Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, September 14, 2016

THÙY CHÂU VỚI TẬP THƠ “NHỮNG NHÁNH SÔNG ĐỜI” - Châu Thạch





            
                                     Châu Thạch và Thùy Châu
                 


THÙY CHÂU VỚI TẬP THƠ “NHỮNG NHÁNH SÔNG ĐỜI”
                                                                     Châu Thạch

Tháng 3 năm 1975, thành phố Huế thất thủ bởi quân đội miền Bắc. Tôi bị bắt ở cửa Thuận An, bị đưa lên núi Khe Sanh mấy tháng rồi đưa về học tập tại trại Cồn Tiên thuộc huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Thời gian ở đây tôi sống khắng khít với một người bạn tên là Nguyễn Văn Lợi. Trong cảnh gian khó, hai chúng tôi yêu thương nhau còn hơn ruội thịt. Lúc đó chúng tôi không biết cà hai đứa đều yêu thơ và làm thơ. Bốn mươi năm sau chúng tôi mới liên lạc được nhau qua email nhờ Lợi thấy ảnh tôi đăng trên trang web. Từ đây ngoài tình bạn ở nơi bị giam giữ chúng tôi có thêm tình bạn thơ nữa. Bút hiệu của Lợi là Thùy Châu và thơ của Thùy Châu cũng nói thay tôi một phần, bởi chúng tôi có nhiều cái chung: chung quê hương Cổ Thành thời trai trẻ, chung trường Nguyễn Hoàng đã tan nát trong mùa hè đỏ lửa, chung một chiến hào và chung chốn giam giữ, chung chòi tranh chỗ nằm, chung mâm khoai sắn, chung tháng ngày gian lao nơi rừng sâu núi thẳm.
Thùy Châu vừa xuất bản tập thơ “Những Nhánh Sông Đời”. Đọc lướt qua thơ, ta hiểu tại sao tác giả dùng cái đầu đề nầy. Nhà thơ quan niệm đời không phải là một dòng sông qua ghềnh qua thác, mà đời còn to rộng hơn, đó là con sông rẽ làm muôn nhánh, mỗi nhánh lại có thăng trầm của nó và tất nhiên sông chảy ra biển rộng bao la chất chứa bao nỗi niềm về quê hương, về tình yêu, về cuộc sống ..v..v. Thùy Châu nói “sông đời cũng rẽ thành muôn nhánh đời” và mỗi nhánh đời như thế cho ta “nước mắt lẫn với nụ cười” trong kiếp phù sinh:

Soi tâm chạm nhánh sông đời
Nhánh đau kỷ niệm nhánh vời tương lai
Nhánh sâu hun hút đường dài
Xót xa kỷ niệm tàn phai sóng ngầm
Nhánh hằng bao nỗi gian truân
Chông chênh số phận phù vân kiếp người.
                          (Những nhánh sông đời)

Quan niệm trên cho ta một kiếp nhân sinh phổ quát lớn rộng và có ý nghĩa hơn quan niệm thường tình. Từ đó nhà thơ cho rằng nỗi buồn đã có sẳn trong sông đời, nó phát xuất tự đầu nguồn và nó nằm sẳn trong bóng trong hình từ cõi u minh, nghĩa là từ khi ta chưa xuất hiện với đời:

Buồn tôi buồn bóng buồn hình
Buồn trong nỗi nhớ buồn tình nhân sinh
Buồn từ trong cõi u minh
Bước ra trắng xóa bình minh cuộc đời
                                          (Buồn Tôi)

Mang tâm hồn nhạy cảm của người thi sĩ, đi qua ghềnh thác của nhiều nhánh sông đời nên thơ Thùy Châu có nhiều nỗi trăn trở. Tác giả viết những bài thơ như “ Trần tình, Ngày xanh ơi, Nhớ người, Nuối tiếc, Phôi pha…” là những day dứt nhớ thương  về một thời tuổi trẻ:

Tôi ước chi một lần được hái
Trái thương yêu, kỷ niệm thuở ban đầu
Trong tận cùng của ký ức thâm sâu
Ngày tháng cũ chất đầy hoa với mộng
                               (Ngày xanh ơi!)

