Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, May 2, 2022

KÝ ỨC THÁNG 5 - Thơ Nhật Quang

 




KÝ ỨC THÁNG 5


Tháng 5 vạt nắng mênh mang

Ngõ về nhánh phượng rộn ràng đong đưa

Vầng mây vội trút cơn mưa

Tiếng ve nức nở gọi mùa bâng khuâng


Hoa cau trắng ngát ngoài sân

Hàng tre ríu rít trong ngần chim ca

Triền đê xanh mướt lá hoa

Gánh gồng vai mẹ chợ xa sớm chiều


Tháng 5 thương những cánh diều

Đồng vàng ngát gió dập dìu cò bay

Bếp chiều khói thoảng lên mây

Tình quê tha thiết, sum vầy ấm no


Bến sông thấp thoáng con đò

Nắng chiều rơi nhẹ, lững lờ sóng tan

Tháng 5 ký ức…nồng nàn

Êm đềm như khúc dịu dàng Mẹ ru…


                                Nhật Quang


nhatquang18@gmail.com




READ MORE - KÝ ỨC THÁNG 5 - Thơ Nhật Quang

TỔ CHIM TỰ NHIÊN và NHÂN TẠO - Chu Vương Miện

 








READ MORE - TỔ CHIM TỰ NHIÊN và NHÂN TẠO - Chu Vương Miện

LÀNG TA - Truyện ngắn Nguyễn Bàng

 



LÀNG  TA

Nguyễn Bàng

 

Tối Chủ nhật một ngày chớm hè. 

Vừa xong bữa cơm, cô giáo Hằng vội vã vào ngay bàn làm việc để chấm bài Tập làm văn của học sinh lớp mình. Đề bài đã ra là: 

“Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao: 

Làng ta phong cảnh hữu tình.... " 

Mở tập bài, xem lướt qua một lượt, Hằng thấy lòng vui vui vì bọn trẻ nhỏ của cô đã tiến bộ nhiều về chữ viết. Nhưng khi chấm được 5 bài đầu thì niềm vui nhỏ bé ấy vụt tắt ngấm. Hằng không tìm thấy đoạn văn nào có cảm xúc nồng hậu cả. Một thoáng thất vọng gợn lên trong lòng cô giáo, chả lẽ bài dạy của cô đã nhạt nhẽo như mấy giọt nước mưa cuối mùa, không có sức thấm vào hồn con trẻ? 

Chợt có tiếng gõ cửa nhè nhẹ. Hằng vội đặt cây bút mực đỏ xuống bàn và ra mở cửa. Khách là một người đàn ông trạc trên bốn chục tuổi, lịch sự trong bộ áo quần mùa hè màu sáng. Ông ta dựng chiếc xe máy bóng nhoáng trên vỉa hè, nhã nhặn cúi đầu chào cô giáo và tự giới thiệu: 

- Thưa cô, tôi là bố cháu Hải Minh. Xin cô cho phép được gặp đôi phút ạ! 

Hằng chào đáp lại và mời khách vào nhà. Khi cô rót xong chén nước lọc, quay ra mời khách thì thấy ông ta đã đặt một túi lớn cam ở trên bàn và nhìn  cô tươi cười nói: 

- Gia đình có chút quà đem biếu cô! 

Hằng nhẹ nhàng từ chối: 

- Cảm ơn ông đã đến thăm còn món quà này...Cô chưa kịp nói hết lời thì ông khách với nụ cười rạng rỡ đã lại nhanh nhảu nói: 

- Cam vườn nhà đấy cô ạ! Mong cô vui lòng nhận cho! 

Nghe ông ta nói “Cam vườn nhà”, Hằng giấu một nụ cười thầm và tự hỏi. Ông Phụ huynh học sinh này muốn gì đây ? Hơn mười năm dạy học, cô đã tiếp khá nhiều cha mẹ học sinh đến nhà và cho quà như thế này. Người nào cũng bảo; Đây là quà của nhà, không phải mua tốn kém gì. Thậm chí có bà đem cho cô một mảnh vải đẹp để may một bộ quần áo thời trang cũng đã cười rất hồn nhiên mà rằng: Vải của nhà đấy cô ạ! Rồi sau những nụ cười và  những câu nói như thế, các vị ấy dần dà đi đến cái đích của việc đến thăm cô giáo. Là bố mẹ những học sinh khá hoặc giỏi, thì họ làm thân, tỏ lời cảm ơn cô giáo đã tận tụy dạy dỗ chăm sóc con cái họ và mong sẽ được cô quan tâm tới cháu hơn nữa. Là bố mẹ các cô cậu có sai phạm gì đó hay học quá yếu kém thì họ xin cô giáo cảm thông ”Con dại cái mang”, ‘Trăm sự nhờ cô giáo”, mong cô tha thứ cho cháu hoặc nâng cho cháu thêm ít điểm để cháu được lên lớp...Nhưng bây giờ trước mặt Hằng là ông bố của Hải Minh. Con ông ta là một đứa bé hiền lành ngoan ngoãn, sức học trung bình, không có gì nổi trội cả. Hằng dạy nó từ năm lớp 6 đến nay đã gần hết năm lớp 7. Đã năm lần lớp họp phụ huynh học sinh, Hằng chỉ thấy mẹ của Hải Minh đi họp. Nghe đâu ông bố làm giám đốc một công ty Nhà nước, bận lắm. Vậy mà hôm nay... 

Chừng như đoán rằng cô giáo sẽ lại từ chối món quà của mình, ông bố Hải Minh nói tiếp luôn: 

- Chả là thế này cô giáo ạ! Hôm thứ hai đầu tuần này, cháu nhà tôi đi học về với tâm trạng phấn chấn khác thường. Trong bữa cơm, nó hớn hở khoe với vợ chồng tôi là lớp nó vừa được học mấy bà ca dao về quê hương hay lắm. Rồi nó quên cả bát cơm đang bưng trên tay, lấy giọng diễn cảm  đọc làu làu một hơi bài “Làng ta phong cảnh hữu tình” cho bố mẹ nghe. Đọc xong, nó ngước mắt nhìn mẹ nó rồi nhìn tôi một cách hãnh diện tựa hồ như ở nhà này, chỉ có mình nó biết bài ca dao đó. Rồi bất chợt nó hỏi tôi: "Bố ơi! Cái Làng ta của nhà mình ở đâu hở bố? Phong cảnh ở đó có hữu tình như bài ca dao cô giáo đã dạy con không? Hôm nào bố cho con về làng ta chơi nhé!” 

