trong câu thơ trên tác giả để mở, mời độc giả dự phần đoán: Vẫn rạng hay hết rạng

VIẾT HOA HAY VIẾT THƯỜNG?
1.
Để minh họa về phần này, tôi xin được ghi ra đây trích đoạn từ bài viết "VIẾT HOA HAY VIẾT THƯỜNG" đã đăng trên Web

[...Hãy xét bài ca dao 
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
(Công Cha Nghĩa Mẹ)
Theo tôi, hai chữ "thái sơn" phải viết thường. Thái Sơn (viết hoa) là sai.
Các bạn chắc sẽ hỏi tại sao?
Giải thích:
Vì nếu hai chữ thái sơn viết hoa, chúng ta sẽ đem hữu hạn thế cho vô hạn! Này nhé:
- "thái sơn" (viết thường, danh từ chung) là núi rất lớn, vô hạn (thái= rất bự, rất lớn; sơn = núi). Còn "THÁI SƠN" (viết hoa, danh từ riêng) là một ngọn núi bên Tàu, chỉ cao khoảng  1450 m (đo được, hữu hạn). Vậy nếu viết hoa: THÁI SƠN thì không phải là hữu hạn thay cho vô hạn sao?
- Nghĩa mẹ = "nguồn nước chảy ra vô tận, không dứt", đối với "THÁI SƠN" (viết hoa: danh từ riêng ) đo được chỉ vài trăm hoặc ngàn mét. So sánh ra thì công cha như số không !  Sao BỘI BẠC VỚI CHA quá thế!
- Còn nếu viết "thái sơn" (viết thường: danh từ chung) =  lớn, bự vô hạn", công cha sẽ gần như bằng công mẹ.
Do điều này, ta phải dùng thái sơn danh từ chung (viết thường) . Hai câu đó tôi nghĩ như vầy
Công cha như núi, ...... thái sơn (to vô cùng)
Nghĩa mẹ như nước,.... trong nguồn chảy ra (luôn không dừng).
- Xin nói thêm: thái sơn, sơn hà (viết thường, danh từ chung) tượng trưng đất nước, tổ quốc; nếu chúng viết hoa (trở thành danh từ riêng) thì sẽ không còn nghĩa này nữa, mà thành tên ngọn núi Tàu, tên riêng vùng nào đó ...] (VIẾT HOA HAY VIẾT THƯỜNG - Nguyen Lac)

2.
Thử áp dụng những điều bàn trên vào các câu thơ sau đây của nhà thơ Nguyễn X. xem sao?
Câu thơ Nguyễn X (tên hư cấu) viết như vầy:
Trưa chín HÈ, PHƯỢNG đỏ thật thương
Tiếng ve nấc nỗi niềm vương rất lạ
(Ví dụ minh họa)
Nhà thơ Nguyễn X cố tình viết chữ HÈ và PHƯỢNG hoa, chắc anh cho là nó "ấn tượng" hơn!
Theo tôi, chữ "phượng" viết thường hay hơn và nhiều nghĩa hơn. Lý do?
Giải thích:
- PHƯỢNG viết hoa  là danh từ riêng chỉ chính xác một nghĩa: người con gái - tên người con gái. Viết hoa chữ PHƯỢNG, sẽ làm nó trở thành "nội gián" phá hỏng ý bài thơ. Rõ ràng là bài thơ nói về mùa hè buồn hoa phượng nở đỏ. Nếu viết hoa PHƯỢNG thành ra cô gái PHƯỢNG  "đỏ mặt" - hoa phượng mất dấu ở đây - thì cón thể thống gì nữa mà liên hệ đến ve sầu câu dưới? Chữ phượng viết thường, danh từ chung bao gồm cả hoa phượng, mùa phượng, mùa bãi trường và người con gái...
Tuong tợ như vậy về chữ HÈ - viết hoa - cũng khiến người ta nghĩ đến một anh chàng tên HÈ nào đó
Rất mong nhà thơ Nguyễn X, nói rộng ra các nhà thơ trẻ chú ý đến điều này.  Hãy mở lòng lắng nghe tha nhân góp ý, ai tự thỏa mãn sẽ bị dừng lại, hay đúng ra sẽ lùi so với sự tiến bộ của người khác

LỜI KẾT

Qua trên là những gì tôi muốn chia sẻ với các bạn trẻ. Chữ Việt chúng ta tuyệt vời lắm, đừng "ngộ nhận" nó kém so với chữ nước ngoài
Nên nhớ rằng: Trong các "nghề chơi", chơi văn chương chữ nghĩa là cao sang nhất, nhờ nó ta mới phân biệt được người thấp người cao, ai sang ai hèn, chứ không phải ở giàu nghèo.