Tình yêu gia đình cũng chất chứa trong con tim thi sĩ. Thùy Châu dành nhiều bài thơ cho những người thân yêu của mình. Đọc những bài thơ như “Viết cho mẹ, Viết cho em, Viết cho con, Đời anh có mẹ có em…” ta cảm nhận “Nhưng nhánh sông đời” đầy bão tố và tình yêu chan chứa của thi nhân đối với gia đình:

Mẹ cho anh một hiện hữu hình hài
Em cho anh một niềm tin cuộc sống
Bên lòng mẹ trời cao biển rộng
Là tình em mời gọi hướng tương lai
                 (Đời anh có mẹ có em)

Thùy Châu là một chiến binh, thơ anh chất chứa nỗi lòng của một quân nhân, một người trai từ biệt mái trường, từ biệt gia đình và người yêu để lao vào cuộc chiến, chứng kiến bao cái chết của đồng đội và cuối cùng thành một tù binh bất đắc chí khi đời còn đang ở tuổi thanh xuân. Những bài thơ như “Một thời chinh chiến, Sau mùa chinh chiến, Uống rượu bên mộ bạn, Một lần thăm mộ bạn, Nhớ bạn…” cho ta muôn vàn sự đồng cảm, khơi lại trong tâm hồn người trai trẻ thời xưa những kỷ niệm vui buồn của đời mình, làm vạch nối cho người trẻ đời nay biết về quá khứ:

Trả lại người vùng tuổi thơ nước mắt
Tôi vào đời bằng lớp áo chinh nhân
Chĩu nặng ba lô từng bước hành quân
Vui áo chiến quên nụ cười thơ dại
                                 (Trần Tình)
Tôi mở vội chiếc poncho nhàu nát
Phủ lên người đồng đội mới ra đi
Lòng quặng đau chẳng biết nói năng gì
Khẽ vuốt mắt cùng nguyện cầu an giấc
                   ( Một thời chinh chiến)
Đời dan dở còn chi đâu tiếc nuối
Rót cho đầy hai đứa trăm phần trăm
Tao cạn ly sao mầy vẫn cứ nằm
Thôi thì để tao nghiêng ly mầy uống
                (Uống rượu bên mộ bạn)

Định cư ở nước người có thể đầy đủ vật chất, nhưng cũng như hàng triệu người xa quê hương, nỗi trăn trở vì thương nhớ quê hương thường bất chợt nổi lên quay quắt trong lòng Thùy Châu. Thùy Châu không khóc than da diết nhưng niềm đau âm ỉ theo suốt nửa cuộc đời còn lại:

Có những lúc tự dưng bất chợt
Nhớ quê hương quay quắt không thôi
Dõi nơi xa biền biệt ở chân trơi
Quê nhà đó biết khi nào trở lại?
          (Người Già Nơi xứ lạ)

Và tất nhiên cũng như bao nhiêu nhà thơ khác, tình yêu dầu kết hợp hay chia ly vẫn đem đến nhiều thăng hoa trong cuộc đời  và làm cho thơ Thùy Châu lung linh trong “Những Nhánh sông Đời”. Tình yêu đầu đời luôn là kỷ niệm đẹp nhất đối với mọi người và trong tâm hồn thi sĩ:

Mười chín yêu kiều tiếng hát chim khuyên
Bước lạ chân em tay động con thuyền
Trôi nhè nhẹ vào dòng sông tình ái
Dâng cho anh trọn mùa xuân con gái
Hai mươi về trên bến đợi vu quy
                     (Những mùa xuân)

Mùa xuân là của tuổi thơ em nhưng thu vẫn là mùa đẹp nhất và thu trong tình yêu vẫn muôn đời cho nhà thơ thương nhớ:

Heo may về lạnh bên sông
Vàng Thu rơi rụng thấy lòng nhớ Thu
Người ơi trong cõi sương mù
Chạnh bâng khuâng nhớ tình thu năm nào!
                                (Chạnh nhớ thu xưa)

Trai gái yêu nhau ở thời đại chinh chiến vẫn có cái thú  mà người trai ở thời nầy không có được:

Ngủ đi em giấc im lìm
Ru  em sẳn tiếng súng chìm trong không
Ngủ đi em giấc xuân nồng
Cho anh ươm mộng tình hong nhạc buồn
Ngủ đi con nước về nguồn
Hỏa châu xin thắp sáng đường tình yêu!
                                                (Ru Em)

Và nỗi đau thất tình của thi nhân cũng đem đến cho đời những vần thơ như nguồn trong trẻo:

Đau từ từng nỗi xôn xao
Đau trong sợi nhớ tình hao tình gầy
Lần tay đếm những vơi đầy
Mân mê kỷ niệm những ngày buồn vui
Mềm môi buông giữ nụ cười
Nghe trong tâm tưởng một trời mộng mơ
                                             (Phôi Pha)
Ai đi góp nhặt màu hoa máu
Kết lại thành thơ kỷ niệm sầu
Câu thơ tôi viết ngày mới lớn
Đi hết cuộc đời vẫn khắc sâu
- - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - -
Màu máu hoa xưa cánh phương hồng!
                       (Cánh Phượng Hồng)

