Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, November 12, 2024

ĐÂU MÙA HOÀNG HOA – Thơ Le Nguyen Thu

  



ĐÂU MÙA HOÀNG HOA

                 Nhớ Bùi Giáng (1926-1998)

 

Thì thôi ta về buông quên hoàng hoa

em đi mất hút nơi khúc rẽ chợt mưa... vô thường! 

qua mùa chiêm bao từng đêm tàn canh

thu xa đông buốt màu trăng xanh lạ kỳ

nghe hồn ta mùa xưa chừng như phôi phai

đào hoa vàng lá trôi trên dòng đời ngược xuôi

đâu ngày xưa và mùi em liêu trai

em đi bỏ lại đâu phải bước đầu ta tập tễnh một thời vào yêu

bây giờ tình mình đôi bờ sa mù

ta về đây bên hiên phố lạ ôn cố bạc đầu tóc tơ

hoài thương người ta sao nghe đời mình hoài ngu ngơ

ừ! thôi thì trăm năm ai cũng mộng mơ vài lần

nhiều lần bơi trên cùng dòng sông

thì đời ta coi như gửi lại bên cồn loang loáng hồn

buồn? chào mi! đau? chào mi! bao lần chiều xưa

những nụ hôn... những nụ hôn chưa kịp trao nhau thì tạnh mưa bất ngờ 

 

Stanton Nov. 8th, 2024 (6:27 am)

Le Nguyen Thu

 


 


READ MORE - ĐÂU MÙA HOÀNG HOA – Thơ Le Nguyen Thu

AI VỀ CHỢ THUẬN... - Phạm Xuân Dũng

 

Quang cảnh chợ Thuận ngày nay - Ảnh: P.X.D

 

AI VỀ CHỢ THUẬN...

Ở Quảng Trị có một ngôi chợ quê nổi tiếng với tuổi đời khoảng hơn 4 trăm năm, bền bỉ băng qua thời gian với rất nhiều biến cố nhưng vẫn trường tồn cùng năm tháng, trở thành một trong những biểu tượng của quê hương dấu yêu và gắn bó.

Thạch Hãn là con sông lớn nhất tỉnh Quảng Trị, trước khi xuôi về Cửa Việt đã ghé qua Đại Lộc từ xa xưa, trổ một nhánh chảy về ngay trước ngôi chợ có tên rất hay là chợ Thuận thuộc xã Triệu Đại, huyện Triệu Phong. Cố tác giả Phương Văn đã từng có bài viết ấn tượng về chợ Thuận, đó là bài “Chợ Thuận, xưa và nay”.

Theo ông thì sách “Ô Châu cận lục” của Dương Văn An cũng nói rõ về ngôi chợ độc đáo này: “Ở ranh giới huyện Hải Lăng và Vũ Xương”. “Từ sông cái ở Tây Nam, một nhánh sông con chảy về, trên nhánh này là một nhịp cầu dài bắc ngang. Phía Nam cầu là lều quán bày la liệt. Nào huyện lỵ, nào thành trì hai phía Đông Tây đối mặt nhau. Cả thuỷ lẫn bộ, hai đường đều tiện lợi”.

Sau nhiều thế kỷ bể dâu, chúng tôi lần tìm về dấu xưa tích cũ của chợ Thuận ngày trước. Vẫn còn đó hói Thuận là một chi lưu của linh giang Thạch Hãn, từng là con đường thủy tấp nập thành huyết mạch giao thương của một thời vang bóng, ngày nay đã bị chia cắt nhiều đoạn, không còn có tác dụng giao thông, vận chuyển hàng hóa như thuở trước. Đã từng có lúc chợ Thuận thuộc xã Triệu Thuận, còn về sau nằm trên đất làng Đại Hào, xã Triệu Đại, huyện Triệu Phong.

Chợ Thuận bây giờ cách không xa chợ cũ, mới được 10 năm. Một chợ quê đặc trưng với hàng hóa phong phú là những sản vật gần xa của địa phương; Nông sản thì có rau quả, lúa gạo, lợn gà. Cá thì ở nam Cửa Việt đưa lên, người Đại Lộc, cả thành phố Đông Hà cũng về đây mua bán từ khi trời chưa tỏ mặt người. Rồi thì chăn màn, áo quần, các vật dụng cần thiết của đời sống và sinh hoạt hằng ngày đều có cả. Nghĩa là những nhu cầu thiết yếu nhất của con người, đặc biệt là là dân quê đều được đáp ứng kịp thời và thuận tiện. Anh Nguyễn Minh Vương, người làng Đại Hào, nơi có chợ Thuận tọa lạc, cũng là cán bộ địa phương, cho biết: “Dân địa phương rất gắn bó với ngôi chợ này, coi như một địa chỉ thân thiết của bà con”.

Chợ quê không sang trọng, hào nhoáng như nhiều ngôi chợ phố hiện đại khác mà bình dị, gần gũi, lam lũ đời thường, có cả sự chân quê, nhọc nhằn trong bàn tay, ánh mắt, nụ cười, tiếng nói nhưng hồn cốt hương thôn thì đậm đà, da diết, không lẫn vào đâu được. Những hàng hóa, gánh gồng, thúng mủng, quầy hàng cứ bày ra mộc mạc như tấm lòng người dân quê vốn quen ăn nói thật thà, một nắng hai sương, dẫu có ra chợ làm tiểu thương thì thường cũng lấy công làm lãi, mua chín bán mười, trông mua may bán đắt mà kiếm đồng lời nặng trĩu mồ hôi. Bà Nguyễn Thị Hường, tiểu thương chợ Thuận tâm tình: “Bà con, nhất là phụ nữ mua bán rất thích đến chợ ni, không đi vài ngày là nhớ”.

Chợ quê đã hơn 4 thế kỷ và tên chợ cũng không hề thay đổi qua vô vàn những đổi thay không kể xiết. Biết bao thế hệ người gần, người xa đã gắn bó với ngôi chợ thân quen, biết bao lớp người đã buồn vui với ngôi chợ quê kiểng mà nức tiếng gần xa. Nhiều đời người đã trôi qua, đến và đi, bán và mua ở ngôi chợ Thuận.

Đến chợ không chỉ là nhu cầu bán mua mà còn là mối giao lưu tình cảm, là những trao gởi của tấm lòng chân quê đối với bà con quen biết, với làng xóm, họ hàng. Đến chợ để người già ôn lại chuyện xưa, nao lòng với những kỷ niệm thời son trẻ, còn những người tóc xanh phơi phới thì đang dự cảm với tương lai. Vì vậy chợ cũng là một phần đời sống máu thịt của bà con, là ngôi nhà thứ hai của rất nhiều người khi mỗi ngày đi qua và trải dài theo năm tháng cuộc đời. Và ngôi chợ vẫn hiện hữu, trường tồn như sức sống mãnh liệt và bền chặt của quê nhà thương nhớ.

Làng Đại Hào và ngôi chợ Thuận như là chứng chỉ thời gian còn lưu lại qua nhiều biến cải. Tất cả rồi sẽ trôi qua theo năm tháng, những gì còn đọng lại là ký ức quê nhà, là những sớm mai của xóm làng, là những buổi chợ thức khuya dậy sớm. Mỗi ngày mới đang đến và qua đi cũng là một ngày mà chợ đắp bồi thêm tình cảm và ký ức của những cuộc đời.

Rồi những gì ý nghĩa nhất sẽ trở thành gia tài tinh thần quý giá, thành sự nâng đỡ tâm hồn vào những phút lòng nghe xao động, sẽ trở thành hành trang quý giá cho mỗi đời người cần lao, đã lặng lẽ sống, vui buồn và cống hiến trong cuộc đời này. Đó là hết thảy những gì còn rung động trong huyết quản những người nặng nghĩa với quê hương.

