Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, May 5, 2013

THƠ ĐƯỜNG LUẬT - La Thuỵ sưu tầm




                        THƠ ĐƯỜNG LUẬT


Thơ Đường luật hay Thơ luật Đường là thể thơ Đường cách luật xuất hiện từ đời nhà Đường (Tang), Trung Quốc. Thơ Đường luật gọi là thơ cận thể để đối lập với thơ cổ thể, không theo cách luật ấy.

Vì giáo dục, thi cử... đều bằng tiếng Hán, nên từ lâu người Việt Nam đã sáng tác thơ văn bằng tiếng Hán, trong đó có thơ theo luật Đường.

Nguyễn Thuyên là người đầu tiên đưa tiếng Việt vào thơ văn, đặt ra thể thơ Hàn luật, là sự kết hợp thơ Đường luật với các thể thơ dân tộc Việt .

Thể loại thơ này của Việt Nam kéo dài từ thời nhà Trần cho đến nửa đầu thế kỷ 20. Kể từ phong trào Thơ Mới trở đi, số người trong nước làm luật thi đã bị giảm đi đáng kể.

Thơ Đường luật có một hệ thống quy tắc phức tạp được thể hiện ở 5 điều nghiêm khắc sau: Luật, niêm, vần, đối và bố cục. Về hình thức, thơ Đường luật có các dạng "thất ngôn bát cú" (tám câu, mỗi câu bảy chữ) được xem là dạng chuẩn, biến thể có các dạng: "thất ngôn tứ tuyệt" (bốn câu, mỗi câu bảy chữ), "ngũ ngôn tứ tuyệt" (bốn câu, mỗi câu năm chữ), "ngũ ngôn bát cú" (tám câu, mỗi câu năm chữ) cũng như các dạng ít phổ biến khác. Người Việt Nam cũng tuân thủ hoàn toàn các quy tắc này.

LUẬT

Điều căn bản của luật thơ Đường là đối, đó là hai nguyên tắc đối âm và đối ý. Nghĩa là lần lượt những chữ thứ nhất, thứ 2, thứ 3, ... của câu trên phải đối với các chữ thứ nhất, thứ 2, thứ 3, ... của câu dưới cả về âm và ý. Nhưng làm được như thế thì rất khó, vì vậy người ta quy ước Nhất tam ngũ bất luật (chữ thứ nhất, thứ ba, thứ năm không cần theo luật).

Đối âm (Luật bằng trắc)

Luật thơ Đường căn cứ trên thanh bằng và thanh trắc, và dùng các chữ thứ 2-4-6 và 7 trong một câu thơ để xây dựng luật. Thanh bằng gồm các chữ có dấu huyền hay không dấu; thanh trắc gồm các dấu: sắc, hỏi, ngã, nặng.

Nếu chữ thứ 2 của câu đầu tiên dùng thanh bằng thì gọi là bài có "luật bằng"; nếu chữ thứ 2 câu đầu dùng thanh trắc thì gọi là bài có "luật trắc". Trong một câu, chữ thứ 2 và chữ thứ 6 phải giống nhau về thanh điệu, và chữ thứ 4 phải khác hai chữ kia. Ví dụ, nếu chữ thứ 2 và 6 là thanh bằng thì chữ thứ 4 phải dùng thanh trắc, hay ngược lại. Nếu một câu thơ Đường mà không theo quy định này thì được gọi "thất luật".

Ví dụ: xét câu "Bước tới đèo Ngang bóng xế tà" trong bài Qua Đèo Ngang của Bà huyện Thanh Quan, có các chữ "tới" (thứ 2) và "xế" (thứ 6) giống nhau vì đều là thanh trắc còn chữ "Ngang" là thanh bằng thì đó là bài thất ngôn bát cú luật trắc.

