![]() |
Cầu Mỹ Chánh - Làng cổ Phước Tích |
![]() |
Bình minh trên dòng Ô Lâu |
![]() |
Ngày mới bên dòng Ô Lâu |
![]() |
Chiều bên hồ sen |
![]() |
Hái sen cúng Phật |
![]() |
| Chờ thuyền sang sông |
TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
![]() |
Cầu Mỹ Chánh - Làng cổ Phước Tích |
![]() |
Bình minh trên dòng Ô Lâu |
![]() |
Ngày mới bên dòng Ô Lâu |
![]() |
Chiều bên hồ sen |
![]() |
Hái sen cúng Phật |
![]() |
| Chờ thuyền sang sông |
Bánh Ayơh:
Hương Vị Độc Đáo Của Người Vân Kiều Quảng Trị
Dọc theo dãy Trường Sơn hùng vĩ, nơi đại ngàn Quảng Trị nắng gió, người Bru - Vân Kiều từ bao đời nay đã tạo nên một nền văn hóa ẩm thực vô cùng phong phú và độc đáo. Giữa vô vàn những món ăn mang hương vị của núi rừng, có một loại bánh không chỉ đơn thuần là món ăn, mà còn là biểu tượng của lòng hiếu khách, sự gắn kết cộng đồng và những giá trị tâm linh sâu sắc. Đó chính là bánh Ayơh – món bánh giã tay truyền thống mang đậm bản sắc của người Vân Kiều.
![]() |
| Ảnh từ Facebook Ẩm Thực Bru Vân Kiều |
1. Nguồn gốc từ hạt lúa rẫy và sự chắt chiu của đất trời
Để hiểu về bánh Ayơh, trước hết phải hiểu về hạt lúa rẫy của người Vân Kiều. Khác với lúa nước ở đồng bằng, lúa rẫy (người địa phương gọi là nếp Than hoặc nếp Nhung) được trồng trên những sườn đồi cao, lớn lên nhờ nước trời và linh khí của núi rừng.
Bánh Ayơh ra đời từ chính sự trân trọng những hạt ngọc của Giàng (Trời) ban cho. Theo các già làng kể lại, bánh Ayơh đã có mặt trong đời sống người Vân Kiều từ rất lâu đời. Chẳng ai rõ nó xuất hiện chính xác từ khi nào, chỉ biết rằng khi những bản làng bắt đầu biết canh tác lúa rẫy, biết làm lễ mừng lúa mới, thì mùi thơm của bánh Ayơh đã bắt đầu lan tỏa khắp gian bếp của những ngôi nhà sàn.
2. Quy trình chế biến: Sự kỳ công từ đôi bàn tay khéo léo
Bánh Ayơh nhìn vẻ ngoài có vẻ đơn giản, giống như bánh dày của người Kinh, nhưng quy trình để tạo nên một chiếc bánh chuẩn vị lại đòi hỏi sự tỉ mỉ và sức lực đáng kể.
Lựa chọn nguyên liệu
Nguyên liệu quan trọng nhất chính là nếp rẫy. Nếp phải là loại mới thu hoạch, hạt tròn, mẩy và có mùi thơm nồng nàn. Bên cạnh đó, một thành phần không thể thiếu tạo nên hương vị đặc trưng là vừng (mè) đen. Vừng đen được người dân trồng ngay trên rẫy, hạt nhỏ nhưng rất bùi và thơm.
Công đoạn chế biến
Ngâm và đồ xôi: Gạo nếp được vo sạch, ngâm trong nước suối khoảng vài tiếng cho mềm rồi cho vào chõ gỗ để đồ (hấp). Người Vân Kiều có bí quyết riêng để xôi chín đều, dẻo nhưng không được nát.
Giã bánh (Công đoạn quan trọng nhất): Đây là lúc cần đến sức mạnh của những chàng trai và sự khéo léo của những người phụ nữ. Khi xôi còn nóng hổi, người ta cho vào cối gỗ. Vừng đen đã rang chín, thơm lừng cũng được cho vào cùng. Hai người đàn ông lực lưỡng sẽ dùng chày gỗ giã liên tục, đều tay.
Giã bánh Ayơh không chỉ là làm nhuyễn xôi, mà là làm sao để hạt vừng đen hòa quyện hoàn toàn vào từng thớ nếp, tạo nên một màu xám đậm đặc trưng và mùi thơm béo ngậy.
Nặn bánh: Sau khi khối bột nếp đã mịn màng và dẻo quánh, những người phụ nữ sẽ thoa một ít dầu thực vật (hoặc mỡ lợn) lên tay để nặn bánh. Bánh thường có hình tròn dẹt, to bằng lòng bàn tay.
3. Hương vị độc bản của đại ngàn
Thưởng thức bánh Ayơh là một trải nghiệm vị giác thú vị. Ngay từ miếng đầu tiên, bạn sẽ cảm nhận được độ dẻo quánh của nếp rẫy – cái dẻo không hề dính răng mà lại rất mềm mại. Ngay sau đó là vị bùi, béo ngậy của vừng đen tan tỏa trong khoang miệng.