Nghề chơi cũng lắm công phu
Làng chơi ta phải biết cho đủ điều
(Kiều - Nguyễn Du)
Chơi cho lịch mới là chơi,
Chơi cho đài các, cho người biết tay.
(Cầm Kỳ Thi Tửu - Nguyễn Công Trứ)
Đọc một bài văn, bài thơ mà giống như ăn "mì ăn liền", chỉ ăn cho no; không cần biết hương vị thơm tho của bát mì, công phu nghệ thuật của người nấu ra nó thì chỉ là "phàm phu tục tử".
Nguyên Lạc
---------------
[*] Tôi đồng ý với Trần C. Trí không dùng chữ “từ”, vì nó chính là cội rễ của tất cả những “từ” độc hại khác. Xin xem:
từ và chữ - Trần C. Trí
Ghi chú:
[1] Nguyên Lạc: BÀN VỀ THỦ PHÁP SHOW, DO NOT TELL
[2] Nguyên Lạc: MỘT CÁCH BÌNH THƠ
[3] Lê Hữu: Thơ lục bát còn, tiếng Việt còn

READ MORE - VÀI KHÁI NIỆM VỀ VIỆC DÙNG CHỮ TRONG THƠ - Nguyên Lạc

LỤC BÁT XUÂN - Thơ Nhật Quang





LỤC BÁT XUÂN

Tuổi già ngồi bấm đốt tay
Thu qua, Đông tận, thở dài…hết năm
Bé thơ múa hát, tung tăng
Khoe màu áo mới, lăng xăng vui cười

Dáng xuân tha thướt yêu đời
Cô em má thắm, mắt ngời đong đưa
Bên rèm e ấp…song thưa
Nhởn nhơ ong, bướm thêu thùa lời yêu

Xuân sang tóc mẹ nhuốm chiều
Vẫn dầm mưa nắng, liêu xiêu thân cò
Cha còn trĩu gánh âu lo
Mong con chắp cánh ước mơ…đẹp màu

Nghe thời gian vút bóng câu
Vần xoay vũ trụ phối vào huyền mơ
Đất trời dệt thắm duyên thơ
Cỏ hoa hong sắc, ươm tơ mượt mềm

Đông tàn đọng giọt chuông êm
Níu hồn hoang chốn cửa thiền nhân sinh
Trần gian niệm khúc tâm kinh
Ta nghiêng tâm lắng, gieo tình tụng Xuân.

                                              Nhật Quang
                                              (TP. HCM)

Tác giả: Nguyễn nhật Quang
ĐC: 69/16 KP 6, Đường TCH 36
P- Tân chánh Hiệp, Q12, TPHCM
Tel: 0975764469

READ MORE - LỤC BÁT XUÂN - Thơ Nhật Quang

Sunday, February 17, 2019

THƯƠNG TIẾC NHÀ THƠ TRƯƠNG ĐÌNH ĐĂNG


  
Chân dung nhà thơ Trương Đình Đăng



LỜI CHIA BUỒN CỦA THI HỮU

NGỌN ĐÈN
TRƯƠNG ĐÌNH ĐĂNG
ĐÃ TẮT!
Nhà thơ Đình Đăng sinh năm 1933, quê Giáo Liêm, Triệu Độ, Triệu Phong, Quảng Trị, thường trú ở 30 Nguyễn Văn Thoại, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng đã mất hôm qua mùng 2 Tết.

Là hội viên hội Nhà văn Đà Nẵng, thi lão Phương Ngữ (bút danh) đã có nhiều tác phẩm thơ đã in thành sách và đăng trên một số báo, tạp chí, đặc biệt bài Văn bia khắc đá ở Nghĩa trang đồng hương Quảng Tri tại Hoà Khương nổi tiếng lưu dấu muôn đời!

Ông có cuộc sống nhân hậu, yêu quê hương đất nước, gia đình, bạn bè chân thành.

Như ngọn đèn đã tắt nhưng ánh chiếu mãi sáng trong lòng bạn bè và những người thân, nay ở phương trời cách biệt, nguyện cầu vong linh bác ra đi thanh thản, tiêu diêu chốn vĩnh hằng!