Phạm Xuân Dũng

READ MORE - AI VỀ CHỢ THUẬN... - Phạm Xuân Dũng

SỰ TÍCH VỀ MỐC GIỚI VÀ CHUYỆN NHƯỢNG ĐẤT Ở MỘT SỐ LÀNG XÃ NGƯỜI VIỆT QUẢNG TRỊ - Nguyễn Cường

SỰ TÍCH VỀ MỐC GIỚI VÀ CHUYỆN NHƯỢNG ĐẤT 

Ở MỘT SỐ LÀNG XÃ NGƯỜI VIỆT QUẢNG TRỊ

Nguyễn Cường


Trong diễn trình lịch sử xã hội thì mỗi địa dư, mỗi vùng đất đều có một quá trình hình thành, tồn tại, phát triển và dải đất miền Trung trong đó có địa bàn tỉnh Quảng Trị cũng không nằm ngoài quy luật của sự vận động đó. Từ buổi sơ khai đi mở cỏi, đấu tranh, giành giật cương vực lãnh thổ cho đến khi định hình xóm làng phường hiệu là cả một chặng đường dài dẵng. Song hành với sự ra đời của làng xã người Việt ở vùng đất này là việc phân định ranh giới hay cắt/nhượng đất (vì một lý do nào đó) giữa các làng/xã. Để lý giải về việc phân định, chuyển nhượng đất, trong dân gian đã hình thành nên những chuyện tích mang tính giai thoại (huyền tích) và có tính thiêng - đó là nét đặc trưng tạo nên bức tranh đa sắc màu về văn hóa dân gian của người Việt nơi đây.

Những câu chuyện mang dấu ấn về truyền thuyết khai canh lập làng và qua đó cũng cho chúng ta biết được rằng: việc tổ chức đời sống trong buổi đầu phải va chạm với bao nhiều quan hệ phức tạp như tranh giành đất đai, xác lập mốc giới... Thể hiện những vấn đề này, một số mô típ câu chuyện đã xuất hiện như Sự tích Cồn Giới làng An Hưng (Triệu Tài, Triệu Phong), Sự tích Bà Càng làng Hưng Nhơn (Hải Hòa, Hải Lăng), Sự tích Miếu Quán làng Đồng Bào (Triệu Sơn, Triệu Phong),...  Khởi thủy, dân cư còn ít, trong khi ruộng đất nhiều và tốt, dần dần dân số ngày một đông, đòi hỏi việc phân bố đất đai cho hợp lý hơn. Vì thế, việc nhượng đất, đổi ruộng giữa các làng, các vị thủy tổ khai canh được xây bằng những câu chuyện thực hư là điều dễ hiểu. Càng về sau, tính chất của việc phân định ranh giới, chuyển nhượng, chia cắt đất thực tế không còn đơn giản, lắm khi đã xảy ra xung đột, dẫn đến những bi kịch như Sự tích về chợ Thuận. Tuy vậy, mọi cách phân chia hay nhượng đất, dù dưới hình thức nào vẫn mang trong đó dấu ấn tinh thần dân chủ, hòa hiếu, bình đẳng với ước muốn tạo nên nột sự thống nhất, ổn định về cương vực của từng cộng đồng làng và giữa làng này với làng khác. Đó là tinh thần trọng chân lý, lẽ phải biết giữ lời hứa mà một thời xa vắng, trong mong manh của cuộc sống, cha ông ta đã dùng nó như một thứ quy ước pháp chế về công lý để giữ kỳ cương cho xã hội.

  Trong giới hạn của một bài viết mang tính lược khảo, chúng tôi xin nêu ra một số mẫu chuyện mang tính điển hình để những ai quan tâm đến vấn đề này cùng chia sẽ và ngẫm suy.

  1. Sự tích chợ Thuận

Chợ Thuận xưa vốn là ngôi chợ sầm uất có tiếng trong vùng thuộc hai huyện Vũ/Đăng Xương (nay là Triệu Phong) và Hải Lăng. Chợ nằm bên hói Thuận - một chi lưu của sông Thạch Hãn. Hai bên quán xá chi chít, người đi chợ từ các ngã trong vùng đổ về chợ Thuận để buôn bán rất tấp nập. Trải qua năm tháng, vật đổi sao dời, chợ Thuận ngày nay không để lại vết tích gì về một thời xa vắng.

Tương truyền, nguyên thủy chợ Thuận nhóm họp trên địa phận của hai làng Đại Hào và Võ Thuận. Thời ấy sự tranh giành giữa hai làng thường xuyên xảy ra. Chợ thuộc làng nào thì làng ấy nhờ được phúc lộc. Vì thế sự tranh giành lắm lúc đã dẫn đến đổ máu. Rồi lại đưa nhau đi kiện, đã nhiều lần quan huyện, tỉnh đứng ra dàn hòa, yên ổn, vì xem ra làng nào cũng có lý cả. Nhưng chỉ yên ổn được một vài hôm thì cuộc tranh chấp lại xảy ra. Lần ấy, quan đứng đầu tỉnh đã nghĩ ra một kế nhằm dẹp yên sự việc, kẻo tai tiếng lại đồn khắp nơi. Hai làng được mời đến, trước sự chứng kiến của nhiều quan chức, hai làng buộc phải chấp nhận cuộc thi: trong một ngày nếu làng nào dựng xong đình trước thì chợ thuộc về làng đó. Thế là ngay hôm ấy, cả hai làng hối hả bắt tay vào cuộc thi. Đâu đâu cũng nghe tiếng đẽo, tiếng đục chan chát. Bấy giờ, ở làng Đại Hào có một nhà giàu đa mưu túc trí, biết là không thể địch nỗi với một làng hùng hậu về nhân tài và vật lực như Võ Thuận, bèn mời các chức sắc đến mà bàn tính. Đêm ấy, ngôi nhà rường 5 gian của phú ông được dân làng Đại Hào cấp tốc tháo ra, đưa đến dựng ngay giữa chợ. Đến canh tư, canh năm thì mọi việc hoàn tất. Sáng ra, cả làng Võ Thuận ngao ngán đứng nhìn ngôi đình của làng Đại Hào đã sừng sững giữa chợ. Theo giao kèo, chợ Thuận thuộc làng Đại Hào, kể từ đó, chợ ngày một yên ổn và sầm uất hơn 1.

 

Làng Hưng Nhơn

 
2. Sự tích Bà Càng làng Hưng Nhơn (Hải Hòa, Hải Lăng)

Chuyện kể rằng: ngày xưa, đất đai là nguyên nhân chính của hiện tượng tranh chấp, kiện tụng giữa các làng, trong quá trình khai hoang lập làng và trong các triều đại phong kiến thường xuyên xảy ra các vụ tranh chấp đất đai giữa hai làng An Thơ và Hưng Nhơn đến mức độ căng thẳng không thể giải quyết nội bộ và phải trình lên quan huyện. Quan huyện đã phân giải bằng cách chỉ vào trống đá và lệnh rằng; viên đá kia nặng là vậy, nhưng nếu ai bưng nổi và di dời đến vị trí nào thì mốc giới xác định tại vị trí đó. Bà lão/con dân trong làng xin bưng trước, mọi người lo thấp thỏm, liệu bà có khả năng bưng nổi không. Nhưng rồi mọi người thở phào nhẹ nhỏm, viên đá đã bưng đi được 10 bước thì bà dừng lại, do viên đá vừa to vừa nặng cọ xát vào lưng làm váy bật tung ra. Hoảng quá, bà đành thả đá để chỉnh váy lại, và nơi đó thành mốc giới địa phận làng An Nhơn.

Sau khi bà mất, để tưởng nhớ công ơn bà, cộng đồng làng Hưng Nhơn đã lập miếu để phụng thờ tại khu đất đó và trống đá do bà bưng được thờ tại đây; bên cạnh đó, cứ 3 năm một lần làng tổ chức hội thi bưng Trống Đá để chứng tỏ sức khỏe của con dân trong làng 1.

