Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, July 28, 2013

Ngọc Châu giới thiệu phần 2 tập "108 BÀI THƠ ĐƯỜNG CHỌN DỊCH" của dịch giả Phạm Đình Nhân

                                                                


    Dịch giả Phạm Đình Nhân là Chủ tịch Quỹ Giải thưởng Phạm Thận Duật, nguyên Phó Giám đốc Trung tâm UNESCO Thông tin tư liệu LS&VHVN, hiện ở 110 Ngõ 158 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội

    Năm nay bác đã trên 80 tuổi, thuộc vào lớp người "xưa nay hiếm". Hiếm vì là nhà thơ cao tuổi đã đành, nhưng hiếm nhất chính là vi bác thông hiểu Hán tự. Lớp người như bác đúng là càng ngày càng ít đi đối với đất nước chúng ta hiện nay. Vậy nên khi nhận được tập "108 BÀI THƠ ĐƯỜNG CHỌN DỊCH" của bác gửi tặng tôi nghĩ mình có trách nhiệm phải giới thiệu càng rộng rãi càng tốt tới mọi người yêu thơ - nhất là với những người yêu thích thơ luật Đường (TLĐ), hiện đang sinh hoạt ở rất nhiều Câu lạc bộ TLĐ trên toàn quốc. Cũng là góp phần nhỏ vào việc lưu giữ cho thế hệ sau một tài liệu tham khảo cho kho tàng thơ Đường thu thập được từ trước đến nay.

    Tập thơ gồm 108 bài thơ chọn dịch, chia làm hai phần.

    Phần thứ nhất gồm 50 bài thơ Đường của 30 nhà thơ Trung quốc xếp theo vần A-B-C, phần thứ hai gồm 58 bài thơ chữ Hán của 36 nhà thơ Việt Nam xếp theo thời gian.

    Tuy Ngọc Châu có được học 6 năm Trung văn ở trường phổ thông nhưng từ ngày ấy đến nay ít dùng, tri thức về Hán học rất hạn chế nên chỉ mong muốn được giới thiệu tới nhiều độc giả mà không dám luận bình gì về các bản dịch. Phần này xin giành cho người đọc có những phẩm bình sau khi đọc tác phẩm thơ của dịch giả Phạm Đình Nhân (mail của bác Nhân: (phdinhnhan@gmail.com ), điện thoai: 04.37221708 – 0987552467.

    Do dung lượng tập thơ khá dài nên mỗi lần chỉ giới thiệu từ 1 đến 2 tác giả, Ngọc Châu cũng mạn phép làm theo người xưa là góp thêm một số bản dịch của mình chỉ để cho sự cảm nhận bài thơ nguyên tác được phong phú hơn mà thôi.)


2. CHƯƠNG KIỆT

6. XUÂN BIỆT
 Nguyên tác :  春  別


掷  下  籬  撞  指  乱  山
趨  程  不  待  鳳  笙  残
掷  邊  馬  爵  金  含  去
樓  上  人  垂  玉  助  看
柳  陌  雖  然  風  嬝  嬝
通  河  猶  自  雪  谩  谩
殷  勤  莫  厭  貂  裘  重
恐  犯  三  邊  五  月  寒


              Phiên âm : Xuân biệt

Trịch hạ ly chàng chỉ loạn sơn,
Xu trình bất đãi phượng sinh tàn.
Hoa biên mã tước kim hàm khứ,
Lầu thượng nhân thuỳ ngọc trợ khan.
Liễu mạch tuy nhiên phong niểu niểu,
Thông hà do tự tuyết man man.
Ân cần mạc yếm điêu cừu trọng,
Khủng phạm Tam Biên [1] ngũ nguyệt hàn.

Dịch thơ :   
Phạm Đình Nhân dịch 2007

Xuân ly biệt
Buông chén lên đường hướng núi cao
Ra đi không có phượng vui chào.
Ngựa hoa tiễn bước bên đường vắng
Ai khóc trên lầu lệ nghẹn ngào?
Rặng liễu gió lùa phơ phất vẫy
Hàng thông tuyết phủ ngạt ngào sao!
Tam Biên lạnh đến tháng Năm đấy
Áo ấm lông cừu nhớ mặc vào!
Ngọc Châu dịch 2013 (tham khảo)
Xuân biệt

Chén buông, hướng núi lên đường
Phượng không theo tiễn dặm trường non cao
Ngựa hoa đơn bước lẻ sao
Nghẹn ngào ai khóc lầu cao lệ tràn
Phất phơ liễu rủ gió ngàn
Thông reo tuyết phủ như càng dài xa
Áo lông cừu phủ  xông pha
Tam Biên lạnh đến nửa già tháng Năm!
[1] Tam Biên : Chỉ 3 xứ biên giới: Tây, Bắc  và Tây bắc, nơi này tháng 5 còn lạnh
      
3. DƯƠNG SỸ NGẠC

7. ĐĂNG LÂU
Nguyên tác :  登  樓


槐  柳  蕭  疏  繞  郡  城
夜  添  山  雨  作  江  聲
秋  風  南  陌  無  車  馬
獨  上  高  樓  故  國  情

Phiên âm : Đăng lâu

Hoè liễu tiêu sơ nhiễu quận thành,
Dạ tiêm sơn vũ tác giang thanh.
Thu phong nam mạch vô xa mã,
Độc thướng cao lâu cố quốc tình.