 “ Những Nhánh Sông Đời” là tiếng thơ của kỷ niệm, là ghi dấu những nhánh sông mà tác giả đã đi qua trong cuộc đời, nên 70 bài thơ đề cập đến nhiều chủ đề trong cuộc sống. Đó là những trải nghiệm vui buồn, trăn trở của một thi nhân trải qua nhiều sóng gió cuộc đời. Tuy thế tiếng thơ trong “Những Nhánh Sông Đời” lại thanh bai và êm ả, không khác chi tiếng ngâm thơ, hòa chung cùng tiếng trúc diễn tả những thác, những ghềnh, những mùa trăng và những cơn mưa bão mà một đêm nào đó ta đã được nghe tiếng tao đàn vọng nguyệt.
Trong khuôn khổ một bài đăng trên trang mạng người viết bình thơ như thắp lên một vài ngọn nến để soi rọi những dòng trong bóng tôi, ai cầm tập thơ lên kẻ ấy sẽ sống cùng nàng ly tao của tác giả. Mong tập thơ nầy sẽ đến tay nhiều bạn đọc ./.

                                                                         Châu Thạch 

READ MORE - THÙY CHÂU VỚI TẬP THƠ “NHỮNG NHÁNH SÔNG ĐỜI” - Châu Thạch

Tuesday, September 13, 2016

NĂM NAY HÀ NỘI ĐƯỢC "THU" - Thơ Nguyễn Khôi


       
                         Nhà thơ Nguyễn Khôi



READ MORE - NĂM NAY HÀ NỘI ĐƯỢC "THU" - Thơ Nguyễn Khôi

BÁC NGUYỄN KHÔI - Thơ Nguyễn Lâm Cẩn



                    Nhà thơ Nguyễn Lâm Cẩn


HỒ THU 
Hồ trong bóng ngỗng lướt qua
Thu se…mấy chấm mây sa cuối trời
Nghìn xưa…vọng lại chơi vơi
Lắng tai nghe tiếng ngỗng trời vừa bay.
                           Đại Lải, 7-9-2016
                           Nguyễn Lâm Cẩn

BÁC NGUYỄN KHÔI
Kính tặng nhà thơ, nhà khảo cứu văn hóa Nguyễn Khôi

Tách khỏi đám đồng ca, hợp xướng
Cuốn chiếc kèn lá
Thổi…
Một mình!

Thế cuộc vô hình
Thu lại thành cái bóng
Sống!

Lắng tai
Động…
Biết địa chấn từ lòng
Làm cái cây mọc thẳng
Chống sào giả vờ cong

Mượn thơ đi hát rong
Đệm tiếng đời bèo bọt
Rủ rỉ rù rì ong
Tháng năm đầy mật ngọt

Định bụng nghề đi mót
Kiếm bác vài chữ rơi
Vốn Bắc Ninh bác ủ
Thằng em đứng kêu trời!

Cùng nhau, khướt, mấy năm rồi
Nhìn đời mắt thấm từng lời ruột gan.

                   Đại Lải, đêm 8-9-2016
                       Nguyễn Lâm Cẩn

READ MORE - BÁC NGUYỄN KHÔI - Thơ Nguyễn Lâm Cẩn

TRUNG THU VIỄN XỨ - Thơ Vũ Lập






TRUNG THU VIỄN XỨ

Sinh ra trên đất Đức
quốc tịch,dân châu Âu
học mẫu giáo nhà trẻ
da trắng hòa da màu

Đêm trung thu viễn xứ
rực rỡ ánh đèn sao
Lân múa theo nhịp trống
bé cười vui biết bao

Múa quạt như người lớn
thướt tha tà áo dài
dẻo mềm cùng uyển chuyển
ngỡ ngàng cả khách Tây

Nhào lộn trên sàn nhảy
mắt đen má hây hây
thuần thục như chuyên nghiệp
cười vang trong đắm say!

                         Vũ Lập 
    Magdeburg,Đức 11.9.2016

READ MORE - TRUNG THU VIỄN XỨ - Thơ Vũ Lập

GHEN - Thơ Hiệp Kim Áo Tím





GHEN

Anh ghen với vạt nắng hồng
Hây hây đồi má làm nồng tình xuân
Anh ghen nàng gió bâng khuâng
Làm làn tóc xỏa lưng chừng bay bay

Anh ghen áo khoác vai gầy
Choàng lên hờ hững tay này đơn côi
Anh ghen với cả đôi môi
Cong veo hờn dỗi để rồi cười duyên

Anh ghen đôi mắt nhung huyền
Nhìn trong khoảng lặng mà hiền như nai
Anh ghen với cả cội mai
Nụ hoa hàm tiếu để ai yêu thầm

Anh ghen với cả chiếc trâm
Cài lên mái tóc rồi nằm ngủ say
Anh ghen với cả đôi hài
Theo em cả quãng đường dài tuổi thơ

Anh ghen những chuyện vu vơ
Đêm về ấp ủ câu thơ tặng nàng
Anh ghen nên mãi lang thang
Yêu em... ghen cả áo vàng em thương...

