TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
Chúc Mừng Năm Mới
Monday, November 4, 2019
Sunday, November 3, 2019
LỜI MẸ RU - Thơ Phạm Văn Bình
Phạm
Văn Bình (1940 - 2018), tác giả có 2 bài thơ “Chuyện tình buồn” và “12 tháng
anh đi” nổi tiếng được Phạm Duy phổ nhạc, còn nhiều thi phẩm khác tản mác trong
báo chí trước năm 1975.
Nhà thơ Phạm Văn Bình
Vừa
rồi, tôi ngồi nói chuyện với một người bà con nguyên là học trò của Phạm Văn
Bình trong thời gian Phạm Văn Bình dạy ở trường trung học Bán Công Đông Hà
(1963 - 1966).
Người
học trò này đọc thuộc lòng cho tôi nghe bài thơ sau đây do Phạm Văn Bình sáng
tác.
Tôi
muốn đưa bài thơ lên đây xem như một hình thức lưu giữ và mời bạn đọc thưởng thức.
Hoàng Đằng

LỜI
MẸ RU
Khúc hát đó dẫn con vào
thơ ấu,
Lời Mẹ ru mềm nhịp võng
thời gian,
Những đêm nao như chớp bể
mưa nguồn,
Tiếng hát Mẹ ngọt ngào
như dòng sữa,
Con đau ốm Mẹ thuốc thang
từng bữa,
Con ngủ say Mẹ ôm ấp từng
đêm,
Mẹ nguyện cầu khi con Mẹ
lớn lên,
Đời đẹp như bài ca dao kể
chuyện tình đôi lứa
Và quê hương khổ đau và
Việt Nam khói lửa,
Việt Nam hận thù, dân tộc
điêu linh,
Hai mươi mấy năm nay
xương máu chất chồng.
Nhịp mõ cầu siêu vọng về
bi thảm.
Niềm tủi nhục trùm lên từng
thân phận.
Cuộc sống bơ vơ vì thiếu
tình người.
Khuôn mặt héo hon nào thấy
nụ cười.
Kiếp sống lưu đày như
loài rêu xanh vật vờ ngoài biển đảo.
Con thất thểu bước đi như
tê giác đấu
Chung quanh con bầy sư tử
nhe răng,
Đấu trường là cuộc đời hừng
hực lửa hờn căm.
Con khao khát ánh trăng rằm
dịu mát.
Mẹ ơi Mẹ phải chăng quả đất
này là sa mạc
Và con người lữ hành cô độc
Của cuộc hành trình dằng
dặc một trăm năm.
Bài ca dao ngày xưa xin Mẹ
hát giùm con,
Xin Mẹ mớm vào hồn con bầu
sữa ngọt,
Lời phủ dụ êm như dòng mật
rót
Như nước cam lồ như suối
tình thương
Mười ngón tay sầu xin Mẹ
hãy biến cành dương
Tưới nhân ái lên Việt Nam
đau khổ
Cho đất nước bình an, hận
thù sụp đổ.
Mùa xuân diễm kiều trong
ánh mắt em thơ.
Mẹ cho con gục đầu vào
lòng Mẹ như ngày xưa
Trong khúc hát ru hời,
nôi đưa đẩy nhịp.
Những ngày xuân, những
ngày xuân nối tiếp,
Nước sông Hồng không nhỏ
lệ thương đau,
Nước sông Hương thôi chứa
chất u sầu,
Nước sông Cửu Long ruộng
đồng bát ngát.
Lời ru Mẹ sẽ thành ghềnh
thành thác
Cuốn đau thương ra khỏi tổ
quốc Việt Nam.
Con nằm gối đầu lên ải
Nam Quan,
Chân gác nhẹ xuống Cà Mâu
thân mến,
Tay ôm dãy Trường Sơn,
tay lùa trong sóng biển.
Mẹ nhìn con, ôi trìu mến
nụ cười.