Khách ngừng lời, nhấp một hớp nước nhỏ. Cô giáo thoáng thấy vẻ mặt ông ta hơi ửng đỏ như có chút gì ngượng ngập. Cô đang lựa lời để nói câu gì đó cho ăn nhập với câu chuyện thì đã thấy ông khách hạ thấp giọng và chậm rãi nói: 

- Thú thật với cô giáo, câu hỏi của cháu làm cho lòng tôi áy náy nhớ đến quê nhà mà đã bao lâu xa cách. Năm 18 tuổi, tôi lên thành phố học Đại học. Năm năm đời sinh viên miệt mài đèn sách, tôi chỉ về thăm quê khoảng hơn chục lần, đó là những dịp nghỉ hè hay nghỉ Tết. Ra trường với mảnh bằng trong tay, tôi hết vào công sở này sang công ty khác, mải mê lập nghiệp và say sưa làm giàu. Lần cuối tôi về quê là khi tôi đã sắm được nhà ở thành phố, về để đón bố mẹ tôi lên sau khi đã thư từ thuyết phục được hai cụ bán nhà đất cho một ông chú họ. Tệ hơn nữa là, khi bố mẹ tôi lần lượt qua đời, tôi cũng lại lần lượt bước qua lời nguyền của hai cụ là đưa các cụ về an nghỉ ở cánh đồng làng. Tôi đã bỏ ra một món tiền lớn mua một khu đất đẹp, trong khu vực một ngôi chùa cổ nổi tiếng ở ven thành, xây mộ đẹp đặt hài cốt hai cụ ở đó để hàng năm vào các dịp Thanh minh giỗ Tết , tôi đưa vợ con đi thăm mộ cho gần. Bàn chân tôi như cánh chim bay đã đưa tôi đến rất nhiều nơi xa xôi hàng nghìn cây số. Tám giờ sáng, tôi còn làm việc ở Hải Phòng nhưng chỉ đến hai giờ chiều, tôi đã đang họp ở thành phố Hồ Chí Minh. Hàng chục lần, tôi đã xách cặp bay ra nước ngoài để ký kết các hợp đồng kinh tế...Vậy mà, cái làng quê nhỏ bé của tôi, chỉ cách nơi tôi ở chưa đầy một trăm cây số thì cứ lùi xa, lùi xa vào dĩ vãng. Phải đến lúc cháu Hải Minh hỏi, tôi mới chạnh nhớ cái “Làng ta” của tôi, của con tôi, nơi cũng có một khúc của con sông Lụa uốn qua. Khúc sông đó giờ ra sao? Người dân quê tôi đã đổi mới như thế nào? 

Như không hề biết, tôi đang nghĩ ngợi, điều gì cháu Hải Minh lại hồn nhiên nói tiếp: 

- Cô giáo giảng rất kỹ cho chúng con hiểu ý nghĩa của từng từ ngữ như : Làng ta là thế nào? Hình ảnh con long đẹp ra sao, người dân quê ta truân chuyên nghề nghiệp lam lũ mà đáng yêu biết mấy. Và kết thúc bài dạy, cô bảo với cả lớp: “Là người Việt Nam, hầu như chúng ta ai cũng có một cái làng quê thiêng liêng gần gũi. Và trong chúng ta, ai cũng mang cội nguồn từ một người dân quê chân chất thô mộc và bình dị. Cô mong rằng, các em đừng bao giờ đánh mất  những nét đẹp vô giá đó!”. 

Nghe cháu kể say sưa về bài giảng “Làng ta” của cô, tôi càng thấy áy náy trong lòng. Và như để chuộc lại lỗi lầm của mình, tôi bảo cháu: 

- Được, bố sẽ thu xếp đưa mẹ và con về thăm làng ta vào cuối tuần này. Và chính vì vậy, từ chiều hôm qua, thứ bẩy đến hết hôm nay, chủ nhật, chuyến đi của chúng tôi đã được thực hiện. Về đến nhà, tôi phải đến ngay cô giáo để cảm ơn. 

Đáp lại thịnh tình đó, cô giáo Hằng ân cần hỏi: 

- Thưa ông, hẳn là cháu nó vui sướng lắm? 

- Vâng! Tôi có cảm giác nó như một con chim non được về tổ ấm. Chúng tôi đưa cháu đi thăm hỏi bà con họ hàng, đi xem các cảnh đẹp xưa cùng các công trình mới xây dựng gần đây của làng, rồi ra ngoài đồng thăm bà con quê tôi đang bắt đầu gặt “Vụ năm”, chỗ nào cháu nó cũng mải mê ngắm nhìn hình như không muốn rời chân. Nhưng có lẽ vui sướng nhất khi được tắm mát trong khúc sông Lụa. Vừa trông thấy mặt sông, nó đã reo lên thích thú: “Con long của làng ta đẹp quá!” 

Mà cô giáo ạ! Không chỉ mình cháu nó vui đâu. Mẹ nó cũng vui. Tôi cũng rất vui. Tôi có cảm giác mình đã làm một chuyến hành hương đầy bổ ích. Đã lâu lắm, tôi mới lại thấy mùi thơm của rơm rạ và cỏ hoa đồng nội, được sống lại với buổi chiều quê mát mẻ, được hưởng lại một đêm trăng, thơ mộng huyền dịu ở làng quê và nếm lại hương vị dẻo thơm của bát cơm gạo mới. Còn cái này nữa, cái quý giá nhất là, tôi đã kịp níu kéo lại cái “Làng ta” của tôi mà chính tôi xuýt để vuột mất! 

Khách vừa nói vừa từ tốn đứng dậy như có ý muốn tạ từ: 

- Chắc bây giờ cô giáo sẽ không nỡ từ chối chút quà quê của tôi. Cam này bố tôi trồng hồi sinh thời cụ, nay được ông chú họ tiếp tục chăm bón đấy. Trước khi ra về, tôi xin cảm ơn cô đã dạy cho con tôi một bài học quý báu. Mà đó cũng là bài học cho cả tôi nữa. 

 Cảm ơn và tiễn khách ra về, cô giáo Hằng trở lại bàn chấm bài. Cô lật tìm bài của Hải Minh xem thằng bé viết ra sao. Đây rồi, thằng bé viết bài này dài hơn hẳn các bài trước. Hằng chăm chú đọc. Hình như có một giọng điệu Hải Minh khác trong mạch văn trôi chảy với những cảm xúc dạt dào đằm thắm của một đứa trẻ lần đầu tiên được biết đến cái “Làng ta” trong một bài ca dao cổ.*

 

NGUYỄN BÀNG 

Địa chỉ: đường Đằng Hải, 

quận Hải An, thành phố Hải Phòng. 

Email: bnguyen37@gmail.com

READ MORE - LÀNG TA - Truyện ngắn Nguyễn Bàng

THÁNG TƯ CHIỀU - Thơ Vũ Hùng

 

Nhà thơ Vũ Hùng

THÁNG TƯ CHIỀU

Vũ Hùng


Chiều tháng tư Quy Nhơn nhoà nhạt nắng,
Con đường xưa hoa tím ngắt bằng lăng.
Bao năm rồi em có biết hay chăng,
Anh mãi đợi dù mưa dầm nắng dãi?

Em ra đi đâu hẹn ngày trở lại,
Quy Nhơn buồn thao thức biết bao đêm.
Lòng bâng khuâng trăng xế vắt qua thềm,
Nghe trăn trở ầm ào con sóng vỗ.

Đã trải qua những năm dài gian khổ,
Nhật ký dày bao kỷ niệm khôn nguôi.
Đợi chờ lâu đến khạo khờ mê muội,
Em xa rồi đã mấy chục tháng tư?