                         Hiệp Kim Áo Tím
                         Đà Lạt, 12/9/2016

READ MORE - GHEN - Thơ Hiệp Kim Áo Tím

TÁI NGẠO GIANG HỒ - Thơ Nguyễn Khôi


       
                         Nhà thơ Nguyễn Khôi


         
Lời dẫn : Ngày 7-11-2005, sau khi đọc bài "Giang Hồ" của Phạm Hữu Quang, Nguyễn Khôi về hưu (hết bay nhảy) đang ngồi bó gối trên gác ở Phố Vọng viết bộ sử làng  "Cổ Pháp cố sự" - 4 tập, 920 trang... nổi hứng viết bài "Tái ngạo giang hồ" gửi tặng một số bạn thơ... Nay (10/9/2016) đọc trên Văn đàn Nguyễn Nguyên Bảy có đăng bài "Giang hồ tê chân" của Trần Hoàng Vy, viết ngày 22/10/2008... Nguyễn Khôi thấy hay hay, xin đăng lại bài thơ cách nay 11 năm để các bạn thơ cùng đọc cho vui :


 TÁI NGẠO GIANG HỒ
"Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt
Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà"
                      Phạm Hữu Quang 
                          (1952-2000)
               
Giang hồ... Ừ ta đi lên gác
Leo từ tầng một lên tầng tư
Phớt tỉnh khi đi qua buồng vợ
Đầu trụi, không tiền khác gì Sư ?
Giang hồ... Ừ không đi đâu cả
Quanh quẩn lên lên xuống xuống hoài
Ra ban công trông mây hóng gió
Đứng tựa lan can đọc Thơ vui...
Giang hồ... sớm mai ta thể dục
Vươn vai, khuỵu gối, quay hai tay
Ngồi Thiền bất động e ngưng trệ
Vặn vòi xịt nước tưới Bon Sai .
Giang hồ... không say, ừ kiêng rượu
Tránh huyết áp cao, ngại Tiểu đường
Cảm lạnh viêm dây "Thần kinh bảy"
Châm cứu... méo mồm - ôi rất thương.
Giang hồ... ương ương, ừ lẩm cẩm
Ti vi xem chán lại nghe Đài
Các tay Chính khách đua tung hứng
Sợ Cúm gia cầm, khủng bố xơi...
Giang hồ... mình chẳng CHƠI chi cả
Cứ kệ thây đời quá nhố nhăng
Bọn trẻ lâng lâng trong chích CHÁT
Cánh già "thế sự" chuyện loăng quăng.
Giang hồ... âm thầm qua trang sách
- Cụ Khổng mơ bá chủ loài người (1)
Thôi thì hội nhập TOÀN CẦU HÓA
Các nhà tài phiệt thỏa kiếm lời.
Giang hồ... tiến lui trên sân thượng
Ta đang cười hay đang ngu ngơ ?
Thế giới tranh hùng... mình ngất ngưởng
Tọa sơn xem Thiên hạ đánh cờ...

                     Phố Vọng 7-11-2005
                          Nguyễn Khôi 
---
(1) Đọc sách "Trung Hoa mộng"
      
READ MORE - TÁI NGẠO GIANG HỒ - Thơ Nguyễn Khôi

"GÃ KHỜ" HAY "THẰNG NGỐC VIỆTNAM" CÒN SÓT LẠI Ở ĐẦU THẾ KỶ 21 NÀY? - Nguyễn Bàng


        


          "GÃ KHỜ" HAY "THẰNG NGỐC VIỆTNAM" - 
           CÒN SÓT LẠI Ở ĐẦU THẾ KỶ 21 NÀY?

