Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, July 25, 2013

Trang đặc biệt nhân ngày Thương Binh Liệt Sĩ - Phú, thơ, văn của Đại tá Đỗ Phấn Đấu, Mai Thanh, Trường Hải-Lê Văn Đông, Nguyễn Hồng Trân, Hương Bình

Nhà bia tưởng niệm Liệt sĩ được xây dựng gần khu vực cầu Khánh Khê, nơi gắn với những chiến công vang dội của Sư đoàn 337 - Ảnh: Nguyên Phong từ Báo Thanh Niên Online


TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ Ở KHÁNH KHÊ
Đỗ Phấn Đấu 
Đại tá-chính ủy sư đoàn 337




Đại tá Đỗ Phấn Đấu, Chính uỷ Đoàn KT-QP 337 đọc bài văn tưởng niệm các liệt sĩ trong buổi lễ Khánh thành bia chiến thắng mặt trận biên giới phía Bắc, 27/7/2012 . (Ảnh: Nguyên Phong từ Báo Giáo Dục Việt Nam: http://giaodục.net.vn)


Hỡi ôi
Đất nước ngàn năm gây dựng, công lao bao đấng tiền nhân
Biên cương muôn thuở vững bền, máu xương mấy tầng đất đỏ!
Cây muốn lặng, gió chẳng đừng
Nước muốn trong, nguồn dâng lũ...

Nhớ mùa Xuân một ngàn chín trăm bảy chín:
Đất nước mới thoát họa chiến chinh
Giang sơn đang hồi sinh rạng rỡ
Rừng biên cương chưa kịp vào xuân
Lộc hạnh phúc chỉ vừa hé nụ...
Bọn phản động đê hèn tráo trở, bất luận nghĩa nhân
Lũ bất lương lộ rõ lòng tham, đâu cần quốc sỉ.

Vậy nên
Như hàng ngàn năm trước, giang sơn bỗng gặp bước nguy nan
Nghe trống trận rền vang, chim Lạc lại trùng trùng vượt lửa.

Sư đoàn 337 chúng ta
Rạo rực trong tim thắm đỏ, thiêng liêng dòng máu Lạc Long
Bừng bừng ngọn lửa ngoan cường, khí phách anh hào Nguyễn Huệ
Không thể để quân thù lấn chiếm giang sơn
Chẳng cho kẻ xâm lăng xéo dày mồ mả.
Diệu kỳ như binh pháp Hưng Đạo Vương thuở nào
Thần tốc như chiến dịch Hồ Chí Minh năm ấy
Gĩa biệt dòng Lam xanh - thành phố đỏ, quân ta cấp tốc hành quân lên Đồi Ngô, Lục Nam.
Đến tả ngạn sông Thương - điểm dừng chân, lệnh trên bất ngờ chuyển hướng về Văn Quan, Đồng Mỏ.

Đặt ba lô chưa kịp nghỉ chân
Đã bật dậy ầm ầm súng nổ
Tiếp ứng cho Trung đoàn 197/ Thái Nguyên tiêu diệt quân thù
Phòng ngự tuyến Tu Đồn - Điềm He - Khánh Khê, kiên cường chống giữ
Đánh trận đầu quyết thắng, chiến sĩ nhìn lên, lòng không thẹn với cờ
Đập tan lũ ngông cuồng, Sư đoàn báo công cùng liệt tông, liệt tổ
Ngày 26 tháng 2 Trung đoàn 4 nổ súng trận đầu, diệt quân địch, bắt sống tù binh, đất Nhạc Kỳ kiêu hãnh chiến công
Ngày 28 tháng 2, đoàn 52 phòng ngự kiên cường, pháo Thần Vũ đập nát kẻ thù, cầu Khánh Khê vững vàng đất mẹ...

Kẻ thù cậy quân đông, như biển kiến ngập tràn
Quân ta tựa lòng đất như Sơn tinh chặn lũ
Điềm He, Khuông Rì, điểm cao 559, đất sũng máu người
Khuông Luông, Chu Túc, điểm cao 649, cây rừng bốc lửa
Địch cậy lắm xe tăng, pháo binh, toan lấy thịt đè người
Ta dựa vào thế trận lòng dân, chí nhân thay cường bạo
Biết tiến, biết dừng, đập nát mưu toan hòng chia cắt quân ta
Truy kích, phản công, bẻ gãy mũi vu hồi của bầy xảo trá

Mười hai ngày đêm máu trộn đất rừng!
Một trận thư hùng, vang trời sấm nổ
Vạn tinh binh giặc cỏ, ngông cuồng như lũ trâu điên
Cánh cửa thép Lạng Sơn, thế trận hiên ngang thành lũy
Tổ quốc lại lần nữa ngân vang lời Đại cáo bình Ngô
Dân tộc thêm một kỳ hừng hực khí Lam Sơn tụ nghĩa.

