Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, May 6, 2020

CHÍCH TIÊN, CHIA LY, CỔ ĐIỂN, GIANG ĐẦU, NHAI LẪN NHAU - Thơ Chu Vương Miện





CHÍCH TIÊN

nằm bẹp trên gác xép
kể như đơì tàn trong ngõ hẹp
nghĩ tới nghĩ lui
thân thế chả còn gì ?
thôi đành chỉ còn chích với choác
tay trái muá kim tiêm
tuyết mãn hoa vũ
thuốc đen nướng trên ngọc đèn
dầu phụng
hương thơm toả khói thần tiên
y như Triệu Tử Long múa gưom
thân xác trần nằm nghiêng
kéo 1 hơi
ồ vũ trụ quay cuồng
ờ mây và say
thế giới đảo và diên
1 mình ta
Ôm trọn bộ bàn đèn
gắng sống để mà quên
cõi hồng trần


CHIA LY

Em 1 đầu
Anh 1 đầu
2 phía cùng khiêng
Em đi trước
Anh đi sau
Tình yêu nằm phủ mặt trên cáng
chết ngắc từ lâu
không vòng hoa tang
không kèn trống
2 người âm thầm khiêng
đến nghĩa trang
tình yêu vĩnh viễn nằm đó
muôn đời
không cần chia tay
từ giã
đường ai nấy đi ?


CỔ ĐIỂN

Lạc rang rượu đế đời đạm bạc
thơ thần thơ thánh thác là ma
1 thời lêu lổng trà với rựou
Loanh quanh tri kỹ với tú bà

Xưa nay thì cũng chỉ 1 tuồng
Củi châu gạo quế rách luôn luôn
Thơ văn chửi đổng chừng cũng nhảm
Ngậm miệng im hơi sợ quá buồn ?

Thơ dzăng sao giống ruồi muỗi kêu
Trên không văng vẳng tiếng con diều
Anh nào đợi chết thì cứ chết ?
Bến đò con đó tiếng quạ kêu


GIANG ĐẦU

ngồi không ở bến nước giang đầu
con lạch dẫn vào vùng Tô Châu
Hàn San cổ tự Phong Kiều Trấn
Hàng phong thu nhuộm đỏ 1 mầu
 1 con thuyền nho neo nơi bến
lửa chài le lói giữa đêm thâu
hồi chuông thong thả rơi từng tiếng
sóng vỗ nghe buồn mé thuyền câu
giấc mơ hồ điệp còn đâu đó
sầu miên không rõ ở phương nào ?


NHAI LẪN NHAU

Con ếch nhai con nhái
Con nhái đớp con lòng tong
Con mèo nhai con chuột
Con chuột nhai hũ gạo
Tự Đức nhai trọn gói Cao Bá Quát
Con chó nhai cục xương
Con nai sống chờ ngày dể cho con cọp nhai
Nguyễn Huệ nhai Nguyễn Hữu Chình
Minh Mạng xơi tái Lê Văn Duyệt
“Hồng Hồng Tuyết Tuyết
mới ngày nào chả biết cái chi chi ?
15 năm thấm thoát có ra gì ?”  *
Nhai đuợc ai thì nhai ráo nạo
kẻ bay đầu kẻ thì rạc gáo
anh Việt Nam nuốt chửng anh Lèo và anh Campuchia
anh Hoa Lục nhai xương anh Tây Tạng
anh 3 Tàu vẽ hình lưỡi bò
nuốt trọn biển đông
đô hộ luôn Ố Nàm
ôi chí mà phù
ôi lạc chiú chương
ôi lạp xường lồ mái phàn
ôi dào cháo quẩy
ôi phá xa phùn xẩy
hầy à ? hẩu lớ ? hẩu xực ?
màn ổn thai thai
sè sè tố chề
nước lớn nhai nưóc nhỏ
cứ vậy và dài dài

Chu Vương Miện

....