3. Sự tích Miếu Quán làng Đồng Bào (Triệu Sơn, Triệu Phong)

Trong cộng đồng làng Đồng Bào truyền nhau một chuyện tích rằng: ngày ấy, bà cụ bán quán là một người sống phúc hậu, góa chồng từ trẻ. Mua bán, hễ ai thiếu tiền, bà vẫn vui lòng cho chịu nợ. Dẫu vậy, cũng chưa có ai quỵt nợ bà bao giờ. Hôm ấy, có ông quan ở làng bên sang chơi. Quan là người giàu có trong vùng, ruộng đất bát ngát, không sao nhớ hết. Thấy cảnh vui vui, quan ghé vào quán nghỉ ngơi. Ban đầu gọi một ít qùa để ăn, sau thấy ngon miệng nên quan cứ gọi mãi đến no căng mới đứng dậy. Rủi thay tiền mang theo không đủ, quan ông xin khất nợ. Bẵng đi một thời gian khá lâu, món nợ bị lãng quên. Lãi mẹ đẻ ra lãi con, chồng chất ngày một lớn, đến khi nhớ ra thì quan ông không lấy đâu ra tiền mà trả. Cực chặng đã, quan đành tính chuyện cắt đất để trả nợ. Nhưng tính lại, tiếc của, quan mới nghĩ ra một kế bèn bảo: Chẳng qua nợ mà phải trả. Nay không đủ tiền, vậy xin cắt đất để trả nợ. Nói rồi lại chỉ vào tảng đá, ước chừng một người trai trẻ vác nặng mà tiếp - Mụ vác tảng đá này, đi về phía đất tôi. Lúc nào mệt thả xuống thì lấy đó làm mốc mà cắt. Lệnh quan nên không có ai dám cãi. Giao kèo xong, sáng hôm sau, trước sự chứng kiến của các chức sắc trong làng, bà lão khệ nệ ôm hòn đá trước bụng, lần đi từng bước. Chẳng may, hòn đá vừa to vừa nặng cọ xát vào lưng bà làm váy bật tung ra. Hoảng quá, bà lão thả đá để giơ tay giữ lấy váy. Dù rằng quãng đường đi chưa được bao nhiêu, nhưng theo giao kèo, quan thượng vẫn cắt đất ngang đấy để giao cho bà. Sau khi qua đời, nhớ ơn bà lão đã có công nới thêm đất, làng Đồng Bào lập miếu thờ. Lâu dần chẳng ai nhớ tên bà lão mà chỉ gọi là Mụ Quán. Vì thế mà gọi luôn cả miếu ấy là miếu Quán 1.

4. Sự tích Cồn Giới làng An Hưng (Triệu Tài, Triệu Phong)

Làng An Hưng (xã Triệu Tài) và làng Phương Sơn (xã Triệu Sơn) là hai làng nằm liền kề nhau, ruộng của làng Phương Sơn kéo dài đến giáp An Hưng. Ngày trước, giữa hai làng có xảy ra việc chia cắt đất khá kỳ lạ. Không rõ thực hư thế nào, chỉ biết trong dân gian truyền nhau câu chuyện rằng: ngày ấy, ở làng An Hưng có một bà lão nghèo, góa chồng, phúc hậu, sống bằng nghề bán hàng bánh, cháo. Quán lại nằm gần ruộng của làng Phương Sơn, vì thế mà khách hàng chủ yếu là người Phương Sơn. Ngày mùa hay lúc rỗi rãi, trai cày làng ấy thường rủ nhau la cà vào quán ăn uống và thường là chịu nợ. Cứ đến mùa thu hoạch, thiếu bao nhiêu được trả sòng phẳng.

            Vào một năm, trời hạn hán, bị mất mùa nặng, dân phải đi đào củ, hái rau để ăn. Lúc này, trai làng Phương Sơn bí nước, không biết lấy gì để trả nợ, nhưng quỵt thì không được, vì sợ bà cụ sẽ la toáng lên thì còn mặt mũi đâu nữa. Nợ năm nay không trả thì sang năm lại khó lòng gỡ. Bỗng có người hiến kế: Tốt nhất là cắt ruộng để trả nợ. Không còn cách nào khác, bà lão đành chấp thuận. Thế nhưng khách nợ ra điều kiện khá kỳ cục rằng: bà cụ phải ném chiếc đũa bếp từ quán về phía đất của làng Phương Sơn, đũa rơi ở vị trí nào thì cắt đất đến chổ đó. Nghĩ rằng sức bà lão chẵng ném được bao xa nên nhóm trai làng Phương Sơn hý hửng ra mặt, bà lão lấy hết sức ném chiếc đũa về phía trước. Ai ngờ chiếc đũa bay vút lên không, quay mấy vòng rồi lao vút về tận cuối làng Phương Sơn, cả bọn há hốc miệng nhìn theo, hoảng hốt, không khéo phen này lại mất sạch ruộng như chơi. May thay, chiếc đũa rơi trúng vào lưới của ông lão đang đánh cá. Tiện tay nhặt lên, ông lão vô tình ném chiếc đũa về phía làng An Hưng. Thế là chiếc đũa rơi đúng vào khoảng đất giữa hai làng, theo giao kèo, chổ đất đó được cắt cho bà lão. Vì già yếu, không có con cái, là lão đã cúng lại cho làng để về sau còn nhờ lo việc hương khói. Lâu dần, phần đất ấy được đùn lên thành gò, người ta gọi đó là Cồn Giới 2.

 

5. Sự tích về mốc giới làng Cẩm Phổ (Gio Mỹ, Gio Linh)

            Trong cộng đồng làng Cẩm Phổ ngày này vẫn còn truyền nhau một huyền tích răng: ngày xưa Cẩm Phổ và An Mỹ thường xuyên xảy ra tranh chấp về ranh giới giữa 2 làng, cuộc tranh chấp kèo dài từ năm này sang năm khác, nhưng không bên nào chịu nhường bên nào. Vào thời ấy, có bà Lê Thị Lụa (dân gian gọi là bà Ngò) - một người con của làng Cẩm Phổ sang lấy chồng ở làng An Mỹ. Trong một lần bà đi chợ về, thấy người dân làng An Mỹ đang dời mốc giới lấn về phía đất của làng Cẩm Phổ, bà liền cầm/ nhấc tảng đá nằm bên đường đi về phía làng An Mỹ, đi được chừng 500m thì bà đặt tảng đá xuống nghỉ, nhưng khi nhấc lên để đi tiếp thì không thể nhấc nổi. Từ đó về sau nhân dân Cẩm Phổ và An Mỹ lấy tảng đó làm mốc giới giữa hai làng và không còn xảy ra tranh chấp về đất đai nữa. Trên tảng đá có những dấu vết giống hình năm ngón tay khi nắm vào tảng đá và người dân xem đó là dấu tích năm ngón tay của bà Lụa. Để tưởng nhớ công đức của bà, người dân làng Cẩm Phổ đã lập đàn thờ ở gần vị trí mốc giới giữa làng Cẩm Phổ và An Mỹ 1.

            Vài lời tạm kết

            Trên đây là một số chuyện tích xoay quanh vấn đề chia cắt đất đai và phân định mốc/ranh giới giữa các làng xã. Các cốt chuyện thể hiện theo hai mô típ: Một mô típ được phản ánh dưới dạng là các cuộc thi thố tài năng, như sự tích về chợ Thuận (Đại Hào, Triệu Đại, Triệu Phong), Sự tích Bà Càng làng Hưng Nhơn (Hải Hòa, Hải Lăng) và mô típ phản ánh hình thức mở rộng đất đai thông qua việc thu nợ của những người ký nợ vì ăn uống mà không có tiền để trả buộc phải gán đất để trừ, như Sự tích Cồn Giới làng An Hưng (Triệu Tài, Triệu Phong), Sự tích Miếu Quán làng Đồng Bào (Triệu Sơn, Triệu Phong)...

            Do đặc thù về mặt lịch sử xã hội của vùng đất Thuận Hóa nói chung và Quảng Trị nói riêng, nên các cách phân chia, chuyển nhượng quyền sở hữa đất đai đều mang tinh thần hòa hiếu, bình đẳng, dân chủ và đó là văn hóa ứng xử của các cộng đồng làng/xã trên vùng đất này. Chính vì thế, các chuyện tích phản ánh về chuyển quyền, phận định ranh giới đất đai ở các làng/xã là những chuyện mang tính truyền thuyết vừa hư, vừa thực. Nhân vật chính trong chuyện tích được huyền thoại và thiêng hóa, và trở thành đối tượng thờ phụng vì ít nhiều đã có công lao trong quá trình xây dựng và phát triển cộng đồng làng/xã.

Những câu chuyện thường kể về các thế hệ đầu tiên khai canh ra các làng xã người Việt, trong đó, ít hoặc tránh không nói rõ thành phần người Chăm hay Việt trong các cuộc chuyển nhượng, nhưng đằng sau các sự việc, tình tiết của câu chuyện đều gián tiếp đề cập đến mối quan hệ giữa hai dân tộc Chăm - Việt 2.