Hỡi ôi!
Để giang sơn sạch quân xâm lược, bao chiến sĩ kiên trinh ngã xuống đất này
Cho biên cương yên ả thái bình, bao đứa con hiếu trung không được về với mẹ...
Sông Kỳ Cùng đâu thể phách, đâu máu đỏ dòng xanh
Rừng xứ Lạng đâu cốt nhục, đâu bụi mờ núi thẳm

Máu xương các anh không hề uổng, bia ghi công đây sáng chói từng dòng
Trận chiến ngày ấy không thể mờ, chuyện năm xưa đã tạc vào sách sử.
Tổ quốc vẫn khắc ghi:
Trần Minh Lệ dũng lược, ngoan cường; cùng Trung đội đập tan 18 đợt tiến công của địch, giữ chốt mấy ngày đêm
Lịch sử mãi lưu truyền:
Vi Văn Thắng táo bạo, kiên gan; hết đạn, vẫn dương lê lao lên tả đột, hữu xung, khiến quân thù khiếp sợ
Đất Hồng Phong đời đời ghi nhớ chiến công
Rừng Bình Trung mãi mãi tri ân Liệt sĩ

Đất nước thanh bình
Có người về được quê hương, lòng đất mẹ vỗ về ôm ấp
Có người yên giấc nghĩa trang, được Tổ quốc ghi công muôn thuở

Nhưng cũng còn:
Người ra đi không để lại hình hài
Mây gió hồng hoang, cỏ cây là bạn
Phiêu diêu hồn phách, sông suối là nhà

Anh em chúng tôi:
Nặng nghĩa tử sinh, sâu tình đồng đội
Chung tay, góp sức dựng NHÀ BIA

Hôm nay
Chúng tôi, những đồng đội từng một thời nằm gai nếm mật với các anh
Chúng tôi, những chiến sĩ hôm nay tiếp nối ngọn lửa thiêng Sư đoàn 337
Chúng tôi, những cán bộ, công nhân Công ty thủy điện Thác Xăng
Cùng lãnh đạo, chính quyền, nhân dân và lực lượng vũ trang Lạng Sơn, Cao Lộc, Văn Quan - "địa linh nhân kiệt"
Trước tấm bia công tích
Xin cúi lạy vong linh các liệt sĩ anh hùng
Lễ bạc, lòng thành
Mấy dòng tưởng niệm...
Uống nước nhớ nguồn, chốn dương trần đồng bào, đồng đội mãi tri ân
Tổ quốc ghi công, nơi chín suối liệt sĩ ngậm cười yên giấc ngủ
Cầu mong
Đất nước thái bình
Giang sơn vạn thuở
Biên cương thành lũy vững bền
Tổ quốc vẹn toàn lãnh thổ!
Kính cáo!

ĐPĐ

Bài do Mai Thị Cúc, giáo viên trường THCS Thạch Linh, TP Hà Tĩnh (bút danh MaiMai1960) gởi đăng từ email maicuc02@gmail.com.



TRỐN TÌM
Mai Thanh


Nhớ hồi lên năm, lên sáu
Em trốn để anh đi tìm
Góc bếp, chái nhà, bờ giậu
Đâu rồi bóng dáng cô em?

Lớn lên ta vẫn trốn tìm
Anh nơi chân trời khói lửa
Em giấu mình sau khung cửa
Trong mơ hướng ấy, em tìm

Đi trong mộng du, em lên đồi sim
Nơi ấy có lần em tìm anh trốn
Trăng rải xuống đồi khuya bồn bộn
Lần vết chân xưa thổn thức em tìm…

Khói lửa tan rồi, đất nước bình yên
Em vẫn tìm anh miền xưa khói lửa
Trong lòng đất, anh nằm đâu đó:
Ta vẫn theo nhau mãi mãi trốn tìm.

MT
maithanh40@gmail.com



VỀ VỚI QUẢNG TRỊ
Trường Hải- Lê Văn Đông
(Nguyên giáo viên THPT )

Kính tặng Quảng Trị anh hùng

Quảng Trị ơi –đây mảnh đất, bầu trời,
Nơi khốc liệt nhất của một thời đánh Mỹ!
Nơi hai phía đọ nhau bằng vũ khí,
Tám mươi mốt ngày đêm thành cổ đỏ máu người!
Bom đạn xới cày từng xăng-ti mét,
Đến hạt cát tròn cũng bị xẻ làm đôi!
Mỏng làn khói bom - thoáng hiện nụ cười,
Anh lính trẻ vẫn vững vàng tay súng!
Đồng đội thay nhau, người người ngã xuống,
Nhưng niềm tin chiến thắng hãy còn đây!
Lịch sử mãi ghi mùa hè 72 này,
Máu thắm đỏ thêm sắc cờ Tổ quốc!
QuảngTrị ơi! Hơn bốn mươi năm trước,
Mất mát đau thương xen lẫn tự hào,
Nay Thành cổ vết thương lành, xanh áo,
Trời đất bình yên ru giấc ngủ anh hùng!
Thăm thẳm cõi lòng, thao thức nhớ thương,
Người mẹ, người em…về  thăm Quảng Trị,
Nơi gửi gắm dòng máu đào yêu quý,
Dẫu không chôn rau, nhưng gửi cả  cuộc đời!

TH LVĐ
Đỉnh Sơn, Anh Sơn, Nghệ An,  23/7/2013
ledong6853@gmail.com.
ĐT:  0946734715


CHUYỆN VỀ ÔNG THƯƠNG BINH
Nguyễn Hồng Trân
(Nguyên giảng viên Đại Học Huế)

Tôi rất thân quen với một ông thương binh tên là Lê Tại. Người làng Thượng Xá, Hải Thương, Hải Lăng, Quảng Trị. Ông ấy hiện nay đang sống ở phường Trường An tp. Huế(2.Ngõ 12.Kiệt 293 Điện Biên Phủ). Ông là một cựu chiến binh thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Ông Tại là cựu bộ đội trinh sát của Trung đoàn 95. Ông Tại đã bị thương gãy tay phải do bị trúng mìn của đồn giặc ở vùng Thượng Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Ông thuộc thương binh loạị 51%. Hiện nay tay phải của ông không cầm nắm được các đồ vật, nên ông thường dùng tay trái mà thôi. Tuy ông có khó khăn về thương tích như thế, nhưng ông không bao giờ thấy buồn phiền cho thiệt thòi của mình trong cuộc sống đời thường hàng ngày mà trái lại ông rất yêu đời, yêu cuộc sống hiện tại của mình.