Xin chia buồn cùng vợ chồng cô Thanhhuyen Truong và tang quyến!
Võ Văn Hoa


Loan Tran
6 tháng 2 lúc 15:45 · Đà Nẵng
Đây có lẽ là bài thơ cuối cùng của ba, 87 tuổi vẫn đau đáu nỗi niềm nước nhà ...
Bản viết tay trên tờ lịch để trên bàn đầu giường...
...........
Ngồi buồn ngẫm chuyện gần xa
Chữ mình sao khác chữ ta vậy kìa
Đi ra lại khác đi về
Con gà cũng khác con kê, nực cười
Năm tư dân tộc trên đời
Việt Nam là nước của người dân Nam
Đầu đen máu đỏ da vàng
Âu Cơ là mẹ, cha - chàng Lạc Long...
Bắc kia đỏ nước sông Hồng
Nam này xanh nước chín rồng về xuôi.
Ai chặt Bến Hải làm đôi
Máu sông ngầu nước, xương phơi trắng đồng!?
Cùng chung con cháu Lạc Hồng
Cũng từ trăm trứng cha Rồng mẹ Tiên
Mà sao thù hận triền miên
Phải chăng vì chính lợi quyền mà tham
Ai đem chục triệu dân Nam
Nướng thân trên lửa bạo tàn bất nhân
Kẻ thua bỏ xứ vong thân
Bao nhiêu người thắng vì dân hay vì...?
Mùa xuân "Đại Thắng" lại về
Nhớ sao ngày ấy tràn trề niềm vui
Đắng cay tưởng đã ngọt bùi
Nào đâu quên được ngậm ngùi xót xa
Phải chi ngày ấy thuận hoà
Chung tay xây dựng nước nhà phồn vinh
Có đâu dân tộc điêu linh
Có đâu thù hận dứt tình chung nôi
Có đâu tang tóc chia phôi
Có đâu thịt xáo da nồi hỡi ai!?
Bảy ba năm ấy chưa dài
Ngắm nhìn đất nước thấm bài học đau
Đôi dòng gửi lại mai sau
Ngàn năm còn hận giặc Tàu chưa nguôi
Nỗi buồn rút ruột gan tôi!...
TRƯƠNG ĐÌNH ĐĂNG


VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC VĨNH BIỆT ĐẠI LÃO THI SĨ PHƯƠNG NGỮ TRƯƠNG ĐÌNH ĐĂNG
LANG TRƯƠNG
Trời Đà Nẵng sáng nay buồn da diết, tắt sợi nắng vàng lạnh lẽo giọt sương sa; mây Ải mênh mang sao lặn trăng tà, sóng nước Hàn giang vỗ “ Chiều Loang Bến Vắng”.
Chiều hôm nay có dòng người lẳng lặng, đi bên nhau lần cuối trong đời. Những bước chân không gần nhau lại, lặng lẽ tiễn người về cõi thiên thu. Góc phố thân quen, con đường qua ngõ; giờ vắng bóng ai ngày hai buổi đi về. Ngôi nhà lớn bỗng thênh thang như chưa từng thế, chú cún nằm buồn rơi lệ nhớ chủ nhân ông.
Thi nhân đi tiếng lòng còn ở lại. Di cảo vẫn thơm dòng lưu bút sau cùng. Người đã mất nhưng tinh thần không mất, đau đáu tình đời một nỗi riêng chung.
Xin vĩnh biệt một người anh lớn, một tài hoa sinh từ đất Cổ Thành; xin vĩnh biệt một tấm lòng nhân hậu, chan chứa tình người, chan chứa yêu thương; xin vĩnh biệt một hồn thơ bất diệt, đã góp cho đời những áng thơ bay.