Hoa tự do nhân ái nở khắp
trời
Phạm Văn Bình
TẢN MẠN ĐỒ SƠN - Thơ Nguyễn Đại Duẫn
TẢN MẠN ĐỒ SƠN
Nguyễn Đại Duẫn
Gặp nhau trên thành phố cảng
Rì rào sóng vỗ triều lên
Thu còn thắm hoa phượng đỏ
Đồ Sơn cứ mãi làm duyên
Rì rào sóng vỗ triều lên
Thu còn thắm hoa phượng đỏ
Đồ Sơn cứ mãi làm duyên
Những mái đầu xanh đầu bạc
Chạm vào kí ức Trường Sơn
Chiến tranh ai còn ai mất
Tình duyên năm tháng đi tìm
Chạm vào kí ức Trường Sơn
Chiến tranh ai còn ai mất
Tình duyên năm tháng đi tìm
Đồng đội quây quần bên nhau
Chén nồng ấm tình bè bạn
Đồ Sơn chiều thu tản mạn
Nụ cười thắm lại Trường Sơn
Chén nồng ấm tình bè bạn
Đồ Sơn chiều thu tản mạn
Nụ cười thắm lại Trường Sơn
Trại viết Đồ Sơn, ngày 4/10/2019
N.Đ.D
Quảng Bình
BÊN KIA BỜ THƯƠNG NHỚ - Thơ Thủy Điền

BÊN KIA BỜ THƯƠNG NHỚ
Con thuyền tình đưa em về bến hạ
Chân bước đi, nhưng dạ cứ bồi hồi
Xa nhau rồi, mỗi kẻ sẽ mỗi nơ
Cây cầu nhịp cách ngăn tình đôi lứa
Gió lơ lửng, hoa phượng hồng ngưng tủa
Nước im lìm thôi chảy, mặc sông Hương
Quảng trị ơi! Bao câu nhớ, đợi thương
Em cất giữ trong... hồn sang xứ Cố... ... !
Chiều lặng lẽ, đứng nhìn về Cam lộ
Xa Hải lăng, Hướng hoá mút Triệu Phong
Thương nhớ ai lòng quặn thắt cả lòn
Quê hương đó mà người xa biền biệt
Gio Linh hỡi, Vĩnh Liêm hè có tiếc
Một bóng hình con gái dãi... nắng mưa
Gió lào về rát mặt giữa nắng trư
Tay gạt trán, khăn quàng che phủ tóc.
Thủy
Điền
03-11-2019
ĐÊM CUỐI THU SE LẠNH - Thơ Phạm Hòa Việt
ĐÊM CUỐI THU SE LẠNH
Phạm Hòa Việt
Chúng tôi ngồi tĩnh lặng
Cỏ ướt lạnh bờ mương
Đêm cuối thu se lạnh
Đất trời bồng bềnh sương
Từ cánh đồng cách biệt
Lấp lánh muôn nghìn sao
Giữa không gian tinh khiết
Thơm thơm mùi hoa đào...
Chúng tôi ngồi tĩnh lặng
Run run tay trong tay
Im nghe thời xa vắng
Đôi lòng như ngất ngây...
P.H.V.
&&&
Cùng tác giả:
TÌM TRONG KỶ NIỆM, thơ&&&
Cùng tác giả:
Saturday, November 2, 2019
ĐỢI TRĂNG Ở BÌNH AN | CHIỀU HÒA THẮNG TRONG MÙA MỚI | HỒI ÂM - Chùm thơ Lê Thanh Hùng
Đợi trăng ở Bình An
Mây tứ xứ ngang đồi vọng tưởng
Nhạc hoài mong khuất lấp lối mòn
Hoa chín nẫu bờ trăng độ lượng
Tiếng gió rung đổ hột phách giòn
*
Anh chợt nhớ một vầng trăng muộn
Lửng lơ treo, tuổi mộng trên đầu
Cuộc sống, chưa hề so sánh xuống
Những phận đời, buông thả chạm sâu
*
Nét rêu phong vẽ mầu cổ tích
Một góc nhìn, lưu cửu trầm kha
Như đóng váng không gian tĩnh mịch
Tiếc ngày xao động, bứt tầm xa ...