    Biết tôi hay lò dò lên mạng để tìm đọc dăm ba thứ thay vì phải đọc báo in, nghe đài hay xem nghe truyền hình thời sự nhưng lại là một ông già không biết chơi Phây, không biết Gúc để tìm tòi các trang mạng hay, nhà văn Đặng Xuân Xuyến đã gửi Mail chỉ đường dẫn mời tôi đọc CHUYỆN CỦA GÃ KHỜ 
(chuyen-cua-ga-kho-truyen-ngan-ang-xuan_7.html), một truyện ngắn anh viết năm 2006, ra sách năm 2007 (in chung) nhưng giờ mới post lên blog của anh và gửi một số trang và như anh nói gửi để tôi đọc cho vui. Chính vì thế, khi nhìn vào tên truyện, tôi ngỡ mình sẽ được đọc kiểu truyện chàng khờ với hình tượng nhân vật trung tâm là các anh chàng ngốc nghếch với những hành động, việc làm… ngây ngô ngớ ngẩn dại khờ đã đem lại tiếng cười sảng khoái và những trải nghiệm vô cùng lí thú để từ đó người nghe, người đọc rút ra những bài học cho bản thân.Nhưng đọc xong CHUYỆN CỦA GÃ KHỜ, tôi chẳng được vui tý nào mà lại cảm thấy đắng lòng khi nhận ra gã Khờ này phải chăng là một THẰNG NGỐC VIỆT NAM còn sót lại ở đầu thế kỷ 21 này.
Đúng là gã Khờ của Đặng Xuân Xuyến không giống những chàng ngốc, những thằng dại khờ như trong các truyện dân gian của ta với cái ngốc cái dại không biết để đâu cho hết khiến mọi người phải ca thán bảo nhau:
Một đêm quân tử nằm kề
Còn hơn thằng ngốc vỗ về quanh năm.
Con vợ khôn lấy thằng chồng dại
Như bông hoa lài cắm bãi cứt trâu
mà gã là một thằng ngốc đại gia trong xã hội Việt Namđương thời “đã từng vụt sáng chói lóa trong mắt mọi người”.
Những chàng ngốc trong truyện dân gian vì ngốc quá nên luôn bị lừa như có anh mười năm đi ở cho lão trọc phú chỉ được ba nén vàng giả nhưng cầm trên tay, anh ngốc cứ tưởng là vàng thật. Rồi chàng hí hửng muốn đi du ngoạn khắp nơi, đầu tiên có kẻ gạ chàng ta đổi 3 lạng vàng lấy sáu nén bạc mà thực ra chỉ là sáu miếng chì, rồi có kẻ gạ đổi 6 miếng chì lấy bó "lụa đinh kiến" quý hiếm mà thực ra chỉ là bó giấy dó, rồi đổi bó giấy dó lấy cái “thiên địa vận” biết trước mọi việc trên thế gian mà thực ra chỉ là cái chong chóng, rồi đổi cái chong chóng lấy viên ngọc lưu ly chưa chắc vua đã có được mà thực ra chỉ là một con niềng niễng có đôi cánh xanh đỏ.
Gã Khờ trong truyện của Đặng Xuân Xuyến bị lừa tiền, lừa nhà đi đến cảnh “bây giờ, hắn tiều tụy, thảm thương còn hơn mèo đi kiết” hiển nhiên không phải vì gã ngu đần như chàng ngốc kia mà chỉ vì gã có tính thương người và lòng trắc ẩn. Với tấm lòng tốt đẹp ấy, gã rất tin vào tình người nên đã cho thằng bạn nối khố mượn tiền mà không cần giấy ghi nợ, cũng không cần có người làm chứng, vì vậy khi cần đến đòi lại thì được thằng bạn “nhướng đôi lông mày thô đậm, xoăn tít, nhìn hắn từ đầu xuống chân rồi hô hố cười, bảo hắn là thằng khùng, nếu đói quá, không có chỗ xoay sở thì cầm lấy vài chục nghìn mà đắp đổi qua ngày, việc gì phải diễn trò ngớ ngẩn như thế”. Tiền không đòi được, hắn tìm về lấy lại ngôi nhà nho nhỏ ở ngoại ô đã giao cho thằng em kết nghĩa trông coi. Thằng em kết nghĩa này là một thằng bé đánh giày nhem nhuốc mà gã đã lầm tưởng là người lương thiện nên đã cưu mang đem nó về nhà nuôi ăn học. Nhưng khi đến ngôi nhà, chạy ra đón hắn không phải là thằng em kết nghĩa mà là con chó có tên là “Tình Nghĩa”. Rồi thằng em ấy, khi biết ý định của gã, nó  đã không ngượng mồm, nói trắng phớ ra rằng: “Vâng, nhà này mua bằng tiền của anh nhưng em đã làm sổ đỏ đứng tên là chủ sở hữu rồi” và đuổi hắn đi như đuổi một con chó.
Hai cái khờ dại, hai cái sai lớn nhất về sự ngộ nhận tình người đến nỗi gã bỏ ngoài tai những nhận xét tinh tế của vợ gã về ông bạn nối khố và thằng em kết nghĩa, không để tâm đến những lời can ngăn của thị, dẫn đến cảnh “nhà hắn thưa dần rồi mất hẳn nụ cười hạnh phúc của người vợ” và đưa tới cảnh “vợ hắn nằng nặc nộp đơn ly dị”.