Ông thường nói với bà con và bạn bè rằng: “Tôi luôn thấm thía câu bác Hồ nói: “Thương binh tàn nhưng không phế”. Tôi còn làm được nhiều việc cho gia đình, quê hương và dân tộc. Hơn nữa tôi nghĩ rằng tôi còn may mắn hơn một số chiến hữu của tôi đã hy sinh trong thời chiến, khi họ còn rất trẻ, chưa có vợ con. Ngay cái đêm làm nhiệm vụ trinh sát đồn giặc, tổ chúng tôi 3 người đi trinh sát bị trúng mìn quân giặc thì hai bạn tôi đã hy sinh tại chỗ, còn tôi bị thương, may mà tôi vẫn còn sống cho đến bây giờ. Thế là phúc lắm rồi!”
Ông  Lê Tại hay nói với mọi người như thế và ông sống rất giản dị, chân thật, không công thần. Ông ấy không bao giờ kêu ca, than thở khi đời sống có khó khăn, chật vật. Tuy hiện nay tiền lương ông còn thấp, nhà cửa thì đơn sơ loại nhà cấp 4, ở khu tập thể cơ quan, nhưng ông vẫn yên tâm sống vui vẻ với người vợ già một cách yêu thương tình cảm.
Tôi không phải là em ruột của ông ấy, nhưng ông bà ấy coi tôi như một người em ruột vậy. Vì tôi có cái duyên được gặp gỡ chuyện trò với ông từ thời còn nhỏ ở quê, cho đến khi ra tập kết ở miền Bắc ở Nghệ -Tĩnh, rồi ra Hà Nội và sau này khi đất nước hòa bình thống nhất Bắc Nam, tôi về Huế dạy trường Đại học Tổng hợp Huế. Gia đình vợ con tôi về Huế, gia đình ông Tại cũng về Huế. Cho nên ông và tôi lại được gần gũi nhau và có nhiều cơ hội chuyện trò tâm sự nhiều chuyện về gia đình, bà con họ hàng, làng xóm. Hàng tuần, tôi đều ghé đến nhà ông bà Tại thăm chơi và đưa sách báo cho ông đọc.
Tuy ông tuổi đã cao (đến 90), nhưng ông rất minh mẫn và thích đọc sách về Lịch sử, Văn hóa-Nghệ thuật. Đặc biệt là ông rất thích ca hát về những bài ca đi theo năm tháng. Mỗi lần đến chơi với ông Tại là hai ông và tôi cùng nhau hát lại những bài ca từ ngày xưa thời trai trẻ và cả những bài về sau này. Những bài ca luôn luôn đọng lại mãi trong lòng chúng tôi là những bài như: Thiên Thai (của Văn Cao), Xuân và Tuổi trẻ(của La Hối), Đàn chim Việt (của Văn Cao), Nụ cười Sơn cước(của Tô Hải), Sơn nữ ca(của Trần Hoàn), Câu hò bên bờ Hiền Lương(của Hoàng Hiệp), Tình ca(Hoàng Việt), Những ánh sao đêm(của Phan Huỳnh Điểu), Khúc tâm tình của người Hà Tĩnh (của Hoàng Vân), Ông thương binh về làng(của Nguyễn Đức Toàn),v.v…
Hiện nay tuy ông tuổi già sức yếu, nhưng ông rất cố gắng sinh hoạt trong câu lạc bộ “Ca hát những bài ca đi cùng năm tháng” của tp. Huế. Câu lạc bộ này do ông nguyễn Thế Linh phụ trách. Mỗi tháng CLB sinh hoạt một lần ca hát cùng nhau rất vui vẻ và họ chia sẻ với nhau qua lời ca, tiếng hát một cách thiết tha, đậm đà tình nghĩa mà quên bớt những lo lắng, ưu phiền riêng tư, gia đình, xã hội…
Vào những dịp lễ Quốc khánh 2-9, lễ Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước 30-4, ông rất nhiệt tình đi tập hát mấy buổi liền ở CLB ca hát để kịp biểu diễn vào dịp lễ ở thành phố. Điều đó làm cho tôi rất xúc động. Tôi nghĩ rằng, chắc quỹ thời gian của cuộc đời ông còn quá ngắn ngủi nên ông muốn thể hiện sự cố gắng về tinh thần của ông rất lạc quan yêu đời để cho con cháu ông yên tâm, phấn khởi. Không những thế, ông còn lo chăm sóc sức khỏe cho bà Trần Thị Cưu(vợ ông) khi ốm đau, bệnh tật. Ngoài ra, ông rất quan tâm đến bà con trong khối phố. Ông sống rất gần gũi, tôn trọng ý kiến của dân nên được dân chúng rất quý trọng. Đối với con cháu, ông luôn tâm tình khuyên răn nhẹ nhàng để con cháu biết được điều hay lẽ phải mà sống cho tốt với mọi người, với bà con, xóm làng.
Càng được gần ông Tại, tôi đã học được nhiều đức tính tốt của ông. Nhất là tính bình tĩnh ôn hòa, không bao giờ bức xúc lên tiếng to quát mắng con cháu hoặc nổi nóng với ai cả. Ông dùng những lời lẽ ôn tồn để thuyết phục, khuyên bảo mà thôi. Mặt khác, ông còn là người thương binh rất chịu khó tập thể dục và giữ vệ sinh cho bản thân và nhà cửa của gia đình cũng như của tập thể rất chu đáo.
Nhiều người bà con, bạn bè, quen biết ông và dân chúng trong khu phố đều nói ông là người thương binh rất hiền hậu, mẫu mực trong mọi sinh hoạt, phong trào công tác ở khu dân cư. Thật là xứng đáng là người cựu chiến binh của lính cụ Hồ.