Dịch thơ :            
Phạm Đình Nhân dịch 2007
Lên lầu
Hoè liễu quanh thành sao xác sơ,
Đêm nghe mưa núi đổ tràn bờ,
Gió thu dọc tuyến nam xe vắng,
Đơn độc lên lầu nhớ chốn xưa.
Ngọc Châu dịch 2013 (tham khảo)
 Lên lầu
Quanh thành hòe liễu xác xơ
Đêm nghe mưa núi tràn bờ năm canh
Gió thu xe tuyến vắng tanh
Lên lầu cao một bóng mình nhớ quê.
4. ĐỖ MỤC
(803 – 852)


Đỗ Mục (803-852), nhà thơ Đường, tự là Mục Chí, hiệu Phàn Xuyên, người huyện Vạn Niên, Kinh Triệu, Thiểm Tây (Trung Quốc). Đỗ tiến sĩ năm 828 đời Đường Văn Tông. Làm quan từ chức Tiết độ sứ Hoài Nam, Giám sát Ngự sử tại Lạc Dương. Sau bị đổi làm Thứ sử Hoàng Châu. Về triều, làm Khảo công lang, Tri chế cáo, rồi làm Trung thư xá nhân.
Ông là tác giả bài A Phòng cung phủ nổi tiếng.

8. XÍCH BÍCH HOÀI CỔ

 Nguyên tác :  赤  壁  懷  古

折  戟  沈  沙  鐵  未  銷
自  將  磨  洗  認  前  朝
東  風  不  與  周  郎  便
銅  雀  春  深  鎖  二  喬


Phiên âm :  Xích Bích hoài cổ

Chiết kích trầm sa thiết vị tiêu,
Tự tương ma tẩy nhận tiền triều.
Đông phong bất dữ Chu lang tiện,
Đồng tước xuân thâm tỏa nhị kiều.
                        
Dịch thơ :
Phạm Đình Nhân dịch 2005
Nhớ chuyện Xích Bích xưa (1)

Kích vùi trong cát thép không tiêu,
Mới thấy triều xưa luyện thép nhiều.
Không gió đông nam Chu cũng chịu,
Còn đâu Đồng Tước với Hai Kiều?(2)
Ngọc Châu dịch tham khảo năm 2013
Nhớ chuyện xưa Xích Bích

Cát vùi kích vẫn không tiêu
Mới hay xưa luyện thép nhiều lắm thay
Gió đông nam Chu gặp may
Hai Kiều, Đồng Tước không bay sang Tào.


 9. THẤT TỊCH
 Nguyên tác : 七  夕

銀  燭  秋  光  冷  畫  屏
輕  羅  小  扇  樸  流  螢
天  階  夜  色  涼  如  水
臥  看  牵  牜  職  女  星              

Phiên âm : Thất tịch

Ngân chúc thu quang lãnh họa bình,
Khinh la tiểu phiến phác lưu huỳnh.
Thiên giai dạ sắc lương như thủy.
Ngọa khán Khiên Ngưu Chức Nữ tinh.   

Dịch thơ :
Phạm Đình Nhân dịch 2005   

Đêm thất tịch (1)
1. Đuốc thu lạnh chiếu lên tranh,
Quạt  xua đom đóm đưa nhanh nhẹ nhàng.
Sắc đêm trời nước dịu dàng,
Lặng nhìn Chức Nữ Ngưu lang tỏ tình

2. Ánh nến bao chùm lên bức tranh
Quạt xua đom đóm xúm bâu quanh
Nền trời đêm tối như mâm nước
Nằm ngắm  Chức Ngưu đang tỏ tình
Ngọc Châu dịch tham khảo năm 2013


Đêm ngâu

Nến thu soi tỏ bức tranh
Quạt xua đom đóm vờn quanh chập chờn
Gương trời đêm đẹp mê hồn
Ngưu Lang Chức Nữ đang còn say duyên



10. THANH MINH

Nguyên tác :  清   明


清  明  時  節  雨  纷  纷
路  上  行  人  欲  斷  魂
借  問  酒  家  何  處  有

牧  童  遙  指  杏  花  村

                        

Phiên âm: Thanh minh

Thanh minh thời tiết vũ phân phân,
Lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn,
Tá vấn tửu gia hà xứ hữu,
Mục đồng dao chỉ Hạnh Hoa thôn.
                      

Dịch thơ: 
Phạm Đình Nhân dịch  2007

Tiết Thanh minh

Dầm dề mưa bụi tiết thanh minh,
Buồn thấm đường đi khách lữ hành
Muốn hỏi đâu đây nơi quán rượu
Mục đồng chỉ tận Hạnh Hoa thôn.         
Ngọc Châu dịch tham khảo năm 2013

             Thanh Minh

Thanh minh mưa bụi dầm dề
Lữ hành khách đã  ủ ê chân chồn
Quán rượu muốn hỏi đâu còn
Mục đồng chỉ Hạnh Hoa thôn xa mù.


11. LỮ TÚC
Nguyên tác: 旅  宿

旅  館  無  良  伴
凝  情  自  剿  然
寒  燈  思  舊  事
斷  雁  警  愁  眠
遠  夢  歸  侵  晓
家  書  到  隔  年
倉  江  好  煙  月
門  繫  釣  魚  船                  


Phiên âm:  Lữ túc

Lữ quán vô lương bạn,
Ngưng tình tự tiễu nhiên.
Hàn đăng tư cựu sự,
Đoạn nhạn cảnh sầu miên. 
Viễn mông quy xâm hiểu,
Gia thư đáo cách niên.
Thương giang hảo yên nguyệt,
Môn hệ điếu ngư thuyền.

