Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, June 25, 2011

ĐOÀN QUỲNH NHƯ - LONG LANH



LONG LANH

đêm choàng áo thức

rớt lại bụi trần những mắt sương

phơi thể tinh khôi

không chăn đắp đậy

như

thể tình

ta



NHỪA NHỰA

ta đến tận trong nhau

tâm thể em mang nỗi giày vò từ anh

thực thể tình nóng chảy

nhừa nhựa

sắc máu lạnh âm hưởng nồng nàn

vạn kiếp

có yêu nhau

anh người em mong đợi

trên con đường đơn độc

cắm vào em

vũ trụ

quay cuồng

chới với

thiên đường

cô đơn



HƯƠNG

mùi hương

cơn gió cũ ùa ôm

ký ức nghẹt thở tôi ơi

ngát vòng tay rỗng

ngăn mùi hương quặn thắt

ngăn dòng dung nham trườn nguội lạnh

liếm vùi hương hoa



CƠN NHỚ ĐÂM CHỒI

dòng âm thanh rần rần

chạy dọc đốt sống lưng

sớm tinh ngái ngủ

ngày khai nở ồn ào

mắt

he hé

cay sè

chuông chưa đánh thức

trở mình hụt chăn

da

the thé lạnh

không gian rỗng

nhớ cũ

như đứa bé thức

đói sữa

vồ bám chặt bầu vú mẹ


Nguồn: my.opera.com/hoadongphuong/blog

READ MORE - ĐOÀN QUỲNH NHƯ - LONG LANH

LA THỤY - LƯƠNG MINH VŨ VỚI LÃNG ĐÃNG KHÓI SƯƠNG HOÀI NIỆM

Lương Minh Vũ hiện đang sinh hoạt trong Hội Văn Học Nghệ Thuật Bình Thuận . Anh có một số truyện ngắn đăng trên các tạp chí Văn Nghệ , Văn Nghệ Quân Đội , Văn Nghệ Bình Thuận , tập san Văn ( phụ trương của Kiến Thức Ngày Nay )... Trang lathuy.blogtiengviet.net giới thiệu vài truyện ngắn của LMV , chủ yếu là truyện ngắn " SƠN NỮ " qua cảm nhận của La Thuỵ


Tôi đã đọc “Sơn Nữ”, “Nằm Nghiêng Nhớ Núi”, Làng Của Những Người Mơ Mộng”… các truyện ngắn trên của Lương Minh Vũ đã gieo trong tôi một ấn tượng chung - Một không khí hoài niệm bàng bạc bao trùm. Những tình tiết, những sự kiện, những kỷ niệm xưa cũ như đan kết thành màn khói sương mờ ảo hư hư thực thực, với những nét chấm phá đậm nhạt của một bức tranh thủy mặc, trôi về trong tâm cảnh của nhân vật chính trong truyện.

Phần đầu truyện có thể được viết như một hồi ức về một chặng đường đời của nhân vật chính ( Sơn Nữ ). Nó cũng có thể là một đoạn văn mô tả cuộc sống thực tại, với tâm trạng cô đơn, lạc lõng, khắc khoải của nhân vật chính đang dị ứng với nhịp sống đời thường , đều đều tẻ ngắt , đầy tất bật lo toan hoặc ồn ào rỗng tuếch (Nằm Nghiêng Nhớ Núi - Làng Của Những Người Mơ Mộng). Cuộc sống thực tại đó như đè nén, như vây bủa, như khuấy động con người bất như ý. Và, nhân vật chính u uẩn, sâu lắng tìm về ẩn thoát trong ốc đảo bình yên, dịu xanh kỷ niệm của khung trời cũ. Thế là mạch văn bắt đầu tuôn chảy, phần kế tục của truyện như được Lương Minh Vũ gửi trọn tâm cảnh vào, và chúng được thể hiện như là phần trọng tâm, cốt lõi của truyện. Kỷ niệm cũ tràn về, ngập tràn tâm tưởng, nhân vật chính như nửa mơ màng tận hưởng, nửa như dằn xé khắc khoải. Thực tại đôi khi được Lương Minh Vũ chen vào như một đối trọng làm nổi bật quá khứ, và cứ thế hoài niệm tiếp tục dâng phủ. Hình bóng người xưa được gợi nhớ như là một hình tượng đẹp, một nhân cách trong sáng, một tâm hồn mộc mạc, một lối sống hồn nhiên, giản dị nhưng đầy ý nghĩa, đã đem niềm vui thanh thoát cho nhân vật chính trong truyện, nhưng hắn ta thì vụng về, vì vô tình nên báu vật vô giá trôi vuột khỏi tầm tay, để hắn hoài công suốt đời kiếm tìm, vọng tưởng.