   NHT
   Khu Đô thị Việt Hưng, Long Biên, Hà Nội 25-7-2013
   nghongtran38@gmail.com



ĐI TÌM LIỆT SỸ VÔ DANH                                                              
(Kỷ niệm ngày thương binh, liệt sỹ 27/07, viết tặng chị Maimai1960 có người anh trai đã hy sinh chiến trường Quảng trị, tưởng nhớ đến các anh hùng, liệt sỹ đã hy sinh trong cuộc chiến tranh gìn giữ hòa bình cho đất nước) 

Chiến tranh đi qua
Vết thương lành da, nổi đau còn nhức nhối
Bao người mẹ mất con
Vợ mất chồng
Con mất cha
Em gái mất anh
Đồng đội mất nhau
Vẩn âm thầm tìm kiếm
Hành trình tìm mộ các anh
Từ mái tóc xanh nay bạc màu sương khói
Có những người em đi tìm anh trai
Qua bao đồng hoang cỏ vắng
Qua bao nắng cháy da người
Qua lớp lớp trùng trùng
Mộ phần của những người đã khuất
Hy vọng mong manh
Tìm được mộ phần anh
An ủi người mẹ già
Suốt cuộc đời mỏi mòn trong chờ đợi
Nước mắt mẹ qua những đêm đông
Chảy dài thành sông, thành suối
Mong đón nhận đứa con lần cuối
Trở về  với nấm đất quê hương …
Đi tìm mộ liệt sỹ vô danh
Tên tuổi các anh sống mãi cùng đất nước
Đã bao năm kiếm tìm vô vọng
Thịt xương các anh hòa vào sông núi
Hồn thiêng các anh trong lòng dân tộc
Cho muôn đời đất nước được bình yên
Để hôm nay con, cháu thắp lửa thiêng
Ghi nhớ công ơn: Anh hùng Liệt sỹ
Mãi sáng bảng vàng: Tổ quốc ghi công.                                  

Sài Gòn 26/07/13
Hương Bình
binhgiang29@yahoo.com.vn


READ MORE - Trang đặc biệt nhân ngày Thương Binh Liệt Sĩ - Phú, thơ, văn của Đại tá Đỗ Phấn Đấu, Mai Thanh, Trường Hải-Lê Văn Đông, Nguyễn Hồng Trân, Hương Bình

VỀ SAY MÙA LÁ RỤNG - thơ Ngưng Thu



Thoáng tưởng đời không là bụi cát
Hình như gió rãi những vòng xoay
Nắng còn níu giữ màu hư ảo
Cuối đường thảng thốt chiếc thu bay


Vén bụi mãi đi về phía trước
Mặt trời còn lửa phút sang đông ?
Thoảng vọng mùi hương ngày thơ dại
Sợi khói chiều vương khắc lạnh lòng...


Khuấy nước tìm chi vầng trăng vỡ ?
Nỗi niềm heo hút những vần thơ
Xin đi cho hết thời thương nhớ
Để nụ hôn ngoài những giấc mơ...


Ta lạc mất nhau mùa lá rụng
Vụng về ướp bã những cơn say
Kìa ai dắt bóng mình qua phố?
Chợt nghe lạc lỏng giữa tháng ngày...

Ngưng Thu
thanhha0406@gmail.com
READ MORE - VỀ SAY MÙA LÁ RỤNG - thơ Ngưng Thu

Thơ Nguyễn An Bình - MAI RA ĐỜI ANH LÀM TÊN GIÁO TRẺ



Rồi mai mốt anh rời trường sư phạm
Ra đời làm tên giáo dạy văn chương
Mớ hành trang là linh hồn nứt rạn
Cuốn theo anh những vết tích thiên đường.


Đường phố cũ – ôi em thành phố cũ
Vẫy tay chào bụi xóa dấu chân xưa
Ngỡ lãng quên đời trôi như cánh mộng
Phượng úa tàn trên cành cũ chiều mưa.


Khi anh biết đời đem ngàn gió bão
Kết bụi hồng theo dấu của thời gian
Vây quanh anh chập chùng như sóng bủa
Biết phương nào anh tìm chốn dung thân?


Mai ra đời anh đem theo kỷ niệm
Về quận nghèo đốt ngày tháng trên tay
Khi bên anh mùa xuân còn chưa đến
Cuối phương trời cánh én vẫn mù bay.


Lòng anh đó máu tim còn cuộn chảy
Khắp châu thân luân chuyển cả hình hài
Có trái tim xanh – màu xanh của lá
Ươm hồn anh trên cây cỏ sương mai.


Thôi thì em muôn đời là chiếc bóng
Bay muôn trùng trên cánh hạc mây cao
Anh vẫn đi đường trần nhiều nhánh khổ
Để thương hoài mây xõa tóc lao xao.


Mai ra đời mù tăm ngày tháng cũ
Dạy học trò năm ba chữ thánh hiền
Từ ngày nầy qua ngày kia ngày nọ
Biết bao giờ anh hiểu được đây em?


Mai xa lắc người yêu ơi ngày đó
Anh gởi theo cánh phượng nở muộn màng
Trên lối cũ nghe lời than đá cuội
Xoáy vào hồn từng hơi thở mênh mang


Anh sẽ đếm mùa xuân trên vai áo
Cánh tay gầy nổi bật những gân xanh
Lòng cạn khô như rừng chim xa tổ
Gió mưa về rơi như lệ long lanh.