Luật bằng trắc trong thể Thất ngôn tứ tuyệt và Thất ngôn bát cú có thể nôm na liệt kê như sau, nếu chỉ vần bằng bằng chữ "B", vần trắc bằng chứ "T", những vần không có luật để trống, thì luật trong các chữ thứ 2-4-6-7 có thể viết là:

1.Luật vần bằng

Thất ngôn tứ tuyệt

Câu số
Vần
Ví dụ: Mời trầu1 của Hồ Xuân Hương
1

B

T

B
B
Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi
2

T

B

T
B
Này của Xuân Hương mới quệt rồi
3

T

B

T
T
Có phải duyên nhau thì thắm lại
4

B

T

B
B
Đừng xanh như lá, bạc như vôi
Chữ thứ
1
2
3
4
5
6
7



Thất ngôn bát cú
               
Câu số
Vần
Ví dụ: Thương vợ1 của Trần Tế Xương
1

B

T

B
B
Quanh năm buôn bán ở mom sông
2

T

B

T
B
Nuôi đủ năm con với một chồng
3

T

B

T
T
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
4

B

T

B
B
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
5

B

T

B
T
Một duyên hai nợ âu đành phận
6

T

B

T
B
Năm nắng mười mưa dám quản công.
7

T

B

T
T
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc!
8

B

T

B
B
Có chồng hờ hững cũng như không!
Chữ thứ
1
2
3
4
5
6
7



2. Luật vần trắc


Thất ngôn tứ tuyệt
Câu sốVầnVí dụ: Phong Kiều dạ bạc (楓橋夜泊)
của Trương Kế (张继 Zhang Jì)
Phiên âm Hán-Việt
1TBTB月落烏啼霜滿天Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
2BTBB江楓魚火對愁眠Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
3BTBT姑蘇城外寒山寺Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
4TBTB夜半鐘聲到客船Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
Chữ thứ1234567
Bản dịch tiếng Việt của Tản Đà 
(Chuyển thể thành lục bát):

Đỗ thuyền đêm ở bến Phong Kiều

Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài cây bãi sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San


Thất ngôn bát cú
Câu sốVầnVí dụ: Nhớ bạn phương trời1 của Trần Tế Xương
1TBTBTa nhớ người xa cách núi sông
2BTBBNgười xa, xa lắm nhớ ta không
3BTBTSao đương vui vẻ ra buồn bã!
4TBTBVừa mới quen nhau đã lạ lùng
5TBTTLúc nhớ, nhớ cùng trong mộng tưởng
6BTBBKhi riêng, riêng cả đến tình chung
7BTBTTương tư lọ phải là trai gái,
8TBTBMột ngọn đèn xanh trống điểm thùng
Chữ thứ1234567


Đối ý
Nguyên tắc cố định của một bài thơ Đường là ý nghĩa của hai câu 3 và 4 phải "đối" nhau và hai câu 5, 6 cũng "đối" nhau. Đối thường được hiểu là sự tương phản (về nghĩa kể cả từ đơn, từ ghép, từ láy) nhưng bao gồm cả sự tương đương trong cách dùng các từ ngữ. Đối chữ; danh từ đối danh từ, động từ đối động từ. Đối cảnh; trên đối dưới, cảnh động đối cảnh tĩnh... Nếu một bài thơ Đường mà các câu 3, 4 không đối nhau, các câu 5, 6 không đối nhau thì bị gọi "thất đối".

Ví dụ: hai câu 3, 4 trong bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan:

Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà,

"Lom khom" đối với "lác đác" (hình thể và số lượng - thực ra hai câu này chưa phải đối hoàn chỉnh), "dưới núi" đối với "bên sông" (vị trí địa hình), song nếu nối hình ảnh hai câu trên "lom khom dưới núi" và "lác đác bên sông" thì vì một câu diễn tả về cảnh động, còn một câu diễn tả về cảnh tĩnh, nên sự đối lập có thể chấp nhận được. Một điểm nên chú ý là cách dùng từ láy âm "lom khom" chỉ dáng người của câu trên, và "lác đác" chỉ số lượng của câu dưới. Hai vế tiếp: "tiều vài chú" đối với "chợ mấy nhà" (đối lập về số lượng và tĩnh/động). Sự đối lập của hai vế cuối có thể coi là hoàn chỉnh. Xin xem thêm về thơ đối hoặc Câu đối Việt Nam để hiểu thêm về luật đối trong thơ. Nhị tứ lục phân minh (Câu 2,4,6 phải đối ý)