Chiều Quy Nhơn nắng dập dềnh mệt lử,
Biển âm vang tràn nỗi nhớ khôn vơi,
Một lời nguyền sao hoá giải em ơi
Ray rứt mãi như một người mắc lỗi

Chiều Quy Nhơn, những chiều xa vời vợi,
Nắng nhạt nhoà hai đứa cứ trong tay.
Bao con đường, bãi biển ngỡ như say,
Như chếnh choáng chén rượu nồng uống cạn.

Xa lắm rồi thời mưa bom bão đạn,
Quy Nhơn hồng cô gái trẻ đôi mươi.
Chỉ buồn thay đâu thấy tiếng em cười,
Lời nũng nịu chiều nay ra biển nhé!

Chiều tháng tư Quy Nhơn con sóng nhẹ,
Hôn khẽ khàng bờ cát sắc trời xanh.
Anh vẫn thấy cuộc đời đâu cô quạnh,
Dẫu chốn xa em chưa hẹn ngày về?

Quy Nhơn, 29.04.2022
Vũ Hùng
hutazox@gmail.com
Attachments area
READ MORE - THÁNG TƯ CHIỀU - Thơ Vũ Hùng

DẠY TRẺ BIẾT QUAN TÂM TỚI NGƯỜI KHÁC - Vũ Thi Hương Mai

 



DẠY TRẺ BIẾT QUAN TÂM TỚI NGƯỜI KHÁC

Vũ Thi Hương Mai

 

Dạy con trẻ quan tâm đến người khác ngay từ khi con còn nhỏ. Bởi ở tuổi nhỏ, trẻ thường ích kỷ, nếu thấy mẹ bế trẻ khác cũng ghen tị, thấy trẻ khác có nhiều đồ chơi thì cũng muốn được như vậy. Ngay cả khi trẻ nô đùa ầm ĩ mà cha mẹ thì cần phải yên tĩnh làm việc. Tất cả những điều đó trẻ chưa hề ý thức là mình đang làm ảnh hưởng đến người khác. Nhưng khi vào tuổi tiểu học, sự ý thức và nhận biết của trẻ cao hơn, cha mẹ nên chú ý dạy bảo, trẻ có thể dần xây dựng cho mình thói quen tốt biết quan tâm, để ý đến người khác.

 

Đầu tiên, bạn nên lấy những ví dụ điển hình trong cuộc sống để giáo dục trẻ, làm cho trẻ hiểu được cần phải quan tâm đến người khác thì người khác cũng mới quan tâm đến mình. Làm cho trẻ hiểu quan tâm tới người khác là một hành động tốt, thể hiện là người có văn hóa, có giáo dục. Muốn cho con thấy điều đó thì ngay bản thân cha mẹ phải là người gương mẫu. Nếu khi con học bài thì bố mẹ không nên làm ảnh hưởng đến con như mở đài to, xem ti vi hoặc nói chuyện ồn ào. Như vậy trẻ cũng sẽ ý thức được, mình không được làm ảnh hưởng đến cha mẹ khi cha mẹ đang cần yên tĩnh tập trung suy nghĩ để làm việc. Giáo dục ý thức biết quan tâm đến người khác cho con trẻ không cần phải ở đâu xa xôi, mà ngay từ trong mối quan hệ gia đình, mọi người yêu thương nhau, hòa thuận, luôn quan tâm đến nhau thì trẻ sẽ biết quan tâm đến người khác. Nếu trẻ sống thiếu tình thương, thiếu sự quan tâm của người thân thì trẻ khi lớn lên cũng không biết và không muốn quan tâm đến ai cả. Cha mẹ cần uốn nắn cho trẻ ngay từ nhỏ, uốn nắn từ những việc nhỏ nhất, liên tục để mắt đến sự hình thành thói quen quan tâm đến người khác của trẻ. Các bậc cha mẹ không nên chỉ dùng những lời giáo huấn cho trẻ, mà nên lấy hành động của mình để giáo dục trẻ là chính, như vậy mới có ảnh hưởng tốt với trẻ.

 

Ngoài ra, hãy khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động xã hội ngoại khóa như làm công tác từ thiện ở lớp, ở trường, ở khu phố; tham gia dọn vệ sinh tập thể; đóng góp quỹ giúp đỡ người nghèo, người khuyết tật… Nhưng việc đó giúp trẻ ý thức nhanh nhất về sự quan tâm đến người khác có ý nghĩa như thế nào. Biết quan tâm đến người khác là một phẩm chất nhưng nó không phải có sẵn và không phải ai cũng có. Có được điều đó là do sự giáo dục và tự ý thức của bản thân là chính. Cha mẹ cũng nên góp ý, phê bình nếu khi trẻ có biểu hiện thờ ơ, lạnh lùng khi người khác cần sự quan tâm, và cũng nên dành cho trẻ lời khen đúng lúc khi trẻ làm được một việc tốt.

 

*

 

VŨ THỊ HƯƠNG MAI 

Long Biên - Hà Nội. 

Email: huongmai8081@yahoo.com.vn

 

READ MORE - DẠY TRẺ BIẾT QUAN TÂM TỚI NGƯỜI KHÁC - Vũ Thi Hương Mai

Sunday, May 1, 2022

TÌNH CA THÁNG TƯ – Thơ Trần Mai Ngân


                             Nhà thơ Trần Mai Ngân



TÌNH CA THÁNG TƯ
 
Bài thơ này em viết tháng Tư
Trời vào Hạ và trăng non im lặng
Ngoài phố tím cánh Bằng Lăng hò hẹn
Người có về như đã hứa cùng em...
 
Đêm thở dài, mong đợi đầy thêm
Tháng Tư ngọt như môi ngoan hôm ấy
Tay trong tay, trái tim run lẩy bẩy
Mới biết yêu, tình chớm nụ đầu
 
Tháng Tư không sầu, tháng Tư không màu
Trắng toát nỗi chờ, nỗi đợi
Mong nhau, mong nhau, em mong nhau
Tháng Tư ơi! dừng lại đến mai sau
 
Môi im đợi tháng Tư sẽ nói
Lời tình ca rêu phủ ngói nghìn năm
Nhích lại gần không còn những xa xăm
Tháng Tư nhé... mình yêu nhau như thế!
 
Trần Mai Ngân

READ MORE - TÌNH CA THÁNG TƯ – Thơ Trần Mai Ngân

Friday, April 29, 2022

HÀNH TRÌNH THƠ TRẦN THƯƠNG BÁ, CHẶNG 3: “TẬP VÔ NGÔN KINH” – Đỗ Tư Nhơn

Như một lời cám ơn gởi về miền thiên thu vĩnh hằng – nơi yên nghỉ của nhà thơ Trần Thương Bá, người đã để lại cho cuộc đời những tập thơ có sức ngân vọng, gõ cửa trái tim những người đồng điệu tri âm. Ba tập thơ của anh hãy còn đây trên “Hành Trình Thơ Trần Thương Bá”, nén tâm hương tưởng nhớ Anh muộn màng, sau 20 năm anh xa lìa trần gian.