Mai ra đời anh làm tên giáo trẻ
Nhìn lũ học trò áo trắng quần xanh
Mà chợt nhớ cho thời xưa cút bắt
Có em anh và giấc mộng không thành.


Mai xa lắc thời gian đầy cát bụi
Anh biết tìm đâu lứa tuổi xuân thì
Khi lá phượng rơi đầy trên lối cũ
Thật âm thầm như bóng dáng tà huy.


Để em biết suốt đời anh say mộng
Thương áo học trò giấy mực vàng phai
Để em khóc khi đời anh trôi nổi
Trên đường đời anh vẫn trắng đôi tay.


                           1975
                           Nguyễn An Bình
                            luongmanh2106@gmail.com
READ MORE - Thơ Nguyễn An Bình - MAI RA ĐỜI ANH LÀM TÊN GIÁO TRẺ

VĨNH BIỆT CHIỀU – thơ Thế Lộc

Gởi N.H



Em đi là máu tim tôi chảy
Là nát tơ duyên với đọa đày
Dẫu biết rằng yêu là tuyệt vọng
Thôi đành tuyệt vọng để thương vay

Với tôi em hiểu được tình yêu
Nhưng bỗng chia ly chỉ một chiều
Có phải tơ duyên mình trắc trở
Tôi về theo đạo để em yêu...

Lâu lắm em về qua xóm nhỏ
Ngang nhà tình cũ thấy đìu hiu
Dây leo phủ kín quanh rào ngỏ
Mới biết người xưa vĩnh biệt chiều...

Đứng lặng em nghe hồn tịch liêu
Buâng khuâng hình bóng dậy trong chiều
Em nghe đâu đó lời trăn trở
Của kẻ vì yêu chẳng được yêu.

20.04.2013

Thế Lộc
READ MORE - VĨNH BIỆT CHIỀU – thơ Thế Lộc

Wednesday, July 24, 2013

NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐIÊN – truyện ngắn Đinh Thanh Hải



Ngày ngày ở cái chợ nhỏ của miền núi cao,  có một người đàn bà chừng 25 tuổi lang thang khắp hàng quán. Không kể trời nắng hay trời mưa, người đàn bà điên vẫn lang thang, có lúc cô đi chầm chậm, có lúc lại la hét rồi chạy nhảy, miệng cười la như một đứa bé lên 5. Người đàn bà có đôi mắt ngây dại, vô hồn ...

Sau những lần đi dưới mưa, khuôn mặt của người đàn bà điên lại xinh hẳn lên, mưa xóa nhòa đi những bụi dơ trên khuôn mặt, làn da trắng tươi và cái môi đỏ thắm, mái tóc mượt mà vì dòng nước ... Lúc này người đàn bà ấy thật đẹp, nếu lúc nào người đàn bà ấy cũng như bây giờ, chắc mọi người sẻ không gọi là người đàn bà điên nữa mà sẻ gọi là cô gái điên ... Những ai thấy cô gái sau khi tắm mưa chắc chắn sẻ chậc lười và tiếc thương cho cái số phận của cô: " Sao xinh đẹp thế mà lại bị điên khùng?"

Bà con xóm chợ cũng không biết người đàn bà điên từ đâu đến, chắc cô ấy leo lên một chiếc xe đò nào đó, rồi lưu lạc tới nơi này. Ngày ngày cô sống nhờ sự giúp đỡ của bà con buôn bán ở chợ, có ngày thì đói có ngày lại no ... ngày nào may mắn cô gặp ai đó tốt bụng họ cho chén cơm, tô cháo thì ngày đó cô được no ... Còn những đêm mưa cô đói meo, vật vờ lang thang như vô hồn. Bất cứ ai cho gì thì cô ăn đó, cứ ai đó cho món gì là cô cho vào miệng ăn lấy ăn để, có lúc họ đưa trái khế chua, cô ăn vào và nhăn mặt và nhổ phì xuống đất ... Mà hình như cô ấy cũng có lúc tỉnh lúc điên. Những lúc tỉnh cô vội lấy tay che lại những miếng rách lớn ở ngực, chiếc áo rách phơi ra làn da trắng muốt ... cô thẹn thùng đi khuất phía sau chợ và ngồi đó một mình. Nhưng cái thời gian tỉnh táo của cô thường ít hơn thời gian cô điên  ...

Ban ngày thì cô đi khắp chợ, có khi đi vào khu làng nhỏ quanh chợ ... đám trẻ con chạy theo trêu chọc cô, có đứa còn lấy đá ném làm cô đau phải bỏ chạy ... đám trẻ cứ la toáng lên: Mụ điên, mụ điên ... tiếng trẻ con và tiếng cười man dại của người đàn bà điên rộn vang cả một góc xóm. Những người đi đường thấy cô như vậy vội la đám trẻ: Tụi nhóc kia để cho cô ấy yên ...  Đang đi bất chợt đôi chân trần của cô đạp phải miếng thủy tinh vở làm máu tuôn ra, một bà già bán quán thấy vậy vội chạy đến và nhẹ nhàng cầm tay cô, kéo cô gái vào quán để chăm sóc vết thương, bà vội vàng lấy nước ấm bỏ vào ít hạt muối, rồi bà đưa chân cô ngâm trong đó để sát trùng vết thương ... cô gái rát quá vùng vằng đôi chân, bà già vuốt nhẹ, cô gái mới chịu để yên cho bà rửa vết thương. Rửa chân xong, bà lấy cái khăn lau khô, rồi bà già không ngần ngại xé vạt áo đã sờn cũ để băng vết thương cho cô gái ... Một mái tóc bạc phơ đang lúi cúi giúp cô. hình như mắt cô ấy nhòe đi ... phải chăng cô đã tỉnh ? Vừa băng xong vết thương bà già lấy một gói mì tôm xé ra cho cô ăn sống ...  cô nhận lấy rồi bỏ đi.