Niêm

Các câu trong một bài thơ Đường giống nhau về luật thì được gọi là "những câu niêm với nhau" (niêm = giữ cứng, ở đây được hiểu là giữ giống nhau về luật). Hai câu thơ niêm với nhau khi nào chữ thứ nhì của hai câu cùng theo một luật, hoặc cùng là bằng, hoặc cùng là trắc, thành ra bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc. Ở những câu theo nguyên tắc là cần phải niêm, nếu tác giả sơ suất mà làm thành không niêm thì bài đó bị gọi là "thất niêm".

Nguyên tắc niêm trong một bài thơ Đường chuẩn (thất ngôn bát cú) như sau:
·        câu 1 niêm với câu 8
·        câu 2 niêm với câu 3
·        câu 4 niêm với câu 5
·        câu 6 niêm với câu 7

Chẳng hạn với luật vần bằng:
1.   - B - T - B B
2.   - T - B - T B
3.   - T - B - T T
4.   - B - T - B B
5.   - B - T - B T
6.   - T - B - T B
7.   - T - B - T T
8.   - B - T - B B
   
Ví dụ: Xét trong bài thơ Qua đèo Ngang, hai câu thứ 2 và thứ 3:

Cỏ cây chen đá lá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú

Vần

Vần là những chữ có cách phát âm giống nhau, hoặc gần giống nhau, được dùng để tạo âm điệu trong thơ. Trong một bài thơ Đường chuẩn, vần được dùng tại cuối các câu 1, 2, 4, 6 và 8. Những câu này được gọi là "vần với nhau". Nếu một bài thơ Đường mà chữ cuối của một trong các câu này không giống nhau về vần thì được gọi "thất vận".

Những chữ có vần giống nhau hoàn toàn gọi là "vần chính", những chữ có vần gần giống nhau gọi là "vần thông". Hầu hết thơ Đường dùng vần thanh bằng, nhưng cũng có các ngoại lệ.

Ví dụ: hai câu 1, 2 trong bài Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan:

Bước tới đèo Ngang, bóng xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa

Hai chữ "tà" và "hoa" được xem là vần với nhau, nhưng ở đây là "vần thông" vì chỉ phát âm gần giống nhau.

Bố cục

Bố cục một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật theo truyền thống thường được chia gồm 4 phần: Đề, Thực (hoặc Trạng), Luận, Kết. "Đề" gồm 2 câu đầu trong đó câu đầu tiên gọi là câu phá đề, câu thứ 2 gọi là câu thừa đề, chuyển tiếp ý để đi vào phần sau. "Thực" gồm 2 câu tiếp theo, giải thích rõ ý đầu bài. "Luận" gồm 2 câu tiếp theo nữa, bình luận 2 câu thực. "Kết" là 2 câu cuối, kết thúc ý toàn bài, trong đó câu số 7 là câu "thúc" (hay "chuyển") và câu cuối là "hợp".

Có người cho rằng Hai câu đề giới thiệu về thời gian, không gian, sự vật, sviệc. Hai câu thực trình bày, mô tả sự vật, sự việc. Hai câu luận diễn tả suy nghĩ, thái độ, cảm xúc về sự vật, hiện tượng. Hai câu kết khải quát toàn bộ nội dung bài theo hướng mở rộng và nâng cao.


Thơ thất Ngôn Bát Cú có luật lệ gò bó khó làm nhất nhưng chính điều đó lại được người xưa ưa thích nhất, thường dùng để bày tỏ tình cảm ý chí, ngâm vịnh, xướng họa... Và trong tất cả các kỳ thi xưa đều bắt thí sinh phải làm.

Tại quê hương của Đường thi cũng là nơi mà phong trào tập cổ, sáng tác thơ Đường luật rầm rộ nhất, lý luận thi pháp thơ Đường luật Trung Quốc không có khái niệm Đề, Thực, Luận, Kết mà thay bằng khái niệm đầu liên, hàm liên, cảnh liên, vĩ liên, nói ngắn gọn bằng tổ hợp bốn từ Khởi (khai), Thừa, Chuyển, Hợp. Tuy nhiên cách phân chia này cũng không khác gì cách phân Đề, Thực, Luận, Kết về mặt ý nghĩa.