Dịch thơ :  
Phạm Đình Nhân dịch 2006

Ở quán trọ
Quán nghèo không có bạn thân,
Tâm tình lắng đọng như gần như xa.
Khêu đèn nhớ lại chuyện xưa,
Ngủ  buồn  ngưng tiếng nhạn  vừa  bay ngang.
Nằm mơ mộng mị tràn lan,
Thư  nhà năm ngoái mới sang một  lần.
Sông xanh trăng khói tuyệt trần,
Thuyền câu ai buộc cửa sân lạnh lùng.   
Ngọc Châu dịch tham khảo năm 2013

             Quán trọ
Quán trọ không bạn hiền
Tâm tình lắng tự nhiên
Đèn khêu ôn chuyện cũ
Tiếng nhạn buồn ngang thềm
Tràn lan cơn mộng mị
Thư nhà chưa đến thêm
Sông xanh mờ sương khói
Thuyền câu neo gần hiên

5. ĐỖ PHỦ
(712 – 770)

Đỗ Phủ , tự là Từ Mỹ, nhà thơ Trung Quốc nổi tiếng đời Đường. Sinh ở Dao Loan, huyện Củng, tỉnh Hà Nam vào năm Đường Huyền Tông lên ngôi (712). Nổi tiếng thông minh hoạt bát. Gần xuốt cuộc đời ông đi lang bạt nhiều nơi do loạn lạc. Mãi đến năm 757 khi 45 tuổi mới nhận chức quan rồi lại bỏ. Sống trong cảnh bần hàn. Nhưng đi đến đâu cũng có thơ để lại. Mất tại Lôi Dương, thọ 59 tuổi.

12. TUYỆT CÚ 1

                      Nguyên tác:   绝  句

                   江  碧  鳥  逾  白
                   山  青  花  欲  然
                   今  春  看  又  過
                   何  日  復  归  年 


Phiên âm: Tuyệt cú 1

Giang bích điểu du bạch,
Sơn thanh hoa dục nhiên.
Kim xuân khan hựu quá,
Hà nhật phục quy niên

                        
                             Dịch thơ
Phạm Đình Nhân dịch  2004

       Tuyệt cú 1
1. Sông xanh chim trắng bay,
Đồi xanh hoa nở thắm.
Ngày xuân sao quá ngắn,
Bao giờ ta về đây?

  2. Sông xanh, ngập trắng chim bay lượn,
Đồi núi nghìn trùng nở sắc hoa.
Xuân này lại sắp trôi qua,
Bao giờ mới biết ngày ta trở về?:
                   
3. Chim trắng bay đùa trên nước xanh,
Hoa đua nhau nở khắp đồi tranh.
Ngày xuân sao vội qua nhanh thế,
Biết đến bao giờ về đất lành.
Dịch 2004
Ngọc Châu dịch tham khảo năm 2013






Tuyệt cú 1

Sông xanh chim trắng lượn bay
Ngàn hoa thắm đang nở dày non cao
Ngày xuân mới ngắn làm sao
Ôi quê xa, biết khi nào hồi hương?



    

   13. TUYỆT CÚ 2

Nguyên tác :  绝  句

两  个  黄  冥  明  翠  柳
一  行  白  路  上  青  天
窗  晗  西  岭  天  秋  雪
門  箔  東  吳  萬  浬  船                  


Phiên âm : Tuyệt cú 2

Lưỡng cá hoàng ly minh thúy liễu,
Nhất hàng bạch lộ thướng thanh thiên. 
Song hàm Tây lĩnh thiên thu tuyết,
Môn bạc Đông Ngô vạn lý thuyền.

                       

                              Dịch thơ : 
Phạm Đình Nhân dịch  2004

     Tuyệt cú 2
Đôi cánh oanh vàng bên nhánh liễu,
Một  hàng cò trắng trải trời xanh.
Tuyết trên Tây lĩnh nghìn năm phủ
Ngoài cửa Đông Ngô vạn cánh thuyền
Ngọc Châu dịch tham khảo năm 2013

           Tuyệt cú 2
Nhành liếu đậu cặp oanh vàng
Đàn cò trải thẳng một hàng trời cao
Tây Lĩnh tuyết ngàn năm bao
Cửa Đông Ngô biển đếm sao hết thuyền


14. ĐĂNG NHẠC DƯƠNG LÂU

Nguyên tác :       登  岳  楊  樓

                   昔  聞  洞  庭  水
                   今  上  岳 楊  樓
                   吳  楚  東  南  坼
                   乾  坤  日  夜  浮
                   親  朋  無  一  字
                   老  病  有  孤  舟
                   戎  馬  關  山  北
                   憑  軒  涕  泗  流



Phiên âm :  Đăng Nhạc Dương lâu

Tích văn Động Đình thuỷ,     
Kim thướng Nhạc Dương lâu.
Ngô Sở đông nam săch,
Kiền khôn nhật dạ phù.
Thân  bằng vô nhất tự,
Lão bệnh hữu cô chu.
Nhung mã quan san bắc,
Bằng hiên thế tứ lưu

                                                     Dịch thơ :
Phạm Đình Nhân dịch  2007

Lên lầu Nhạc Dương[2]

Động Đình ta đã nghe tên
Nhạc Dương nay mới bước lên thăm lầu.
Đông nam Ngô, Sở[3] hai đầu,
Đất trời mãi mãi dãi dầu ngày đêm.
Người thân tin tức chẳng lên,
Một mình bệnh hoạn sống bên con đò
Binh đao ải bắc còn lo,
Tựa thềm lệ ướt khóc cho cuộc đời.
Ngọc Châu dịch tham khảo năm 2013

Thăm lầu Nhạc Dương

Động Đình tên nghe đã lâu
Hôm nay mới đến thăm lầu Nhạc Dương
Ngô, Sở đông - nam hai phương
Dãi dầu mưa nắng tha hương đêm ngày
Người nhà tin chẳng qua đây
Cô đơn bệnh hoạn đò này mình ta
Binh đao ải Bắc lo xa
Tựa thềm mắt lệ ướt nhòa trần ai.