Đêm ấy, trời mưa thật to, sấm sét vang rền ... người đàn bà điên nằm co ro ở một góc quán nhỏ, mỗi lần cơn gió thổi qua cô ấy lại run lên bần bật, chiếc áo tả tơi rách phơi bày cả đôi ngực trần tràn trề sức sống của cô gái tuổi đôi mươi, chiếc quần cũng rách nát trong thật thê thảm ... Cô đang nằm co quặp và rên vì quá lạnh, thì bỗng đâu một thân hình to lớn và nồng nặc mùi rượu, gả ôm chầm lấy cô và xé toạc chiếc quần ... Cô gái hoảng sợ và la lớn, hai tay cô chống cự dữ dội, cố gắng đẩy người đàn ông lạ kia ra khỏi người mình, nhưng bàn tay cô không thể nào mạnh hơn kẻ vô tâm đó, hắn như một con thú đói lâu ngày, đang muốn ăn tươi nuốt sống một con thỏ mềm yếu... Tiếng kêu thét của cô đã bị tiếng mưa gió lấn át, chẳng ai có thể nghe tiếng của người đàn ba kêu thét giữa màn đêm đen như mực này ... Sau một hồi la hét và vùng vẫy, cô gái đã kiệt sức và ngất lịm đi, chẳng còn biết những gì đang diễn ra với đời cô .... Người đàn ông kia mặc kệ cô gái ra sao, cứ như con thú đói khát tình dục, lão làm hùng hục trên bụng cô gái đang mê man bất tỉnh ... Sau khi thỏa mãn cái thú tình dục man rợ, lão đứng dậy và vội vàng đi khuất vào xóm nhỏ, bỏ mặc cô gái trần truồng nằm phơi ra giữa chợ lúc trời mưa lạnh giá.

Sáng sớm, những người đi buôn gánh hàng từ bản làng ra chợ bán, họ thấy một người đàn bà nằm trần truồng bên hàng hiên của một quán nhỏ, những vết cào xước trên da thịt cô vẫn còn chưa khô vết máu ... họ xúm quanh xem vì tò mò , và cũng có đôi người đoán được sự tình câu chuyện : Có kẻ đã hãm hiếp người đàn bà điên này ...

Bà già bán quán đi chợ sớm, thấy đám đông bao quanh và bàn tán gì đó, bà đến và lách mọi người để vào xem chuyện gì? Bà há hốc miệng khi nhận ra cô gái điên mà bà vẫn thường cho đồ ăn thức uống đây mà, ôi sao cô ấy lại gặp cơ sự thảm thương như thế này? Bà quỳ xuống và lấy tay đánh thức cô gái điên tỉnh dậy, bà già lay mãi cuối cùng cô ấy cũng tỉnh, vừa mở mắt cô đã hoảng lên khi nhiều người vậy quanh mình, mà trên người lại chẳng có một miếng vải che thân. cô nhìn quanh và tìm đường mà bỏ chạy ... Bà già vội ôm chầm lấy cô và vỗ về, cô gái hình như cảm giác được an toàn nên ngồi im cho bà ôm ... bà già chửi : Tổ cha quân thất đức, con người ta điên khùng vậy mà cũng cưởng hiếp, thú chứ nào đâu phải con người. Bà đỡ cô gái đứng dậy, lấy chiếc áo choàng mặc cho cô gái, ánh mắt của cô vẫn tràn ngập nỗi sợ hãi, cô đã phải trải qua một đêm kinh hoàng ... Bà già dỗ dành một lúc rồi đưa cô gái về nhà của bà.

Hai cái bóng một già một trẻ dần khuất sau con đường hẻm, tiếng bàn tán của những người đi chợ vẫn còn xôn xao ... họ cố gắng tìm kiếm kẻ nào đã làm nên tội lỗi này ? Một kẻ đã làm cho người dân xóm chợ ở miền núi cao này phải lo lắng và oán giận.

Sau hôm đó, chẳng ai còn thấy người đàn bà điên đó nữa, có người nói cô có bầu và một người nào đó thương tình nhận chăm nuôi, giúp người đàn bà điên sinh nở, dạy dỗ đứa bé ... Có người lại nói cô leo lên xe đò và đi một nơi nào đó ... Thương thay cho cái số của người đàn bà xinh đẹp mà bị điên, đã vậy người đàn bà điên lại gặp phải một kẻ không có lương tâm, một kẻ không khác gì loài cầm thú.

Cầu mong cô được nơi nào đó đón về nuôi, con của cô sẻ được chăm sóc dạy dỗ để được khôn lớn thành người.

Sài Gòn 15-07-2013

Đinh Thanh Hải
READ MORE - NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐIÊN – truyện ngắn Đinh Thanh Hải

Thơ Huy Uyên - CHIỀU BÊN KIA SÔNG THẠCH-HÃN



Chiều bên kia sông
tiếng chuông nhà thờ đổ
em sương khói tan mùa tiếc nhớ
vọng lại cùng ai bâng khuâng.

Ngày em bỏ tình ở lại
chia hai đớn đau xa xót riêng tôi
sáng chiều trông ngóng mãi
đã xa và em bỏ đi rồi.

"Chuông gọi hồn ai" cùng chiều
con chim trên cành giọng buồn hót mãi
Thạch-Hãn đò trôi
bến cô liêu
dài chi mắt ai cho tình xa ngái
ngàn vạn miền yêu.