Một quan niệm khác áp dụng cấu trúc 2-4-2 cho bài thơ thất ngôn bát cú. Theo đó quan niệm này đứng ở góc độ không gian-thời gian nghệ thuật để khảo sát toàn bài dựa theo logic hai câu đầu và hai câu cuối bài thơ Đường luật thường yếu tố thời gian chiếm vị trí chủ đạo, còn bốn câu giữa trật tự không gian là chủ đạo và tác giả dường như dừng lại để quan sát sự vật.

Cũng cần nhắc đến quan điểm “Cảnh-Tình” của Kim Thánh Thán khi chia bài thất ngôn bát cú thành hai phần đều nhau, theo đó bốn câu trên của bài nặng về cảnh và bốn câu dưới nặng về tình.

Hiện nay, các nhà nghiên cứu có xu hướng không cố tìm quy luật chung về bố cục để áp dụng trong hàng loạt bài thơ mà áp dụng quan điểm nghiên cứu đã có từ thời Minh mạt Thanh sơ ở Trung Hoa, quan điểm bám sát và tuân thủ cách phân chia bố cục của từng bài thơ theo mạch cảm xúc của thi nhân biểu hiện trong bài. Một ví dụ là bài thơ hết sức nổi tiếng Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan hoàn toàn có thể được phân tách theo bố cục 1/6, hoặc bài Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến có thể bố cục 6/1 hoặc 1/5/1.

Một số dạng thơ

Thất ngôn bát cú

Đó là thơ Đường chuẩn luật, gồm có 8 câu, mỗi câu 7 chữ. Hai câu đầu là 2 câu đề (đặt vấn đề mà bài thơ đó nói tới). Hai câu tiếp theo là hai câu thực (tả hoặc nói thực về vấn đề đó). Hai câu sau đó là 2 câu luận (bàn luận về vấn đề đó). Cuối cùng là 2 câu kết (kết luận vấn đề).

Nếu tách ra từng cặp một thì chúng có thể thành những cặp câu đối riêng biệt.

Ngoài dạng thơ Đường chuẩn luật là "thất ngôn bát cú" còn có các biến thể sau:

Thất ngôn tứ tuyệt

Thực chất là một bài "thất ngôn bát cú" đem bỏ đi bốn câu đầu hoặc bốn câu cuối. Luật bằng trắc và niêm, vần... vẫn giữ nguyên, có thể bỏ luật đối ở hai câu 3, 4 hoặc 5, 6. Lúc này nó sẽ thành một bài thơ "bốn câu ba vần" mà Nguyễn Du đã nhắc trong truyện Kiều.

Ví dụ: bài thơ sau của Quách Tấn
Từ buổi thuyền đưa khách thuận dằm
Trông chừng bến cũ biệt mù tăm
Cảm thương chiếc lá bay theo gió
Riêng nhớ tình xưa ghé đến thăm

Ngũ ngôn tứ tuyệt

Thực chất là bài thất ngôn tứ tuyệt đem bỏ đi hai chữ đầu ở mỗi câu; các chữ còn lại vẫn giữ nguyên luật bằng trắc, niêm và vần.
Ví dụ: từ bài trên mà thành
Thuyền đưa khách thuận dằm
Bến cũ biệt mù tăm
Chiếc lá bay theo gió
Tình xưa ghé đến thăm

Ngũ ngôn bát cú

Cũng là từ bài thất ngôn bát cú bỏ hai chữ đầu ở mỗi câu mà thành, luật bằng trắc, niêm và vần ở các chữ còn lại vẫn giữ nguyên.

Yết hậu

Yết hậu  (yết: nghỉ; hậu: sau) là lối thơ có ba câu trên đủ chữ, còn câu cuối cùng chỉ có một chữ

Ví dụ: bài Lươn

Cứ nghĩ rằng mình ngắn,
Ai ngờ cũng dài đường.
Thế mà còn chê trạch:
Lươn!