Ngọc Châu
                                                       ngocchaunvhp@gmail.com                                                     ngocchaunvhp@gmail.com







(1) Nói về trận Xích Bích : Chu Du, nguyên soái Đông Ngô nhờ kế hỏa công của Khổng Minh dùng gió đông nam  phá tan hơn 80 vạn quân Tào Tháo.
(2) Nhị Kiều : Đại Kiều vợ Tôn Sách, Tiểu Kiều vợ Chu Du. Để khích Chu Du đánh Tào tháo, Khổng Minh đã nói : “Tào Tháo thường nói xây đài Đồng Tước để mua vui với Nhị Kiều”
(1) Đêm Thất tịch, (Mồng 7 tháng 7 âm lịch) tương truyền đó là đêm hai sao Khiên Ngưu và Chức Nữ gặp nhau.
[2] Lầu Nhạc Dương ở huyện Nhạc Dương tỉnh Hồ nam, nằm đối diện với hồ Động Đình .
[3] Ngô Sở : Hồ Động Đình phía đông là đất Ngô, phía nam là đất Sở.


VNQT: Nếu máy tính của bạn không đọc đựợc chữ Hán, bạn có thể tham khảo những trang học tiếng Trung Quốc trên mạng để cài đăt.


READ MORE - Ngọc Châu giới thiệu phần 2 tập "108 BÀI THƠ ĐƯỜNG CHỌN DỊCH" của dịch giả Phạm Đình Nhân

CÓ MỘT “NƠI ẤY BÌNH YÊN” - Tâm Lễ-Nguyễn Ngọc Luật

(Cảm nhận tập sách Tranh-Ảnh-Thư pháp NƠI ẤY BÌNH YÊN của thầy Minh Đạo)



Trong kiếp nhân sinh nơi cõi trần gian nầy, cuộc sống luôn bôn ba, cuốn hút vào vòng xoáy của nợ áo cơm, của danh, của lợi, của quyền lực, của tiền tài... Ôi thôi! trăm ngàn thứ nó đeo đẳng lên kiếp sống khiến cho ta phải tất bật, đầu tắt mặt tối để đi tìm những thứ để thỏa mãn dục vọng trong ta, cho đến một lúc nào đó tỉnh giấc Nam Kha thì “bao nhiêu năm làm kiếp con người, rồi một chiều tóc trắng như vôi...” và “nhìn lại mình đời đã xanh rêu” như cố nhạc sỹ Trịnh Công Sơn đã nói, cho đến khi ra đi giã từ hơi thở thì thấy tất cả chỉ là phù du ảo mộng.

Thế nhưng ta vẫn trôi lăn theo dòng đời dẫu rằng đôi khi thấy mệt mỏi rã rời, và chúng ta cảm thấy hụt hẫng, chới với nên vội đi tìm chỗ an trú cho tâm hồn, rất nhiều người tìm đến đức tin để mong rằng sau khi giả từ cõi thế sẽ được lên tới một nơi bình an nào đó như là cõi Cực Lạc hay Thiên Đường! Và trong khi chờ đợi, chúng ta tiếp tục sống trong khổ đau, phiền não. Ta đâu biết rằng cõi Tịnh Độ ngay chốn trần gian khi ta biết quay về nương tựa vào chính mình, buông xả đi mọi dục vọng, quá khứ không truy tìm, vì quá khứ đã qua rồi, tương lai không ước vọng vì tương lai thì chưa đến, sống an trú trong hiện tại, thiểu dục tri túc, an nhiện tự tại vì ta biết rằng “Xôn xao trong cõi Ta Bà, thịnh suy vinh nhục chỉ là sắc không”. Mọi sự khổ đau, phiền não sẽ tan biến khi ta biết sống tỉnh thức, an trú trong hiện tại đó chính là NƠI ẤY BÌNH YÊN.

Tập sách TRANH-ẢNH-THƯ PHÁP của thầy Minh Đạo (phu quân cô Võ Thị Hồng) được lồng ghép hết sức tinh tế,  nghệ thuật giữa những bức tranh, ảnh đậm chất thiền với những câu Pháp cú, Thiền ngữ được thể hiện bằng nét bút tài hoa của thầy.

Quyển sách gần 70 bức tranh thư pháp đều tập trung thể hiện một chủ đề “NƠI ẤY BÌNH YÊN”. Qua tập sách thầy đã gởi gắm một thông điệp về một phương pháp sống an lạc ngay trong cuộc đời đầy khổ đau nầy. Hãy để tâm tư ta thật lắng đọng, an tịnh rồi lần giở từng trang sách, chậm rãi ngắm từng bức tranh, nghiền ngẫm từng câu chữ ta sẽ thấy như đang đi vào một chốn thiền môn, vạn vật đều an nhiên tự tại, một sự tĩnh lặng sâu thẳm trong tâm hồn, ta cảm nhận được từng hơi thở an lạc, một mặt hồ phẳng lặng soi bóng núi xanh và bầu trời bồng bềnh mây trắng lãng du...