“Đời như trăm sông về biển. Tìm em ở đâu giữa lô nhô loài người”

(Sơn Nữ - Lương Minh Vũ)

Tình yêu đã hé nụ, nhưng mối tình vì chưa bắt đầu nên chưa kết thúc, tơ tình có lẽ vì thế mà lơ lửng giăng giăng.

“Lòng ta chôn một mối tình

Tình trong phút chốc mà thành thiên thu”

(Tình Tuyệt Vọng - Felix Avers - Khái Hưng dịch)

Người xưa đang ở đâu ? Sao để hắn mãi mơ về, hình bóng xa xăm sao vẫn là hư ảnh , cuộc kiếm tìm sao mãi vẫn là sự đuổi bắt vô vọng . Giữa hỗn độn đời thường , trong thoáng chốc bất chợt nào đó, cái dáng thân quen lại thấp thoáng ẩn hiện , một hóa thân của ai làm lòng hắn man mác bâng khuâng

“Đôi khi tình cờ đi ngang qua cánh rừng, tình cờ thấy bóng dáng một người con gái Thượng với chiếc gùi trên lưng, anh bỗng chạnh lòng. Bất giác trong lòng anh dâng lên nỗi u hoài. Anh không hiểu đó là cảm giác của kỷ niệm hay sự bâng khuâng hối tiếc”.

( Sơn Nữ- Lương Minh Vũ )

Sương khói mông lung của kỷ niệm cứ bàng bạc lan tỏa, trong cơn mơ hình bóng “người cũ” vẫn đậm nét trong ký ức, vóc dáng tuổi hai mươi vẫn mãi mãi thanh xuân, dù dòng đời theo thời gian đã nhuộm trắng tóc ai.

“Anh thấy gặp lại nàng giữa khung cảnh rừng núi ngày nào . Bên bờ suối với những thân cây cổ thụ còn nguyên vẹn như xưa.

Nàng ngồi bứt những chiếc lá thả theo dòng suối trôi về phía anh . Ở cuối dòng, anh thò tay cố vớt những chiếc lá ấy . Nhưng bao giờ anh cũng vụng về để nước cuốn đi mất hút . Nàng cười khanh khách trêu anh .

Trong mơ anh cũng biết mình đã luống tuổi . Anh ngậm ngùi nhớ ra rằng mình không còn thơ trẻ nữa . Nhưng còn Sơn Nữ , lạ quá ! Sau hơn mười năm xa cách , nàng với vóc dáng , khuôn mặt , mái tóc và luôn cả tiếng cười nữa , tất cả vẫn còn ở tuổi hai mươi”.

(Sơn Nữ- Lương Minh Vũ)

Đoạn kết trên như một dòng thơ man mác được Lương Minh Vũ dùng để khép lại truyện ngắn “Sơn Nữ”, nhưng truyện không đóng kín lại , mà vẫn hé mở : một khung trời huyễn mộng bâng khuâng đầy hư ảo , một niềm khát vọng cháy bỏng dạt dào vỗ sóng , cái đẹp như thăng hoa thành vĩnh cửu và chập chờn ẩn hiện , chợt gần chợt xa . Cái đẹp như chỉ để suy niệm , để chiêm bái chứ không thể nắm bắt hay chiếm hữu được.

Vâng , Sơn Nữ vẫn hồn nhiên , vẫn trẻ mãi tuổi hai mươi . Chỉ vì Sơn Nữ là kỷ niệm đẹp in đậm vào tâm tưởng rồi thăng hoa trong hoài niệm để trở thành hình tượng vĩnh cửu , bất biến với nét đẹp nguyên sơ thuần khiết chỉ thoáng hiện trong mơ. Nên khi bừng giấc mơ , tỉnh giấc trở về thực tại , ta cứ mãi tiếc nuối giấc mơ hoa.

“Rất nhiều khi anh thảng thốt giấc phì nhiêu . Nhưng khi giật mình tỉnh giấc , ồ chỉ là cơn mê , mộng si níu giữ. Cuối bờ bên kia gầm gừ sóng phủ , biển vẫn xanh một mầu xanh hoang”.