        Vô Danh
                                                       La Thuỵ sưu tầm

Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng_lu%E1%BA%ADt

READ MORE - THƠ ĐƯỜNG LUẬT - La Thuỵ sưu tầm

Thơ Đình Thu - CHUYỆN Ở TRẦN GIAN - PHIÊN BẢN NHỚ - TƠ LÒNG

ĐÌNH THU

CHUYỆN Ở TRẦN GIAN      
                   
                   Viết tặng Xuân Điểm                                                

Cứ bớt
Đừng thêm
Nỗi đau sẽ mất

Sống hồn nhiên
Mọi thứ sẽ giản đơn

Chuyện ở đời
Đừng có thiệt, hơn
Vạn vật chẳng bao giờ tuyệt đối

Phải thật thà
Đừng gian dối
Giấc ngủ luôn ngập tràn yêu thương

Cứ  sống bình thường
Mọi điều sẽ không phức tạp

Ở trần gian
Xin đừng cúi rạp
Nhân cách !
Chính là sự phân định của muôn loài.                               



PHIÊN BẢN NHỚ                                     
              
Vốc một nắm thời gian
Ném về phía biển
Phù sa nồng nàn trôi …
Tiếng ầu ơ miền lặng
Khát một thời trên nôi

Nụ cười vang
Ta lớn !
Vươn vai
Ngồi hát với người
Bậc thang đời
Lên, xuống …
Ngoảnh mặt đi
Để rồi !

Nhìn sông thiên cổ trôi về biển
Em khuất sau bãi bồi
Gọi mãi thời gian nghe tiếng vọng
So dây … phím đời trôi

Hỏi ?
Ghềnh thác
Xin làm viên đá cuội
Ngàn năm sau mòn với hư vô
Phiên bản nhớ viền quanh mắt biếc
Trùng khơi
Thăm thẳm nét hoang mờ.                                             



TƠ LÒNG

Thấy cát trắng
Nhớ !
Quê mình
Cả đời
Rong ruổi
Kiếm tìm
Hào quang
Thương cho
Một kiếp
Dã tràng
Ngồi trên khát vọng
Vỡ ngàn ước mơ.

ĐÌNH THU





READ MORE - Thơ Đình Thu - CHUYỆN Ở TRẦN GIAN - PHIÊN BẢN NHỚ - TƠ LÒNG

Nguyễn An Bình - LỤC BÁT VỀ YÊU HOA PHƯỢNG



BÊN MÙA HOA CŨ 

Tay nâng cánh phượng ngập ngừng
Năm năm qua mất tưởng chừng mới đây
Ngủ yên những tháng những ngày
Làm sao anh biết một thời lang thang.

Phượng rơi theo guốc khua vàng
Theo anh đi mãi đường trần gian nan
Rồi mai anh sẽ lên đường
Làm tên giáo trẻ bàng hoàng như mê.

Yêu em hương thoảng tóc thề
Bụi bay mất dấu… ai về lối xưa.



LÁ PHƯỢNG ĐÃ VÀNG

Thôi em lá đã vàng rồi
Theo cơn gió thoảng theo đời anh trôi
Ngày xưa chôn lấp chân người
Anh mang đem bán những lời thơ say.

Nhiều năm lá đã vàng bay
Mới hay mộng vỡ theo bầy phượng xưa
Hỏi lòng lá phượng rụng chưa?
Chắc đêm qua đã theo mưa về đời.

Chết trong tôi, chết trong người
Chết trong ngày tháng phượng rơi hàng hàng
Ngày sau em đã về ngàn
Tôi thương xác phượng đã vàng tình tôi.