Xe đi, về mỏi mòn ai đón đợi
con lộ buồn xóm vắng em ơi!
giữa chiều lời kinh dài tiếng gọi
làng quê mãi nhớ thương người.

Bơ vơ trôi bông lục bình
vội qua sông mà xa xăm bến khác
nhớ ngày xưa em khóc
(đời em riêng anh).

Bên sân mắt ai tím màu hoa khế
em có ngẫn ngơ vàng bóng người thương 
gió cũng thay mùa bay lặng lẽ
em cầm trên tay một thập-tự-giá buồn.

Trời ơi sao lòng nghe chuông đổ
bên kia chim đã báo xa bầy
nắng rưng rưng đầu sân nhà ai ngày đó
để rớt thêm sầu vạn-cổ chiều nay.

Huy Uyên


READ MORE - Thơ Huy Uyên - CHIỀU BÊN KIA SÔNG THẠCH-HÃN

Trang thơ giao lưu của người cao tuổi: HOA LỤC BÌNH - Hạ Thái-Trần Quốc Phiệt và thi hữu



HOA LỤC BÌNH
Bài xướng Hạ Thái-Trần Quốc Phiệt

Theo dòng lưu lạc lững lờ trôi
Sống giữa thiên nhiên chẳng bến đời
Hạ thắm khoe hoa phơi nắng rọi
Đông tàn bày lá chịu mưa rơi
Tăng duyên lịch lãm tươi màu nước
Bồi dáng thanh tao thắm cảnh trời
Mặc khách tao nhân cùng thưởng lãm
Khéo khen vất vưởng vẫn sinh sôi !


HOA LỤC BÌNH
Bài họa Võ Sĩ Quý

Theo nước tang bồng cuộc nổi trôi
Làm dân lên xuống mặc tình đời
Bọt bèo trên sóng thân tơi rụng
Xơ xác dưới bờ cánh tả rơi
Góp mặt xanh non tươi phận đất
Khoe hoa tím nhạt đẹp duyên trời
Lắm khi phiêu giạt vùi nên nấm
Sinh tử tuần hoàn lại nẩy sôi
Nha Trang 3.3.2011




HOA LỤC BÌNH
Bài họa Phùng Trần-Trần Quế Sơn

Bềnh bồng từng cụm rủ nhau trôi
Chở tháng ngày qua chẳng biết đời
Tím sắc hoa giăng chờ bến hẹn
Xanh thân nụ kết đọng sương rơi
Thu Đông trải lá phơi ngàn gió
Xuân Hạ đơm bông ngắm cảnh trời
Điểm nét thanh quang hồn lãng tử
Dạt theo sông nước trổ mầm sôi!
Illinois, Mar- 02-2011



HOA LỤC BÌNH
Bài họa Trương Văn Lũy

Phải chăng vận nước hay bèo trôi!
Cuộc sống ngây ngô biết phận đời
Đau,thuốc đắng ngâm vào giạ trật
Đói,cơm thừa nhặt hạt dư rơi
Hoa trôi bèo giạt ai mô tá?
Thân níu giòng ngân khóc gọi trời
Bạn đã vào thuyền chơi giỡn sóng
Ta hồ! mặc khách chuyện sinh sôi!



HOA LỤC BÌNH
Bài họa Trương văn Lũy

Sóng nước dập dồn cuộn nổi trôi,!
Mặc nhiên phiêu bạt vẫn yêu đời
Phong ba bảo táp nào nao núng
Sóng dậy triều dâng chẳng ngại rơi
Trổ lá xanh tươi trong dòng nước
Đơm hoa tím nhạt mát vòm trời
Phận bèo phiêu bạt rày đây đó
Luân chuyển sinh tồn vẫn nẩy sôi!



NHƯ THỂ LỤC BÌNH
Bài họa Nguyễn Phú Long

Thân em như thể cánh bèo trôi;
 Tấm lụa phất phơ giữa chợ đời.
 O bế, người yêu xin giữ lại,
 Rẫy ruồng, kẻ chán để buông rơi.
 Dịu dàng nhiều lúc như nhành liễu,
 Kiêu ngạo đôi phen cũng đỉnh trời.
 Mà nghĩ, nhân sinh là thế đó!
 Có thương, có ghét, giận thì sôi.



HOA LỤC BÌNH
Bài họa Lê Bá Lộc
 
Lênh đênh mặt nước lục bình trôi
Chẳng biết về đâu giữa cõi đời
Phó mặc giang hà thân lá rụng
Đành theo hồ hải cánh hoa rơi
Đồng khô dừng bước nghiêng sườn đất
Suối cạn dang chân ngóng đỉnh trời
Đã với non sông cơn sóng dữ
Màng chi những cảnh lửa dầu sôi.



THÂN LỤC BÌNH  
Bài họa Lê Ngọc Kha

Thân thế lục bình mãi nổi trôi
Bềnh bồng đưa đẩy với dòng đời
Sá chi đông đến tràn mưa đổ
Nào quản hè về ngập nắng rơi
Gốc rễ lừng chừng không tựa đất
Lá cành nghiêng ngửa chẳng nương trời
Muôn loài cây cỏ đâu bì được
Nước đục trong đều vẫn nẩy sôi.