(Hoàng Quý)

CẢM ĐỀ SƠN NỮ

(Truyện ngắn của Lương Minh Vũ)

*

Ngày tháng lặng buồn tênh vòng cơm áo

Ta chồn chân mỏi gối với đời mòn

Thu mình lại ẩn thân vào ốc đảo

Chút khẽ khàng liệm kín khối tình son

**

Tóc đà bạc sao lòng còn hoài vọng

Một đời ta luôn dõi mắt tìm trông

Em hồn hậu trong ta thành vang bóng

Mắt môi xưa đọng ngấn ngát hương lòng

***

Rồi lãng đãng gần xa , huyền dáng mộng

Nét thơ trinh vằng vặc ánh trăng ngần

Em thoáng hiện cho thơ đời ngân vọng

Ta ngậm ngùi nhìn lại - Đã tàn xuân

La Thụy

READ MORE - LA THỤY - LƯƠNG MINH VŨ VỚI LÃNG ĐÃNG KHÓI SƯƠNG HOÀI NIỆM

Friday, June 17, 2011

TÌNH YÊU DÂNG HIẾN TRONG THƠ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG - Trần Anh Phương


Cầm trên tay tập thơ "Người hái phù dung" của Hoàng Phủ Ngọc Tường tôi như đọc với chính mình giữa đêm khuya lặng lẽ bên ngọn đèn. Cảm nhận đầu tiên về thơ anh không phải thơ để đọc giữa chốn đông người hay ở trong hội trường lớn, thơ anh chỉ đến với người đọc khi chỉ còn lại một mình đối diện với chính mình, tìm lại mình trong những con chữ lan toả như từng đợt sóng, xâm chiếm choáng ngợp lòng người...

"Bức thông điệp vỏ chai" (Paul Celan) mà tôi là người nhận, đang giải mã và bằng trực cảm tâm linh, tôi nhận ra gương mặt tình yêu trong thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường đẫm chất nhân văn cao cả, với anh tình yêu là giai điệu của bài ca dâng hiến. Thơ anh không trau chuốt gọt đẽo đến cầu kỳ mà hồn nhiên như hơi thở hay chính cuộc đời anh hoá thân làm câu chữ để thắp lên khát vọng cho sự vô biên tuyệt đích, khát vọng vĩnh cửu trong tình yêu. Qua một số bài "Kỷ niệm dành riêng cho hoa Violét", "Bên kia những ngày thường", "Cỏ, chim sẻ và châu chấu", "Lời ngu ngơ của một gã mù", "Xin người một chút không", "Nơi tôi gởi bóng", "Dù năm dù tháng" "Dạ khúc"... thể nghiệm hành trình tình yêu vẫn thầm lặng chảy miên man rong ruổi theo tháng ngày giữa hai bờ hư thực, một hành trình vô cùng vô tận, người đọc dường như bị lôi đi, bị bỏ bùa bởi sự đê mê dâng hiến ngập tràn bằng những rung động mang tính địa chấn.

Xâu chuỗi qua từng trang thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường với thủ pháp lặp từ đầy âm vang điệp khúc "cho ta", " cho em"”cho anh” vang lên gọi mời dâng hiến:

Em rót cho anh ly rượu đầy

Em cho anh một chiều thong thả.

Hay

Em có lời thề dâng hiến

Cho anh trọn một đời người

...

Phải chăng cảm quan tình yêu trong thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường là cho nhiều hơn nhận. Tình yêu với anh là cõi huyền nhiệm thánh thiện tâm linh, nó trong trẻo như pha lê và quý giá hơn hết thảy mọi thứ trên trần thế, tình yêu với khát vọng chân thiện mỹ. Trong bài "Dạ khúc" mở ra một không thời gian chiều hay giờ xẩm tối, là giờ thiêng, khi mà ngã thể con người cảm thấy bị giam hãm, trong khuôn khổ sinh tồn bất toàn và hữu tử, khi nó khát khao hoà mình trong hoàn vũ tự tồn, sẵn sàng hiến mình cho sự hư vô, tịch diệt vì những khả năng tái sinh mới, thì "em bất chợt" hiện về như thiên sứ, em đến mang theo mật mã của đời anh. Có thể nhận ra sự vi tế ấy qua giọng thơ gấp gáp với cảm xúc hổn hển rung lên hàng nghìn cung bậc trong trái tim kẻ đang yêu. Hạnh phúc mà em mang lại trong "chiều trần thế" dường như đã cứu rỗi thân phận anh trên cây thập giá đời.