* Thơ Dương Khuê

READ MORE - CHÍCH TIÊN, CHIA LY, CỔ ĐIỂN, GIANG ĐẦU, NHAI LẪN NHAU - Thơ Chu Vương Miện

BỤI DUỐI SAU VƯỜN | VẦNG TRĂNG MÙA HẠ - Thơ Trần Đức Phổ



Bụi Duối Sau Vườn
(Kính tặng Mẹ hiền nhân mùa Vu lan 2018)

Bụi duối cao, dày nhất của thôn
(Có từ cái thuở chửa sinh con)
Là nơi chứng kiến lời hò hẹn
Tình của mẹ cha ước nguyện tròn

Màu lá biếc xanh tưởng vĩnh hằng
Đâu ngờ giông tố cuốn trôi phăng
Chiến tranh ly tán còn chi nữa
Cây đổ, người đi cảnh bẽ bàng

Mẹ đã cần lao suốt cuộc đời
Nuôi đàn con dại sớm mồ côi
Vườn xưa bụi duối đâm chồi biếc
Mạnh mẽ vươn lên một khoảnh trời

Những sớm tinh mơ nhuộm nắng hồng
Bế cho con hái quả vàng ong
Bao mùa trái ngọt con mơ ước
Là bấy già nua mẹ chất chồng

Xứ người mãi nhớ chuyện ngày thơ
(Kỷ niệm nào ai dễ xóa mờ)
Mong mỏi ngày nao về gặp Mẹ
Dâng Người chum duối chín vàng mơ!


Vầng Trăng Mùa Hạ

Em có thấy chăng nét diệu kỳ
Của vầng trăng Hạ rất uy nghi?
Trên bầu trời vắng đêm huyền ảo
Soi sáng cõi trần chẳng biến suy!

Ánh trăng kỳ bí tỏa mênh mông
Lóng lánh vàng rơi tận đáy lòng
Như nụ cười em ngày tao ngộ
Rạng ngời hạnh phúc, thỏa chờ mong!

Một vầng trăng Hạ tít trên cao
Như trái tình yêu chín thuở nào
Hai đứa lặng nhìn không nở hái
Ngàn đời trăng ý chẳng hư hao.

Trăng Hạ khắc ghi những mộng tình
Những lần hò hẹn của em - anh
Bây giờ mỗi đứa đời đôi ngã
Trăng Hạ gieo neo tận cuối ghành!





tranducpho
READ MORE - BỤI DUỐI SAU VƯỜN | VẦNG TRĂNG MÙA HẠ - Thơ Trần Đức Phổ

Tuesday, May 5, 2020

HOA HỒNG XANH VÀ LÁ DIÊU BÔNG - Nguyên Lạc




HOA HỒNG XANH VÀ LÁ DIÊU BÔNG
                                                   Nguyên Lạc

BÀI THƠ BLUE ROSES - HOA HỒNG XANH

Hoa Hồng Xanh - Blue Roses là bài thơ của Rudyard Kipling, một văn thi sĩ người Anh.

I. Vài Hàng Tiểu Sử Rudyard Kipling
     Joseph Rudyard Kipling (sinh tại Mumbai, Ấn Độ 30 tháng 12, 1865 – qua đời 18 tháng 1, 1936)  là một trong những tác giả nổi tiếng nhất ở Vương quốc Anh, cả về văn xuôi và thơ, vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Rudyard Kipling đoạt giải Nobel Văn học năm 1907 - ông được trao giải Nobel khi mới 42 tuổi – là người trẻ tuổi nhất trong lịch sử giải Nobel Văn học.
Các tác phẩm tiêu biểu:
- Plain Tales from the Hills (Truyện kể núi đồi, 1887)
- The Jungle Book (Sách Rừng xanh, 1894), tập truyện - dựng thành phim
- The Five Nations (Năm dân tộc, 1903), thơ
- If (Nếu, 1910), thơ - Cuối thế kỷ XX, đài BBC đã đề nghị thính giả chọn những bài thơ hay nhất của các nhà thơ Anh, bài thơ này được chọn nhiều nhất.
- Đặc biệt bài thơ Blue Roses được rất nhiều người biết đến và thích. Có người cho nó thuộc về thơ "Siêu thực".  [..."Chủ nghĩa/Trường phái Siêu thực (Surrealism) là khuynh hướng nghệ thuật bắt nguồn từ chủ nghĩa Tượng trưng và Phân tâm học, đặt phi lý tính lên trên lý tính. Chủ trương, khuynh hướng trường phái nầy nhằm giúp con người thoát ra khỏi mọi xiềng xích xã hội. Chủ nghĩa siêu thực cố gắng diễn tả tiềm thức bằng cách trình bày các vật thể và sự việc như được thấy trong những giấc mơ"...] (Nguồn Wikipedia)