Cái hay của bánh Ayơh là sự mộc mạc. Bánh không cần thêm đường hay bất kỳ loại gia vị phức tạp nào. Vị ngọt thanh tự nhiên từ tinh bột nếp hòa quyện với mùi thơm đặc trưng của khói bếp và nắng gió Trường Sơn tạo nên một sức hút khó cưỡng. Đối với người đi rừng, một chiếc bánh Ayơh có thể cung cấp đủ năng lượng cho cả một ngày dài làm việc bền bỉ.
4. Giá trị văn hóa và tâm linh
Đối với người Vân Kiều tại Quảng Trị, bánh Ayơh không phải là món ăn hằng ngày mà thường xuất hiện vào những dịp đặc biệt quan trọng:
Lễ mừng lúa mới (Lễ hội đâm trâu): Đây là lúc bánh Ayơh được dâng lên các vị thần linh, tổ tiên để tạ ơn một mùa màng bội thu và cầu mong cho năm tới mưa thuận gió hòa.
Cưới hỏi: Bánh là lễ vật không thể thiếu trong các nghi thức dạm ngõ, cưới hỏi, thể hiện sự gắn kết bền chặt giữa hai dòng họ.
Đãi khách quý: Khi có khách quý đến thăm bản, người Vân Kiều sẽ tổ chức giã bánh Ayơh. Tiếng chày giã bánh vang lên rộn ràng khắp bản làng như một lời chào đón nồng hậu nhất.
"Bánh Ayơh không chỉ là món ăn, nó là tấm lòng của người Vân Kiều. Giã bánh càng kỹ, bánh càng dẻo, cũng như tình cảm dân làng càng bền chặt." - Một già làng tại huyện Hướng Hóa chia sẻ.
5. Bảo tồn và phát huy giá trị di sản
Trong xu thế hội nhập, dù có nhiều loại bánh công nghiệp tiện lợi ra đời, nhưng người Vân Kiều ở Hướng Hóa, Đakrông (Quảng Trị) vẫn giữ thói quen làm bánh Ayơh. Ngày nay, bánh Ayơh không chỉ nằm lại ở các bản làng xa xôi mà đã bắt đầu xuất hiện tại các lễ hội văn hóa, các hội chợ đặc sản vùng miền, trở thành một sản phẩm du lịch độc đáo.
Du khách khi đến với các bản du lịch cộng đồng như bản Khe Đá, bản Phường hay thị trấn Khe Sanh thường rất hào hứng với trải nghiệm tự tay giã bánh cùng dân bản. Đó là cách tuyệt vời nhất để văn hóa truyền thống được sống mãi và lan tỏa.
Lời kết
Bánh Ayơh là sự tinh túy được kết tinh từ những hạt gạo nếp thấm đẫm mồ hôi trên nương rẫy và sự cần cù của con người vùng cao. Nếu có dịp ghé thăm mảnh đất Quảng Trị nắng cháy, đừng quên dừng chân nơi những ngôi nhà sàn của người Vân Kiều để nghe tiếng chày giã bánh thình thịch và nhâm nhi vị dẻo thơm, bùi ngậy của chiếc bánh Ayơh. Bởi trong từng miếng bánh ấy, bạn sẽ cảm nhận được cả hơi thở của đại ngàn và tấm lòng hồn hậu, chất phác của con người nơi đây.
Liên kết:
![]() |
| Nhà văn Lê Yên |
ĐÔI BẠN
Lê Yên
Nâu Đất là tên của nó. Từ lần đầu tiên nghe cậu chủ nhỏ nói với mẹ: “Mẹ ơi! Con gọi nó là Nâu Đất nhé!” Lúc đó nó còn nhỏ và chưa có cái tên nào. Nó nghĩ thầm tên nó đẹp hơn con Lu, con vện nhà hàng xóm cũ, nó vểnh tai khoái chí. Giờ này cậu chủ sắp đi học về, nó canh con nắng xuôi dài mái hiên chạy ra đầu ngõ hết đứng lại ngồi nhấp nhổm. Trừ thời gian đi học ra, Nâu Đất và Tâm không rời nhau, kể cả khi ngủ nó cũng nằm dưới chân giường cậu chủ.
Từ xa Tâm đã nhìn thấy chú Chó vẫy đuôi, rên ư ử tỏ vẻ vui mừng, và Tâm biết thế nào Nâu Đất cũng nhảy chồm lên, cậu vội né tránh rồi cười ha hả, một cuộc rượt đuổi thú vị bắt đầu quanh vườn cho đến khi tiếng mẹ gọi vang mới dừng lại. “Thưa mẹ, thưa ngoại con mới học về.” Ngoại lên tiếng: “Con để ý luống rau ngoại mới trồng, trông chừng Nâu Đất dẫm hư của ngoại.” Tâm dạ rồi lấy chân hích nhẹ vào chú chó đang nằm dưới đất tỏ ra ngoan ngoãn. “Đi tắm vào ăn cơm con.” Tiếng mẹ vọng lên từ chái bếp, Tâm dạ thật to cố ý cho mẹ nghe thấy rồi cất cặp sách.