Có chiều nào như chiều xưa

Anh về trên cát nóng

Đường dài vành môi khát bỏng

Em đến dịu dàng như một cơn mưa

Có buổi chiều nào như chiều qua

Lòng tràn đầy thương mến

Mang cả xuân thì em đến

Thắm nồng như một bông hoa

Có buổi chiều nào người bỏ vui chơi

Cho ta chiếc hôn nồng cháy

Nỗi đau bắt đầu từ đấy

Ngọn ngào như trái nho tươi.

Ở đây chỉ trong mười hai câu thơ, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã so sánh em là cơn mưa, là bông hoa, là trái nho tươi. Ôi! Em như huyền thoại cổ xưa về nước như là một nguyên tố khởi thuỷ, nơi vạn vật phát sinh và vạn vật phải trở về cho vũ trụ được cải tử hoàn sinh. Trong đoản khúc trữ tình này, Hoàng Phủ Ngọc Tường phả vào đó hơi thở của sự sống mà em là thiên sứ mang hạnh phúc về nơi trần thế trên đôi cánh thiên thần.

Nhưng đằng sau những xúc cảm tuôn trào của anh vẫn chìm sâu ẩn mật một sự chiêm cảm sâu sắc. Cái độc đáo nhất trong thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường viết về tình yêu là anh nhận ra gương mặt tình yêu, gọi tên nó và đưa đến một khái quát lớn, rằng tình yêu chỉ vĩnh hằng trong sự hiến dâng thánh thiện mà thôi. Vậy nên trong đam mê ngây ngất, chủ thể trữ tình đã nhận ra nỗi đau, một nỗi đau ngọt dịu "Nỗi đau bắt đầu từ đấy. Ngọt ngào như trái nho tươi". Và hơn thế nữa, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tìm thấy sự tương phản giữa "chiều xưa" và “chiều nay”; bức thông điệp về thời gian, thời gian cay nghiệt nó cuốn đi tất cả vào trong lòng nó và em cũng có thể trôi theo quy luật của cuộc đời.

Có buổi chiều nào như chiều nay

Căn phòng anh bóng tối dâng đầy

Anh lặng thầm như cái bóng

Hoa tàn một mình mà em không hay.

Anh đã nhận diện nỗi đau trong tình yêu trong một chiều kích mới: đó là sự thay đổi tình yêu ngay trong bản ngã con người. Anh sợ sự lưỡng diện trong em, thiên đường hay địa ngục cũng từ đó. Câu thơ khép lại rưng rưng nỗi đau được thắp lên thật nhân ái bởi em đã đánh rơi mình, em ra đi mang theo cả hương hoa tàn lụi, hình ảnh "hoa tàn" ở cuối bài Dạ khúc như một sự đổ vỡ cho những ai có tâm hồn quá ư nhạy cảm vì khát vọng tuyệt đối trong tình yêu. Bằng linh cảm tiên nghiệm Hoàng Phủ Ngọc Tường nhận ra một cách sâu sắc rằng có tình yêu chưa đủ mà phải biết chăm lo vun xới nuôi dưỡng cho tình yêu ấy, nhân lên theo năm tháng cũng chẳng dễ gì. Bởi cuộc đời biết đâu đấy... ý niệm này đưa anh thể hiện trọn vẹn ở một bài thơ khác:

Chăm lo cánh đồng tình yêu

Anh đếm từng vầng trăng sáng

(Dù năm dù tháng)

Sự khái luận về tình yêu trong thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường ta cũng từng tìm thấy qua tập thơ "Người làm vườn" của hiền triết Ấn Độ Tago. Tago từng quan niệm tình yêu như mảnh vườn mà con người cần vun xới mới hái được hoa thơm quả ngọt. Phải chăng do Hoàng Phủ Ngọc Tường, trước đây, từng nhiều năm dạy triết phương Đông mà có sự tương đồng này chăng?

Cũng cần đề cập đến với đề cái tôi trong thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, bởi không ở đâu thể hiện cái tôi rõ nét bằng tình yêu trong quan niệm cho và nhận. Trước đây trong thơ mới nhà thơ Thế Lữ, Lưu Trọng Lư... từng quay lưng với đời để tìm hạnh phúc nơi bồng lai, tiên cảnh hay trong ảo mộng. Riêng Hoàng Phủ Ngọc Tường có cảm quan mới về triết lý nhân sinh: anh đã tìm thấy hạnh phúc ngay trong trần thế do tình yêu mang lại với những ai biết vun xới và nâng niu nó. Chưa đâu hình tượng phụ nữ được tôn vinh, lên ngôi như trong thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường. Hình tượng phụ nữ trong thơ anh lung linh một vẻ đẹp Á đông huyền bí, họ chính là suối nguồn yêu thương, dâng hiến nụ hôn nồng nàn trên đôi môi trần thế.