Trong một xã hội mà mọi chuẩn đạo đức đang bị băng hoại, dối trá lừa đảo phát triển như nấm độc khắp nơi nơi như: lừa đảo qua mạng, lừa đảo bán hàng đa cấp, lừa đảo xin việc làm, lừa đảo chiếm đoạt tài sản …, gã Khờ đã không thèm nhớ đến lời mọi người vẫn thường bảo nhau: Cho bạn vay tiền: "Đứng" cho vay, "quỳ" đòi nợ,  cho thằng bạn nối khố vay tiền mà không cần giấy ghi nợ cũng không cần có người làm chứng. Trong lúc chưa bao giờ câu nói “tấc đất tấc vàng” đúng cả nghìn lần như bây giờ khiến cháu giết bà vì sổ đỏ, anh em ruột thịt đâm chém nhau vì nhà đất, thì gã Khờ lại giao hết giấy tờ và nhà đất cho thằng em kết nghĩa trông coi hộ. Gã Khờ tuy không ngu đần, không kém về trí khôn nhưng đã suy xét, ứng phó, xử sự chỉ với thứ lòng tốt đơn thuần và cao thượng của riêng gã nên mới ra nông nỗi thảm hại hơn cả những thằng ngốc trong truyện cổ dân gian. Thế chẳng phải là một thằng ngốc còn sót lại ở đầu thế kỷ này thì sao! Và thế thì làm sao mà vui được khi nghe chuyện về gã? Họa chăng có một chi tiết làm người đọc vui gượng tý chút, ấy là thấy gã tinh thông về tử vi lý số, biết về mình: “Thôi thì cũng là do số phận. Cung nô của hắn chẳng ra gì thì đành chấp nhận. Đã Tham Lang hãm địa lại đồng cung với Thiên Diêu hãm địa thì đời hắn tàn vì chữ tình là phải.” mà vẫn mù quáng đi đến chữ “tàn”. Thật đúng là “Số thầy thì để cho ruồi nó bâu”!
Kiểu truyện chàng ngốc trong dân gian thường có hai xu hướng kết thúc, hoặc là chàng ngốc phải chết hoặc là chàng ngốc gặp may mắn tìm được hạnh phúc, trở thành người giàu có, khôn ngoan hơn. Gã Khờ trong truyện ngắn của  Đặng Xuân Xuyến đã không phải chết vì gã không phải là nhân vật xấu, không bị người đời căm ghét; gã cũng không phải chết để khắc sâu bài học kinh nghiệm sống của con người là: Đừng ngốc nghếch làm việc một cách máy móc thụ động, không biết suy xét vấn đề một cách kĩ lưỡng, không hiểu gì về cuộc sống cả mà phải biết làm chủ được những suy nghĩ và hành động của mình để tránh phải sẽ gặp sự thất bại.
Không bắt gã Khờ phải chết mà rốt cục, Đặng Xuân Xuyến cũng cho gã được gặp may, nhưng trước khi đến với vận may, gã còn phải ê chề nếm thêm ít nỗi nhục nhã đắng cay của thời đại mới.
Ấy là, sau khi biết bình đã vỡ rồi, gã Khờ cũng nhận ra là phải lấy thân mà trả nợ đời cho xong. Đầu tiên, gã vùi mình trong men rượu rồi tự nguyện làm một “Thằng đàn ông bán thân nuôi miệng, một thằng điếm”.
Như đã nói, gã Khờ trong  truyện ngắn của Đặng Xuân Xuyến là một kẻ có học. Vậy gã thừa hiểu, ở Việt Nam từ xưa đến nay người ta đã không mấy ưa loại người làm đĩ, cho dù là đĩ cái. Thì kia, cô Kiều của Nguyễn Du trong văn chương Việt Nam tuy đã được Kim Trọng khen ngợi là: “Như nàng lấy hiếu làm trinh - Bụi nào cho đục được mình ấy vay?”, và cô đã sống trong niềm yêu mến của bao lớp người Việt từ bậc thức giả đến kẻ bình dân xưa vậy mà cũng vậy, thế mà mấy lần cô Kiều đã bị cụ Huỳnh Thúc Kháng, một chí sĩ yêu nước gọi  là "Con đĩ Kiều", "Cái giống độc con đĩ Kiều” .  
Ấy là đĩ cái vốn đã cùng với mại dâm xuất hiện và phát triển từ thời nguyên thủy huống chi đĩ đực mới chỉ đến thế kỷ này mới xuất hiện. Gã Khờ bất chấp mọi giá làm một thằng điếm, một con đĩ đực vì “Hắn cần tiền. Hắn cần tạo dựng lại cơ nghiệp. Hắn cần được tung hô, cần được trọng vọng như ngày trước. Đời hắn không thể thiếu thứ hàng xa xỉ đó”. Làm đĩ đực, ấy là con tàu tốc hành để gã nhanh chóng đi tới ga nhặt tiền.
Ngay lần đầu tiên làm thằng điếm, gã đã may mắn không phải hầu hạ một máy bay bà già sồ sề, nhăn nhúm nhưng thèm khát tình dục mà là gặp một “Khuôn mặt đẹp, da lại trắng hồng”. Mới đầu, thấy “Ả đẹp. Hắn cũng thích” nhưng khi vào cuộc gã mới nhận ra ả là một “con vợ đĩ lên đĩ xuống, đĩ ngang đĩ dọc mà thằng chồng cấm dám ho he”, một “con đàn bà đĩ thõa đang lên cơn động đực”. Thế là “Hắn không thích cuộc chơi này nhưng hắn không còn sự lựa chọn” vì gã cần tiền như trên đã nói và thêm nữa vì sợ cái thằng vừa dẫn mối vừa bảo kê cho ả, với “Một giọng nói sắc gọn, rờn rợn vang lên”:
          - Làm bổn phận đi. Muốn chết à?
ở đằng sau cánh cửa.