Nhà giáo - nhà thơ Trần Thương Bá
(1940- 2002)
 
Từ tập Tình Huế đến tập Thơ Ngây Ngô, hai chặng trên con đường thơ Trần Thương Bá trải qua 2 thi pháp: thi pháp của chủ nghĩa Lãng mạn đến thi pháp của chủ nghĩa Tượng trưng đều mang sắc thái phương Tây.
 
Giờ đây tập thơ Vô Ngôn Kinh (VNK) đang mở ra trước chúng ta một chặng mới, từ hình thức đến nội dung.
 
Góc nhìn về thể loại và nhịp thơ Vô Ngôn Kinh
 
Sau khi dùng nhiều thể loại thơ, đến Vô Ngôn Kinh anh hướng về thơ Lục bát (sáu-tám), một thể thơ bắt đầu từ Ca dao, Truyện Kiều, Nguyễn Bính …
 
Thi tập Vô Ngôn Kinh gồm 55 đoản khúc tứ tuyệt bằng thể Lục bát. Đi tìm nguồn gốc của loại tứ tuyệt, chúng ta thường gặp các hình thức: thất ngôn tứ tuyệt (7 chữ, 4 câu), lục ngôn, ngũ ngôn (6 chữ, 4 câu; 5 chữ, 4 câu). Riêng loại Lục bát tứ tuyệt đã được dung từ Nguyễn Du, Trần Tế Xương, Trần Tuấn Khải... Chế Lan Viên cho đến các nhà thơ hiện đại. Tuy nhiên hình thành một tập thơ hoàn chỉnh bằng loại Lục bát tứ tuyệt, thì chúng tôi nhận thấy có Động Hoa Vàng của thi sĩ Phạm Thiên Thư gồm 100 đoản khúc, được ấn hành năm 1971 tại Sài Gòn. Giờ đây tập Vô Ngôn Kinh nối tiếp thể loại trên ra mắt năm 1996 cũng tại Sài Gòn.
 
Một điều dễ nhận ra từ tập thơ Vô Ngôn Kinh là cách ngắt nhịp, xuống dòng (hay vắt dòng) của Trần Thương Bá thật uyển chuyển, đa dạng tạo những ấn tượng mỹ cảm mới lạ. Có thể ví anh như một nhà họa sĩ của trường phái Sắp đặt, một nhạc trưởng chỉ huy dàn nhạc, một nhà thư pháp tài hoa, sáng tạo.
 
Nếu nhịp thơ của Lục bát truyền thống đa số chọn nhịp dài, nhịp chẵn như trong câu Kiều sau:
 
“Cỏ non xanh dợn chân trời, 
Cành hoa lê trắng điểm một vài bông hoa”
                                                 (Nhịp 6/8).
 
Trái lại câu thơ Vô Ngôn Kinh thiên về nhịp ngắn, nhịp lẻ.
Câu lục (6 chữ) có nhịp lẻ, với nhiều chuyển biến phong phú, có đến 6 cách nắt nhịp khác nhau:

+ Nhịp 1 - 3 - 2: Trưa / ra đón bạn/ đầu làng.
+ Nhịp 1 - 5: Gởi / người ngàn dặm sơn khê.
+ Nhịp 3 - 3: Môi em thắm / tưởng em cười.
 
Kết hợp nhịp chẵn – lẻ như trong câu: nhịp 2-1-3:
Anh đi / còn / vết thương lòng
 
Cũng trong câu lục nhịp chẵn đặc biệt có 2 cách: 2-4 và 4-2:
 
Nhịp 2-4:
Sông sâu / bờ thẳm im lìm.

Nhịp 4-2:
Lần này thôi nhé/ về thôi.
 
Xuống câu bát (8 chữ), ngoài nhịp chẵn, Trần Thương Bá cũng tạo them nhiều câu thơ vắt dòng nhịp lẻ, có 13 cách.
 
Sau đây xin dẫn ra vài cách đặc biệt:
 
- Nhịp 1-3-1-3:
Em / qua suối nhỏ / hoa / tràn gót chân.
 
- Nhịp 3-1-4:
Con chim lạ / đến / ngủ trong tóc này.
 
Cũng có lúc nhịp chẵn kết hợp nhịp lẻ nhằm tạo nên sự đột ngột trong cảm xúc

- Nhịp 2-1-3-2:
Mơ hồ / rớt / tiếng vạc bay / ngoài thành.
 
- Nhịp 4-1-2:
Một câu lục bát / đủ / nàng ngẩn ngơ.
 
Việc đổi mới nhịp điệu câu thơ không phải là trò chơi hình thức, mà thuộc về ý thức cách tân câu thơ để tạo thêm những hiệu ứng thẩm mỹ, những xúc động, hay mở rộng liên tưởng cho người đọc, sau này trường phái Tân hình thức đã phát triển như trong bài Rượu cúc võ thìn của nhà thơ Phạm Nguyên Tường:
 
“rượu lúc cúc vàng hơi võ
thìn một thành cổ kiêu bạc
vần vũ tóc không dài hết
tiếng cười khan rũ một chiều.”
 
Nhà thơ Maiakovsky, nhà lý luân văn học Hartman đã từng khẳng định nhịp điệu là sức mạnh, là năng lượng cơ bản của thơ. Ở Việt Nam, thơ vắt dòng được dùng từ Văn Cao, Trần Dần, Phùng Quán cho đến các nhà thơ đương đại, cho nên Trần Thương Bá cũng thể nghiệm và tạo nên ấn tượng lạ. Chúng ta sẽ thưởng thức nhịp thơ Vô Ngôn Kinh hòa cùng hình tượng nghệ thuật để gởi đến độc giả thưởng ngoạn những hứng thú và nghĩ suy qua 55 đoản khúc Tứ tuyệt Lục bát.
 
Đi vào cảm nhận thơ Vô Ngôn Kinh.
 
Mỗi đoản khúc như một ký họa, trong đó có thiên nhiên hoa lá cỏ cây, có các mùa xuân, hạ, thu đông, sông nước mây trời, chim chóc. Nhân vật trữ tình hòa vào cảnh vật, với nỗi hoài hương không nguôi. Hình ảnh người nữ xuất hiện nhiều lần, mang đến hạnh phúc, lẫn xót xa. Và giữa cuộc đời đa đoan, nhiều mặt đó nhà thơ tìm cho mình một con đường.
 
+ Trước tiên, chúng ta bước vào thế giới của thiên nhiên và Em trong tập Vô Ngôn Kinh.
 
Trong Vô Ngôn Kinh, cứ mỗi bức tranh thiên nhiên từng mùa đều có hình ảnh của người nữ - Em ẩn hiện. Như thể thiên nhiên và Em là hình bóng của nhau, nằm trong nhau, cùng mang một bản thể. Hay cỏ cây, chim hoa là cái nôi ru em êm đềm. Cũng có thể là bối cảnh của tình yêu, là nhân chứng của cuộc tình khi gắn bó, lúc phôi pha…
 
Hãy cùng thưởng thúc từng bức tranh với hai nhân vật ấy:
 
“Tóc em phơi gió
bồng bềnh
nắng xuân lại đậu
trên từng sợi tơ”
(Đoản khúc 9)
 
- Em nghiêng tóc rối
trong cây
chim tha làm tổ
rắn vây
khoanh tròn.
Mùa đông ngủ
một giấc ngon
tỉnh ra
chợt ngứa chồi non
quanh mình”
(Đoản khúc 6)
 
Những bức chân dung Em giữa thiên nhiên trong trong trẻo, mang nét phiêu bồng, liêu trai khiến chúng ta liên tưởng đến tranh sơn dầu của họa sĩ Đinh Cường một thời ở Huế
 
“Em ngồi bên suối
có hay
đã bao nhiêu lá
rụng bay
theo dòng”
(Đoản khúc 34)
 
“Lưng trời
một chút sương rơi
cho em ướt áo
đem phơi gió vàng”
(Đoản khúc 24)
 
Hình bóng quê nhà trong tập thơ Vô Ngôn Kinh.
 