Cho ta một chút yêu kiều

Chút sương áo mỏng, chút chiều tóc bay

Trăm năm còn có heo may

Mùa thu hồng nhạn còn đầy trong ta

...

Này em mắt biếc nhìn đời

Cho ta soi bóng làm người tương tri"

Hoàng Phủ Ngọc Tường tạo dáng câu thơ thành lời nói cá thể. Câu thơ có chủ ngữ nhân xưng "em" "anh" "ta"... biểu thị của lời nói chủ thể xác định. Chất lãng mạn trong thơ anh luôn gắn với hiện thực thông qua cảm nhận về thế giới và con người một cách đặc thù. Ở đó, cái tôi trong thơ thể hiện khát vọng giải phóng cá tính, trả con người về bản chất tự nhiên. Thơ anh tạo không khí tâm tình cho thi sĩ thổ lộ, mở rộng với đời.

Điều tiên quyết về tình yêu trong thơ Hoàng phủ Ngọc Tường là phải có lòng tin và sự thuỷ chung. Bởi anh quan niệm tình yêu là nơi để soi bóng mình nhận diện mình. Nhân vật “anh" trong thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường xem tình yêu là nơi ký thác vận mệnh của đời mình, giá trị nhân phẩm con người được biểu hiện trên gương mặt tình yêu của họ. Hoàng Phủ Ngọc Tường đem tấm gương tình yêu để soi rõ bóng dáng cuộc đời trong mỗi con người, tình yêu cứu rỗi nhân loại:

Giữ hoài cho màu nước

Sáng trong như lòng tin

Đừng để thấy trong em

Gương mặt tôi tan vỡ.

(Nơi tôi gửi bóng)

hay

Đọc trên môi em

Sức nóng của màu hoa phượng đốt cháy thành phố

...

Vâng, trên môi em,

Ta đọc lại ngọn lửa của nhân loại đã tắt ngấm

(Lời ngu ngơ của một gã mù chữ)

Hoàng Phủ Ngọc Tường tìm thấy nguồn cảm hứng bất tận trong sự không chỉ lý tưởng hóa mà còn thần thánh hóa người yêu. Tình yêu trong thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường xuất hiện như một tình cảm hồn nhiên, tươi sáng, làm đẹp cuộc sống con người, cất bổng nó lên khỏi thực tại đời thường ô trọc. Bởi thế, nhân vật trữ tình "anh" trong thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường có chiều kích mang tầm vũ trụ. Anh cũng dâng hiến đời mình bằng tất cả hành động mãnh liệt nhất, trãi qua những vật vả, nguy khó để tìm đến với em. Bằng hình ảnh ước lệ, tượng trưng, kỳ vĩ.

Bên kia những ngày thường

Có anh bơi tìm em qua những dòng sông

(Bên kia những ngày thường)

hay trong bài "Mùa xuân anh trở lại". Nhân vật anh cũng thiết tha dâng hiến, đi theo tiếng gọi vĩnh cửu của tình yêu không đắn đo suy tính tình yêu như là sự may mắn mà anh có được.

Anh yêu em rộng mãi những chân trời

Và mới mẻ như ngày đầu anh đến

Với hương lạ sóng cồn cửa biển

Chim phượng hoàng gọi nắng rừng xa

Thời gian cuốn trôi tất cả, thời gian vừa tái sinh vừa huỷ diệt. Dấu ấn thời gian trong bài "Dù năm dù tháng" là thời gian vĩnh cửu; tình yêu vận hành theo quy luật riêng không tuân theo logic đời thường; thời gian theo nhịp đập của trái tim mà trái tim lại mang trong mình nó sự vĩnh cửu, năm tháng không hề lay chuyển nổi. Sự dâng hiến của tình yêu là bất tận, mang giá trị vĩnh hằng. Nó rất gần với câu danh ngôn "Thời gian dập tắt tình yêu nhỏ, thổi bùng tình yêu lớn". Như thế, con người đã tìm thấy sự tồn tại của mình có ý nghĩa vĩnh hằng trong tình yêu và cám ơn tình yêu đã giúp con người chiến thắng sự hạn hữu, thân phận bé mọn của mình trong dòng vô thuy, vô chung.

Dù năm dù tháng em ơi

Tim anh chỉ đập một đời

Nhưng trái tim mang vĩnh cửu

Trong từng hạt máu đỏ tươi.