Vọng bái Hương Linh Thi Lão Trương Đình Đăng

                                      
  KÍNH TIỄN ĐƯA
Ơi hỡi ! thi nhân đã bỏ về
Tìm xưa mực đọng lệ Tình Quê *
Người đi lục bát vần đau đớn
Kẻ ở thơ đường giọt tái tê
Chẳng những cảo thơm soi bản quán
Mà còn Thiền ngữ rọi tào khê
Thi đàn vọng bái buồn thương tiếc
Hậu học tiễn đưa phụng kính đề

Lê Đăng Mành kính vọng bái

* TÌM XƯA Là bài thơ của Bác Trương Đình Đăng
In trong Tình Quê của Hội Đồng Hương Quảng Trị tại Đà Nẵng

KÍNH TIỄN HƯƠNG HỒN LÃO TRƯƠNG
Thương ôi! Trương Lão đã ra về
Chín chục xuân đời toả ngát quê
Hồi trống giã từ nghe thảm thiết
Tiếng kèn sinh ký dạ đau tê
Thơ ca dậy sóng nơi trường hải
Phú vịnh tung hoành ngọn tiểu khê
Hậu bối tao đàn rưng ngấn lệ
Hương tâm một nén bái dâng đề
Trần Ngộ
Kính bái hương hồn thi lão 


ĐƯA TIỄN
Ở lâu trần thế cũng tìm về
Ô trọc cõi đời chẳng phải quê
Một bước ra đi lòng quyến luyến
Trăm năm ở lại dạ sầu tê
Văn chương kim cổ từ triền núi
Thi phú đương thời tận suối khe
Hậu bối khóc đưa lòng mến tiếc
Vài câu  tiễn biệt kính dâng đề.

PHÓ QUÂN BÌNH kính bái


VĨNH BIỆT LÃO TRƯƠNG
Người theo bước tổ, bến tiên về
Để lại hương nồng đượm sắc quê
Phú tạc đường trung bừng lửa ấm
Thơ gìn vận thắm  bạt hàn tê
Trông hình buốt dạ từ cao ốc
Nhớ tiếng nao dòng tận tiểu khê
Lại giở xem từng trang sách cũ
Vần thơ cụ viết vẫn tươi đề

 Phạm Duy Lương
Thành kính chia buồn



GIÃ BIỆT HỒN THƠ LÃO TRƯƠNG
Rời xa cõi tạm để theo về …
Dấn bước đã cùng khắp thị, quê
Dẫu biết vô thường sao mãi buốt
Mà hay hữu hạn lại càng tê
Nhục vinh nếm trải ngàn tang hải
Trong đục từng qua vạn tiểu khê
Hết nợ tơ vương nào cái thế
Cười vui giã biệt nhớ thơ đề.

Đông Thái Phan Tự Trí
Kính giã biệt hồn thơ Lão Trương


VỌNG BÁI HƯƠNG LINH
Non bồng Nước Nhược sớm tìm về
Cõi tạm bao năm cũng lánh quê
Quảng Trị đầu thời thân hữu mến
Thành Đà cuối buổi cháu con tê
Người đi tiếc nhớ trang Văn Nghệ
Kẻ ở đau buồn biển Mỹ khê        
Đôi ngã âm dương giờ cách trở
Tâm nhang vọng bái bút thơ đề...
Võ Làng Trâm


KÍNH TIỄN TRƯƠNG HUYNH
Tiếc thương Phương Ngữ đã đi về
Về nẻo yên bình thỏa lối quê
Quê cảnh thiên hương dòng suối mộng
Mộng tình quý hữu bạn vai kề
Kề lòng xướng họa vời đôi ngã
Ngã cánh giao hòa vọng tiểu khê
Khê dọng lệ sầu dâng biển nhớ
Nhớ tình thi Lão kính tâm đề.
Đức Hạnh - 10 02 2019


TIỄN ANH VỀ TRỜI
(Kính viếng nhà thơ Trương Đình Đăng
Tạ thế lúc 9 giờ 30 ngày mồng 2 tết Kỷ Hợi)

Tưởng rằng anh còn nằm viện
Qua trang tìm đọc vần thơ
Ngờ đâu tin báo bất ngờ
Anh đã vể Trời vĩnh viễn.

Anh đi thơ còn ở lại
Lời vàng rút ruột không đi
Một đời con tằm thi sĩ
Tơ vàng còn đó lưu ly.

Nhớ anh, nhớ hoài phong cách
Trong lòng Thân Hữu Thành Đà
Một người trưởng thượng tài hoa
Một tâm hồn thơ kính mến.