Những ngày tháng hạ,

Tâm Lễ-Nguyễn Ngọc Luật




Tác giả của tập Tranh-Ảnh-Thư pháp NƠI ẤY BÌNH YÊN:
Minh Đạo
minhdao1160@yahoo.com.vn
minhdao1160@gmail.com
Đt: 098 451 2130

 
READ MORE - CÓ MỘT “NƠI ẤY BÌNH YÊN” - Tâm Lễ-Nguyễn Ngọc Luật

Trang thơ giao lưu của người cao tuổi: Sĩ Chương, Lê Văn Thanh, Trương Đình Đăng, Lê Đăng Mành, Hạ Thái Trần Quốc Phiệt


MONG
Sĩ Chương (Đà Nẵng)
Gửi: Hai Nẫu

Bâng khuâng không biết có về chơi ?
Buổi trước ra đi có dặn rồi
Cửa mở chờ người nên chẳng khóa
Lòng vui đợi bạn chắc không rời
Vườn sau quê ngoại trăng còn sáng
Cổng trước sân nhà lá vẫn rơi
Trông tháng mong ngày? ra ngõ đón
Bên nhau tâm sự nỗi đầy vơi.
               


CHÂN DUNG TỰ HỌA
Lê Văn Thanh

Tuổi tác qua rồi ngưỡng sáu mươi
Nan y tứ chứng đủ trong người
Thân gầy sức hết tâm bình thản
Tai bạt tài không mặt vẫn tươi
Đạm bạc muối dưa cầu vị đạo
Buồn vui kinh sách ủ men đời
Nhân tình thế lợi thôi bàn tới
Dòng chảy vô thường bóng nước trôi


CHIỀU
Lê Văn Thanh

Chim bay về núi khuất dần xa
Cảnh sắc mung lung nhuốm ánh tà
Bóng ngã đường dài thương nỗi phận
Mây giăng quán khách nhớ quê nhà
Bạn bè một thuở ai còn mất
Người cũ bây giờ có biết ta...
Bạc trắng thời gian in mái tóc
Lòng canh cánh mãi chẳng phai nhòa



ĐÊM TRẮNG
Trương Đình Đăng (Đà Nẵng)
Họa bài ĐÊM ĐÔNG của Trần Ngộ

ĐỌC XUÔI

Đêm trắng thức chừ ai biết chưa?
Lẽ đời xa bạn gối chăn thừa
Thềm ngưng bóng khuyết trăng vờn gió
Ngõ đọng sương mờ lá cợt mưa
Êm mái dậy triều mong nỗi đợi
Thuận dòng xao sóng nhớ niềm đưa
Mềm thân lạnh buốt heo lùa rít
Thêm rối dạ này cảnh sớm trưa

ĐỌC NGƯỢC

Trưa sớm cảnh này dạ rối thêm
Rít lùa heo buốt lạnh thân mềm
Đưa niềm nhớ sóng xao dòng thuận
Đợi nỗi mong triều dậy mái êm
Mưa cợt lá mờ sương đọng ngõ
Gió vờn trăng khuyết bóng ngưng thềm
Thừa chăn gối bạn xa đời lẽ
Chưa biết ai chừ thức trắng đêm




NHỚ CỐ NHÂN
Bài xướng Lê Đăng Mành (Quảng Trị)

Mở ngõ vườn xưa đón khách văn
Lùa sương giăng thoáng gót phong trần
Nguyễn Hoàng một thuở tình vương vấn
Đồng Khánh muôn đời nghĩa chứa chan
Nỗi nhớ gắp chờ vui hội ngộ
Niềm đau gánh mãi sợ“đàn quan”
Ao đời mong mỏi thuyền quay lại
Bến cũ soi chiều vọng cố nhân.



NHÂN VĂN
Bài họa Hạ Thái Trần Quốc Phiệt
(San Jose, Ca., USA)

Đốt lò hương cũ khóc người Văn
Chiêu niệm hồn thiêng nhập cõi trần
Ôn thuở thân khô không nước uống
Nhớ thời cơm nhạt chẳng canh chan
Vần thơ khẳng khái bày tâm huyết
Nét bút hiên ngang vẽ mặt quan
Khí tiết ngàn sau còn rạng rỡ
Chói ngời giai phẩm của làng Nhân....
                               
 July, 20-2013



READ MORE - Trang thơ giao lưu của người cao tuổi: Sĩ Chương, Lê Văn Thanh, Trương Đình Đăng, Lê Đăng Mành, Hạ Thái Trần Quốc Phiệt

CHIỀU PHỐ VỌNG - Nguyễn Khôi


Nguyễn Khôi


Nhà văn Nguyễn Khôi - Hội Viên Hội Nhà Văn Hà Nội - vừa gửi email đến chúng tôi giới thiệu về tập thơ CHIỀU PHỐ VỌNG  của ông, do nhà xuất bản Hội Nhà Văn ấn hành. Trang VĂN NGHỆ QUẢNG TRỊ  đăng một số bài thơ in trong tập thơ vừa giới thiệu trên






   



   CHIỀU PHỐ VỌNG


      “Người ta vọng chức quên tình
       Tôi nay phố Vọng một mình Vọng Em”
 


   Nắng óng ả xanh cao chiều phố Vọng
   Hoa sữa vương hương cốm đầu mùa
   Em xuất hiện như thiên thần lồng lộng
   Rất diệu kỳ mà lại rất thơ

   Đâu có phải bờ sông Lô hoang vắng
   Gió dập dờn mây trắng ngút ngàn lau
   Sông cứ chảy vờn sau tà áo trắng
   Mặc thời gian như nước chảy qua cầu…

   Ai mơ tưởng từ lâu câu chuyện cũ
   Mối duyên thơ như trời đã đặt bày
   Em cứ nói lòng mình qua hơi thở
   Để cho anh uống cả tứ thơ say

   Thật mộng ảo đâu đây chiều phố Vọng
   Em có duyên rạng rỡ lạ kỳ
   Anh trẻ lại với tình thơ sống động
   Sông Lô hời…
   ai đó gọi trên kia. 