Với Hoàng phủ Ngọc Tường, tình yêu là vô giá, luôn được tôn vinh kể cả sự hy sinh cho tình yêu cũng là niềm hạnh phúc vô bờ bến. Thơ của anh phải đọc trong lúc bình tâm, thanh thản. Nó hiện lên những bức tranh về những khoảnh khắc của tâm trạng, của tình yêu và của những ước muốn suy tư. Vẫn biết rằng Hoàng phủ Ngọc Tường viết thành công trên nhiều thể loại, nổi tiếng nhất là ký, nhàn đàm... Tuy nhiên trên lĩnh vực thơ ca lại là nơi hành hương trở về lớn nhất của anh - trở về bản thể thi sĩ của chính mình. Thơ anh thánh thiện, toát lên ánh sáng ngọc trai ngậm bằng nỗi đau lắng lại sau bao cơn sóng vất vả của biển đời để khái quát nên triết lý cho tình yêu: hạnh phúc con người có được trong tình yêu chỉ thật sự bắt nguồn khi con người biết hy sinh dâng hiến cho nhau, tình yêu sẽ chiến thắng sự hữu hạn của kiếp người, đưa thiên đường về nơi trần thế.

Trong hành trình thơ hôm nay, bên cạnh những cây bút đa giọng điệu, khá thành công về mặt thi pháp. Thơ Hoàng phủ Ngọc Tường vẫn có điệu thức riêng. Nó diễn đạt rất kín đáo nỗi khắc khoải siêu hình của tâm hồn con người trong tình yêu, nó chỉ khêu gợi nhưng ám thị; nó mời gọi người đọc tự hoàn thành thông điệp của tác phẩm nghệ thuật trong tâm tưởng của mình. Cái duyên sức mê dụ hấp dẫn thẩm mỹ đặc thù qua nhiều bài thơ của Hoàng phủ Ngọc Tường là ở chỗ ấy. Trong đời người làm thơ chỉ để lại trong lòng người đọc một bài, một câu thơ đã là quý hóa. Riêng Hoàng phủ Ngọc Tường dù anh không muốn thành thi sĩ, thế nhưng những bài thơ của anh luôn được kết hợp với âm nhạc của Phú Quang như chắp thêm đôi cánh cho thơ ca thăng hoa và đến được với mọi người trong trạng thái xuất thần. Mặc dù thưởng thức và chiêm ngưỡng thơ là tuỳ ở con mắt đa tình và cái gout thẩm mỹ của từng người. Nhưng có lẽ nào những lời thơ tình nồng nàn dâng hiến đắm say đến thế lại không làm cho ta sống và yêu giữa cuộc đời tươi đẹp này. Như vậy Hoàng phủ Ngọc Tường đã vươn đến cái đích cao cả của nghệ thuật rồi vậy.

Trần Anh Phương (Tạp chí Sông Hương)

.

READ MORE - TÌNH YÊU DÂNG HIẾN TRONG THƠ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG - Trần Anh Phương

Wednesday, June 15, 2011

PHAN BẢO HÒA - MÙA CẢI QUÊ TÔI



Những ngày cuối năm, mưa xuân lất phất rơi từng hạt trong veo li ti e thẹn vương khẽ trên mái tóc báo hiệu đất trời đang độ vào xuân.


Ở quê tôi, từ những ngày cuối tháng 11, khi mưa xuân về thì khắp mọi vườn nhà nào cũng xới đất vãi cải. Cải là loại cây dễ thích ứng với tiết xuân. Hạt cải chỉ cần vãi ra vài hôm, gặp mưa xuân là có thể phát triển nhanh thành cây con, với một màu xanh mướt tươi non thẳng tắp theo lối đường đất như những tấm thảm nơi quê nghèo. Bởi chỉ cần nhìn những vườn cải mượt mà chợt thấy quê mình giàu lắm cái hồn quê chất chứa khôn nguôi. Chính quê hương đã gói gém cẩn thận những kỉ niệm giúp ta lớn miên man theo ngày tháng. Và kỉ niệm ấy cũng bình dị mộc mạc như cái tình quê vậy.

Theo thông lệ vào mùa này trong làng đi đến nhà nào cũng có một luống cải xanh được vãi được tỉa. Cải là loài cây hợp với đất ẩm. Đất trồng cải được cuốc bệ lên rồi phăm mịn trộn đều với ít phân hữu cơ. Như thế là đã tạo ra được một môi trường phì nhiêu thuận lợi cho cải phát triển và chống chịu với cái nũng nịu của tiết trời cuối năm cứ thay đổi liên tục.