Hầu hết các truyện dân gian về các chàng ngốc đều kết thúc có hậu như gặp vua được vua ban thưởng một chức quan trong triều đình và sống cuộc đời giàu có sung sướng hoặc nhờ nói mò mấy câu văn chương học lỏm mà cuối cùng được hưởng hạnh phúc. Nhưng phổ biến nhất là các chàng ngốc đều may mắn có được cô vợ thông minh hết lòng vẽ đường chỉ lối cho chồng làm ăn nhưng ngốc vẫn hoàn ngốc, hết lần này đến lần khác đều thất bại khiến người vợ bị người đời mỉa mai muốn tự tử cho xong đời nhưng rồi vì lòng thương chồng các nàng đã bỏ ngay ý định tiêu cực đó, quyết tâm tìm cách giúp chồng trở thành người khôn ngoan hơn.     
Đặng Xuân Xuyến cũng dành cho gã Khờ của mình một kết cục có hậu tuy rất khác các truyện dân gian. Gã được một người 12 năm trước đã chịu ơn gã. Người ấy, khi xong việc để lại cho gã một bức thư: “lấy lại đầy đủ giấy tờ ngôi nhà từ tay thằng em kết nghĩa” của gã bằng cách làm cho: “Nó thua bạc, gán nhà trả nợ theo đúng kịch bản mà em cùng nhóm bạn thân dàn dựng”. Người ấy cũng cũng lấy lại “sợi dây chuyền “bảo bối” mà anh rất quý, bị thằng bạn nối khố của anh chiếm đoạt” cùng “Số tiền thằng bạn nối khố lừa đảo, em cũng đã đòi lại và chuyển vào tài khoản cá nhân của anh”. Bằng cách: “dùng các chứng cứ phạm pháp “uy hiếp”, bắt tên khốn kiếp phải trả lại anh số tiền đã chiếm đoạt, bọn em đã chuyển cho nhà chức trách những bằng chứng phạm pháp của nó, bắt nó phải trả giá cho những tội ác đã gây ra”
Một cái hậu tưởng như mơ, đẹp quá sức tưởng tượng khiến CHUYỆN CỦA GÃ KHỜ như một cổ tích hiện đại và nhân vật Gã Khờ thấy lại lòng yêu trời, yêu đất và yêu cuộc sống: “Hắn bước ra sân, ngước mắt nhìn bầu trời xanh ngắt. Tiếng họa mi nhà ai lảnh lót làm hắn lặng người, rồi bất chợt hắn mỉm cười.”
Một số bạn đọc cho rằng: “kết thúc truyện lộ bàn tay sắp đặt của tác giả quá”, nói như các nhà phê bình văn học là tô hồng quá. Thì tác phẩm văn học là đứa con tinh thần của nhà văn nên nhà văn tạo dáng cho đứa con tinh thần ấy của mình ra sao là tùy thích. Vì vậy tôi có phần đồng ý với nhận định trên của người đọc. Nhưng đọc xong CHUYỆN CỦA GÃ KHỜ, tôi có cảm nhận trong sự sắp đặt lộ liễu ấy, Đặng Xuân Xuyến đã rất muốn giải trình cùng bạn đọc những suy nghĩ ẩn dấu bên trong mà tác giả không thể nói trắng ra được. Theo tôi, thì đó là:
Đành rằng thời đại ngày nay ở nước ta không còn vua nên gã Khờ sao còn được vua cứu giúp và ban thưởng. Đành rằng, vợ gã Khờ đã cám cảnh kiểu thương người một cách mù quáng của chồng, đã ly dị gã nên gã đâu còn được cô vợ thương yêu giúp chồng khôn ngoan hơn trong cách sống của một xã hội đang loạn chuẩn đạo đức để xóa bỏ ảo tưởng về sự lãng mạn của tình yêu và sự chân thành của tình huynh đệ, bằng hữu. Không có vua ban thưởng, không còn vợ giúp khôn nên phải có một người 12 năm trước đã chịu ơn gã nay ra tay cứu giúp gã. Như thế cũng hợp lý.
Nhưng hà cớ gì người đó không phải là một người Việt đang sống cùng gã trên giải đất hình chữ S này mà lại phải là một người Nhật gốc Việt, nói một cách khác là một người Việt đã dời xa xứ sở Thiên đường Xã hội chủ nghĩa của mình để đến sống ở “Đất nước Mặt trời mọc” tư bản đang giãy chết. Bao nhiêu luật lệ để đâu, bao nhiêu người Việt đứng về lẽ phải đi đâu mà phải để người Nhật gốc Việt đó về nước và như có phép lạ, lấy lại cho gã tiền bạc đã bị thằng bạn nối khố bất lương quỵt nợ và nhà cửa đã bị thằng em kết nghĩa chó chết chiếm đoạt. Đã thế người đó còn để lại trong thư cho gã những lời lãng mạn đẹp như hoa hồng buổi sáng:
“Vâng! Nhất định khi trở về Việt Nam em sẽ đưa vợ con đến chào anh. Lúc bấy giờ, em sẽ thoải mái được nói lời cám ơn anh, cám ơn vị ân nhân đặc biệt của mình.
Ps: Anh!
Chị vẫn còn yêu anh nhiều lắm. Hãy đến làm lành với chị để các cháu được sống trong vòng tay yêu thương của cả bố, cả mẹ.”
Và vì thế tôi coi nhân vật GÃ KHỜ trong truyện ngắn của Đặng Xuân Xuyến là một THẰNG NGỐC VIỆT NAM còn sót lại ở đầu thế kỷ 21 này. Một thằng ngốc hiện đại nên mới có được sự may mắn từ những phép màu hiện đại như khả năng kỳ tài của anh chàng người Nhật gốc Việt kia. Tôi thấy mình cần phải đọc CHUYỆN CỦA GÃ KHỜ này kỹ hơn và ngẫm nghĩ sâu hơn?