Phần viết về quê hương không nhiều nhưng cũng tạo nên những xúc động, ám gợi nơi tâm hồn chúng ta, thức tỉnh tìm về nguồn cội. Hình ảnh một chốn để trở về dường như xa xôi mờ ảo, chỉ thoáng qua giấc mơ của người con xa xứ vì miếng cơm manh áo:
 
- “tha hương
chẳng kịp thấy buồn
đảo điên cơm áo
cúi luồn mềm lưng”
(Đoản khúc 3)
 
Hay xa tít cuối chân trời, chỉ còn mượng tượng, từ đó trong tâm hồn xót xa, khắc khoải, như phạm tội lớn lao, như đã vong thân:
 
“Hay là ta đã quên ta
để quê hương
mãi mù xa
chân trời.”
(Đoản khúc 41)
 
Nhà thơ xứ Lebanon Kahlil Gibran (1883- 1931) đã viết trong tập PROSE POEMS: “Trên trần gian này tôi là người ly hương. Người ly hương là tôi...”. Ông giải thích ông là người cô đơn vì xa cách người thân, đồng bào. Ông cảm thấy ly hương với cả chính ông, thân xác ông. Ông là người ly hương vì không ai hiểu ngôn ngữ của tâm hồn ông. Qua so sánh, chúng ta cảm nhận rằng Trần Thương Bá đã gặp gỡ người xưa ở một chừng mực nào đó. Vì anh tin rằng đọc thơ anh chắc cũng có người đồng cảm.
 
 Khuôn mặt tình yêu trong tác phẩm Vô Ngôn Kinh.
 
Qua hình ảnh Em trong phần trên ta đã chiêm ngưỡng được vẻ đẹp của người tình- nàng thơ từng ám ảnh Trần Thương Bá. Đó là men của cuộc sống, là hương của tình yêu nhưng không phải bao giờ cũng mang đến hạnh phúc. Có khi trong thơ anh chúng ta bắt gặp “Ái ân tùng giọt / êm đềm” nhưng rồi “tủi hờn cơ cực / từng đêm ngậm ngùi” (Đoản khúc 28) hay “Ru em / ta chẳng một lời/ tay ta/ em gối / rã rời giấc trưa” (ĐK Đoản khúc 28). Có lúc quyến luyến “quen hơi / thuộc nết / tình chưa nỡ rời”  (Đoản khúc 30). Lúc khác thì chấp nhận nghịch lý “Lời thề nào / chẳng phôi pha nhớ / chẳng thưa thớt lòng” (Đoản khúc 21) và kết thúc cuộc tình trong thế “Tiễn em / héo hắt nụ cười. Em đi ta cám ơn đời từ đây” (Đoản khúc 30). Nhưng đâu đó trong tâm khảm vẫn hoài niệm cuộc tình mãi mãi không thôi:
 
“Ta thèm thở
chút hương xưa
trong tà áo cũ
ngẩn ngơ mỗi chiều”
(Đoản khúc 37).
 
Bàn về thơ Tình yêu, chúng ta không thể nào quên được thi hào R. Tagore (1861-1941) - Ấn Độ, bài thơ thứ 28 trong tập Người giữ vườn đã minh định rằng: “Tôi đã phơi bày cuộc đời mình, không che đậy, không dấu diếm. Đó là lý do tại sao em chưa hiểu ý nghĩa những lời tôi nói” Ông cho rằng tình yêu là sự đồng điệu, dâng hiến tâm hồn. Nhưng trái tim của con người lại mãi là một cõi bí mật lớn lao. Điều này cho thấy nhà thơ Trần Thương Bá không quá bi quan trong tình yêu, vì nói như HEIDEGGER “Con người là một hữu thể cô đơn”
 
Nẻo về của Tâm trong Vô Ngôn Kinh.
 
Trong thơ VNK, có nhiều bài nhắc đến nhà chùa, kinh kệ, ni cô, Quán thế âm, Ca Diếp... điều đó cho thấy đạo Phật đã ảnh hưởng đến tâm hồn nhà thơ Trần Thương Bá.Bởi thế chúng ta men theo dấu chân của thơ anh để hiểu được con đường trở về Tâm như thế nào ?
 
Chúng ta mang thân tứ đại, sống trong vô minh với nhiều tham sân si nên thường suy nghĩ, nói, hành động tạo nghiệp, ngụp lặn trong hạnh phúc lẫn khổ đau:
 
“Tâm này một niệm từ bi
Thân này
một cõi sân si
chưa rời”  
(Đoản khúc  46).
 
Rồi có những ngày “về chùa quét lá nghe kinh” một hôm chiêm bao nhớ lại tiền kiếp trong cảnh giới Tây phương Tịnh Độ, còn gọi là cõi của đức Phật A Di Đà:
 
“Tượng vàng khói tỏa
trên cao
bỗng dưng lại nhớ
kiếp nào
Tây phương”
 (Đoản khúc 52).
 
Nhà thơ của Vô Ngôn Kinh đã hiểu về luân hồi, vô thường nên trong thơ anh diễn đạt lời dạy của đức Phật một cách giản dị:
 
“Đi tìm
lửa ấm cho đời
gặp hoa chợt thấy lẽ đời
trong hoa”
(Đoản khúc Nhập).
 
Anh đã kể chuyện ngày xưa đức Phật thuyết pháp trên núi Linh Thứu bằng thơ, thật cô đọng mà chứa đựng nội dung sâu sắc vô cùng:
 
“Nói điều chẳng thể nói ra
nửa là tâm đạo
nửa là tâm kinh
Vô ngôn
ngậm miệng
làm thinh
quỳ
bên Ca Diếp
một mình cười khan”
(Đoản khúc 2)
 
Câu thơ giản dị, lối xuống dòng, ngắt nhịp, theo kiểu dàn trải trong câu lục để rồi đột ngột chuyển sang nhịp ngắn trong các câu sau nhằm thể hiện sự bất chợt trong tâm thức khi nhớ lại phút giây “tâm truyền, kiến tánh” giữa Đức Phật và Bồ Tát Ca Diếp, sơ đồ nhịp thơ: 6/4/4 và 2/2/2/1/3/4
 
Đó là pháp thiền, gợi lại chuyện xưa khi Đức Thế Tôn giảng đạo trên núi, ngài cầm một hoa sen đưa lên trước tăng chúng. Mọi người đều im lặng không hiểu ý nghĩa, chỉ có đệ tử Ca Diếp mỉm cười. Đức Phật liền trao tâm ấn. Trong sách Vô Môn Quan (cửa không cửa) của thiền sư Huệ Khai ghi lại bài kệ:
 
“Một cành hoa đưa lên
Và bí mật đã mở
Ca Diếp mỉm cười
Toàn bộ tín đồ đều hoang mang”
(Nguồn Thiền).
 