NGUYỄN AN BÌNH
READ MORE - Nguyễn An Bình - LỤC BÁT VỀ YÊU HOA PHƯỢNG

DAKLAK, TÌNH EM Ở LẠI - thơ Huy Uyên


  
Em dang tay níu gió, bụi-mù-trời
cây trên đồi lá rụng rơi xao xác
từ anh con chim bay lạc
em chết theo dòng hồ Lak trôi.
Em vàng võ buồn đếm theo từng tuổi nhớ
con gái M'nông chải tóc trên đồi
buôn Đôn vào mùa hoa tím nở
sao em lòng xao xuyến chơi vơi.
Đêm nao anh nói cùng em
ráng đợi chờ đến khi trọn kiếp
cả hai ta xa một đời chân bước
anh và em rồi mãi đi tìm.
Em dấu trong anh nụ cười
trao anh con tim héo mòn lỗi nhịp
anh ơi làm sao anh về kịp
người đã đi nương suối mãi đợi người.
Em theo tình về nằm đầu phố
để tháng năm tháng mười nắng sớm chiều mưa
ngõ sầu xanh xao lá cỏ
em nhớ anh bỗng sững đợi chờ.
Em gùi nỗi buồn qua đèo Phượng-Hoàng
ngủ vội giấc mơ buôn Đung đêm lạnh
bao năm rồi Hơ Đam
đốt cháy tim ai
nỗi sầu mọc cánh.
Trăng trên cao ở rất xa làng
người ở lại mà lòng buốt giá
khói cơm ai mái nghèo đốt lửa
người đi rồi ai có buồn không.
Em cầm trong tay xa tiếc
sao anh không về kịp hội làng
cho dù anh theo chân dấu bụi trần
sáng chiều lên nương mà sao em quặn lòng da diết.
Thôi rồi hai đứa là giấc mơ
đợi anh bao mùa bỏ mã
nỗi đau mang theo xuống mồ
chiều bên Thủy-Triều lạnh thác hồn băng giá.
Anh đi em ở lại bơ vơ
thôi rồi đắng lòng cùng Dak Lak.

Huy Uyên
READ MORE - DAKLAK, TÌNH EM Ở LẠI - thơ Huy Uyên

ĐỌC “VĂN BIA TƯỞNG NIỆM NHÀ GIÁO LIỆT SỸ CHIẾN TRƯỜNG MIỀN NAM” CỦA GS VŨ KHIÊU, NHỚ BIẾT MẤY NHỮNG THẦY CÔ NGÀY ẤY! - Phan Kỷ Sửu



    “Văn bia Tưởng niệm nhà giáo liệt sỹ chiến trường miền Nam” do giáo sư Vũ Khiêu viết từ năm 2004 và đã được khắc trang trọng trên nền đá hoa cương tại đài Tưởng niệm Liệt sĩ Giáo dục Đồi 82 Tân Biên.

      Vũ Khiêu tức giáo sư Anh hùng lao động thời đổi mới Đặng Vũ Khiêu. Tết năm nay ông tròn 97 mùa xuân của cuộc đời. Ông sinh ngày 19/9/1916 tại Nam Định. Là một tác giả nghiên cứu văn hóa Việt Nam nổi tiếng,Viện trưởng đầu tiên của Viện Xã hội học Việt Nam, nguyên Phó Chủ nhiệm UBKHXH nay là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, nguyên Phó Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam, năm 1996 ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1. Ông là tác giả của nhiều tác phẩm biên khảo phong phú về vấn đề Văn hóa như “Bàn về Văn hiến Việt Nam”, “Anh hùng và Nghệ sỹ”, “Cách mạng và Nghệ thuật” và nhiều công trình nghiên cứu quan trọng khác về Cao Bá Quát, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu…

   “Văn bia Tưởng niệm Nhà giáo liệt sỹ chiến trường miền Nam” phải nói  là một áng văn thật mượt mà, súc tích mà G.S Vũ Khiêu đã viết bằng trọn vẹn trái tim ông khi nhìn lại những năm tháng hào hùng cả nước đánh giặc trên chiến trường miền Nam trong đó có sự cống hiến cao cả bằng xương máu của các nhà giáo yêu nước, yêu nghề.

Toàn văn bia chia ra làm 5 đoạn.