Chúng tôi thiết nghĩ, cần phải tiến hành nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện về các sự/chuyện tích liên quan đến tính thiêng trong văn hóa dân gian của các cộng đồng làng xã, để từ đó đề ra những biện pháp bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa một cách phù hợp trong đời sống hiện nay; mặt khác, trong quá trình phục hồi những lễ hội, hệ thống thiết chế văn hóa truyền thống, cũng như cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa hiện nay, cần bổ sung tính thiêng để tạo nên sức sống bền chặt từ sự hưởng ứng của cộng đồng làng xã. Để làm được điều này, cần khơi gợi những sự tích đã tồn tại, gắn chặt với tên đất, tên làng là rất cần thiết, bởi đó là những huyền tích thiêng liêng vốn là cội rễ của vấn đề./.

Nguyễn Cường                                                                                               

Tài liệu tham khảo

1. Hoàng Thị Ái Hoa. Trống đá - Miếu Bà Giàng và lệ Thành Đinh ở làng Hưng Nhơn (Hải Hòa, Hải Lăng). Thông tin Khoa học, Phân viện Nghiên cứu Văn hoá - Thông tin tại Huế, số tháng 3/2005, trang 94-104.

2. Hồ Quốc Hùng. Văn học dân gian Triệu Hải. Sở Văn hóa Thông tin Bình Trị Thiên xuất bản năm 1988.

3. Lê Đức Thọ. Văn hóa Chămpa Di tích và huyền thoại (tỉnh Quảng Trị). Nxb Thuận Hóa Huế. 2012.

 


1 Hồ Quốc Hùng. Văn học dân gian Triệu Hải. Sở Văn hóa - Thông tin Bình Trị Thiên xuất bản năm 1988, trang 33-34.

1 - Theo người dân địa phương, sự ra đời của hội thi bưng Trống Đá làng Hưng Nhơn liên quan đến sự tích của Bà Càng, một vị thần được thờ tại miếu bà Giàng. Miếu được tọa lạc trên một cánh đồng, gần đường ranh giới ruộng đất giữa làng An Thơ và Hưng Nhơn, thuộc địa phận xóm Càng. Bên trong miếu, chính ngay gian giữa có thờ hòn đá, tức “Trống Đá”. Nguyên trước đây “Trống đá” được thờ giữa bức bình phong và miếu thờ của Bà. Nhìn tổng thể, “Trống đá” có dạng trống cơm, thuộc loại đá sa thạch, nặng trên 100kg, đường kính 40cm, cao 26cm. Hiện nay trống được dân làng cất giữ tại đình làng.

     Hội thi bưng trống đá làng Hưng Nhơn là một trò chơi dân gian, qua hội thi thể hiện sức khỏe, sự dẻo dai và khéo léo của thanh niên trong làng Hưng Nhơn. Hình tượng trống đá là biểu trưng của hội thi và thông qua hội thi, người dân làng Hưng Nhơn muốn gửi gắm và cầu mong về một sự sung túc no đủ trong cuộc sống, ở đây chúng ta cũng nhận thấy dấu ấn của tính phồn thực được người dân biểu đạt qua hội thi với ước vọng có một sức khỏe tốt để lao động, và đây là hình thức của tục thờ đá một tín ngưỡng đặc trưng của cộng đồng cư dân nông nghiệp.

  - Xem thêm: Hoàng Thị Ái Hoa. Trống đá - Miếu Bà Giàng và lệ Thành Đinh ở làng Hưng Nhơn (Hải Hòa, Hải Lăng). Thông tin Khoa học, Phân viện Nghiên cứu Văn hoá - Thông tin tại Huế, số tháng 3/2005, trang 94-104.

1+ 2 Hồ Quốc Hùng. Văn học dân gian Triệu Hải. Sở Văn hóa Thông tin Bình Trị Thiên xuất bản năm 1988, trang 53-54.

1 Tư liệu điền dã, tháng 6/2013.

2 Xem thêm: Lê Đức Thọ. Văn hóa Chămpa Di tích và huyền thoại (tỉnh Quảng Trị). Nxb Thuận Hóa Huế. 2012. Trang 132.

 

 Nguồn: 

Trung tâm Quản lý Di tích và Bảo tàng Tỉnh Quảng Trị

https://trungtamquanlyditichvabaotangquangtri.vn/tintuc/baiviet/su-tich-ve-moc-gioi-va-chuyen-nhuong-dat-o-mot-so-lang-xa-nguoi-viet-quang-tri/257

 

 

READ MORE - SỰ TÍCH VỀ MỐC GIỚI VÀ CHUYỆN NHƯỢNG ĐẤT Ở MỘT SỐ LÀNG XÃ NGƯỜI VIỆT QUẢNG TRỊ - Nguyễn Cường

Monday, November 11, 2024

Truyện ngắn và thơ MỘT CHUYỆN TÌNH LÃNG ĐÃNG (Kỳ 2/5) - Quách Như Nguyệt

Tác giả Quách Như nguyệt


Truyện ngắn và thơ

MỘT CHUYỆN TÌNH LÃNG ĐÃNG

Tôi thích được đi ăn tối với Tuấn. Tôi vốn là người biết thưởng thức, rất thích các món ngon, vật lạ; những món ăn không thể nấu ở nhà. Vì thế khi được đi ăn tối thường xuyên với một người bạn như Tuấn thì còn gì bằng! Tuấn lại là người rất sành sõi khi chọn nhà hàng.  Những nhà hàng mà Tuấn đưa tôi đến đều là những nhà hàng sang trọng, lịch sự nằm trong những địa điểm trang nhã, phong cảnh hữu tình! Tôi cảm thấy mình chẳng khác nào một cô bé lọ lem, được một chàng hoàng tử tuấn tú khôi ngô đưa tôi vào một thế giới trưởng giả, quí phái mà người thường hiếm khi có được.  Càng ngày chúng tôi càng thân thiết với nhau hơn. Tôi chịu khó bỏ giờ để "sưu tầm", tìm kiếm những nhà hàng nổi tiếng.  Mỗi khi Tuấn đến đón tôi, tôi chỉ việc nói cho Tuấn nghe tôi muốn đi nhà hàng nào, ở đâu là Tuấn chở tôi đến đó.  Tuấn còn tỏ ý "xin lỗi" vì anh đã quá bận rộn, không có thời gian tìm tòi, dự tính trước cho buổi đi chơi.

Những khi ngồi ăn tối, Tuấn hay "tập" cho tôi uống rượu! Tuấn nói:
“N cần biết uống rượu để chứng tỏ N là người phụ nữ có bản lãnh!" 
Tôi không đồng ý với Tuấn điều này nhưng tôi cũng không phản đối.  Không “cự” lại anh, tôi chỉ hớp một, hai ngụm nhỏ cho Tuấn vui lòng chứ không bao giờ uống cả ly, nhưng khi Tuấn mua hoa hồng từ những người bán dạo trong nhà hàng để tặng tôi, tôi nhất định từ chối! Những người khách (clients) khác cũng hay tặng hoa cám ơn tôi sau khi tôi làm xong việc cho họ.  Rồi có những khách hàng “quí và thích” tôi hơn bình thường nữa chứ, họ gửi hoa hồng đến tận văn phòng!!!  Thỉnh thoảng tôi vẫn thường mang hoa về nhà, nhưng thiết nghĩ, mang hoa hồng về nhà hoài cũng kỳ mặc dù chồng tôi là người rất hiểu biết, tin tưởng, yêu thương vợ hết mình; tôi cũng phải biết tự giới hạn tôi chứ, không thể nào tôi cho phép mình sống vô tư, tự do hoàn toàn như người chưa bao giờ lập gia đình được.  Tuấn thấy tôi không muốn nên anh cũng không tỏ vẻ ...hào hoa, không mua hoa tặng cho tôi nữa. 

Việc làm của tôi tuy kiếm được khá nhiều tiền, nhưng nó cũng bắt tôi phải suy nghĩ nhiều, có nhiều điều cần phải tính toán, khách hàng gọi điện thoại cả ngày, đôi khi họ la lối, thúc dục rất là phiền não!  Khách hàng lại hay nói xạo với mình, mỗi lần việc mượn nợ gần xong là có bao nhiêu vấn đề (problems) tự nhiên đến phút chót mới “lòi” ra, tôi lại phải suy nghĩ, giải quyết vấn đề, chạy chọt, lo sốt vó!!!  Thế cho nên sau một ngày lao tâm, vật lộn với công việc, được gặp Tuấn, là an vui, là hạnh phúc! Dường như tất cả những muộn phiền rắc rối lo toan ấy đều tan biến.  Tuấn cũng giống như tôi, cũng đa đoan, mệt trí cả ngày.  Anh tâm sự với tôi rằng những giờ phút ngồi ăn chung với tôi, anh cảm thấy rất bình tâm, an lạc.