Tâm thay bộ đồ đi học treo sau móc cửa phòng, trên mình chỉ còn quần shot, không quên đem theo xà bông tắm. Cậu chủ nhỏ chạy như bay xuống triền dốc đến con suối, phía sau Nâu Đất theo bén gót, có khi nó chồm lên chạy trước cả Tâm. Con suối có dòng nước hiền hòa quanh năm không cạn, làn nước trong rất sạch vào mùa hè, mùa mưa nước chảy mạnh hơn và không còn trong nữa, vì cơn mưa cuốn bao đất đá sạt lở đất vườn, không biết cuối nguồn về đâu. Cả hai lao vào dòng suối thích thú đùa giỡn, bộ lông sát da của Nâu Đất được Tâm bôi xà bông chà xát cẫn thận, rồi lấy bàn chải mềm chải xuôi, sau đó hụp lặn mấy lần cho sạch với dòng suối chảy róc rách. Tâm vỗ vào lưng Nâu Đất nói lớn “xong rồi, lên đi”. Chừng như chưa chơi đã, nó còn hụp lặn thêm vài lần nữa mới nhảy lên tảng đá bàng bên suối giũ bộ lông bắn nước tung toé. Tâm bắt đầu tắm cho mình, đây là khoảng thời gian thư giãn không phải vội vàng như giấc sáng đi học. Nghĩ thế, cậu cũng không cà kê vì biết ngoại và mẹ đang chờ cơm.
Ngôi nhà cấp bốn nằm giữa khu vườn. Ba mẹ trồng rất nhiều cây ăn trái, bây giờ ba không còn nữa để nhìn thấy những cây ba trồng cao lớn xum xuê. Vườn ổi mẹ và ngoại trồng sau này, ngoại già nhưng vẫn thích làm vườn, lưng ngoại không còn thẳng nữa, vậy mà cả ngày cứ ở ngoài vườn, tối đến lại rên đau nhức. Học bài xong Tâm xoa bóp cho ngoại.
Tâm thích nhất mùa hè, không phải dậy sớm đi học, nên tối đến được thức khuya một chút để canh đàn khỉ trong rừng ra trộm ổi. Vườn ổi với những trái chín quanh năm tỏa mùi hương thơm ngọt hấp dẫn đàn khỉ về phá vườn. Vào đêm trăng sáng, Tâm và Nâu Đất nép mình bên tảng đá bàng lớn giữa vườn, chú chó căng thẳng kêu ư ừ, Tâm kéo nó sát vào, Hai mắt mở to nhìn về hướng khu rừng nơi đàn khỉ xuất hiện, chúng đu trên dây điện đi rất nhanh, khỉ mẹ cõng con trên lưng cũng nhanh không kém, chúng sà vào vườn ổi và thế là một cuộc tàn phá bắt đầu. Chúng hái trái ổi được bọc cẩn thận xé toạc bao bên ngoài, cắn một hai miếng xong vứt đầy trên đất, rồi hái trái khác. Nhìn vườn ổi xác xơ đến đau lòng. Mẹ và ngoại đã chuẩn bị sẵn thau chậu, cây chày giả tiêu gõ vào nhau inh ỏi, chổi chà rượt đuổi đàn khỉ. Xong việc ngoại ngồi bệt xuống đất thở hổn hển, mẹ xót xa thở dài…
Đó là lần đầu mẹ cho Tâm thức đêm cùng mẹ canh đàn khỉ. Sau lần đó, mẹ lấy lon sữa bò làm chuông báo động. Bây giờ chỉ cần thấy bóng đàn khỉ từ xa, Tâm kéo sợi dây báo động, tiếng những chiếc lon sữa bò va vào nhau inh ỏi khiến chúng sợ hãi chạy nhanh vào rừng.
Cuộc sống nông thôn thanh bình đơn giản, mỗi lần bác ba nhà bên cạnh từ thành phố trở về kể đủ chuyện về cuộc sống văn minh, những tòa nhà cao tầng, đường sá xe cộ đông đúc. Mọi thứ với Tâm chỉ nằm trong trí tưởng tượng… Nhà bác ba nấu bếp điện, nhà Tâm mẹ nấu bằng cái bếp kiềng ba chân đun củi, ngày cuối tuần Tâm giúp mẹ nhặt củi quanh vườn nấu còn không hết. Tiếng nổ lách tách từ những nhánh củi khô và mùi khói vương trên chái bếp của mẹ có lẽ cả đời này không quên, như tình thương dành cho ngoại, cho mẹ, cho Nâu Đất trên mảnh vườn dốc thoải được bao quanh con suối nhỏ hiền hòa. Mùa mưa cho cá, những con cá suối thịt ngọt mẹ kho với nghệ, hay làm chả cá thì không chê vào đâu được.