Vào ngày tết bên những thức ăn ngậy béo thì một rá cây cải non sẽ trở thành món ăn rau sống kẹp, trong bữa ăn của mỗi gia đình. Rồi từ đó cải trở thành món khoái khẩu đối với mỗi người mỗi nhà.

Khi tiết trời lập đông cũng như mọi người trong làng, mẹ tôi tỉa những cây cải to cứng cáp trong luống cải được vãi rồi cấy cải ra theo luống. Chỉ khoảng hơn mươi hôm các luống cải đã xum lá to bẹ lắm rồi. Cứ thế trong cái nắng hiếm hoi những ngày cuối năm. Mẹ tôi lại vội vàng nhổ những cây cải to có giòng rửa sạch để ráo, tranh thủ nắng mới phơi cải héo héo. Nấu nước sôi để nguội cho thêm ít muối khuấy đều rồi nén từng lá cải vào trong hủ đất. Sau đó đổ nước muối cho xấp xấp lá cải là được. Rồi đậy kín nắp hủ và cứ để như vậy vài hôm đến lúc mở ra, từ trong hủ cải sẽ bay vởn vào không khí một mùi thơm chua chua nồng nồng lan tỏa của món dưa cải. Lúc này từng lá cải xanh đã chuyển sang màu vàng ươm trông rất thích mắt. Món dưa cải quê tôi có vị ngon và khác biệt so với dưa cải bẹ miền Bắc. Cải quê tôi người ta hay gọi là cải cay. Lá không to, cọng nhỏ dài. Rất hợp để dùng làm dưa cải muối. Lúc ăn từng miếng cải giòn rúm, lá dưa cải dai ngọt. Loại dưa cải cay khác biệt là khi để dưa cải lâu trong hủ cải không bị nát, lúc kho cải cũng không bị nhừ. Điểm đặc biệt ở quê tôi quan niệm với những người gọi là có tay làm cải thì dưa cải để càng lâu càng thơm và ngon.

Nhớ những năm phải sống xa nhà trọ học nơi đất người mới thấy sao nhớ quá hủ dưa cải cay của mẹ. Tôi không thể quên được cũng vào mỗi dịp cuối năm thế này khi lũ sinh viên chúng tôi cứ bận bịu vào kì thi học kì I nên chẳng mấy chú tâm vào việc nấu nướng cứ cơm bụi mỳ tôm triền miên qua ngày. Và thế là mỗi buổi chiều ánh trời vàng đục đổ về trên mái bếp nhà bên, tôi ngồi ôn bài cạnh cửa sổ vu vơ ngước mắt nhìn sang thấy màu khói bếp nhà bên vởn vơ theo tiếng gọi mẹ của đứa trẻ đầu phố không hiểu sao khi ấy lại thấy sống mũi mình cay cay.

Những lúc ấy thấy thèm biết mấy một dĩa dưa cải vàng thơm của mẹ chấm nước mắm ớt tỏi với bát cơm trắng quê mình quá đỗi.

Mặc dù cải là loại cây góp vào bữa cơm hàng ngày nhưng ở quê tôi cây cải còn có một sứ mệnh thiêng liêng lắm bởi màu hoa cải đã tạo nên bức tranh quê nghèo ngày tết một nét đẹp riêng khó phai. Màu vàng hoa cải hằn sâu vào ký ức, thường trực trong nỗi nhớ mỗi người vào những khi tết đến xuân về. Cái vàng tươi của hoa cải không hiểu sao cứ thấy vương vấn không muốn xuân qua vì lúc ấy hoa cải cũng theo ngày xuân sang mùa mà tàn rụi héo buồn. Bỗng cảm thấy yêu lắm cái màu vàng mơ màng trên từng bông cải nhỏ nhắn đáng yêu nhưng lại không kém phần tinh tế. Mặc dầu cải không đẹp kiêu sa nhưng cải đẹp trong chính sự bình dị thầm lặng như nét đẹp chân chất của người nông dân quê tôi vậy.

Những buổi xế tà theo ráng chiều lất phất màu đỏ nhạt của ánh mặt trời muộn nghiêng xuống trên những bông cải phản chiếu một gam màu rất đẹp và lạ. Hoa cải dập dờn ru theo gió khẽ chao mình e ấp một vẻ đẹp tình tứ đáng yêu. Cải hồn nhiên và rồi nét đẹp duyên quê ấy đã vướng vào tâm hồn kẻ đa cảm từ lúc nào không hay biết sự cho nhớ nhung da diết trước mỗi mùa cải quê hương.