*****

Tuấn săn sóc, chiều chuộng tôi ghê lắm! Còn gì hạnh phúc cho bằng khi được một người đàn ông thành công, mặt mũi sáng sủa hết lòng lo lắng, trân quý mình như thế! Anh chịu khó lắng nghe tôi kể chuyện. Những chuyện trên trời dưới đất, chuyện làm ăn, chuyện chồng con, ngay cả những chuyện tình vu vơ thời con gái của tôi. Không những thế, Tuấn còn khéo léo khen ngợi tôi không tiếc lời:
"N. thông minh lắm!"
"Bàn tay N. thật đẹp, bàn tay này làm model để chụp hình quảng cáo được đó, N"
"N. là người phụ nữ bản lĩnh, giỏi giang, tháo vác nhưng lại rất nhu mì và dễ thương!"
“You have beautiful skin, very nice complexion!”.
v.v..... 

Đôi khi anh thốt ra những câu làm tôi cảm thấy như chạm vào trái tim mình:
"Anh thích cá tính của N, thẳng thắn, không mầu mè kiểu cách, thành thật và nữ tính.!"
“N giỏi lắm. Anh chưa từng gặp người đàn bà nào cỡ tuổi N mà thành công như N”
“N có tài, thành công nhưng không kiêu ngạo, tính tình mềm mỏng, dễ thương!”
"Anh cảm ơn trời cho anh có một người bạn dễ thương như N."
“Hôm nay là ngày Mother Day, anh cảm ơn mẹ của em, cảm ơn bà đã ban em cho anh, một người bạn tuyệt vời!.”

v…v…

Anh nói nhiều lần:
“Nguyệt có bãn lãnh, có tài nhưng lại không khô khan, N lãng mạn, dễ thương ghê lắm!”
Tuấn ... smooth talker ghê ha các bạn.  Anyways, những lời mật ngọt này cũng làm cho tôi rất ư là ...khoái chí, hihiiiii; cho dù Tuấn có nói thật hay không tôi cũng hông cần biết.

Người ta hay nói "Đàn ông yêu bằng mắt, đàn bà yêu bằng tai" mà lị, quả thật đúng vô cùng! Bằng cớ là sau bao nhiêu năm, tôi vẫn nhớ rõ mồn một những lời Tuấn nói vì những lời nói đó hình như đã in sâu vào tim óc của tôi, cứ như vừa mới đây thôi, cứ như mới ngày hôm qua, hôm kia vậy.  

(Còn tiếp.)

Quách Như Nguyệt

<nhunguyet9963@gmail.com>

READ MORE - Truyện ngắn và thơ MỘT CHUYỆN TÌNH LÃNG ĐÃNG (Kỳ 2/5) - Quách Như Nguyệt

Saturday, November 9, 2024

Trang thơ Nguyễn Văn Trình: TRIỆU PHONG NGÀY CŨ CÒN ĐÂY | KIẾP NHÂN SINH | NƠI CHỐN NEO HỒN

 

Nhà thơ Nguyễn Văn Trình

Triệu phong ngày cũ còn đây

(Kính tặng Trường THPT Triệu Phong)

 

Triệu Phong ngày cũ còn đây

bao nhiêu nhung nhớ, ắp đầy tháng năm

một chiều trường xưa, ghé thăm

bao nhiêu ký ức thắm nồng, sao quên… ?!

 

Quên sao được, một thời tôi sống

tôi đã say và đã cháy hết mình

trên bục giảng, say với từng con chữ

cháy yêu thương, lưu giữ gửi trao

 

Tôi vẫn nhớ, bao con đường nhỏ

bước chân qua quen lạ một thời

tôi vẫn nhớ, nơi từng ô cửa nhỏ

nhìn trời xanh, tím đỏ vầng mây

 

Tôi vẫn nhớ, từng viên ngói đỏ

phủ đầy rêu, sương gió giữa chiều

tôi vẫn nhớ, từng trang văn trò viết

bài văn nào, cần mực đỏ thầy phê…?! 

 

Triệu Phong ngày cũ tìm về

bao nhiêu nhung nhớ, lời thề sắt son…

 

Triệu Phong, 6/ 2022.

 

 

Kiếp nhân sinh

 

Kiếp nhân sinh mỏng như sợi nắng

giữa chợ đời sầu nặng mà chi

thôi thì, nên hãy cứ vui đi

bận lòng chi những lúc sân si

 

kiếp nhân sinh nhanh như cơn gió

chớ muộn phiền để gió cuốn đi

thôi thì trần gian chỉ quán trọ

cuộc đời cho, có mấy lần vui…!?

 

Kiếp nhân sinh sụt sùi cơn bão

nặng lòng chi bao nỗi đắng cay

buông bỏ bớt cho ngày đáng sống

mong an vui giữa chốn trần ai

 

Kiếp nhân sinh sẽ đến một mai

tất cả chỉ hư vô thầm lặng

cõi đi về chốn vắng riêng ta

rồi hư không, hóa là cát bụi…

 

Đông Hà, 2018. 

 

 

Nơi chốn neo hồn

(Kính tặng trường THPT Chế Lan Viên)


Ngôi trường một thuở yêu thương

nhớ bao kỷ niệm còn vương tháng ngày

trong gió lạnh, chiều nay mê mãi

một tôi trở lại, chốn xưa neo hồn

bao nhung nhớ gom dồn hôm, sáng

mái trường xưa năm tháng vui tươi

 

Vẫn còn đây, nụ cười trong ký ức

vẫn còn đây, náo nức thơ ngây mặt người

vẫn còn đây, bóng cây gốc phượng

vẫn còn đây, ghế đá thân thương

 

Vẫn còn đây, vấn vương bục giảng

câu thơ bảng lảng, giọng ngâm xé lòng

giọng giảng bài say nồng sớm tối

một đời tôi đưa khách sang sông

 

Cả đời. Ôi, chẳng quản công

chỉ mong trò giỏi, trò ngoan thành tài

chỉ mong trường lớp rộng dài khang trang

trong gió lạnh, chiều vàng mê mãi

cho tôi trở lại, Chế Lan Viên neo hồn…

 

Cam Lộ, 7/ 2022.

Nguyễn Văn Trình

 

READ MORE - Trang thơ Nguyễn Văn Trình: TRIỆU PHONG NGÀY CŨ CÒN ĐÂY | KIẾP NHÂN SINH | NƠI CHỐN NEO HỒN

Tản văn GỬI BÁC GIỮ XE Ở TRƯỜNG QUỐC HỌC HUẾ - Bùi Hoàng Linh



Tản văn

 GỬI BÁC GIỮ XE Ở TRƯỜNG QUỐC HỌC HUẾ

Bùi Hoàng Linh


Có thể trong suốt quãng đời đi học, chắc ai cũng có những ký ức thật riêng thật đặc biệt dành cho ngôi trường của mình, và mình cũng không ngoại lệ. Nhưng cái đáng nhớ cũng không xa lạ, gần gũi lắm mà đôi khi dễ hờ hững vô tâm. Và nỗi nhớ về bác bảo vệ già ở cổng sau của trường Quốc Học có khi là sự chọn lựa của cái duyên vì là đứa học trò đi trễ quanh năm và luôn không dự tiết chào cờ để từ đó trong thâm tâm lại thân cận với người "giữ cửa" không biết tự bao giờ.

Làm sao quên được vào thời đó nếu đi trễ là phải gửi xe ở ngoài trường. Còn mình thì thường trực đi trễ nên bác bảo vệ đã quen mặt. Và điều làm mình nhớ mãi là những lần bác ra mở cửa, thực tình là bác mở lén cho vào vì mình đi trễ, và còn luôn để dành cho một chỗ lấy xe cho dễ, để chiều về có tiết học thêm bên thầy Nghệ môn Hoá hay thầy Tiến Anh môn Lý thì dễ về sớm mà tranh thủ ăn chút gì đó để tiếp tục cái nghiệp nấu sử sôi kinh. Có lẽ hai bác cháu chưa từng biết tên nhau, nhưng những lần dắt xe vào hay tan trường cũng nhìn bác cười như thể nói rằng con chào bác. Mình cũng chưa từng nói lời cám ơn, bác cũng không hề nhắc nhở là lần sau đi sớm hơn hay gì cả. Có lẽ có một sự thông cảm của bác rằng nếu mình đóng cửa thì cậu nhóc này còn đi gửi xe và sẽ trễ thêm nhiều nữa.