*
Trên đường vắng, trăng nghiêng lặng lẽ
Tiếng rì rầm đất vỡ phơi đêm
Hoa trái vụ, gượng rung nhè nhẹ
Ướp sương đêm thấm đẫm quanh thềm
*
Em trẻ trung, hiên thưa lộng gió
Đợi trăng tràn gối mộng khuya êm
Lung linh sáng căn phòng để ngỏ
Vẫn còn nguyên, ký ức ngọt mềm ...
L.T.H.
*
Chiều Hòa Thắng trong mùa mới
Trúc trắc cười, trong đôi mắt
Buồn vui, tiếng dế lạc mùa
Dốc nắng bung chiều thưa nhặt
Bên đồi tím thẩm hoa mua
*
Làng em ngày mùa tất bật
Nồng nàn cây trái trĩu cành
Đậu phọng vàng hoa ngây ngất
Ngút ngàn tầm mắt, triền xanh
*
Xa rồi, nghiêng đồi nắng chảy
Dập dờn cỏ lượn chân mây
Mùa đi chập chờn đứt gãy
Đồi hoang ào ạt cát bay
*
Đói no, chạy ăn từng bữa
Lao xao gió quẩn quanh làng
Buông trôi tháng năm lần lựa
Cát vàng trãi nắng mênh mang ...
*
Đồng xa, máy reo rộn rã
Chiều trong treo tiếng em cười
Day ngang, tưởng người xa lạ
Bỗng dưng, hồng má thắm tươi.
L.T.H.
*
Hồi âm
Đêm nghiệt ngã
Thả tờ giấy trắng
Cuốn hồn em
Đẫm mộng
Nguyên sơ
Trong sâu thẳm
Không gian tĩnh lặng
Chấm xuống
Vô tình
Treo ngẩn ngơ
Lê Thanh Hùng
Bắc Bình, Bình Thuận
VẾT THỜI GIAN - Thơ Mặc Phương Tử
VẾT THỜI GIAN
Mặc Phương Tử
Thời gian chở mộng lưu đày
Nhưng không chở nỗi một vài ước mơ.
Tóc xanh lộng gió sông hồ
Nhưng không kín lối qua bờ tử sinh.
Tung hô cho phỉ sức mình
Mai về còn lại cuộc tình lãng du
Áo vai bạc phếch bao giờ
Mà nghe giọt lệ cay từ ngàn năm!
Áo sờn đổ bóng chiều xuân
Vai nghiêng sợi nắng, vết trầm luân qua
Dở dang một bước quan hà
Đã đành thôi, giọt lệ pha ân tình.
Đã đành lối mộng nhân sinh
Trót cho một cuộc phiêu linh tận cùng.
Nỗi sầu
Tuy có riêng chung,
Niềm đau đáu
Vẫn nghe chừng bên nhau.
Từ ngàn xưa,
Đến ngàn sau
Kiếp người một gánh đời trao lại đời.
Hỏi gì trên bước ngược xuôi,
Tháng ngày còn lại bên trời dư âm!
M.P.T.
ĐÂU KÊNH LÀNG TÔI - Võ Văn Cẩm
ĐÂU
KÊNH LÀNG TÔI
Võ Văn Cẩm
Tôi rất vui được xem và nghe phóng sự của Đài Phát thanh
và truyền hình Quảng Trị về “Nét đẹp làng quê” giới thiệu Làng Đâu Kênh của
tôi.
Tôi sinh ra và lớn lên tại mảnh đất này. Những ngày
tháng ấu thơ tôi có nhiều kỷ niệm. Gia đình thuộc loại nghèo khó, tuổi thơ tôi
cũng như bao đứa trẻ khác đều gặp khó khăn trong việc cắp sách đến trường.
Không những làng tôi mà cả cái tỉnh nghèo khó này cũng thế.