Đêm nay trăng tròn, ánh sáng đủ cho nó và Nâu Đất nằm cạnh nhau trên tảng đá bàng hiu hiu gió, Nâu đất theo thói quen hướng đôi mắt về phía rừng canh đàn khỉ, Tâm nhìn về chân trời xa lấp lánh ánh đèn, nghĩ về thành phố của bác ba với suy tư… Dẫu mai này nó lớn, cuộc sống có bao đổi thay thì những ngày hiện tại vẫn mãi là quãng thời gian tươi đẹp, hạnh phúc trong cuộc đời. Nơi có ba mẹ, có ngoại, có Nâu Đất như người bạn gắn bó trung thành, tất cả đủ thương đầy ắp trong tim, chưa xa nó đã thấy nhớ… Tâm quay sang vuốt bộ lông ngắn mịn, chú chó nằm im tận hưởng, như đang lim dim ngủ. Hương ổi chín theo gió ngọt lịm, đàn Khỉ không về đêm yên bình quá đổi./.
Sài Gòn 12/2/25
Lê Yên
<leyen01203028253@gmail.com>
NHƯ TẤC LÒNG THAO THỨC*
Sinh ra từ Hà Thượng, Gio Châu, Gio Linh, tỉnh Quảng Trị mảnh đất giàu trầm tích lịch sử, văn hóa và ký ức chiến tranh, nhà thơ Xuân Lợi đã mang vào thơ mình một phong cách thơ riêng khác: Lặng lẽ, bền bỉ và thấm đẩm chiều sâu cảm xúc nội tâm. Trong dòng chảy thơ ca đương đại Quảng Trị, Xuân Lợi là một gương mặt thơ tiêu biểu, không ồn ào nhưng bền bỉ khẳng định dấu ấn bằng con đường thơ giàu suy tư và nhân hậu, tính đến nay, Xuân Lợi đã xuất bản được bốn tập thơ in riêng: “Lá gọi mùa, NXB Giao thông vận tải - Năm 2009; Như ngộ, NXB Thuận Hóa - Năm 2019; Lời rêu hồn đá, NXB Hội Nhà văn- Năm 2021; Nghiêng phía miên man, NXB Hội Nhà văn - Năm 2024 ” cho thấy một hành trình sáng tác nghiêm túc, nhất quán. Đặc biệt trong đó tập thơ: “Nghiêng phía miên man”được bạn đọc và giới chuyên môn đánh giá rất cao, không chỉ bởi chất lượng nghệ thuật, mà còn bởi chiều sâu cảm xúc và triết lý nhân sinh thấm đượm trong từng câu chữ.
![]() |
| Nhà thơ Xuân Lợi |
Trước hết khi viết về mình, Xuân Lợi không ngại bộc lộ những trăn trở nội tâm. Cái tôi trữ tình hiện lên vừa khiêm nhường,vừa khao khát được chia sẻ, được thấu hiểu: “Rồi đến khi/ Buông tất cả mà ngậm cười cay đắng/ Quay về không người đợi, ai chờ ?” (Rồi đến)
Thơ Xuân Lợi vì thế mang dáng dấp của một trang nhật ký tâm hồn, nơi con người đối thoại với chính mình trong sự chân thực đến giản dị.
Về hình ảnh người mẹ trong thơ Xuân Lợi là một điểm tựa thiêng liêng, là lời tri ân trân trọng: “Có hiểu bao giờ/ Lòng mẹ héo hon đếm đong chi hết/ Om cơm môi mớm cho con đến giờ ” (Cuộc đời mẹ)
Người mẹ hiện lên không qua những lời ca ngợi lớn lao, mà qua những chi tiết đời thường. Tình mẹ trong thơ Xuân Lợi là thứ tình cảm lặng lẽ bền sâu, khiến người đọc dễ xúc động bởi ai cũng bắt gặp hình bóng của mẹ mình trong đó.
Còn khi viết về hình ảnh người lính, thơ Xuân Lợi mang âm hưởng trầm lắng, giàu suy tư hơn hào sảng. Người lính trong thơ Xuân Lợi không chỉ là biểu tượng cho lý tưởng cao đẹp, mà còn là bằng xương bằng thịt, biết hy sinh thân mình cho Tổ quốc: “Bến hoa sông này sao quên/ Nỗi nhớ người lính trẻ hiền khô cọng cỏ ? Đêm chới với dòng sông máu đỏ/ Nghĩa trang sông không nấm mộ, dòng tên” (Nghĩa trang sông) Qua hình ảnh thơ đó, nhà thơ thể hiện sự trân trọng sâu sắc với những người lính đã hy sinh tuổi trẻ của mình cho đất nước được độc lập, đồng thời gợi lên nỗi xót xa trước những mất mát đau thương do chiến tranh để lại.
Xuân Lợi cũng đã dành một mảng thơ khá xúc động khi viết về những người con yêu của mình. Viết về người con gái yêu, Xuân Lợi dành những tình cảm yêu thương, cưng chiều: “Ba cưng chiều thương con từng bữa cơm/ Lo da diết lưng rau thiếu cá/ Con gái mê canh chua măng khế/ Dăm ba ngày điện hỏi han.” (Nghiêng phía miên man)
Còn khi viết về người con trai yêu quý không may đã mất, Xuân Lợi đau đớn rụng rời, không ghìm được tiếng khóc vì nhớ thương con, khi nhìn thấy di ảnh của con trai trên bàn thờ: “Tượng hình chai bóng, nghe nói chẳng thưa lời. Nghiêng phía miên man...” (Rụng rời)
Cuối cùng, tình yêu trong thơ Xuân lợi, trong: “Nghiêng phía miên man” không nồng nhiệt dữ dội, mà sâu lắng bền bỉ. Đó là tình yêu gắn với sự thủy chung và nuối tiếc:
“Đôi mắt trao nhau chới với, hơn ngàn lần ân ái/ Tình lỡ xao lòng ngần ngại mãi bâng khuâng” (Mãi bâng khuâng)
Xuân Lợi viết về tình yêu như viết về một phần tất yếu của đời sống, nơi con người tìm thấy niềm vui, nỗi buồn và cả ý nghĩa về sự tồn tại của mình.