Phan Bảo Hòa

Nguồn: Phongdiep.net
READ MORE - PHAN BẢO HÒA - MÙA CẢI QUÊ TÔI

Monday, June 13, 2011

HÀ THẠCH HÃN - TẢN MẠN VỀ ỚT


Những ngày rong ruổi ở miền Trung, đi đến đâu cũng thấy sự hiện diện của ớt, lúc nào cũng cảm nhận được hương vị nồng nã của ớt.

Lại nhớ một thời ấu thơ bần hàn gắn chặt với cái thứ cay nồng da diết ấy. Nào là ớt kho, ớt bột; rồi nào là ớt ướp, ớt hấp dầm nước mắm… Chao ôi, cả một thế giới ớt trong bữa ăn người túng khó.

Cây ớt ở quê tôi thường được trồng vào những tháng cận Tết, khi mưa phùn lất phất bay và cơn gió se se lạnh ùa về. Đấy là một loại ớt rất đặc trưng miền Trung: trái thon dài, không quá cay mà lại thơm nồng mãi trong ký ức. Ớt được trồng khắp mọi nơi, ngoài đồng, trồng trên bờ đê, trong vườn và cả bên thềm nhà…

Một bữa ớt chưa kịp ra trái, mẹ đưa tôi 5 hào sang nhà mụ Viên mua về cả nắm. Thế rồi, bữa cơm bỗng trở nên nồng ấm khác thường: rau sống, rau luộc cắn kèm với miếng ớt mà ngon đến lạ lùng. Những ngày đói kém, không có món ăn nào khác trên mâm cơm, ớt trở thành thứ gia vị duy nhất đánh lừa được đầu lưỡi, kích thích người ta đưa cơm vào miệng. Trong hoàn cảnh ấy, nếu không có ớt, miếng cơm trở nên nhạt nhẽo và vô duyên tệ.

Và rồi, ăn ớt đến mức nghiện. Thiếu ớt lại thấy trống vắng, quay quắt. Thậm chí, ăn mãi mà tăng đô đến độ như cô giáo tôi, chỉ ăn toàn hạt ! Cũng chính vì thế mà sau này, khi đã bị căn bệnh dạ dày hành hạ hàng ngày, cô vẫn nhất quyết không từ bỏ ớt (Nếu có Lam Điền, hắn sẽ ứng khẩu ngay rằng: Ăn ớt thì ăn cho mau/Nếu mà ăn chậm thì đau…dạ dạy ! Hehe).

Ớt đã trở thành hương hồn hương tuý và lưu trú vào tâm thức người làng tôi một góc vững bền, thâm căn cố đế.

Nhưng trong vô số những thực đơn về ớt, nổi tiếng nhất ở làng tôi vẫn là món ớt ướp. Khi ớt chín đến, người ta sẽ hái về đem bỏ vào cối đâm dập, rồi phơi sương cho heo héo trước khi bỏ vào hũ ngâm muối. Đặc biệt ngoài nguyên liệu chính là ớt, người làng còn cho thêm vào đó một ít tỏi và măng nhánh. Khoảng 3-4 ngày sau là có thể đem ra ăn được, khi ấy chỉ mới mở nắp hũ thôi là đã nghe thơm lừng, nồng cay ngào ngạt.

Ớt ướp quê tôi nổi danh đến độ, có cả một dự án sản xuất ớt ướp để xuất khẩu sang tận Đài Loan ! Chỉ tiếc số người Việt viễn xứ không nhiều và cũng không mấy người ăn được ớt nên dự án này không thể mở rộng, phát triển mạnh mẽ như mọi người kỳ vọng.

Bây giờ, dù đã 27 năm đằng đẵng xa quê, nhưng hồi ức về ớt vẫn nguyên vẹn và nóng bỏng trong tôi. Thi thoảng, chị Kim Em hay Đăng Nam (Văn phòng Đà Nẵng) vẫn gửi biếu vài kg để dành ăn dần cho đỡ thèm nhớ, đành rằng ớt ở hai vùng ít nhiều khác biệt.

Một buổi chiều cùng mấy thằng bạn xa xứ lai rai trên tầng thượng chốn thị thành nhà cao cửa rộng, dõi mắt về miền Trung-nơi nghèo khó và lũ lụt triền miên mà chợt thấy cay cay nơi sống mũi, dù không ăn một miếng ớt nào.

Quê ơi !

Tháng 4-2007

READ MORE - HÀ THẠCH HÃN - TẢN MẠN VỀ ỚT