Sài Gòn, thứ sáu 09-09-2016
NGUYỄN BÀNG
Địa chỉ: Thành phố Sài Gòn
        Email: bnguyen37@gmail.com

READ MORE - "GÃ KHỜ" HAY "THẰNG NGỐC VIỆTNAM" CÒN SÓT LẠI Ở ĐẦU THẾ KỶ 21 NÀY? - Nguyễn Bàng

LOÀI CHIM KỲ DIỆU - Thơ Thủy Điền



    Tác giả Thủy Điền


LOÀI CHIM KỲ DIỆU

Anh sẽ là loài chim mang cánh mát
Bay lang thang đi khắp nẽo đường đời
Là cánh quạt sẵn sàng ngày, đêm tối
Thổi vào lòng người đẹp của lòng tôi

Anh sẽ là loài chim không biết mỏi
Bay loanh quanh lơ lững giữa lừng trời
Vây che phủ khi trời đang giá lạnh
Như áo dầy choàng ấm lúc đơn côi

Anh sẽ là loài chim, chim biết bói
Xóa tan đi những lúc khổ đau, sầu
Buồn, ghét giận cô nàng đang cất giấu
Thay vào bằng mật ngọt lẫn yêu thương

Anh sẽ là loài chim đậu đầu giường
Ru nhè nhẹ qua từng đêm thao thức
Kể em nghe trang dầy bao ký ức
Để đêm dài giấc ngũ được bình yên

Anh sẽ là loài chim quý, của riêng
Dâng trọn hết. Hỡi ! Nàng tiên con gái
Anh sẽ mãi và sẽ yêu em mãi
Dệt vào lòng những tia nắng ban mai.

                                      Thủy Điền
                                     09-09-2016

READ MORE - LOÀI CHIM KỲ DIỆU - Thơ Thủy Điền