Anh bay, cõi Trời anh đến
Đàn em còn ở lại đây
Hẹn anh sẽ có một ngày
Chung nhau ở miền cực lạc

Ta ngâm thơ vàng thơ bạc
Rong chơi gần cõi thường hằng
Thơ bay ngân gió ngân trăng
Những lời cảo thơm anh viết !!!
Châu Thạch


THƯƠNG TIẾC NHÀ THƠ TRƯƠNG ĐÌNH ĐĂNG
Tưởng rằng anh còn khoẻ
Trường thọ cả trăm năm
Nào ngờ gió bắt mưa cầm
Hạc vàng bay mãi ngàn năm chẳng về
Nghiêng mình tiễn bước anh đi
Gẫm câu “Tử biệt sinh ly” đau lòng
Ba ngàn thế giới mênh mông
Cảm hoài một mối đôi dòng đầy vơi
Hay tin anh mất luống bùi ngùi
Hảo thủ thơ Đường dễ mấy ai
Ý tưởng cao siêu hơn các bạn
Ngôn từ trong sáng vượt bao người
Cố hương tuổi trẻ từng tranh đấu
Khách địa hưu nhàn mới nghỉ ngơi
Giấc mộng “ĐĂNG SƠN” nay đã thỏa
Non Bồng nước Nhược cảnh nhàn thơi.

Ngày Mồng 3 tháng Giêng Kỷ Hợi 2019.
Văn Cầm, Văn Chi và các bạn thơ
Kính viếng.
(*): Nhà thơ Trương Đình Đăng, bút danh: Đăng Sơn, Phương Ngữ. Sinh 1933. Tạ thế 9h30 ngày mồng 2 Tết Kỷ Hợi (6/2/2019).

VĨNH BIỆT BÁC TRƯƠNG ĐÌNH ĐĂNG
Thôi rồi, vãng một kiếp người
Bác đi để lại khoảng trời yêu thương
Mới ngày nào quán bên đường
Nay thanh Thiên cổ sầu vương mộ phần
Cương thường một gánh chinh nhân
Bỏ lại thế sự bên chân ngựa hồng
Thanh thản lạc cõi Tịnh không
Một mình một bóng non Bồng thảnh thơi
Tiếc Bác sớm bỏ về Trời
Đi không trở lại Bác ơi, tôi buồn.
Khấp bái
THẾ LỘC

&&&

ĐỌC BA BÀI THƠ NGẮN CỦA ĐÌNH ĐĂNG
Châu Thạch

Đăng lại để tưởng niệm nhà thơ Trương Đình Đăng vừa qua đời.
06/02/2018


Nhà thơ Đình Đăng tên thật Trương Đình Đăng, còn có bút danh Đăng Sơn, Phương Ngữ. Ông sinh năm 1933 quê ở Triệu Phong Quảng Trị. Hiện trú tại Đà Nẵng. Đình Đăng là một thi hữu huynh trưởng. Huynh trưởng về hai phương diện.
Nhà thơ đang ở độ tuổi bát tuần, phong cách sống và phong cách thơ được văn thi hữu mến phục và văn thi đàn mến mộ nhiều. Thơ của ông suy nghiệm sâu xa về tình yêu và triết lý sống, có cái nhìn tỉnh táo và công bình để phán xét những sự kiện xảy ra giữa đời thường. Tài sản thơ của ông rất đồ sộ nhưng phần công bố trên báo chí thì ít, vì bản tính nhà thơ thích nhàn hạ tiêu dao, vui với mình với đời bằng vần thơ thanh nghị hơn là xông xáo trên diễn đàn vì cái danh vọng. Để viết tường tận về thơ Đình Đăng thì không thể nghiên cứu ngắn ngày và viết trên một vài trang giấy mà được. Châu Thạch tôi vốn là cây bút nghiệp dư và viết cảm nhận thơ tùy hứng, nên trong khuôn khổ bài viết nầy, chỉ xin đề cập đến ba bài thơ chữ ngắn của ông. Chữ ngắn nghĩa là câu thơ ít chữ và bài thơ cũng ngắn.

Bài thơ thứ nhất:

TÌM

Thế gian
ai khóc
ai cười
Ta ngồi đây
với quanh đời
nhiễu nhương.
Từ em
lạc giữa vô thường
Ta như cỏ dại
gió sương
võ vàng.
Đâu trần tục
đâu thiên đàng
Biết tìm đâu
giữa dối gian
cõi người?