TÂM SỰ
Bài họa Văn Kế Thế

Nương gió theo chiều lững thững trôi
Về bên bờ lặng lẽ quên đời
Bướm ong ve vãn ngàn hoa thắm
Sóng nước chòng chành bao lá rơi
Muồn thuở lênh đênh đời mộc mạc
Mấy mùa phiêu bạt kiếp tơ trời
Người ơi xin gởi lời tâm sự
Hoa tím lục bình mãi nổi trôi



HOA LỤC BÌNH
Bài họa Trần Văn Hạng
 
Trên sông lơ lững khóm bèo trôi
Dòng nước đong đưa chẳng chốn đời
Xanh thẩm dập dờn màn nắng chiếu
Nhạt hồng loáng thoáng lớp sương rơi
Tô son tim tím hung màu nước
Điểm cảnh xanh xanh thắm sắc trời
Trôi dạt lênh đênh trên sóng biếc
Mặc nhiên cảnh tượng lửa dầu sôi.


HOA LỤC BÌNH
Bài họa Ly Châu
 
Bập bềnh theo nước lục bình trôi
Hoa tím như mơ giữa cuộc đời
Thân lục mình tròn cơn gió động
Phận bèo dáng thẳng giọt sương rơi
Ðông vui tụ tập sông thành đất
Lẻ bóng đơn côi biển hóa trời
Thuyền gặp lục bình bao chướng ngạị
Lênh đênh thân thế mãi sinh sôi


MÂY HOA
Bài họa Võ Thị Nguyên

Dãi mây tím nhạt thẫn thờ trôi,
Trời đọa tiên nga giáng xuống đời.
Cánh mỏng hoa tươi chờ gió tới,
Thân bầu lá biếc đón sương rơi.
Ven hồ cây cỏ tương tư sóng,
Giữa nước mây hoa luyến tiếc trời.
Ngẫm phận mấy đời, đau nghẹn đắng.
Thương thân một kiếp, nỗi niềm sôi

8/3/2011.


BẾN ĐỜI
Bài họa Văn Thiên Tùng

Bám mảng nương loài cùng nổi trôi
Bồng bềnh đây đó thỏa thân đời
Chụm co lưu gốc khi hanh cạn
Trẩy nhánh đâm chồi mặc tuyết rơi
Kết một nền xanh so thảm cỏ
Đơm ngàn đài tím sánh da trời
Đục trong, bão tố luân mùa chuyển
Hoa lục bình thì cứ nẩy sôi!
Quảng Trị



CÂY LỤC BÌNH
Bài họa Vĩnh Hoàng

Lênh đênh từng cụm mảng bè trôi
Nhờ nước nuôi thân sống ích đời
Chống chọi gió cuồng nhiều thác đổ
Lo toan dòng cạn thiếu sương rơi
Rễ mềm khó bám trên mình đất
Cành ướt úa khô dưới nắng trời
Trọn kiếp phong trần không bến đậu
Sinh tồn nối tiếp chẳng ngừng sôi


VỊNH HOA LỤC BÌNH
Bài họa Phieuvan Thlangdu

Một kiếp bồng bềnh mấy mảng trôi
Lênh đênh nước cuộn cuốn xô đời
Mưa vùi tím đóa hòa mưa đổ
Nắng đốt xanh mình trải nắng rơi
Đã bước đi về không trách đất
Thì thân sống chết chẳng than trời
An nhiên giữa chốn tranh cao thấp
Xót cảnh giòng người mãi sục sôi

03-03-2011 


LỤC BÌNH
Bài họa Motthoi

Xuôi ngược lục bình theo nước trôi
Cũng như thân phận ở trong đời
Bình bồng ngày nắng - nụ hoa hé
Chìm nổi đêm mưa - giọt lệ rơi
Bông trắng vui lòng người khách lạ
Lá xanh vừa ý - đám mây trời
Ung dung sống giữa dòng sông chảy
Mặc lạnh đông về, hè nóng sôi.



Hạ Thái Trần Quốc phiệt biên tập và gởi đăng
READ MORE - Trang thơ giao lưu của người cao tuổi: HOA LỤC BÌNH - Hạ Thái-Trần Quốc Phiệt và thi hữu

Lê Ngọc Phái - TƯỞNG NHỚ TÔ HIẾN THÀNH

Mất ngày 22 tháng 6 năm Kỷ Hợi


Đền thờ Tô Hiến Thành tại phường Trường Sơn, thị xã Sầm Sơn



Thấu lẽ đạt tình – Thái phó Tô
Giúp cho Thiên Tộ dựng tiền đồ
Đánh tan Chân Lạp thêm uy lực
Chinh phạt Chiêm Thành vững thế cơ
Gia Cát thời xưa cười giữa cuộc
Hiến Thành thuở ấy khóc trong mồ
Vua tôi một lũ làm vong bại
Triều Lý suy tàn hận đế đô.
                                Lê Ngọc Phái





Thái tử Thiên Tộ lên ngôi tức là Lý Anh Tông

Năm 1179, khi vua mới 6 tuổi thì Tô Hiến Thành ốm nặng và mất. Trước khi mất ông tiến cử Trần Trung Tá, người có thực tài thay mình phụ chính nhà vua. Mặc dầu người đương thời cũng như đời sau ví Tô Hiến Thành như Gia Cát Lượng bên Tàu nhưng sau khi ông mất, triều đình không nghe lời ông dặn mà cử Đỗ Yên Di làm phụ chính và Lý Kính Tu làm đế sư nên vua không được dạy dỗ đàng hoàng. Khi Cao Tông lớn lên chỉ lo chơi bời, phía  Bắc thì Mường thổ quấy nhiễu, phía Nam ChiêmThành đánh phá, trong nước trộm cướp nổi lên. Vua tôi không ai lo nghĩ đến chính trị, chỉ tham nhũng, mua quan bán chức, hà hiếp nhân dân, lấy tiền làm điều xa xỉ.Triều Lý đi vào suy vong.
READ MORE - Lê Ngọc Phái - TƯỞNG NHỚ TÔ HIẾN THÀNH