II. Bài thơ  Blue Roses

   Xin giới thiệu đến các bạn bài thơ Blue Roses, theo tôi đầy cảm xúc, đánh động lòng người.

Nguyên tác:
Blue Roses
By Rudyard Kipling

Roses red and roses white
Plucked I for my love's delight.
She would none of all my posies--
Bade me gather her blue roses.

Half the world I wandered through,
Seeking where such flowers grew.
Half the world unto my quest
Answered me with laugh and jest.

Home I came at wintertide,
But my silly love had died,
Seeking with her latest breath
Roses from the arms of Death.

It may be beyond the grave
She shall find what she would have.
Mine was but an idle quest--
Roses white and red are best

III. Ý nghĩa của hoa hồng xanh

     Hoa hồng xanh tượng trưng cho những điều không thể thành hiện thực, hoặc không thể đạt được. Bởi hoa hồng xanh rất hiếm trong tự nhiên, nên nó đại diện cho điều gì đó hầu như không nằm trong tầm tay của con người, một giấc mơ không thể thực hiện.

IV. Dịch Thơ Blue Roses

    Có nhiều người dịch bài thơ Blue Roses, sau đây là các bài dịch tiêu biểu:

1. Nguyễn Viết Thắng dịch:

Hoa hồng xanh

Tôi mang đến tặng em
Hoa hồng đỏ và trắng.
Không hiểu sao em bỗng
Nói em thích hồng xanh.

Tôi đi khắp thế gian
Tìm thứ hoa như vậy.
Nhưng người ta cười nói:
“Chẳng có ở trên trần”.

Tôi trở về mùa đông
Em của tôi đã chết
Em có còn nhận biết
Hoa từ tay Tử thần.

Biết đâu nơi suối vàng
Có loài hoa ao ước.
Chẳng có hoa nào đẹp
Bằng hoa cõi trần gian.

2. Trần Đức Phổ dịch:

Bông Hồng Xanh
.
Hoa hồng đỏ, hoa hồng trắng
Tôi hái trao tặng người thương
Vô tình nàng chê chẳng nhận
Đòi màu xanh biếc hoa hường!

Lang thang nửa vòng trái đất
Chẳng đâu mọc thứ hoa này
Hỏi tìm nửa vòng trái đất
Chỉ toàn cười mỉa, chua cay

Trở về trong mùa đông lạnh
Người yêu thơ dại qua đời
Nhìn nàng trút hơi thở cuối,
Tử thần cướp đóa hồng tôi!

Có lẽ bên kia thế giới
Nàng tìm thấy được niềm vui
Riêng tôi chân tình chẳng đổi
Hồng đỏ. hồng trắng tuyệt vời!

3. Nguyên Lạc phóng dịch

a. Vài ý riêng về dịch thơ nước ngoài:

Trước khi phóng dịch bài thơ, tôi xin ghi ra đây vài ý chủ quan:
- Dịch thơ từ tiếng nước ngoài, nhất là tiếng đa âm - các  nước phương Tây, ra tiếng đơn âm - tiếng Việt; hoặc ngược lại, là một điều rất khó. Coi chừng "dịch là diệt". Dịch chính xác từng mặt chữ - giống như các dịch giả chuyên nghiệp, thì bài thơ sẽ không mượt mà. Theo tôi, thi nhân chỉ cần nắm bắt được "hồn thơ", dịch theo ngôn ngữ riêng của mình - với điều kiện đừng quá xa rời nguyên bản - thì bài thơ dịch sẽ mượt mà hơn.
- Tiêu biểu viêc nắm vững "hồn thơ" rồi dịch rẩt tài hoa là trường hợp Phan Huy Vịnh, dịch câu thơ chữ Hán của Bạch Cư Dị ra tiếng thuần Việt mà nhiều người cho là còn hay hơn câu nguyên tác:
Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân => Cùng một lứa bên trời lận đận
- Với những điều nói trên, tôi sẽ  không dịch chính xác theo mặt chữ một vài từ/ chữ, chỉ dịch thoát chúng theo ý/tứ câu/bài thơ.
   Thí dụ: "The grave" không dịch là "mộ phần", "nghĩa địa", "chết" ... mà dịch là "cõi khác". Tương tợ, "Half the world" tôi không dịch là "nửa vòng trái đất", mà dịch là "khắp cùng trái đất", "khắp cùng thiên hạ" cho mạnh nghĩa, vân vân...

b. Phóng dịch bài thơ:
     Tôi sẽ cố gắng nắm "hồn thơ",  theo sát nguyên tác để dịch bài thơ Blue Roses . Chủ quan, trong công việc dịch thuật văn thơ nước ngoài, ai cũng tham khảo các người dịch trước, tôi cũng không ngoại lệ.
     Đúng ra bài thơ này có nhiều người dịch rồi, tôi không nên dịch; nhưng vì đồng ý với nhiều người cho rằng nó thuộc về thơ "Siêu thực", và giống như bài thơ Việt Nam nhiều người yêu thích- đã được các nhạc sĩ tài hoa phổ nhạc : Lá Diêu Bông của thi sĩ Hoàng Cầm - nên tôi dịch lại.
     Bài thơ hầu như là loại thơ 6 chữ, do đó theo chủ quan tôi, dịch thơ theo loại 5 chữ thì thiếu chữ, không diễn tả hết ý nguyên bản; còn dịch bằng 6/8, 7 hoặc 8 chữ ... thì dư chữ và khó khăn. Tôi sẽ phóng dịch bằng thơ 6 chữ như thi sĩ Trần Đức Phổ.
Đây là bài phóng dịch thơ của tôi:

HOA HỒNG XANH

Hoa hồng trắng hoa hồng đỏ
Hái tặng làm vui tình nhân
Không phải màu hoa mong muốn
Nàng đòi xanh biển hoa hồng!

Lang thang khắp cùng trái đất
Tìm đâu được thứ hoa này
Hỏi tìm khắp cùng thiên hạ
Nhận toàn giễu cợt mỉa mai

Về đúng ngay lúc mùa đông
Ngây thơ yêu đang hấp hối
Tìm nàng thở hơi thở cuối
Hoa hồng trong tay Tử thần!

Có lẽ bên kia cõi khác
Nàng sẽ tìm được hồng xanh
Riêng tôi tấm lòng không khác
Trắng đỏ tuyệt nhất luôn dành

BÀI THƠ LÁ DIÊU BÔNG

     Lá Diêu Bông là bài thơ của Hoàng Cầm, thi sĩ người Việt. Bài thơ Blue Roses - Hoa Hồng Xanh khiến ta liên tưởng đến bài thơ Lá Diêu Bông của thi sĩ Hoàng Cầm, vì cả hai đều nói đến sự truy tìm những điều không thể thành hiện thực.
     Bài thơ Lá Diêu Bông viết về một câu chuyện có thật, câu chuyện về mối tình đầu tiên trong đời Hoàng Cầm với người con gái lớn tuối, đáng chị mình.