Đọc “Tìm” ta thấy nhà thơ không chỉ cô đơn vì vắng em mà còn mang một nỗi cô đơn lớn hơn nữa, đó là nỗi cô đơn giữa “cõi người”. Bài thơ dễ dàng cho ta hiểu cái ý của nó nhưng khó khăn cho ta đồng cảm với niềm đau tình yêu và niềm đau nhân thế ở một tâm hồn lớn đang sống giữa hiện thực. Những ai thấy đồng cảm, lòng xót xa vì tiếng thơ nầy thì người đó cũng mang chung với tác giả một tâm sự buồn tình và buồn đời. Tình trong “Tìm” của tác giả Đình Đăng không chỉ là thứ tình nam nữ hay vợ chồng đơn thuần mà còn một thứ tình đồng điệu của hai người tri kỷ sống giữa cuộc đời biến động. Bởi thế, khi nhà thơ ngồi nhìn “ai khóc/ ai cười/Ta ngồi đây/với quanh đời/nhiễu nhương” thì ông không nhớ đến bạn bè, đồng đội mà ông lại nhớ người phối ngẫu của mình trước hết. Tôi biết “em” ở đây là người vợ thân yêu của nhà thơ. Bởi vì ai gần gủi với tác giả đều cảm phục một giai thoại tình yêu tuyệt vời của vợ chồng ông. Bài thơ cho ta thấy rõ ràng tác giả là người bất đắc chí. Nhà thơ đã ngồi đó, nhìn biến động quanh mình một cách vô vọng, đến nỗi dễ dàng nhầm lẩn vì không biết “Đâu trần tục/ đâu thiên đàng/ Biết tìm đâu/ giữa dối gian/ cõi người?” “Cõi người” đánh dấu hỏi có nghĩa là “có phải cõi người hay không?”, hay đó là cõi ma, cõi quỹ.
Đọc bài thơ “Tìm” ta thấy ở đó một tiếng thở dài. Tiếng thở dài đó không phải chỉ của một người nhớ vợ, không phải của chỉ một nhà thơ tức cảnh sinh tình, mà đó là một tiếng thở dài của một bậc trí giả với hai nỗi đau chất chứa trong lòng, nỗi đau cô đơn vì người vợ thân yêu, người tri kỷ duy nhất trong đời đã mất, và nỗi đau lạc lõng trước bao nhiêu biến động dối dang và nghịch lý xảy ra quanh ông. Đọc “Tìm” của Đình Đăng không hiểu vì sao, tự nhiên tôi nhớ đến cụ Phan Bội Châu thả đò một mình trên sông Hương của xứ Huế đất thần kinh!!!
Bài thơ thứ hai:

TƠ CHIỀU

Cố gỡ
sao lòng mãi rối tơ
Bờ mê
bến giác
trắng sương mờ
Nằm nghe
âm vọng ngoài vô tận
Lắng tiếng ru đời
đắng giọt thơ!

Đọc bài “Tơ Chiều” ta hiểu thêm tâm trạng của nhà thơ và ta dễ dàng sâu nhiệm thêm với những gì chất chứa trong bài thơ.

“Tìm” ở trên. “Tơ chiều” là nỗi niềm rối ren chất chứa trong lòng tác giả, nhưng lòng tác giả và vũ trụ đồng nhất thể nên tơ chiều ấy cũng trùm lên cả vũ trụ. Bài thơ có nhưng từ “Bờ mê”, “bến giác” nhưng chắc chắn không phải là một bài thơ Thiền hay bài thơ về triết lý nhà Phật. Bài thơ cũng không phải để bày tỏ sự rối ren trong cuộc sống giao tiếp xã hội. Đây là sự bâng khuâng của một kiếp con tằm giăng tơ, của một tâm hồn thi sĩ mà Thượng Đế ban cho ân tứ ấy để làm thơ cho đời. Không Tử nói “Ngũ thập tri thiên mệnh” nghĩa là người có tuổi từ 50 trở lên thì có thể biết được đạo lý, nhận ra giá trị của cuộc sống và phân biệt được đúng, sai trong cuộc sống nhở tri được cái luật của Tạo Hóa. Nhà thơ Đình Đăng đã quá tuổi tri thiên mệnh trên ba mươi năm, không lý gì ông còn rối ren về đạo lý, về sự đúng sự sai ở đời. Vậy mà ông “Cố gỡ/ Sao lòng mãi rối tơ”. Vậy mà ông không phân biệt được “Bờ mê/ bến giác” để thấy nó như trong “trăng sương mờ’ nghĩa là như một bầu trời trong ảo giác . Ông gọi sự rối rối đó là “Tơ chiều”. Vậy “Tơ chiều” là gì? không gì khác là câu hỏi to tướng về cái xấu diễn ra trước mắt. Nhà thơ Đình Đăng thấy được cái xấu, phân biệt được cái xấu đó nhưng không hiẻu vì sao khi nhìn ra xã hội, ông thấy con người không từ bỏ nó mà đam mê như một con thiêu thân lao vào lửa. Ở tuổi về chiều nhà thơ càng sâu nhiệm thêm về đạo làm Người được viết bằng chữ hoa, thì ông lại ngao ngán trước sự lọc lừa, đổi trắng thay đen, vô đạo lý mà ông thấy được. Nhà thơ “Nằm nghe/ Âm vọng ngoài vô tận” nghĩa là nghe được tiếng của thiên nhiên, của vũ trụ, của Thượng Đế hay đúng ra là am hiểu tiếng của chân lý dội trong linh hồn mình. Và khi nghe được tiếng chân lý đó, nhà thơ đem nó so sánh với đời thì đành cay đắng mà thốt kêu lên “lắng tiếng ru đời/ đắng giọt thơ! 