Trong lời tựa cho tập Vô Ngôn Kinh, GS Bửu Cầm (Viện ĐH SG) đã viết:
 
“Chuyện có thế. Nhưng nhắc đến câu chuyện với cả tấm lòng chân thành ngưỡng mộ, muốn lấy đó làm gương cho việc tu dưỡng bản thân, Trần Thương Bá thật sự đã tiến vào Cõi Thiền là thế giới không thể dùng ngôn từ để diễn tả. Đó là lý do tác giả đã chọn ba chữ VÔ NGÔN KINH làm nhan đề tập thơ này”
 
VÔ NGÔN trong đạo học Đông phương là một đặc điểm tư tưởng đã chi phối hình thức lẫn nội dung văn học Đông Á, trong đó Nhật Bản với thơ Haiku, Trung Hoa có Thơ Đường, Việt Nam có thơ Thiền Lý - Trần. Đó tính hàm súc, cô đọng, ý nghĩa ẩn sau ngôn từ, ý tại ngôn ngoại, có sức gợi lớn, âm hưởng và dư ba…
 
Trần Thương Bá đã kế thừa chất Vô Ngôn đó trong Hành Trình Thơ chặng cuối của mình.
 
Trở lại chữ Tâm và làm cho tâm an định, không còn chạy lăng xăng như “tâm viên ý mã” (tâm như vượn, ý như ngựa), điều phục tâm qua nhiều bước để đi đến giải thoát, giác ngộ mà 10 bức tranh Chăn trâu là biểu tượng cho hành trình tu chứng. Trần Thương Bá vẫn luôn mong ước điều đó, cho tâm được an lạc:
 
“Bao giờ
an lạc tâm này
lên non
nằm ngủ
giữa bầy chim muông”
(Đoản khúc 53).
 
Hình ảnh trong bài thơ trên khiến ta liên tưởng đến thơ Phạm Thiên Thư trong tập Động Hoa Vàng:
 
“Ta về rũ áo mây trời,
gối trăng đánh thức bên đồi dạ lan.
rằng xưa có gã từ quan,
lên non tìm động hoa vàng ngủ say”
 
Gặp gỡ của hai nhà thơ khi cùng được tắm mát trong dòng suối đạo học phương Đông, trong thể thơ lục bát tứ tuyệt du dương, lại biến đổi nhịp điệu uyển chuyển đã góp vào thi ca dân tộc những bài thơ cô đọng nhưng có sức gợi lan xa, tạo cho người đọc sự rung cảm nhẹ nhàng nhưng sâu lắng. Đọc thơ của Phạm Thiên Thư và Trần Thương Bá ướp hương xưa là một liệu pháp điều trị chứng tâm bệnh thời đại nhiều thù hận, tham lam, tàn bạo này.
 
                                          ĐỖ TƯ NHƠN  
                               Thị Xã Quảng Trị, 14-4-2022 
*

Tài liệu tham khảo:
 
1. Thơ tình tứ tuyệt. NXB Đồng Nai.
2.Động Hoa Vàng (Phạm Thiên Thư). NXB VN 2006
3.Thơ văn xuôi (Kahlil Gibran). NXB.Đà Nẵng 1998
4.Tâm tình hiến dâng (R. Tagore). NXB. ĐN 1996.
5.Nguồn Thiền. NXB Tự điển bách khoa 2009
6. Thương nhớ Võ Thìn. NXB. HN 2016
7.Từ điển Danh từ Phật học thực dụng (Tâm Tuệ Hỷ)
NXB Tôn giáo. 2005

READ MORE - HÀNH TRÌNH THƠ TRẦN THƯƠNG BÁ, CHẶNG 3: “TẬP VÔ NGÔN KINH” – Đỗ Tư Nhơn

Wednesday, April 27, 2022

HÀNH TRÌNH THƠ TRẦN THƯƠNG BÁ 2 “LA POESIE CANDIDE, THƠ NGÂY NGÔ” – Đỗ Tư Nhơn


Nhà giáo - nhà thơ Trần Thương Bá
(1940- 2002)

Có thể nhận định rằng hành trình thơ Trần Thương Bá được thể hiện qua ba tập thơ, đánh dấu mốc thời gian chín muồi cho cảm hứng sáng tạo, từ đó câu chữ bắt đầu.
 
Tập thơ TÌNH HUẾ là chặng đầu của dàn hợp xướng, nhà thơ chọn thủ pháp, giọng điệu của chủ nghĩa lãng mạn. Qua đó nhằm biểu hiện “cái tôi trữ tình” rất đỗi yêu thương cảnh vật,  con người xứ Huế nên thơ, kiều diễm. Đồng thời trong phần cuối, tác giả đã tạc nên một tượng đài bằng ngôn ngữ thơ đầy xót xa thương tiếc ban đầu, sau đó đã hóa giải bằng cái nhìn đầy thăng hoa khiến cho hình tượng người vợ quá cố trở nên lung linh mầu nhiệm như thiên thần giữa thiên nhiên đất trời “Áo em mờ ảo màu hoa, Tóc em bay giữa bao la cõi trời”, và anh tin vào thuyết luân hồi của Phật Giáo “Anh biết rồi em sẽ trở về”.

Bước sang chặng thứ 2, được mở ra với tập thơ LA POE SIE CANDIDE - THƠ NGÂY NGÔ. Bằng những kiến thức văn học và triết học từ giảng đường Đại Học Văn Khoa Huế, thêm vào đó là khả năng tiếng Pháp nhuần nhuyễn, lần nầy anh chọn Pháp ngữ để diễn đạt những cảm xúc và suy tưởng về cuộc đời, hạnh phúc lẫn khổ đau, hư vô, cái chết, người nghệ sỹ chân chính… Anh rất may mắn có nhiều bằng hữu tri âm tri kỷ, nghe được tiếng rung ngân của tâm hồn anh, đọc thơ anh và thay nhau chuyển ngữ cho mọi người thưởng thức. Đó là các nhà thơ Cao Quảng Văn, Tô Kiều Ngân, Nguyên Hạo, Hồ Đắc Thiếu Anh, Song Nguyên, Tôn Nữ Cẩm Bàn, Tôn Nữ Thu Thủy, Trần Mỹ Hạnh, Trần Quang Châu, Phan Văn Lai, Mịch La Phong.
 
Có thể nói trong một chừng mực nào đó, THƠ NGÂY NGÔ là khúc xạ của ánh sang triết học phương Tây một thời đang lan tỏa sang phương Đông và toàn thế giới.
 
Trong lời tựa cho tập thơ anh đã bộc bạch:
“Ta có thể nhận thấy những bài thơ này gợi lên những tư tưởng của SHOPENHAUER. Nhưng thật ra ý định của nó là cống hiến một loại thơ gợi tưởng, ngây ngô, hay nói đúng hơn là một cách ‘sản ý’ theo cách của triết học SOCRATE”.
 