1. Tiểu sử Hoàng Cầm
     Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh năm 1921 (một bài báo ở Saigon gần đây cho biết ông sinh vào năm 1922) tại Làng Lạc Thổ, Huyện Lang Tài, Phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh trong một gia đình Nho Giáo. Hoàng Cầm học Tiểu Học tại Bắc Giang rồi lên Hà Nội học Trung Học và đậu Tú Tài II Pháp. Khi còn đang học lớp Ðệ Tứ, Hoàng Cầm phóng tác cuốn Graziella của Lamartine thành chuyện Việt Nam với tên Hận Ngày Xanh. Tiểu thuyết đầu tay của Hoàng Cầm là Thoi Mộng, viết vào năm 1943. Trở về Bắc Giang, dạy học tại trường La Clarté, Hoàng Cầm vẫn viết văn, làm thơ để gửi đăng trên các báo Tiểu Thuyết Thứ Năm, Tiểu Thuyết Thứ Bẩy. Anh là người dịch truyện Ba Tư Một Ngàn Ðêm Lẻ ra Việt ngữ... [Hoàng Cầm Trong Tôi - Phạm Duy]

2. Nguyên văn bài thơ

Lá Diêu Bông

Đứa nào/ tìm được lá diêu bông
Từ nay ta gọi là chồng.
Mùa Đông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu/Trông nắng vãn bên sông
Ngày cưới chị/ Em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim
Chị ba con/ Em tìm thấy lá
Xoè tay phủ mặt chị không nhìn.
Từ thuở ấy/ Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể/ Gió quê vi vút gọị
Diêu bông hời … ới Diêu bông!”.
 (Hoàng Cầm)

3. Phổ nhạc bài thơ Lá Diêu Bông
- Năm 1984 bài thơ Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhac, cùng tên. Nội dung bài thơ được giữ nguyên, Phạm Duy chỉ thêm vào hai câu lục bát ở cuối bài:

Em đi trăm núi nghìn sông
Nào tìm thấy lá diêu bông bao giờ?

- Ngoài ra, khoảng năm 1990, nhạc sĩ Trần Tiến phổ lại nhạc với lời mới cho bài thơ này, bài hát mang âm hưởng dân ca Bắc bộ, lấy tên là "Sao em nỡ vội lấy chồng".

Trích lời bài hát "Sao em nỡ vội lấy chồng" - Trần Tiến :

Bướm vàng đã đậu trái mù u rồi
Lấy chồng sớm làm gì, để lời ru thêm buồn
Ru em thời thiếu nữ xa xôi
Còn đâu bao đêm trăng thanh
Tát gàu sòng, vui bên anh
Ru em thời con gái kiêu sa
Em đố ai tìm được lá diêu bông
Em xin lấy làm chồng
. . .
Thương em tôi tìm được lá diêu bông
Sao em nỡ vội lấy chồng
Diêu bông hỡi diêu bông
Sao em nỡ vội lấy chồng!

4. Về lá diêu bông: 
     Lá diêu bông là lá gì ?
- Lá diêu bông (lá bông diêu thì đúng hơn) là thứ lá đặc biệt ở làng Ðình Bảng, Bắc Ninh, phụ nữ thời xưa thường vắt ra nước rồi bôi lên mặt cho da dẻ được hồng hào tươi đẹp - theo Phạm Duy
- Lá diêu bông được nhà thơ Hoàng Cầm giải thích rằng đó là lá của hoa phiêu diêu, hoa trong mộng tưởng. Tình yêu luôn đẹp và phiêu diêu như vậy.

***
     Theo chủ quan của tác giả bài viết thì cả hai bài thơ đều hay, đầy cảm xúc. Vấn đề được nêu ra ở đây là:
     - Những điều bản thân mình mong muốn mà "không thể trở thành hiện thực", khi người mình thương yêu "vẫn hiện hữu" và người mình thương yêu đã bị "Thần Chết cướp đi", cái nào thảm hơn cái nào?

Nguyên Lạc 
...................
Mời nghe:
- Lá Diêu Bông (Thơ Hoàng Cầm, nhạc Phạm Duy - Ý Lan hát)
- Sao Em Nỡ Vội Lấy Chồng  (Nhạc Trần Tiến - ca sĩ Tố My)

READ MORE - HOA HỒNG XANH VÀ LÁ DIÊU BÔNG - Nguyên Lạc