Tóm lại, thơ Xuân Lợi hấp dẫn không phải bởi sự mới lạ về hình thức, mà bởi chiều sâu của cảm xúc. Qua những đề tài gần gũi, Xuân lợi đã dựng nên một thế giới thơ của riêng mình giàu nhân ái yêu thương, nơi con người được sống thật với cảm xúc của chính mình. Thơ Xuân Lợi vì thế đã để lại những dư âm nhẹ nhàng, nhưng bền lâu trong lòng người yêu thơ và giới phê bình văn học gần xa, trong và ngoài nước.
Viết tại Phường Nam Đông Hà, ngày 16/12/2025
Nhà giáo - Nhà thơ NGUYỄN VĂN TRÌNH
Hội VHNT Tỉnh Quảng Trị
Email: nguyenvantrinh58@gmail.com(*) Trích câu thơ: “Như tấc lòng thao thức” trong bài thơ: "Vời vợi khôn cùng" – Tác giả: Xuân Lợi.
Thực Mơ1.Ước gì trở lại với quêBuông rơi phiền muộn, trở về tuổi thơ…Làng quê như thực, như mơBâng khuâng xao xuyến bài thơ không lờiBồng bềnh, lãng đãng mây trôiDậy mùi hương đất, gió xuôi ngọt lànhBến sông sóng vỗ đầu gànhLời ru Đất Mẹ… ru anh ngàn trùngCuối mùa con nước khô bùnGió Heo May thổi qua hun hút đồngCô đơn đá núi trông chồngLưng còng như bóng Mẹ trông con vềChiều quê lặng lẽ cảnh quêĐong đưa cánh võng tỉ tê gió lànhNước sông in bóng trời xanhChênh vênh bóng núi, chòng chành đò ngang…2Rượu quê uống cạn lại trànCơn say, say giữa mênh mang đất trờiThương nhau chín bỏ làm mườiThật thà, chân chất, nụ cười trẻ son…Chiều xa khuất bóng hoàng hônAi xuôi tiếng sáo thả hồn vào mơSông trăng đẹp tựa bài thơBồng bềnh câu chữ đứng chờ lời caCanh khua trăng đậu mái nhàÁnh vàng gieo rắt tình ta vơi đầyTrời đêm xanh ngắt không mâyÁnh trăng thì vẫn như ngày xa xưaKẽo cà… kẽo kẹt võng đưaBà ngồi kể chuyện đời xưa vuông trònMột nồi khoai luộc cho conBát ngô của Mẹ rang giòn… đêm mưa…Nha Trang, tháng 01. 2026Lê Kim Thượng
Trầm ngâm lau láchTrở bấc chưa gió ngóng sậy đơm bôngKhuất xa đường trờiVài cánh mây lơ đãngBóng chim nào lạc dấu một đường bayTa lạc mất khuôn mặt mìnhNgày hạt bụi hoài thai lòng mẹLối mòn xưa có đón ta về lạiTàn cõi mộng ngườiVòng khói tỏa lang thangSa - bà một cuộc quá giangSông xưa bến cũ chiều tàn mênh môngNgậm ngùi mấy nẻo sắc - khôngĐời người viết vội đôi dòng rồi đi...Tịnh Bình
DẶM TRỜI BÂNG KHUÂNG,
HÀNH TRÌNH CỦA MỘT TÂM HỒN NHÀ VĂN
VÀ CON MẮT TINH TẾ CỦA NGƯỜI LÀM BÁO
1. Cuốn ký sự “Dặm Trời Bâng Khuâng” của nhà báo - nhà văn Trần Vọng Đức đến với tôi, bắt đầu từ một lời giới thiệu đầy cảm hứng của học giả Trấn Tuấn Mẫn. Tôi cầm trên tay cuốn “Dặm Trời Bâng Khuâng” do chính tác giả Trần Vọng Đức gửi tặng, và đã đọc một mạch, không kể giờ giấc. Sức hấp dẫn của cuốn sách khiến tôi không thể đặt nó xuống trước khi gấp lại trang cuối cùng. Và quả thực, khi cầm sách lên, tôi đã bị cuốn vào một hành trình xê dịch không chỉ bằng không gian địa lý, mà còn là cuộc dạo chơi trong những mảnh ký ức, văn hóa và những trải nghiệm đầy ám ảnh. Đó không chỉ là sự cuốn hút của một tập ký sự du hành, mà còn là sự mê hoặc của một giọng văn có chiều sâu trải nghiệm, thấm đẫm tri thức, cảm xúc và một tinh thần lãng du rất riêng. Tác phẩm này là những dặm trời chữ nghĩa và hành trình của một tâm hồn lãng du, cho thấy: óc quan sát của một nhà báo và tâm hồn nghệ sĩ của một nhà văn.