Đoạn 1: “Tiếng gọi núi sông”. Tác giả vẽ nên một bức tranh toàn cảnh của đất nước khi kẻ thù dày xéo lên Tổ quốc và kêu gọi toàn dân xông lên đánh giặc.Từ ngày 5/1/1965 cách nay 47 năm, các thầy cô từ miền Bắc đã vượt Trường Sơn đến tận chiến trường Miền Nam cùng các thầy cô tại chỗ làm sứ mệnh trồng người ngay trong bão đạn, mưa bom ác liệt.
  
Đoạn 2: “Lương tâm nhà giáo”. Tác giả nêu bậc lên cái đẹp của những tâm hồn kẻ sĩ biết thể hiện trách nhiệm vinh quang của mình trong biết bao thử thách,gian lao của hoàn cảnh thực tế.

Đoạn 3: “Trách nhiệm công dân”. Tác giả mở rộng ra hơn về thực tế công việc của thầy cô, ca ngơi lòng son sắt thủy chung đối với sự nghiệp, trước hết, đó là sự phân đấu hoàn thành trách nhiệm của mỗi công dân.

Đoạn 4: “Vì nước hy sinh”. Có thể nói đây là một đoạn văn đẫm nước mắt, nêu bậc sự khâm phục và niềm tiếc thương trước những hy sinh cao cả của các thầy cô. Đó là  một bức tranh đẩm máu khẳng định tội ác của quân thù, sự tàn bạo của chiến tranh xâm lược từ  chất độc da cam, từ những đòn tra tấn dã man trong tù ngục, từ những trậm bom hủy diệt kinh hoàng… Thế mà những thầy cô luôn luôn giữ vững tư thế của người chiến thắng, chỉ biết ngẫng đầu, lao về phía trước…

Đoạn 5: “Ngàn thu sống mãi”. Là tâm sự của tác giả trước  đài tưởng niệm anh linh của 100 liệt sỹ giáo dục miền Bắc,bên cạnh 600 tên tuổi của 600 liệt sỹ giáo dục miền Nam trên Đồi 82 lộng gió Tây Ninh…Vâng! Các thầy, các cô sống mãi ngàn thu trong trái tim của đồng nghiệp và đồng bào cả nước  vì họ đã sống, đã hy sinh trọn vẹn đời mình cho Tổ Quốc, cho sự nghiệp vĩ đại của toàn dân chiến đấu vì  độc lập, tự do, vì sự nghiệp trăm năm trồng người vinh quang.

Xin giới thiệu toàn văn cùa “Văn bia Tường niệm Nhà giáo Liệt sỹ Chiến trường miền Nam” của GS Vũ Khiêu. Đọc toàn văn không ai có thể ngăn được  những cảm xúc dâng trào và nhớ,nhớ mãi những thầy cô ngày ấy. Vâng  họ bất tử muôn đời với Tổ Quốc với nhân dân và đồng nghiệp thân yêu.

I.Tiếng gọi non sông

Bao năm trời đổ mãi máu xương
Ngàn dặm đất chìm trong khói lửa
Đạo dân con khi Tổ quốc lâm nguy
Lòng kẻ sĩ trước đồng bào đau khổ
Thành đồng Nam Bộ đi trước về sau
Đất thép Củ Chi vào sinh ra tử
Nước sôi lửa bỏng: tình cảnh này đốt cháy tim gan
Chị ngã em nâng: đạo lý ấy soi dài kim cổ
Đã chung máu chảy ruột mềm
Sá ngại bom rơi đạn nổ
Ào ào khí thế, quân dân từ hậu tuyến xung phong
Rạo rực tính thần, giáo giới huớng tiền phương thượng lộ
Ba ngàn đồng nghiệp: lớp lớp xông pha
Vạn dận trường đồ: trùng trùng hiễm trở

II. Lương tâm nhà giáo

Dù bạn từ xa
Hay anh tại chổ
Trong gian nan thắc chặt yêu thương
Trước trách nhiệm, tăng cường đội ngũ
Cùng nhau khắc phục khó khăn
Ra sức vượt qua thách đố
Nào tiến hành giáo dục phổ thông
Nào phát triển bình dân học vụ
Trường lớp mở mang ngày đêm dạy dổ
Rèn luyện tài năng trao đồi đức độ
Mong con em nối chí anh hùng
Vì đất nước trổ tài văn,võ
Đồng cam cộng khổ, được nhân dân đùm bọc,mến yêu
Vững chí bền gan, đưa giáo dục đi vào quy củ.