Và đến sau này khi lớn lên mới hiểu cái bao dung ấm áp của một người lớn dành cho một người vừa nhỏ bé vừa dại khờ. Và cũng thấy vui khi một người trẻ nào đó trân trọng mình, thấy ở họ cái khiêm tốn thì mình tin họ sẽ luôn học hỏi và không ngừng tự sửa mình. Và những tháng năm về sau mình thấy trân trọng những tháng ngày lặng lẽ bảo vệ sự an toàn cho nhà trường và học sinh của bác. Rồi thì không ai nhớ mặt nhớ tên, nhưng có những người họ vẫn cần mẫn với phận mình, với nghiệp đã chọn mà tận tâm với công việc gắn với đời mình.

Những ngày mùa đông của Huế, cái rét căm như đóng băng cả đời sống thì mình còn nhớ chiếc áo len cổ tim đã sờn phai, và chiếc quần tây màu nâu xăn lên 1, 2 lai của bác, vẫn lặng lẽ đội mưa xếp xe đạp từng hàng gọn gàng và đóng mở cổng cho đứa học trò luôn đến trường bằng "chuyến xe" tới muộn trễ tràng. Những năm sau khi tốt nghiệp đại học, mình có về trường tìm bác nhưng đã không còn gặp nữa. Có lẽ thời gian đã đem bác đặt ở một nơi chốn khác, một cuộc rong chơi khác có khi. Còn mình thì ngẩn ngơ nhớ về ngày cũ đã từng có những ký ức để mà thương mà nhớ đến nhói lòng.

Mỗi lần nhớ kỷ niệm về bác bảo vệ thì mình lại tự dưng nhớ bài hát "Dòng sông ai đã đặt tên". Vì cũng giống như sông Hương không ai biết dòng sông được ai đặt tên nhưng đã lặng lẽ phận mình chảy ngang qua thành phố đôi khi như một dòng thơ trôi qua giữa những trăn trở bâng khuâng của hồn phố đời người.

    Cũng như với bác bảo vệ mình cũng không hề biết tên, nhưng chắc chắn có một điều sẽ giống nhau, là khi đi xa rồi sẽ nhớ lắm con sông phẳng lặng cũng như gương mặt bác bình thản hiền khô. Cái mặt hiền khô của người Huế cũng như dòng sông không gợn sóng mà đáy sâu chỉ giữ lại cho riêng mình những gì riêng nhất...

    Tình Huế có cái chi đó thâm trầm, khiêm cung, lặng lẽ, chìm khuất. Để khi xa rồi, tưởng sẽ quên dần theo thời gian mà có đâu ngờ nỗi nhớ theo tháng theo năm đã hóa thành trầm tích, lắng đọng lại cái tình lắm khi như cái roi tre của tình cảm vừa đủ ngậm ngùi rưng rức, để rồi có người giữa phố thị không có "ngõ sau" vẫn luôn ngoái về quê mẹ.


Saigon, ngày 15/7/2022

Bùi Hoàng Linh 






READ MORE - Tản văn GỬI BÁC GIỮ XE Ở TRƯỜNG QUỐC HỌC HUẾ - Bùi Hoàng Linh

Truyện ngắn LỜI THỀ ĐÊM THẤT TỊCH - Hoàng Thị Bích Hà


 

LỜI THỀ ĐÊM THẤT TỊCH



Thu Yến sinh ra trong một gia đình công chức bình thường ở nông thôn thuộc một xã miền Tây Nam Bộ. Ba má Yến là nhân viên văn phòng tại một đợn vị sản xuất và phân phối vật tư nông nghiệp vùng ven Tây Đô. Nhà có ba chị em. Chị Hai là Thu Miên hơn Thu Yến ba tuổi nhưng bị khiếm khuyết, chậm phát triển bẩm sinh nên không đi học được chỉ quanh quẩn ở nhà với em. Đứa em trai út cũng bị khiếm khuyết về thể trạng, thường xuyên bị động kinh nên cũng chậm lớn không đi học được. Như vậy trong ba đứa con, chỉ có Thu Yến là xinh xắn, thông minh. Vì thế Yến là niềm kỳ vọng duy nhất của ba mẹ có thể ăn học nên người sau này phụ giúp ba mẹ nuôi chị và em, chăm lo gia đình.


Thu Yến sức khỏe phát triển tốt, học hành chăm ngoan và lớn nhanh, mới đó mà em đã ra dáng thiếu nữ rồi! Yến năm nay 18 tuổi học xong THPT, thi đậu vào Đại Học Cần Thơ ngành sư phạm với mong muốn sau này sẽ làm cô giáo. Đó cũng là kỳ vọng của gia đình.


Bốn năm học ĐHSP ở TP Cần Thơ, ba mẹ cũng cố gắng làm lụng để nuôi các con ở nhà và trang trải chi phí lên TP cho Yến trọ học. Sau khi tốt nghiệp ra trường xin việc cũng khó khăn nên Thu Yến về quê xin vào làm cho một cơ sở giáo dục mầm non tư thục trong xã (trường Mầm Non Sơn Ca). Ngày hẹn gặp, nữ hiệu trưởng (Thanh Tuyền) phỏng vấn, nhận thấy Yến có trình độ, gương mặt dễ nhìn, chịu thương chịu khó không nề hà việc gì nên cô hiệu trưởng cũng ưa ý, em được gọi đi làm ngay hôm sau hôm phỏng vấn. 


Hằng ngày Yến đến làm, cặm cụi lo công việc, làm việc nào ra việc nấy. Lại chu đáo, yêu trẻ nên cô chủ Thanh Tuyền rất yên tâm. Thấy Yến làm việc giỏi nhưng ít nói chuyện, mặt có vẻ buồn buồn, nên có hôm cuối buổi học, trong khi chờ phụ huynh đến đón đứa học trò cuối cùng trong ngày thì chị Thanh Tuyền nán lại hỏi thăm Yến:

-Em làm ở đây có hài lòng không? Có gì không vui cứ nói với chị!

Thu Yến bảo:

- Dạ không có gì! Thực ra công việc dạy trẻ cũng là nghề sư phạm yêu thích của em, đáng lẽ em dạy PTTH hoặc PTCS nhưng không sao, có học sinh lớn nhỏ gì cũng dễ thương hết, em cũng rất yêu trẻ. Công việc làm ở đây gần nhà, đưa lại cho em có thu nhập cũng ổn, trang trải được cuộc sống còn phụ giúp gia đình. Em may mắn lại còn được chị sếp thương, đồng nghiệp chan hòa, vậy là vui rồi. Bản tính em ít nói, còn vẻ mặt buồn buồn của em nó không phải ở công việc mà ở hoàn cảnh gia đình.

Rồi Yến tâm sự chuyện gia đình mình với chị sếp:

-Gia đình em ba mẹ chỉ là công nhân viên bình thường, là dân văn phòng ở một cơ sở phân phối vật tư nông nghiệp. Lương hướng chật vật nhưng liệu cơm gắp mắm, gói ghém chi tiêu cũng ổn. Ba mẹ em tuy nghèo nhưng lo cho con cái hết lòng. Chỉ có điều em có chị gái và một em trai sinh ra kém may mắn, khiếm khuyến bẩm sinh nên không học hành được và còn thường xuyên đau ốm nên ba mẹ và em là những lao động chính của gia đình. Vì vậy gia đình em có phần khó khăn và em mặc cảm là vì vậy!

Chị Tuyền bảo:

Em cố gắng chăm làm, phụ giúp ba mẹ, khi nào có gì cần giúp đỡ em cứ nói, giúp được gì trong khả năng của chị, chị sẽ cố gắng! 