Với tôi, viết về một cuốn sách hay cũng giống như viết bản thu hoạch sau một khóa học, hay sau một buổi thuyết trình sâu sắc: những cảm xúc và suy nghĩ đọng lại cần được giải tỏa, cần được sẻ chia. Bài viết này, vì thế, không phải để giới thiệu tác giả - bởi cuốn sách tự nó đã làm được điều đó - mà là để ghi lại hành trình cảm thụ của riêng tôi, dành cho bạn đọc có duyên với chữ nghĩa và văn chương.
Trước khi khám phá những dặm đường trong sách, không thể không nhắc đến hành trang đặc biệt của tác giả. Trần Vọng Đức - tên thật cũng là bút danh. Ông xuất thân từ một gia tộc trí thức lớn, là “con nhà nòi”, con trai của nhà văn Trần Thanh Địch -người đã xuất bản hơn 40 đầu sách, đồng thời là cháu gọi nhà phê bình văn học Trần Thanh Mại bằng bác ruột. Ông nội và bác ruột (Trần Thanh Đạt) đều là đại quan dưới triều Nguyễn. Mẹ của ông xuất thân từ dòng họ Nguyễn Khoa cũng là một dòng họ trí thức, khoa bảng của Huế. Trần Vọng Đức là thế hệ tiếp nối của dòng tộc, nơi chữ nghĩa và văn hóa đã được bồi đắp qua nhiều đời. Quê quán Huế, sinh và và lớn lên tại Hà Nội, trưởng thành và công tác tại Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Vọng Đức được hấp thu trọn vẹn tinh hoa văn hóa cả ba miền Bắc- Trung - Nam.
Tất nhiên tôi đọc cuốn sách này không vì “gia thế khủng” của tác giả, mà vì bản thân tác phẩm có sức hút thực sự. Gia thế là nền tảng đáng ghi nhận, nhưng điều quan trọng chính là chất lượng chữ nghĩa, độ dày trải nghiệm và sự chân thành trong từng trang viết. Dòng máu văn chương và bối cảnh dòng họ ấy thấm đẫm trong từng trang viết, ở chiều sâu văn hóa, sự nâng niu với từng giá trị truyền thống. Hơn thế, ở ông có sự hòa quyện của văn hóa ba miền, sinh ra ở Hà Nội, gốc gác Huế và gắn bó với Sài Gòn trong phần lớn sự nghiệp báo chí. Chính sự pha trộn này tạo nên một góc nhìn đa chiều, vừa đậm chất hoài cổ, vừa rất hiện đại và phóng khoáng. Những gì được thu vào tầm mắt, qua bộ óc khám phá của một nhà báo truyền hình chuyên nghiệp, kết hợp với vốn hiểu biết đa ngành và tâm hồn của một người cầm bút có căn cơ văn chương, đã được Trần Vọng Đức gửi gắm qua báo hình, báo chữ rồi nay được tuyển chọn, kết tập thành cuốn Dặm trời bâng khuâng- một tác phẩm mang đậm dấu ấn của người viết vừa đi nhiều, vừa nghĩ sâu, vừa viết chậm rãi mà thấm thía.
2. “Dặm Trời Bâng Khuâng” là hành trình: đi để thấy, để cảm và để viết.
Qua gần hai trăm năm mươi trang sách, gồm 25 bài ký sự, Trần Vọng Đức đã đưa người đọc chu du khắp những miền đất gần xa: từ địa đầu Tổ quốc với bốn cực Bắc - Nam - Đông - Tây, qua những vùng biên giới núi non hiểm trở, cho tới những thành phố xa xôi trên thế giới, những nơi mà không phải ai cũng có điều kiện đặt chân tới, và ngay cả khi đã tới, cũng chưa chắc đã kịp quan sát, chiêm nghiệm một cách kỹ lưỡng như tác giả. Ông không chỉ là một du khách, mà là một nhà báo truyền hình dày dạn, luôn trong tâm thế khám phá, ghi chép và chiêm nghiệm.