III.Trách nhiệm công dân

Chiến tranh khốc liệt lòng dân ngày một vững vàng
Tham vọng điên cuồng thói giặc càng thêm hung dữ
Dội bom rải thảm: phá tan bao lớp học, cơ quan
Rắc độc da cam: giết hại cả cỏ cây,muông thú
Hai vai kiếm bút: giáo viên cùng bộ đội xông pha!
Một dạ sắc son: trường học với dân thôn gắn bó !
Bao phen chặn địch, phá càn
Những buổi rào làng, bám trụ
Rồi đến khi
Mùa xuân đại thắngmgiang sơn muôn dặm thu hồi
Kháng chiến thành công,Nam Bắc một nhà đoàn tụ
Chí nhân đại nghĩa: lẩy lừng thêm khí phách ông cha
Mỹ cút,ngụy nhào: tan tác cả thực dân mới củ  !
Mấy thập kỷ kiên cường chiến đấu anh hùng, dũng khí vươn cao
Bao nhiêu người oanh liệt hy sinh, ngành giáo dục đau thương chẳng nhỏ!

IV. Vì nước hy sinh

Bao bạn bỏ mình
Những người xấu số
Xuân vừa về đã lá rụng, hoa rơi
Đời đan đẹp bổng gương tan,ngọc vỡ!
Chỉ đáng tiếc trải bao năm tháng: mỏi đợi chờ chữa thấy bình minh
Lại càng thương chẳng chút riêng tư: chỉ cống hiến không màn hưởng thụ!
Chẳng được trông mẹ yêu cha già
Chẳng còn thấy vợ thương con nhỏ!
Nào những buổi giao tranh ác liệt, giữa chiến trường thịt nát thân tan
Nào những ngày tra tấn dã man, trong tù ngục xương tan, máu đổ
Nào những lúc tơi bời đạn nổ, lấy thân mình cưu sống em thơ
Nào những khi liên tiếp bom rơi, cùng dân chúng chết trong hầm hố!
Nào vị giàng viên đại học: bỗng bỏ mình giữa nửa bài thơ.
Nào cô biệt động Sài Gòn: chợt ngả xuống ngay trên đường phố.
Giữa đất trời một dáng đứng hiên ngang!
Trong sống chết một nụ cười rạng rỡ!

V. Ngàn thu sống mãi

Đỉnh Trường Sơn bát ngát mây bay
Dòng Bến Hải dạt dào sóng vỗ
Cây xanh cỏ đẹp trên đất Tây Ninh
Khói tỏa hương thơm dưới trời Nam Bộ
Một đài tưởng niệm dựng cất khang trang
Trăm mới tâm giao tìm về hội ngộ
Bâng khuâng kẻ mất người còn
Man mác tình xưa nghĩa cũ!
Chúng tôi nay
Dâng bó hoa khp nén lòng đau
Rót ly rượu khôn cầm lệ nhỏ
Vươn cao bút nọ,hướng đỉnh trời xanh
Mở rộng sách này ghi dòng chữ đỏ
Hiến thân cho nước: sống đã vinh mà chết cũng vinh
Hết dạ vì dân: mệnh chẳng thọ mà danh lại thọ
Đạo làm thầy mãi mãi nêu cao
Gương trí thức đời đời sáng tỏ.

Tây Ninh ngày 27/7/2004.                                                                                               PHAN KỶ SỬU


READ MORE - ĐỌC “VĂN BIA TƯỞNG NIỆM NHÀ GIÁO LIỆT SỸ CHIẾN TRƯỜNG MIỀN NAM” CỦA GS VŨ KHIÊU, NHỚ BIẾT MẤY NHỮNG THẦY CÔ NGÀY ẤY! - Phan Kỷ Sửu