       Phố Vọng, Hà Nội 2-9-2000
     SDC10604.JPG



   AO LÀNG

   Vượt biển, chơi hồ, trở quá giang
   Bỗng dưng lại thấy nhớ ao làng
   Cái đêm hè ấy ai ra tắm
   Để cả bầu trời phải tắt trăng.


   GỬI TUYÊN QUANG

   Ừ có hẹn cũng chưa về Tuyên được
   Bếp lửa nhen ai đó sưởt riêng lòng
   Đêm Hà Nội đã nhạt mùi hoa sữa
   Tưởng tóc ai phảng phất hương rừng
   Xa để nhớ một khúc thành sót lại
   Một đoạn đường cát bụi tím bằng lăng
   Một bến thuyền bắc cầu trong mong đợi
   Một đêm thơ ai đọc lệ rơi thầm.
  Để ai đấy ở lại cùng thành cổ
  Mỗi sớm mai xuống chợ thả xuôi dòng
  Ngồi thư viện xem chừng chưa ấm chỗ
  Nghe gió mùa xao xác suốt triền sông.
  Từ thượng nguồn ai trông về cuối bãi
  Để ai kia khắc khoải những mong chờ
  Thôi, cứ thế cho thời gian gió thổi
  Gieo vào lòng một chút sóng sông Lô.
      

  ĐI CHỢ NỔI "CÁI RĂNG"
                 Tặng Vũ Quang Tần.
     «Cái Răng, Vàng Xáng, Xà No
     Thương em đóng một con đò đón anh »
                                  (Ca dao Nam Bộ)
   Trên sóng nước nghe thuyền về họp chợ
   Ơi Cái Răng, xăng xải mái chèo khua
   Cứ như thể cả xứ mình là biển
   Để miết vườn chìm trong nỗi âu lo?
   Anh đi chợ chẳng bán mua gì cả
   Người Thăng Long tìm kiếm chất Nam Kỳ
   Ngồi giỡn sóng say đàn ca tài tử
   Mà chị hai Quan Họ đã từng mê.
   Thuyền Cái Răng bập bếnh chen họp chợ
   Quả sầu riêng anh cắn ngập buồn riêng
   Thật xởi lởi tấm lòng người Nam Bộ
   Sớm mai ngày mang về bến Long Biên.

   (Viết trên sông Cần Thơ, sáng 29 – 11- 2010)
   -------------------------
  (*) : Tên gốc khmer= k’ran, là nơi hội tụ nhiều ghe thuyền dân bản địa xưa về họp chợ bán loại bếp lò « Cái Răng»...  
          

   BẢN CHIỀNG LY
                  (Tặng T.H)

   Bản Chiềng Ly chưa đi đã nhớ
   Phố chênh vênh bên núi bên hồ
   Gái bản từ lâu quen chợ búa
   Trai Thuận Châu bao bạn nằm mơ.

   Người Chiềng Ly hay đi đây đó
   Mùa hoa Ban về dự hội làng
   Quả Còn lửa bay ngang trời phố nhỏ
   Trái tim hồng thiếu nữ đón xuân sang.

   Tôi say đắm yêu cô nàng như thế
   Cha mẹ thương cho về ở Kinh Kỳ
   Không ở rể mà vẫn là rể quý
   Để mỗi năm lại lên Tết Chiềng Ly.
   

            
                    Thuận Châu, hè 1993    
                    Nguyễn Khôi

READ MORE - CHIỀU PHỐ VỌNG - Nguyễn Khôi

GIAO MÙA - La Thuỵ và các thi hữu


    
       
       GIAO MÙA

       Heo may xào xạc lá vàng rơi
       Vạt nắng vàng hanh nhuộm góc trời
       Chao cánh đùa mây bầy hải yến
       Nghiêng đầu hé nụ đóa mân côi *
       Niềm đau hạ cũ dường đang cạn
       Nỗi nhớ thu xưa tựa đã vơi
       Cốm nếp đầu mùa hương nhẹ thoảng
       Phím đàn ngân vọng nhạc lòng rơi
                                             La Thuỵ   
       * Mân côi (hoặc mai khôi): Hoa hồng 


       HOẠ:

       Bài  hoạ 1
       TIỄN MÙA

       Bụi lốc thời gian đọng nắng rơi
       Xa xăm mây bạc rẽ chân trời
       Tràn đầy vị đắng thu vườn độc
       Rỗng tuếch nụ mềm hạ bóng côi
       Tìm rượu giải sầu - sầu chất ngất
       Mượn đàn quên lạnh - lạnh chơi vơi
       Khăn thêu mùa cũ còn nguyên nếp
       Buồn ngập hiên lòng gót phượng rơi
                                                  Ca Dao

        Bài  hoạ 2 
        GẶP THU

       Thu dắt tôi về đếm lá rơi
       Heo may mấy ngọn nấp bên trời
       Mưa buồn hiu hắt ngày đau ốm
       Nắng ngủ vật vờ giấc cút côi
       Hạ rớt gật gù đêm tối lặng
       Cúc cười bẻn lẻn ánh tà vơi
       Áo vàng ai vắt ngang mùa đó
       Tắm gội hương tình mộng có rơi 
                                                 PyN