Cả gia đình tôi chỉ có mấy sào đất trong vườn, ba mẹ
tôi phải đi làm nghề mướn nhiều nơi, anh em chúng tôi phải ra nương nhờ bên ngoại
tại làng Thượng Nghĩa bên nách thị xã Đông Hà. Vì vậy khi thi rớt Đệ thất Trung
học Nguyễn Hoàng (một ngôi trường Trung học
đệ nhất cấp Công lập độc nhất của tỉnh Quảng Trị.) nên tôi vào lớp đầu tiên
của trường Trung học Bán công Đông Hà. Nhưng cũng chỉ vài tháng đành phải bỏ vì
không có tiền đóng học phí. “Nhất nghệ
tinh, nhất thân vinh”. Tôi quyết rẻ qua con đường học nghề. Nếu như không
có ý tiến thủ, chắc tôi đã là một thợ may chính hiệu rồi.
Ngồi trong tiệm may của cậu, buổi sáng hay chiều, nhìn
ra đường thấy bạn đồng lứa cắp sách đến trường mà lòng mình se lại. Cứ nghĩ về
tương lai mà lòng quặn thắt, cứ nghĩ bao đời nghèo khó vì thiếu học mà đau
nhói, cái gương của quý Cụ trong làng cho tôi bài học vô giá ấy. Chỉ có cái học
mới vượt được nghèo khó và chỉ có cái học mới là chìa khóa vạn năng mở các kho
tàng khoa học. Nghề may không còn là hấp lực ngăn cản tôi trở lại sân trường. Tương
lai nghề may không lấy gì hấp dẫn. Chuyện học vô cùng khó khăn đối với thân phận
nghèo khó như tôi. Tôi không nản lòng, khi nhận thêm một lần thi hỏng.
Nỗi đau và buồn không làm nhụt chí người học trò nghèo
như tôi. Trời không phụ lòng người, với sự quyết chí và đam mê việc học, cuối
cùng tôi cũng được vào ngôi trường công lập ấy.
Bảy năm dài đăng đẵng, mình phải vượt qua muôn ngàn
khó khăn, khi ngồi hồi tưởng lại không biết làm sao mình vượt qua được?
Hoàn thành bậc Trung học, với mớ kiến thức ấy mình có
thể vào đời bằng nhiều con đường khác nhau. Nhưng tôi thấy mình đam mê việc học,
và mình định hướng cho tương lai.
Tôi luôn nghĩ, chỉ có ánh đèn điện mới làm con người
thấy được nền văn minh của nhân loại. Tôi vào thành phố mà một thời được vinh
danh “Hòn Ngọc Viễn Đông”. Xuống chiếc
xe đò cũ kĩ, vào một đêm khuya, tôi chưa có điểm đến và điểm dừng.
Rồi tôi được một ân nhân cưu mang cho ăn ở. Chẳng bao
lâu tôi nhận dạy kèm cho một học trò lớp đệ tam con chủ, với một số tiền thù
lao khá hậu, có chỗ ăn ở qua ngày.
Ước mơ của tôi đã trở thành hiện thực, chủ nhà cũng đồng
tình và ủng hộ trong việc học của tôi. Tôi ghi danh vào trường ĐHKH. Việc học
chưa bao lâu thì chiến tranh lan rộng, chính phủ ra lệnh Tổng động viên toàn lực.
Tôi được đưa vào quân trường Thủ Đức gần cuối năm 1966.
Số phận đã an bài, khi mãn khóa tôi trở lại quê nhà
trên vai đầy súng đạn, tôi dẫm nát vùng giới tuyến trong nhiều cuộc hành quân. Máu
tôi đã đổ ở căn cứ A1, trên vùng đất có hàng rào điện tử Macnamara, mà chính
tôi đã được học về nó.
Đầu năm 1968 tôi được trở lại Sài Gòn hoa lệ, được làm
loại sĩ quan kiểng. Năm 1969 tôi chuyển về quân trấn Cần Thơ và cuối năm ấy tôi
được trở lại giảng đường Đại học Phú Thọ và Đại Học Maryland Long Bình trước
khi đi học ở Mỹ.
Nhưng cuộc đời đâu lúc nào cũng suôn sẻ, cuối năm
1973, việc du học bị hủy bỏ, do ngân sách ngoại viện, trong chương trình Việt
hóa, tôi thi vào làm việc ở công ty National Nhật. Có dịp qua Nhật ngắm hoa anh
đào trong cuối năm ấy.