Trên những nẻo biên cương Tổ quốc: Ông đưa chúng ta đến những vùng đất “địa đầu” với sự kính trọng và xúc động sâu sắcvới “tiếng cuốc xỉa vào ruộng đá” về âm thanh “lanh canh khô khốc” như khúc bi hùng, đến Mã Pì Lèng hùng vĩ khiến con người thấy mình nhỏ bé mà cũng thật vĩ đại. Từ bản làng chênh vênh trên đá ở Cao Bằng đến ngã ba Đông Dương đầy cảm xúc “xa xăm, cách trở, tự hào”. Ông viết về những con người nơi ấy với sự trân trọng, khám phá phong tục, lễ hội (như ở Kon Tum, Gia Lai) như một người đi tìm những “bảo vật sống” của văn hóa dân tộc. Ông đã đến các cực Đông, Tây, Nam, Bắc của Tổ quốc: từ Lũng Cú (Hà Giang) điểm cực Bắc thiêng liêng, tới Đất Mũi Cà Mau, nơi tận cùng phương Nam. Lên cao nguyên đá Hà Giang, đứng trước cột cờ Lũng Cú, tác giả viết bằng một cảm thức lịch sử sâu sắc:
“Trong bốn cực Đông, Tây, Nam, Bắc của Việt Nam thì cực Bắc và biên giới phía Bắc mang dấu ấn đậm sâu nhất trên tuyến đầu chống giặc ngoại xâm…”. Những trang viết về con người vùng cao, về sức sống kiên cường của cây cỏ và con người trên cao nguyên đá, vừa giàu hình ảnh, vừa gợi nên một khúc bi tráng lặng thầm. Từ Lũng Cú (Hà Giang) Đến Mã Pì Lèng- “ngọn đèo hiểm trở, hùng tráng và tuyệt mỹ nhất trong Tứ đại đỉnh đèo”. Trần Vọng Đức không chỉ miêu tả cảnh sắc, mà còn chiêm nghiệm về sự nhỏ bé, hữu hạn của con người trước thiên nhiên, đồng thời ngợi ca trí tuệ và bản lĩnh của những người đã mở đường nơi núi đá cheo leo.
Từ làng đá Đàm Thủy (Cao Bằng), bản Sì Thâu Chải bên dòng sông Đà, ngã ba Đông Dương nơi người Brâu sinh sống, tới chùa Bà Đanh (Hà Nam), làng cổ Đường Lâm, vĩ tuyến 17 - cầu Hiền Lương, Tây Nguyên đại ngàn, mũi Cà Mau… mỗi vùng đất hiện lên không chỉ bằng địa danh, mà bằng chiều sâu văn hóa, phong tục, lịch sử và thân phận con người.
Trần Vọng Đức viết về Huế (quê hương của tác giả). Dù đã có những áng văn hay của những cây bút lớn viết về Huế, nhưng Trần Vọng Đức vẫn tìm cho mình một lối đi riêng: không cầu kỳ, không khoa trương, mà mượt mà, tinh tế và rất “Huế”, với sông Hương, chùa Thiên Mụ, đầm phá Tam Giang là những trang viết thấm đẫm tình cảm của một người con xa xứ trở về, mang một giọng điệu mượt mà, trầm lắng rất riêng.
Hành trình của ông còn mở ra những chân trời rộng lớn ra khỏi biên giới Việt Nam, Trần Vọng Đức tiếp tục hành trình đến Mỹ, châu Âu, Úc, Nhật Bản…Từ từ sự sôi động náo nhiệt của Los Angeles, Hollywood, Las Vegas (Mỹ), đến vẻ cổ kính sang trọng của châu Âu ở Pháp, thăm nhà danh họa Monet, sang Áo-quê hương Mozart; đến Hallstatt - “tiên cảnh nơi hạ giới” rồi Thụy Sĩ, Hungary, Úc, Nhật Bản… đến từ nét hiện đại pha lẫn truyền thống của Úc đến sự tinh tế, sâu lắng của Nhật Bản. Mỗi nơi qua lăng kính của ông đều hiện lên sống động, không chỉ là cảnh đẹp mà còn là những câu chuyện văn hóa, lịch sử thú vị.
Những chuyến đi ra thế giới, ở mỗi nơi, tác giả không chỉ “đi qua”, mà “ở lại” bằng quan sát, tìm hiểu và suy ngẫm. Những bài ký sự nước ngoài của ông vừa mang tính tường thuật, vừa giàu cảm nhận, giúp người đọc không chỉ thấy cảnh đẹp, mà còn hiểu thêm về văn hóa, lịch sử, con người và những thiên tài đã làm nên linh hồn của vùng đất ấy.
3. Những khoảnh khắc huyền bí - khi con người đứng giữa ranh giới hữu hình và vô hình
Trong “Dặm Trời Bâng Khuâng”, có hai câu chuyện để lại cho tôi ấn tượng mạnh mẽ, vừa rùng mình, vừa suy ngẫm: Có lẽ phần hấp dẫn và đọng lại nhiều nhất trong lòng người đọc chính là hai trải nghiệm đầy tính kỳ bí và huyền ảo mà tác giả ghi lại: câu chuyện chiếc điện thoại rơi xuống thác ở Đà Lạt và đêm hoang trên cao nguyên đá Đồng Văn. Đây không phải là sự cố tình ly kỳ hóa, mà là những sự việc có thật, được kể lại một cách chân thực, tỉ mỉ bởi một nhà báo kỳ cựu cùng những người bạn trí thức. Ở một ngọn thác Đà Lạt: Câu chuyện chiếc điện thoại rơi xuống thác như có phép lạ, rồi nửa giờ sau tự gọi về cho chủ nhân khiến cả đoàn, gồm những trí thức uy tín, không thể lý giải. Hai câu chuyện được kể lại với tâm thế bình thản, không sa vào mê tín, nhưng cũng không cố gắng lý giải bằng lý trí cứng nhắc. Giọng văn vừa hài hước dí dỏm, vừa đầy sởn gai ốc, để lại một dấu hỏi lớn về những điều huyền bí tồn tại quanh ta. Chính sự trung thực ấy tạo nên sức hấp dẫn cho trải nghiệm. Những khoảnh khắc “thoắt hiện - thoắt ẩn”, những tình huống hiểm nguy được hóa giải một cách khó hiểu, khiến người đọc không khỏi tự hỏi: phải chăng trong những dặm dài của đời người, luôn có một sự che chở vô hình nào đó?