Ngày tháng trôi đi, Thu Yến là việc siêng năng, tân tụy, giờ đã trở thành một cô giáo có chuyên môn vững, tin cậy của trường tư thục mầm non trong xã. Trường tư Thục Sơn Ca là do gia đình chồng của nữ hiệu trưởng Thanh Tuyền đứng ra mở. Cô lấy chồng khá giả, được gia đình chồng đầu tư cấp vốn mở trường. Còn chồng của Thanh Tuyền là Bảo Khánh có công ty riêng trên thành phố Cần Thơ. Các nhân viên của trường ít khi thấy anh Khánh xuất hiện. Còn Yến mới vô làm được 8 tháng nên cũng chưa hề gặp anh Khánh lần nào. 


Hôm sinh nhật sếp Tuyền, chị mời tất cả nhân viên, giáo viên của trường sau giờ làm việc tới nhà hàng dự tiệc. Mọi người mới có dịp gặp gỡ chồng của sếp Tuyền. Nhiều cô sững sờ, trố mắt nhìn Thanh Tuyền sánh vai cùng chồng bước lên khán phòng trong tiếng vỗ tay chúc mừng. Thực tình thì nhan sắc Thanh Tuyền cũng bình bình thôi nhưng tốt tính. Còn anh Bảo Khánh quá đẹp trai, ngoài sức tưởng tượng. Vừa đẹp trai vừa con nhà giàu, lại có công ty riêng trên thành phố, khiến cho nhiều cô lấy làm mơ ước và trầm trồ thán phục: “Ước gì mình có một tấm chồng như thế!”


Và Thu yến cũng vậy! Nàng vừa mến mộ anh ngay từ cái nhìn đầu tiên lại vừa có phần ghen tỵ với chị chủ. Yến nghĩ thầm: “Chị Thanh Tuyền cũng không phải là sắc nước hương trời sao may mắn thế nhỉ!”


Rồi Thu Yến cứ nhìn anh Bảo Khánh rất nhiều lần, dĩ nhiên bằng trực giác đàn ông, Khánh dễ dàng nhận ra, đôi khi anh nhìn lại và bắt gặp Thu Yến đang ngắm nghía mình. Anh vờ quay sang mỉm cười mời mọc vui vẻ với tất cả mọi người có mặt trong bàn tiệc. Nhưng lúc chị Tuyền đi vào trong, hay đi góc khác trò chuyện thì Thu Yến lại tranh thủ đưa mắt nhìn anh Khánh. Và dù cho có bận nói chuyện với khách khác, đôi lúc anh cũng cảm nhận được ánh mắt đó.Trong lúc chị Tuyền đi vào nhà vệ sinh. Anh Khánh tới cụng ly với Yến, hỏi thăm nhân viên mới của vợ mình và không quên xin số điện thoại. Họ trao nhau cái nhìn kín đáo cùng với số điện thoại mỗi người. Tiệc tan, mọi người ra về trong vui vẻ! 


Rồi sau đó thỉnh thoảng Bảo Khánh và Thu Yến hai người nhắn tin hỏi thăm nhau. Ban đầu chỉ là những câu thăm hỏi sức khỏe, công việc xã giao nhưng càng ngày càng quan tâm nhau và tỏ vẻ thân thiết hơn.


Một hôm Thanh Tuyền đi dự sinh nhật của một người bạn học hồi THPT, nghe đâu hồi đó hai người từng là người yêu đầu đời của nhau. Bảo Khánh biết được, chưa rõ thực hư nhưng cũng ghen tuông và buồn. Khánh nghi ngờ chị còn qua lại với người yêu cũ nên một hôm uống say đã gọi điện về cho Thu Yến:

-Em đang ở đâu?

-Em đang ở nhà!

-Vậy anh về đón em lên đây chơi với anh, anh có chuyện buồn cần chia sẻ với em!

Thu Yến đã có cảm tình với Bảo Khánh- anh chàng đẹp trai, lịch lãm và tinh tế nên cũng có thể gọi là tiếng sét ái tình đầu đời của Thu Yến. Nàng dù cũng có một chút phân vân nhưng rồi Yến cũng không làm chủ được trái tim mình nên đồng ý để Khánh về đón lên thành phố ngay trong đêm. Đầu tiên Khánh chở Yến vào phòng trà với khung cảnh lãng mạn, nên thơ với ánh nến lung linh và tiếng nhạc du dương, da diết mờ ảo. Khánh dốc bầu tâm sự cho Yến nghe, với vẻ mặt buồn và ánh mắt đỏ hoe. Lời nói như rót vào tai của người đàn ông đẹp mã kinh nghiệm tình trường. Rồi Khánh cầm tay Yến, như chạm vào dòng điện, Yến nóng ran cả người và trái tim đập loạn nhịp. Đây là lần đầu tiên bàn tay con trai chạm vào da thịt mình. Hai người xích lại gần nhau hơn, vỗ về, an ủi nhau. Rồi Khánh chở Yến về khách sạn. Yến hỏi:

-Nếu chị Thanh Tuyền có người khác thì anh có cưới em không?

Khánh trong cơn say, gật đầu lia lịa.

 

Và chuyện gì đến sẽ đến. Thế là Thu Yến đã trao đời con gái cho Bảo Khánh. Từ đó hai người vẫn thỉnh thoảng gặp nhau. Thanh Tuyền vẫn không hề hay biết, vẫn vô tư chăm lo công việc và gia đình một cách chu toàn. Chị trong vai trò của người vợ, người mẹ và người con dâu tốt của bố mẹ chồng. Sau này sự thật sáng tỏ là Thanh Tuyền không có quan hệ gì mờ ám với anh bạn học hay gọi là người tình cũ ấy cả, chỉ là dự sinh nhật anh ta một lần cùng với nhóm bạn mà thôi!


Còn về phía Bảo Khánh thì anh vẫn mặn nồng với vợ. Thu Yến cũng phát hiện ra thêm những chi tiết khác là Khánh quan hệ ngoài luồng không chỉ mình cô, mà còn có vài cô khác nữa.


Rồi Thu Yến mang thai. Cô báo tin với Khánh, tưởng Khánh sẽ vui mừng sau những thề thốt yêu đương mặn nồng khi hai người có con với nhau. Nhưng không, nhận lại với thái độ dửng dưng. Khánh bảo:

- Bây giờ em bỏ cái thai đó đi, anh không thể bỏ vợ bỏ con (vợ chồng anh đã có ba mặt con đủ cả trai và gái). Anh sẽ đưa em một trăm triệu đồng (vnđ). Em bỏ chỗ làm, rời quê lên Sài Gòn kiếm việc khác mà làm.


Lời hứa hẹn của anh chàng họ Sở dày dạn tình trường đã theo gió mà bay. Yến nghỉ thầm chua chát: “Không thể tin được đàn ông, nhất là đàn ông đã có vợ lại bay bướm. Lỗi ở mình đã đem tình yêu đặt sai chỗ”. Yến cay đắng và nhục nhằn trong nỗi thất vọng ê chề với mối tình đầu lỗi nhịp là đã chen vào làm thân phận kẻ thứ ba. Thu Yến nhận ra cái sai của mình nên chuốc lấy đau thương và can tâm chấp nhận. Tự nhủ lòng: cần mạnh mẽ đối diện với chính mình. Yến không thể trách ai! Nhưng Thu Yến không bỏ con, và đây là điểm sáng của Thu Yến, dẫu biết rằng nàng là người có lỗi khi nhẹ dạ cả tin và ảo tưởng khi bỗng dưng đem tim mình đặt sai chỗ.


Thế rồi Thu Yến viết đơn xin nghỉ việc ở trường mầm non Sơn Ca nhưng không đến trực tiếp gặp Thanh Tuyền, chỉ ở nhà gửi đơn tới, trình bày lý do kiếm được việc mới trên thành phố và xin nghỉ ngang. Thanh Tuyền cũng không hay biết cội nguồn của nguyên nhân ấy. 


Ở nhà Yến tâm sự với ba má: Ba má Yến buồn lắm nhưng cũng an ủi con và bảo:

-Thôi con dại cái mang, chuyện cũng đã lỡ rồi, để con lại mà nuôi. Con nghỉ ngơi cho khỏe rồi tính tiếp. Ba mẹ sẽ luôn ở bên con.