Năm 1975 đất nước hết chiến tranh, tôi vẫn trụ lại Sài
Gòn cho đến tận bây giờ. 1978 lấy vợ, năm 1979 có con đầu lòng khi tuổi đời gần
40. Rồi đâu cũng vào đấy, 4 con lần lượt rời giảng đường Đại Học rồi có công ăn
việc làm ổn định. Nhờ phước đức ông bà, tổ tiên gia đình tôi được sức khỏe, an
phận với sự nghiệp của mình.
Tuổi đời chồng chất, nhưng tôi nặng lòng với quê nhà,
mỗi lần trở về, nhìn sự đổi mới xóm làng mà lòng khởi sắc vui mừng. Con người
khi tuổi càng cao, thường sống nhiều với quá khứ, sống lại với tuổi thơ, những
kỷ niệm dồn dập quay về, chính những giây phút ấy hình bóng quê nhà, những khó
nhọc, vất vả, những ngày nắng cháy da, những đêm dài lạnh buốt, những gánh nặng
trên vai, những giọt mồ hôi ướt đẫm chiếc áo nhiều mãnh vá, nỗi nhọc nhằn ấy
làm oằn vai người cha, người mẹ, một đời khó nhọc vì đàn con.
Tuổi già, nhìn lại mới thấy thương cha mẹ một đời lam
lũ. Công lao trời biển mẹ cha. Một nỗi đau tê buốt là không còn người để phụng
dưỡng đền ơn. Quê hương ơi, với bao nỗi nhớ, những quặn lòng thổn thức.
Mỗi lần về lại, con đường, mảnh vườn xưa, những kỷ vật
của người cha người mẹ, tôi vẫn tìm thấy đâu đây những giọt mồ hôi, cả những giọt
máu của người vì đàn con mà đổ xuống.
Ôi:
“Quê
hương nếu ai không nhớ, không lớn nỗi thành người.”
“Khi
ta ở chỉ là đất ở. Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn.”
Tuổi tôi nay quá thất thập, khi trở lại sao mình quyến
luyến quê nhà, mảnh đất mà mẹ cha nuôi mình khôn lớn.
Năm 1558 khi chúa Tiên Nguyễn Hoàng dừng chân ở Ái Tử,
mở đầu việc mở cõi phía Nam. Năm 1563 khi dời đô về Trà Bát dựng nghiệp làng
Đâu Kênh ở phía Đông Nam cùng làng Hoa la tức làng Bích la Thượng bây giờ.
Quê tôi còn đó, gồm chín Xóm thôn, còn đó đình làng,
ngôi chùa Thiên Tôn cỗ nhất Nhà Nguyễn, làng tôi có Lục Miếu thờ 6 vị thần có
công lớn với Triều Nguyễn, trong đó có 3 vị quan Trung Đẳng Thần thuộc họ Võ, một
vị quan thuộc họ Đỗ và 2 vị quan không phải dân làng nhưng cai quản vùng này.
Họ Võ làng Đâu kênh có một vị Tiến sĩ Võ đầu tiên ở Miền
Nam là Ngài Võ Văn Lương đang thờ ở Văn Miếu Huế.
Không biết từ bao giờ, nguyên sông Thạch Hãn chảy từ
làng Bích Khê, Đại Lộc Thượng, Bích la Thượng, Đâu Kênh, Đại Lộc Trung rồi ra
sông Thạch Hãn. Như vậy làng Tân Đinh, An Mô, Bịch la Thượng, Xóm Rào Thượng,
Xóm Rào Hạ ở phía bên kia sông. Bàu Sen làng tôi chính là dòng sông Thạch Hãn
cũ. Không rõ nguyên do nào dòng sông Thạch Hãn nắn dòng như hiện nay. Để làng
Tân Định, An Mô, Bích la Thượng, Xóm Rào Thượng, Xóm Rào Hạ, một phần nhỏ làng
Đại Lộc Trung lại nằm bên này sông như hiện nay.