Bài thơ tuy ngắn nhưng chất chứa một nan đề của loài người, nó là một suy tư nằm ngoài các con đường mòn của các triết lý các tôn giáo, nêu lên một sự thật dối gian, ngụy tạo, lẩn lộn giữa chính và tà, giữa sa-tan và thần thánh trong kiếp nhân sinh, làm cho thơ vốn là nguồn chân lý trong sáng vô biên cũng phải đắng cay.
Bài thơ thứ ba:

TRƯỚC BIỂN      
Nắng rang
cát bỏng trưa hè
Dã tràng xe
dã tràng xe...
sóng dồi
Gẫm mình
rồi cũng thế thôi
Bao năm xe cát
để rồi cát chôn .
Xác thân
lại trả càn khôn
Bao la vũ trụ
rong hồn phiêu du!

Chuyện Dã Tràng xe cát là chuyện cổ tích ngụ ngôn, mục đích để răn dạy người đời không làm những việc vô ích, không có kết quả gì. Tác giả đứng trước biển bao la, nhìn con Dã Tràng xe cát mà liên nghĩ đến thân phận con người cũng phù phiếm như con Dã Tràng kia, gian lao khổ cực bao năm rồi cũng ra đi, tan vào trong cõi hư không. Đây là một suy tư yếm thế về thân phận con người mà không ai tránh được khi đứng trước sự bao la của vũ trụ thấy mình nhỏ bé và ngắn ngủi đời người. Nhà thơ Đình Đăng tuổi đã cao, suy nghiệm của ông về lẽ thường tình mà thế gian đã thấy có chiều hướng tích cực hơn trong sự yếm thế đó. Nhà thơ cho rằng xác thân ta sẽ trả lại càn khôn nghĩa là trở về với bụi đất vô tri nhưng linh hồn thì phiêu du trong cõi bao la vũ trụ. Quan niệm này gần với Lão giáo, lắng đọng linh hồn con người vào cõi thanh tịnh thật của nó, hòa nhập với thiên nhiên , vô vi cùng trời đất, không cần phải tu tập, cầu nguyện tôn vinh ai vì tất cả đó chỉ là động mà thôi, mà động là đi ngược lại lẽ huyền vi có sẳn, tồn tại giữa thiên nhiên.

Đọc ba bài thơ ngắn của Đình Đăng, tâm hồn ta không thấy ủy mị bởi niềm đau “khổ đế”, không thấy chán đời bởi nghịch cảnh xảy ra trong cuộc thế, mà cũng không cảm thấy cần phải có một niềm tin tôn giáo cho đời. Thơ ông chất chứa một sự suy tư của chính ông, trình bày những rối ren thực tế trong cõi người, đặt vào tâm hồn mỗi người đọc thơ sự cảm nhận những phủ phàng không phải không lý giải được trước cuộc đời, trước xã hôi thực tại và nhìn nó, chấp nhận sự rối ren của nó,than van thì có nhưng oán trách thì không . Thơ ấy không làm cho tâm hồn ta rung động trong cảm thức khoái lạc nhưng làm cho ta cảm thấy mình lớn hơn, cao hơn và sâu sắc hơn trong cuộc làm Người./.
CT
&&&




READ MORE - THƯƠNG TIẾC NHÀ THƠ TRƯƠNG ĐÌNH ĐĂNG