Bước chân vào thế giới THƠ NGÂY NGÔ của Trần Thương Bá, ấn tượng đầu tiên đến với người đọc, là khó nhận ra sự thống nhất của chủ thể trữ tình - nhà thơ. Tâm hồn anh như đã chứa đựng nhiều sắc thái tâm lí khác biệt, có khi tưởng chừng mâu thuẫn, đối lập nhau, theo cách nói của Xuân Diệu về sự chuyển biến nội tâm “Từ tôi phút trước sang tôi phút này”. Trong thơ anh luôn có sự hiện diện của hai sắc thái, hai tính cách. Mặt này là bi quan, chán chường, hư vô chủ nghĩa - mặt kia là niềm vui, lạc quan, yêu thương đồng loại. Cuộc đời vẫn như thế, có nhiều mảng sáng tối, trắng đen, thiên đàng, địa ngục tùy thuộc cảm nhận và suy nghĩ của mỗi người.
 
Nếu trước đây, qua tập TÌNH HUẾ, nhà thơ thiên về cảm xúc cho nên mạch trữ tình tuôn chảy khi hoài niệm về cảnh vật hay con người. Đến với tập THƠ NGÂY NGÔ, các hình ảnh mang tính biểu tượng chiếm ưu thế, đây là một thủ pháp nghệ thuật của trường phái TƯỢNG TRƯNG mà thi ca Pháp một thời ưa chuộng, với những tên tuổi chói sáng  cả vòm trời thi ca thế giới như BAUDELAIRE, RIMBAUD, APPOINAIRE, MALLARME, VERLAINE…
 
Hãy cùng nhau đi vào tác phẩm qua những dòng thơ được bạn bè chuyển ngữ sinh động:
 
- “Dòng sông đã bỏ chiếc cầu
Ta ôm ngày tháng về đâu một mình”
- “Chiếc cầu còn đó chơ vơ,
Ta còn lại chút dại khờ tình ta”
(CẦU VÀ DÒNG SÔNG – Mịch La Phong dịch)
 
Hay trong bài thơ DÒNG CHẢY do Cao Quảng Văn dịch:
 
“Buồn tênh con nước dưới cầu,
Loanh quanh nước chở về đâu nỗi niềm ?
Lặng nhìn ta giữa triền miên
Nước trong chôn kỷ niệm buồn tuổi thơ”
 
Hình ảnh “Chiếc cầu - Dòng sông” xuất hiện nhiều lần trong trong tác phẩm THƠ NGÂY NGÔ đã gợi lên cảm thức về sự trôi chảy, vô thường, sự mất mát tàn phai của vũ trụ nhiên giới lẫn nội giới nhân sinh.
 
Đó là những biểu tượng nghệ thuật chúng ta đã gặp trong CUNG OÁN NGÂM KHÚC của Nguyễn Gia Thiều với “Cầu thệ thủy ngồi trơ cổ độ, Quán thu phong đứng rũ tà huy” hay Guillaume Apollinaire với CẦU MIRABEAU “Dưới cầu Mirabeau trôi dòng sông Sein, Trôi cả tình yêu của anh và em”. Trong thơ ca Việt Nam hiện đại chúng ta đã gặp ở thi sĩ Hoài Khanh những dòng thơ đầy ấn tượng khó quên: “Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng, Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu” (NGỒI LẠI BÊN CẦU)
 
Những kỷ niệm về tuổi thơ, về tình yêu đã qua đi luôn để lại những điệp khúc buồn thương tiếc nuối trong lòng tác giả. Một ngày nào đó Trần Thương Bá tìm đến dòng sông để soi bóng mình, để tìm lại chút gì dấu  yêu để u hoài tự nhủ “Nước trong chôn kỷ niệm buồn tuổi thơ”  hay “Chiếc cầu còn đó chơ vơ, Ta còn lại chút dại khờ tình ta”. Tâm thức anh không thể thoát khỏi ‘Buồn tênh” khi chỉ còn ảo ảnh xa mờ của tàn phai. Trong phút chốc ấy anh được đánh thức bởi một tư tưởng triết học từ lâu đã nằm trong tâm khảm bổng hiện về chiếu sáng và giải thoát hồn anh, vì thế trong đoạn kết của bài thơ DÒNG CHẢY đã dẫn ở trên đã hiện ra hình ảnh mới lạ:
 
“Trôi đi, đến chốn xa mờ
Rồi mai kia lại trở về nguồn xưa”
 
“Về nguồn xưa”, mượn ý tưởng của triết gia người Đức nổi tiếng trong trào lưu triết học Hiện sinh về  “LUÂN HỒI VĨNH HẰNG”  F. NIIETZSCHE đã viết như sau: “Vạn vật mất đi, vạn vật lại trở về, bánh xe tồn tại mãi mãi tuần hoàn”
 
Sự thật quan niệm LUÂN HỒI có từ rất lâu, trước khi đạo Phật vận dụng đưa vào kinh sách và bài giảng, đã giúp mọi người ý thức để sống thiện lành, đi đến giải thoát. Với Trần Thương Bá, niềm tin vào LUÂN HỒI VĨNH HẰNG đã trấn an tâm hồn mình, thoát khỏi ám ảnh của hư vô, cảm giác tan rã, mất mát khiến con người bị khủng hoảng, tê liệt.
 
Nhiều bài thơ trong THƠ NGÂY NGÔ nói đến CÁI CHẾT như một ám ảnh không dứt, có thể do ảnh hưởng của câu nói “ CON NGƯỜI LÀ HỮU THỂ HƯỚNG ĐẾN CÁI CHẾT” của triết gia M. HEIDEGGER  một trong những nhà tư tưởng nổi tiếng của thế giới trong thế kỷ XX. Chính suy niệm về CÁI CHẾT mang màu sắc triết học hiện sinh, cho nên Trần Thương Bá đã viết:
 
“Cái chết đâu có gì huyền bí,
Không ai chỉ chết một lần”
 
Và: “Rằng được trò chuyện với hư vô / Là điều êm ái”
 
Hơn thế nữa anh còn ngợi ca CÁI CHẾT, trong bài thơ do Tô Kiều Ngân dịch:
 
“Anh muốn ngợi ca,
Ngợi ca cái chết.
Như từng ca ngợi tình yêu
Ngợi ca tình nồng nàn bằng nhiệt huyết
Và cái chết bằng lạnh lẽo giá băng”
 
- “ Để thấy rằng cái chết
Là liều thuốc đắng
- “Để chữa lành cuộc đời”
(NGỢI CA)
 
Hiểu được ý nghĩa của CÁI CHẾT, nhà thơ giúp chúng ta trạng thái an nhiên tĩnh lặng khi từ giã trần gian, để tiếp tục vòng LUÂN HỒI trong kiếp sau.
 