       Bài  hoạ 3  
       VÔ ĐỀ

       Nắng nhạt mây mù thoảng lá rơi
       Sương khuya nguyệt lạnh úa khung trời
       Thiên nga gác mỏ vài con lẻ 
       Cái ngỗng chúi đầu một bóng côi
       Sắc đỏ rừng phong ngày mãi thắm
       Màu xanh cành liễu lúc dần vơi
       Heo may chợt rét đêm vàng vọt
       Mái rạ xì xèo tiếng nước rơi
                                          Ký Gàn

       Bài  hoạ 4                      
       VÔ ĐỀ

       Dông bão phương nào mưa nặng rơi
       Mây giăng thấp nhuộm xám chân trời
       Ngư ông gác mái nằm cô quạnh
       Hành khất về nơi ngủ cút côi
       Thời tiết vô thường khi ấm lạnh
       Nhân tình bất ổn lúc đầy vơi
       Giao mùa cơ cực vì cơm áo
       Mấy thuở an nhàn ngắm lá rơi.
                               Cao Linh Tử

READ MORE - GIAO MÙA - La Thuỵ và các thi hữu

GA ĐỜI - thơ Trương Điện Hòa

Trương Điện Hòa

  
Xin được mời em chung rượu nữa
Uống đi, ta sẽ đọc bài thơ
Câu thơ kể chuyện người ly xứ
Còn đọng trong ta mãi đến giờ

Ngày ấy ra đi chiều cuối hạ
Để người mong đợi đến mòn thu
Bao lần ngoảnh mặt về phương ấy
Chỉ thấy mây giăng nẻo tít mù

Từ đó ta làm thân lữ khách
Dập dềnh nước đẩy lục bình trôi
Qua bao gềnh thác, bao bờ bến
Chẵng biết khi nào mới đến nơi

Quê hương là cái gì em nhỉ ?
Cứ bám theo ta mọi nẻo đường
Áo cơm tất bật đời di trú
Đêm nằm thao thức nhớ quê hương

Rồi một ngày kia ta trở về
Nhìn chiều nắng nhạt dọi chân đê
Bạn bè tứ tán đi trăm ngã
Cũng bận lo toan đủ mọi bề

Chung rượu tương phùng không có bạn
Câu thơ ly xứ đọc cùng ai?
Thôi thì nâng chén mời em cạn
Ta sẽ viễn trình lúc sớm mai.

BRVT 27.07.2013


TRƯƠNG ĐIỆN HÒA
READ MORE - GA ĐỜI - thơ Trương Điện Hòa

SƯƠNG KHÓI - thơ Thy Lệ Trang



Hãy uống cùng em chén rượu này
Cho hồn lơ lửng giữa vòm cây
Men cay - lệ đắng - nhòa cơn mộng
Mắt tủi - môi sầu - đẫm giấc say
Tìm bóng trăng xưa - trăng gió thổi
Ôm lòng chuyện cũ - chuyện mây bay
Gương treo hờ hững lưu niềm nhớ
Soi dáng hoa gầy, nét ngọc phai.

Soi dáng hoa gầy, nét ngọc phai
Niềm vui, hạnh phúc được bao ngày?
Có không, không có - tràn tay trắng
Say tỉnh, tỉnh say - ngập lệ đầy
Cát bụi ngậm ngùi thân cát bụi
Đường mây ngơ ngẫn bóng đường mây
Rong rêu phủ lối ngàn năm trước
Kiếp sống chỉ là... sương khói bay...

 THY LỆ TRANG
 MASS., USA
READ MORE - SƯƠNG KHÓI - thơ Thy Lệ Trang

Trang thơ nhân ngày Thương Binh Liệt Sĩ - Trần Thị Quỳnh Hoa (Tây Ninh), Phạm Văn Mão (Đà Nẵng), Nguyễn Hồng Trân (Hà Nội)

Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ (Điện Bàn, Quảng Nam).
Ảnh từ trang tintuconline.com.vn



Trần Thị Quỳnh Hoa (Tây Ninh) 
NHỚ MÃI THỜI HOA ĐỎ

Gác bút, lao vào cuộc chiến chinh
Máu xương đánh đổi sự thanh bình
Liều thân chẳng tiếc thời xuân trẻ
Vì nước xem thường chuyện tử sinh
Lịch sử khắc ghi công chiến sĩ
Non sông hòa quyện phách anh linh
Hương lòng cháy rực thời hoa đỏ
Nhớ mãi ngàn thu những bóng hình. 


HOÀI NIỆM

Tấm thân đã quyết gởi sa trường
Gác lại quê nhà những nhớ thương
Bom nổ không run lòng chiến sỹ
Khói mù khó khuất ánh quang dương
Hào sâu tiếng cuốc vang lòng đất
Rừng thẳm lời ca quyện gió sương
Đau đáu trong ta thời máu lửa
Ngày về tóc bạc vẫn hoài vương.