“Đêm hoang giữa cao nguyên đá” trên đường lên Đồng Văn: Hình ảnh cô gái áo trắng xuất hiện đột ngột giữa đêm tối mênh mông, dẫn đường rồi rải vàng mã, rồi biến mất một cách khó hiểu trước đoạn đường sạt lở nguy hiểm. Sự xuất hiện kịp thời của cô, cùng loạt sự cố liên tiếp sau đó (xe suýt rơi xuống vực, đoàn xe tải khổng lồ lao sát bên), khiến người đọc như nín thở theo từng dòng chữ. Kết thúc bằng việc tấm ảnh chụp cô gái chỉ là một mảng sáng mờ, và cả đoàn thắp nhang tạ ơn. Câu chuyện để lại một cảm giác bàng hoàng, bâng khuâng về sự che chở nhiệm màu và những “cơ duyên” khó giải thích trên dặm dài xê dịch. Qua hai sự kiện trên, ta thấy được sự can đảm, và cởi mở của tác giả trước những trải nghiệm siêu nhiên. Ông ghi lại như một nhà báo, nhưng cảm nhận như một con người đầy xúc cảm, không vội phủ nhận hay mê tín, mà chấp nhận sự bí ẩn như một phần của cuộc sống.
4. Chất liệu đời sống qua những chuyến đi có bóng dáng của lịch sử đất nước và ký ức gia đình.
Ẩn sau những hành trình là những mảnh ký ức cá nhân đầy xúc động về một thời kỳ lịch sử đất nước. Những trang viết về thời chiến, về những năm tháng sơ tán, về người cha lầm lũi đạp xe vượt 80 cây số về thăm con sơ tán tiếp tế giữa bom đạn, về người bà, người mẹ Huế của tác giả tần tảo chăm chồng chăm con, nấu những món ăn rất Huế… được khắc họa bằng vài nét chấm phá nhưng đủ đầy, giàu xúc cảm. Hình ảnh người cha “lam lũ, hồn hậu”, hình ảnh bà nội ở miền Nam lặn lội ra Bắc thăm con trước khi vĩ tuyến đóng lại một thời kỳ chia cắt, rồi một đời chờ đợi trong vô vọng… Tất cả được kể lại bằng một thứ ngôn từ giản dị mà sâu lắng. Nó cho thấy một Trần Vọng Đức không chỉ là người quan sát bên ngoài, mà còn là người sống trọn, cảm trọn với từng thăng trầm của đất nước và gia đình.
Đọc những đoạn ấy, tôi có cảm giác mình đang đọc văn- đúng nghĩa văn chương- chứ không chỉ là đọc báo hay ký sự thông tin. Gấp sách lại, dư âm còn đọng trong tôi là cảm giác phiêu bồng, bâng khuâng, như chính mình vừa hoàn tất một chuyến đi dài- chuyến đi không chỉ qua địa lý, mà còn qua lịch sử, văn hóa, ký ức và những tầng sâu khó gọi tên của đời sống con người.
“Dặm Trời Bâng Khuâng”có sự kết hợp hài hòa giữa chất liệu hiện thực phong phú của một nhà báo và chiều sâu cảm xúc, văn phong mượt mà của một nhà văn. Nó dành cho những người thích xê dịch, thích khám phá văn hóa, và cả những người muốn tìm một góc nhìn đầy tinh tế và nhân văn về đất nước, con người Việt Nam và thế giới. Đây không chỉ là cuốn sách kể chuyện đi, mà là cuốn sách kể chuyện sống. Ở đó, mỗi dặm đường là một lớp trải nghiệm, mỗi trang viết là một khoảng lặng để suy ngẫm. Đó là hành trình của một người làm báo tận tụy với nghề, một người viết có căn cơ văn chương, và một tâm hồn luôn thao thức trước đất nước, con người và thế giới. Tôi tin rằng, bất kỳ ai có duyên cầm trên tay cuốn sách này, cũng sẽ tìm thấy cho mình không chỉ những miền đất mới, mà còn một phần “bâng khuâng” rất người, rất đời - thứ cảm xúc khiến ta muốn đi tiếp, sống sâu hơn và yêu thương nhiều hơn.
Gấp sách lại, người đọc không chỉ cảm thấy như vừa trải qua một chuyến “phượt” tinh thần đầy thú vị, mà còn đọng lại một nỗi niềm khó tả về vẻ đẹp của Tổ quốc, về những mảnh đời, số phận, và về những điều bí ẩn diệu kỳ vẫn luôn tồn tại trên mỗi dặm đường dài của cuộc sống. Đó chính là thành công lớn nhất của Trần Vọng Đức với tác phẩm này.
Saigon, ngày 17/01/2026
Hoàng Thị Bích Hà
<habich1963@gmail.com>