Ở trên lời tựa, tác giả đã nói đến tư tưởng của SHOPENHAUER, cho nên nên khi đọc những câu thơ nói về HẠNH PHÚC của Trần Thương Bá chúng ta không còn ngạc nhiên: tâm trạng bi quan, hoài nghi:
 
“Không có gì thực bằng nỗi khổ đau
Và phù du hơn hạnh phúc”
(MẤT MÁT do Trần Mỹ Hạnh dịch)
 
Trong bài thơ CÁI BÓNG HẠNH PHÚC do Tô Kiều Ngân dịch đã nói rõ cái nhìn của nhà thơ:
 
“Đợi chờ dù có thế nào,
Hiếm hoi hạnh phúc thấy đâu bây giờ ?
Thì ra hạnh phúc dối lừa,
Không bao giờ đến, đợi chờ uổng công”
 
Đúng như nhan đề bài thơ, hạnh phúc như chiếc bóng, ảo ảnh, không có thực giữa cuộc đời nầy, đó là sự lừa dối, phỉnh phờ
 
Nhưng khi nghĩ về TÌNH YÊU, nghĩ về EM bao giờ anh Trần Thương Bá cũng chân thành, khẩn thiết như một cái gì quý hiếm không thể thiếu vắng trên hành trình đi tìm hạnh phúc, có bài thơ anh bộc lộ nỗi lòng thầm kín:
 
“Em có bao giờ biết được,
Ta cần em nào có khác chi
Cỏ hoa kia cần đến mặt trời”
(CẦN EM – Tô Kiều Ngân dịch)
 
Và kết thúc bằng sự lo ngại xa cách, tàn phai: “Hẳn nhiên rồi, những điều ta sợ nhất/ Là có ngày em cũng sẽ mất đi. Khi hạnh phúc bắt đầu nẩy nở”
 
Không biết trải nghiệm của nhà thơ bao lâu trong TÌNH YÊU, từ  mật ngọt cho đến mật đắng trên đời như ca từ của Trịnh Công Sơn, cho đến khi anh tìm được lời giải đáp không mong muốn:
 
“Tình rao bán phố đông vui,
Hoa kia giữa chợ cho đời trao tay”
(TÌNH YÊU VÀ HOA - Trần Mỹ Hạnh dịch)
 
Bên cạnh những bài thơ mang sắc thái hoài nghi, bi quan chúng ta cũng gặp những dòng thơ ấm áp, lạc quan thể hiện tấm lòng rộng mở, yêu thương cuộc sống.
 
Bài thơ TIM NÀY DÂNG HIẾN được viết lên như một tuyên ngôn đầy nhân ái vị tha của một người đã trải qua nhiều xót đau trong kiếp nhân sinh:
 
“Khi còn sống trên đời,
Ta có một trái tim
Để sẵn sàng dâng hiến”
 (Tô Kiều Ngân dịch)
 
Hinh ảnh em bé nhặt rác liêu xiêu trong chiều, bông hoa sắp tàn, cánh chim giữa trời đều tạo nên mối xúc cảm nơi trái tim nhà thơ, khiến người đọc đồng cảm:
 
“Ta thấy lòng đau những buổi chiều,
Lặng nhìn em bé bóng xiêu xiêu
Còng lưng bao rác trên vai nhỏ”
(ĐỨA BÉ QUEN THÂN – Trần Mỹ Hạnh dịch )
 
Và: 
“Ta nào muốn bỏ đi,
Mà không nói một điều chi
Với hoa sắp tàn buồn bã”
(CÁNH HOA MUỘN do Tôn Nữ Thu Thủy dịch)
 
- “Cánh chim nào bay đi…
-  Chạm vào ta rất khẽ
-  Ta tỉnh giấc muộn phiền”
(CÁNH CHIM do Cao Quảng Văn dịch)
 
- Vẫn trong từ trường của tư tưởng “THẾ GIỚI LÀ CỦA Ý CHÍ VÀ CỦA BIỂU TƯỢNG “ của Schopenauer, nhà thơ Trần Thương Bá đã xây dựng hình tượng ‘NGƯỜI TÙ KHỔ SAI’ để khái quát thân phận và tâm hồn của NGƯỜI NGHỆ SỸ CHÂN CHÍNH:
 
- “Người là tên tù khổ sai/Suốt một đời cực nhọc / Đôi khin hắn ca hát / Trong nhà tù giam hảm/ Có tên là cuộc đời / Nhưng bên trong lòng hắn / Luôn sống dậy tình yêu, Tình yêu thế giới nầy”
( KẺ KHỔ SAI do Tô Kiều Ngân dịch)
 
- Tình yêu thế giới này, tình yêu đồng loại là điều nhà thơ Trần Thương Bá hằng trăn trở, nâng niu, cho nên trong phần cuối của LỜI TỰA tác giả đã viết với tất cả sự thành khẩn thiết tha như một trang KINH THÁNH:
 
- “Sở hữu chính đáng duy nhất của nhân loại là TÌNH YÊU - ĐỒNG - LOẠI.
- Mong sao chúng ta có thể giữ gìn trân trọng vật sở hữu này như một gia tài ta
- Được hưởng không bao giờ cạn, THƠ NGÂY NGÔ sẽ giúp chúng ta”.
 
-  Đến đây HÀNH TRÌNH THƠ Trần Thương Bá đã đi được hai chặng đường với những chuyển biến trong thủ pháp nghệ thuật và nội dung biểu đạt, từ thi pháp của Chủ nghĩa Lãng Mạn sang Tượng Trưng. Tập THƠ NGÂY NGÔ mang tư tưởng triết học phương Tây và chủ thể trữ tình không còn nguyên mẫu, đã nhập vai con người xã hội nhằm trình bày những suy tưởng về tình yêu, hạnh phúc, cái chết, vô thường...
- Dù có những khác biệt về nội dung và nghệ thuật, chúng ta vẫn cảm nhận được hồn thơ đa cảm, nhân ái bên cạnh những nghĩ suy sâu lắng gợi cho người đọc những vấn đề liên quan đến cuộc sống đa dạng và phức tạp.
-  Hành trình thơ TRẦN THƯƠNG BÁ chặng thứ hai với tập THƠ NGÂY NGÔ tạm thời kết thúc ở đây.
- Chặng thứ ba với TẬP VÔ NGÔN KINH sẽ giới thiệu 54 đoản khúc Lục Bát Tứ Tuyệt với nhiều cách tân trong diễn đạt và hướng về tư tưởng triết học phương Đông.
 
ĐỖ TƯ NHƠN
 
*
 
CHÚ THÍCH:
 
1/ SOCRATE triết gia cổ đại HY LẠP (sinh 470 BC, mất 399 BC)
2 / SCHOPENHAUER triết gia ĐỨC (-1788-1890) Tác phẩm “THẾ GIỚI LÀ CỦA Ý CHÍ VÀ BIỂU TƯỢNG”
3/ F. NIETZSCHE  triết gia ĐỨC (1844 -1900 ) Tác phẩm “ZARATHUSTRA ĐÃ NÓI NHƯ THẾ”
4/ M. HIEDEGGER triết gia ĐỨC (1889 - 1976) Tác phẩm “HỮU THỂ VÀ THỜI GIAN”

READ MORE - HÀNH TRÌNH THƠ TRẦN THƯƠNG BÁ 2 “LA POESIE CANDIDE, THƠ NGÂY NGÔ” – Đỗ Tư Nhơn