TTQH
tranquynhtn@yahoo.com.vn 



Phạm Văn Mão (Đà Nẵng)
NHỚ BẠN

Tháng Bảy về nao nao lòng nhớ bạn
Hai đứa xa nhau đã bốn chục năm rồi
Tóc pha sương ôn lại tuổi thơ tôi
Ngày hai đứa quần đùi nâu đến lớp
Đèn sách bên nhau kể từ năm lớp một
Bom Mỹ dội nhiều lại sơ tán cùng nhau
Hai đứa ước mơ giặc giả qua mau
Đất nước bình yên để vào trường đại học
... Rồi chiến tranh
... Rồi tang thương – chết chóc !
Bạn với mình - hai đứa lại ra đi.
Áo lính trang nghiêm dưới lá Quốc kỳ
Mắt sáng long lanh hai đứa mình tuyên thệ
Nhớ ngày ấy sao bạn vui đến thế ?
Buổi chia tay không một giọt lệ trào
Đêm hành quân ngước mắt ngắm trời sao
Cả hai đứa lại hướng về phương Bắc
Thương nhớ mẹ cha đang bước vào mùa gặt
Không biết bom thù còn ném xuống quê ta ?
Những bức thư nhà hai đứa lại đem ra
Cùng đọc chung nhau dưới ánh đèn pháo sáng
Thuốc lá sợi vàng mình mang theo mấy lạng
Quấn lá rừng mỗi đứa rít mỗi hơi ...
Đằng đẵng bốn mươi năm xa cách bạn ơi !
Dân tộc đoàn viên còn mình thì mất bạn !
Rừng đêm lạnh – đất phương Nam rộng lắm
Bè bạn cùng thời chẳng biết tìm đâu !
Khắc khoải - mởi mòn tim cứ nhói đau
Mình nhớ bạn đêm chập chờn khó ngủ.
Đau đáu chờ mong, bao năm dài ấp ủ
Hỏi ai – ai biết bạn chốn nào ?
Tháng Bảy về tim mình lại nhói đau
Bởi nhớ bạn – người anh hùng trẻ tuổi
Hà tĩnh quê mình giờ đây bao thay đổi
Bạn hãy về đây thăm mảnh đất anh hùng.


RA TRẬN
(Nhật ký đi chiến trường)

Chiều tháng Bảy lệnh ra mặt trận
Cả trung đoàn thầm lặng lên xe .
Bon bon qua những miền quê
Thương cha nhớ mẹ tái tê cõi lòng.

Nhớ thằng Khánh khi vòng qua ngõ
“Cha Tích ơi! cha có nhà không ?
Con đi mặt trận phía Nam
Con đi cha mẹ đừng trông, đừng buồn ”

Xe chạy cách mấy thôn mấy xã,
Vẫn nghe lời ra rả: Khánh ơi!
Quặn lòng đau, nước mắt rơi
Chiến trường xa vẫn đợi người chiến binh .

Đoàn quân đến Quảng Bình nghỉ lại,
Đèo Lý Hòa một dải cắt ngang.
Sông Gianh cách trở đôi đàng.
Nhìn về quê mẹ ngổn ngang tơ vò.

Đất Quảng Bình nhấp nhô cát trắng
Trời Quảng Bình lắm nắng nhiều mưa
Biển Quảng Bình sóng nhấp nhô
Những ngôi nhà nhỏ đơn sơ nặng tình.

Sao quên được nghĩa tình Đức Trạch
Đã cho ta nhân cách hiếu trung
Anh Hoàng , chị Bé mến thương
Vẫn trong tôi những bước đường hiểm nguy

Nhớ em Cửu những khi tập trận,
Nấu chén canh mang tận thao trường.
Pha cho ly nước chanh đường
Giặt cho chiếc áo bụi đường hành quân.

Kể sao hết tình dân Đức Trạch
Cuộc sống nghèo nhưng nhân cách dễ thương
Lưới chài một nắng hai sương
Ở đây như chính quê hương của mình.

Được đóng quân Quảng Bình một tháng,
Được ăn chơi xả láng bốn tuần
Như hoa cỏ gặp mùa xuân
Hồng hào, trắng trẻo có phần “đẹp trai”.

PVM



Nguyễn Thành 
MẸ VẪN TÌM CON

Nghiêng nghiêng nắng ngã về chiều
Dáng gầy, chậm bước liêu xiêu, não nề
Mẹ già ở tận miền quê
Về thăm viếng mộ, bộn bề nhớ thương

Tìm con đi khắp bốn phương
Bây giờ chẳng biết ở phương trời nào
Nén bao thương nhớ nghẹn ngào
Đồng đội nằm đấy, chiến hào còn đây

Nghẹn lòng, ngấn lệ cay cay
Tìm con qua những tháng ngày gian nan
Bây giờ sức mẹ héo tàn
Nhưng tin con vẫn mênh mang, mơ hồ

Con ơi con ở nơi mô?
Để cho mẹ được viếng mồ con thơ
Bao nhiêu năm tháng mong chờ
Mẹ già khắc khoải, thẩn thờ tìm con.

NT
27/7/2013.

Thơ của hai tác giả Phạm Văn Mão và Nguyễn Thành do Mai Thị Cúc (MaiMai1960) từ Hà Tĩnh gởi đăng qua email: maicuc02@gmail.com

NGHĨA TRANG LIỆT SĨ
Nguyễn Hồng Trân (Hà Nội)

Khắp nơi trên đất Việt Nam,
Xã nào cũng có nghĩa trang ân tình.
Vì dân, vì nước hy sinh,
Thiệt thòi cho cả gia đình bản thân.
Bà con thân hữu xa gần,
Vô cùng thương tiếc, nhớ ơn đời đời.
Vinh quang đất Việt sáng tươi,
Sức mạnh dân tộc ngời ngời lan xa.
Tổ quốc vang dội bài ca,
Hồn thiêng đất nước đậm đà tình dân.
Các anh vĩnh biệt cõi trần,
Về với tiên tổ  thêm phần thiêng liêng.
Giữ gìn sông núi ba miền,
An toàn bờ cõi vững bền ngàn năm...

NHT


nghongtran38@gmail.com 
READ MORE - Trang thơ nhân ngày Thương Binh Liệt Sĩ - Trần Thị Quỳnh Hoa (Tây Ninh), Phạm Văn Mão (Đà Nẵng), Nguyễn Hồng Trân (Hà Nội)