Lúc này thai kỳ còn nhỏ nên Yến vẫn chưa cam lòng ngồi một chỗ để chờ ba má nuôi cơm mà Yến một mình khăn gói lên Sài Gòn xin việc. Đầu tiên Yến tìm một nhà trọ ở một quận ngoại ô Sài Gòn. Rồi lân la hỏi thăm quanh vùng đó và xin vào làm phụ cho một tiệm hớt tóc nam nữ nhưng cũng có Massage chân. Thực ra thì massage chân lành mạnh là hình thức dùng đôi bàn tay áp dụng các kỹ thuật xoa bóp, ấn huyệt, kéo... tác động vào các cơ, mô mềm, các huyệt đạo dưới lòng bàn chân. Nhằm giúp máu lưu thông tốt, thư giãn dễ chịu và cải thiện các vấn đề về sức khỏe. Yến chịu khó nên học nghề cũng nhanh. Hàng ngày Thu Yến được giao công việc Massage chân. Dù sao thì công việc giải quyết cho Yến được vấn đề tài chính tức thời và có thể tích lũy để sinh con. Hàng ngày Yến siêng năng, chịu khó và có thu nhập. Yến làm cho khách dễ chịu nên ngoài lương ra còn có tiền tip vì thế cũng có thu nhập đáng kể. Khi gần sinh thì Yến xin nghỉ về nhà ba má sinh con. Yến sinh được bé gái kháu khỉnh, xinh xắn. Gia đình thêm người có thêm niềm vui, ông bà ngoại và cậu dì đều yêu bé. Khi bé được một tuổi, biết ăn dặm được thì Yến gửi con lại nhà cho ba má chăm, Yến lại lên Sài Gòn tiếp tục làm. Hàng tháng gửi tiền về cho ba má nuôi con. 


Làm được ba năm, việc đã quen, tay nghề của Yến càng ngày càng giỏi lên. Yến lại lên quận trung tâm Sài Gòn xin vào làm ở một tiệm massage lớn với mong muốn thu nhập sẽ cao hơn. Tại đây còn có cả massage body nữa. Ở chỗ làm mới, lượng khách đông và còn gặp nhiều khách sộp nên Yến có thu nhập khá hơn. Yến làm ngày càng lên tay và trở thành thợ lành nghề nên nhiều khách hàng đặt lịch. Thu Yến bây giờ trở thành bàn tay vàng của tiệm. Yến làm việc siêng năng, không kể giờ giấc, kể cả ngày nghỉ lễ, Chủ nhật. Yến làm để có tiền gửi về lo gia đình. Lúc này, mẹ của Yến đã nghỉ hưu, ba Yến ốm nặng. Một mình mẹ chăm sóc bốn người: gồm Ba bị bệnh, người chị gái, em trai bị khiếm khuyết về sức khỏe và con gái nhỏ của Yến. Thu Yến bây giờ thành trụ cột chính của gia đình. 


Một hôm có một chú Việt Kiều ngoài năm mươi tuổi, trông phong độ, lịch lãm tới tiệm. Ông tên là Lý Đông được Thu Yến chăm sóc massage body, ông rất hài lòng dịch vụ nên hỏi lần sau đến đặt lịch và chỉ đề nghị đích danh Thu Yến làm cho ông mà thôi. Sau đó tuần nào ông cũng đến làm, có tuần hai ba lần, ông tip tiền hậu hĩnh. Ông bảo Thu Yến đừng gọi ông bằng chú mà xa cách, hãy gọi là anh cho gần gũi. Rồi Lý Đông hỏi thăm gia cảnh của Yến. Tiếp xúc nhiều rồi, nên Yến cũng không ngại kể ông nghe về hoàn cảnh của gia đình mình cũng như mối tình đầu sai trái của mình như thế nào,…


Lý Đông cũng kể là ổng đã có vợ con và sống bên Mỹ, nhưng ổng thường xuyên về Việt Nam làm ăn. Ông đề nghị là sẽ mướn một ngôi nhà rộng rãi cho Thu Yến dọn về ở và đem đứa con gái nhỏ của Yến lên sống chung với ổng như một gia đình. Khi nào qua Mỹ thì ông sống với vợ con. Khi qua Việt Nam thì Lý Đông sống với Thu Yến như lập phòng nhì vậy. Tiền bạc ông đủ sức lo cho Yến. Bây giờ Yến cũng không còn gì để mất bởi Yến đã lỡ một lần đò, cũng hết hi vọng vào tình yêu. Hơn nữa mục đích của Yến là làm việc để kiếm tiền về nuôi con và phụ giúp gia đình nên Yến đồng ý với lời đề nghị của Lý Đông. Từ đó trở đi Yến không làm ở tiệm massage nữa mà chỉ ở nhà phục vụ cơm nước và chăm sóc cho Lý Đông mà thôi. Đổi lại thì Lý Đông cũng cung phụng cho hai mẹ con Yến có một cuộc sống đủ đầy. Dần dà rồi Lý Đông cũng nói rõ công việc làm ăn của ổng. Lý Đông bảo làm ăn bây giờ cũng khó, nên tranh thủ kiếm tiền. Làm được gì kiếm ra tiền thì làm. Công việc của Lý Đông không những tuồn chất cấm vào VN mà còn chế biến và buôn bán nữa. Rồi ông ta bảo: “Cũng nên tập dần cho em quen việc để xử lý khi không có anh”. Rồi ông ta dẫn Yến tới cơ sở sản xuất và bày cho Yến cách chưng cất chế biến. Ông bảo: “Yến phải biết để điều hành, lỡ sau này vắng anh thì Yến cũng biết cách kiếm tiền”. Yến lúc này ăn ở với Lý Đông như vợ chồng, có yêu thương và tin tưởng nên Đông bảo sao thì nghe vậy, không băn khoăn gì nhiều.


Đêm thất tịch mùng 7/7 âm lịch. Lý Đông mua quà tặng cho Yến gồm một chiếc nhẫn hột xoàn và một sợi dây chuyền có mặt tượng khắc tên hai người. Dù không có được danh phận gọi là vợ nhưng cũng là một sự tỏ tình của Lý Đông. Đông còn dặn dò và cùng Yến thề thốt. Đông nói: “Đây là nghề kiếm ra tiền nhưng nguy hiểm. Sau này lỡ một trong hai người có mệnh hề gì, một trong hai đứa sa cơ, bị bắt lao tù hoặc chết thì người còn lại vẫn chăm lo cả hai gia đình và con cái cha mẹ của người kia”. Thu Yến đồng ý và cùng thề thốt dưới ánh nến lung linh kỳ ảo. Họ giờ đây xem như cùng hội cùng thuyền, cùng chung số phận.


Dưới gầm trời này không có gì là bí mật được nên cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra. Chẳng bao lâu, trong thời gian Lý Đông về Mỹ, một mình Thu Yến cáng đáng điều hành việc bào chế phân phối ma túy. Một hôm công an ập vào cơ sở sản xuất bắt trọn ổ chế biến và buôn bán chất cấm. Thu Yến bị lao tù không có ngày về. Lúc này mẹ đem con gái Yến về dưới quê nuôi cùng với hai cậu dì của bé. Còn ba của Yến sau thời gian bệnh nặng cũng đã qua đời. Rồi cứ vài ba tháng mẹ Yến lại vào thăm nuôi con. Cứ mỗi lần vào thăm, Yến lại hỏi:

-Anh Đông có hỏi han, chu cấp tiền lo cho gia đình mình không?

Bà bảo:

-Không! Bặt vô âm tín!


Cứ thế thời gian trôi đi, Yến ở tù một năm rồi, cũng không thấy tăm hơi Lý Đông đâu cả. Quá thất vọng, dù chỉ là hỏi han động viên một câu cũng không có. Và dĩ nhiên việc hứa hẹn chu cấp tiền bạc cho gia đình Yến là lời nói gió bay. Lý Đông đã biến mất khỏi cuộc đời Thu Yến. Gã lặn không một chút sủi tăm kể từ lúc cơ sở bị bại lộ và Yến vào tù. Như vậy lời hứa đêm thất tịch đã đi vào quên lãng nhưng số phận nghiệt ngã thì đeo đẳng Yến chưa biết đến ngày nào ra. Câu chuyện của Yến để lại nhiều xót xa cho quý phụ huynh, người tiếp cận mà cũng là bài học tham khảo cho các bạn trẻ với hi vọng giúp ích được cho một ai đó trước những cám dỗ và cạm bẫy của cuộc đời! 


Saigon, ngày 15/8/2024

Hoàng Thị Bích Hà



READ MORE - Truyện ngắn LỜI THỀ ĐÊM THẤT TỊCH - Hoàng Thị Bích Hà