Hai Xóm Rào Thượng, Rào Hạ kết hợp với Xóm Bàu, Xóm
Hói, Xóm Đùng, xóm Triêu, Xóm Kiệt, Xóm Cồn, Xóm Bồi, nằm 2 đầu kênh hay đâu
hai kênh lại nên có tên gọi Đầu kênh, Đâu kênh, Đâu kinh, Đầu Kinh hay Đâu
kênh (kênh = kinh = kêng). Tên trong danh mục làng tôi hiện nay là: làng ĐÂU
KÊNH.
Cách đây gần 15 năm, theo quy định tổ chức hành chánh,
thì làng tôi chia thành 9 làng. Như vậy tên làng Đâu Kênh không còn nữa, mà lấy
tên 9 Xóm thành 9 làng: Triêu, Đùng, Hói, Bàu, Rào Thượng, Rào Hạ, Kiệt, Cồn, Bồi.
Sự lo lắng của bà con dân làng, chúng tôi có Kiến nghị
với Sở Tư Pháp và UB Tỉnh xem xét vì đây là làng có gần 600 năm lịch sử và đề
nghị đổi thành 9 làng từ Đâu Kênh 1 đến Đâu Kênh 9.
Nay các thủ tục Hành chính vẫn còn là làng Đâu Kênh có
kèm theo Xóm (như Xóm Bàu Đâu kênh, xóm Bồi Đâu Kênh...).
Khi có chủ trương sợ mất tên làng nên tôi có Bài thơ
dưới đây :
ĐÂU KÊNH LÀNG TÔI
Ba
tôi bảo làng mình đông dân lắm,
Chín
xóm thôn quanh quẩn vây quanh.
Dòng
Thạch Hãn nước trong uốn khúc,
Dòng
sông này lắm lúc đổi thay.
Quê
tôi đó có Xóm BÀU, Xóm HÓI,
Với
Đình làng cây cối xanh tươi.
Bên
bờ sông có RÀO THƯỢNG, RÀO HẠ,
Xóm
BỒI cuối thôn, Xóm CỒN, Xóm KIỆT,
Xóm
TRIÊU, Xóm ĐÙNG mà ai chẵng biết.
Giữa
quê tôi có BÀU SEN trang nhã,
Có
chùa THIÊN TÔN, có LỤC MIẾU linh thiêng.
Có
họ VÕ, ĐOẠN, NGUYỄN, ĐỖ, LÊ.
Làng
Đại xã bao thế kỷ qua dân sống.
Quê
tôi đó, bên kia bờ Ái Tử,
Dọc
theo làng, đối diện Trà Liên.
Đất
màu mỡ nhờ dòng sông mang đến.
Lưu
luyến quê nhà chẳng muốn bước đi.
Về
phía Bắc có Võ Thuận, Trà Liên.
Phía
Đông giáp Phù Lưu, Phương Ngạn, Hà My.
Phía
tây có Đại Lộc, sông Hãn.
Phía
Nam giáp An mô, Tân Định, Bích Khê.
Quê
tôi đó tuy nghèo nhưng đầm ấm,
Vách
phên tre, cây cột vẹo xiêu.
Dân
vẫn sống, vẫn hiền hòa như biển lặng.
Vẫn
thương nhau, vẫn đùm bọc lấy nhau.
Tôi
còn nhớ những năm dài tháng rộng.
Học
trò xa lẻ tẻ đi về.
Thăm
quê cũ, thăm mẹ già và em dại.
Quê
tôi đó, bị chiến tranh cày xới.
Nhà
tan hoang đất ruộng vỡ tung.
Những
hố bom, hố đạn còn ghi dấu tích chung.
Hằn
lên quê nghèo những vết thương ngày tháng.
Ai
đã đến quê tôi một dạo.
Bằng
đường sông hay đường bộ về làng.
Qua
bãi cát vượt sông Vĩnh Định.
Qua
Xóm Hà, chợ Sãi thân thương.
Theo
tỉnh lộ chạy dài về Cửa Việt.
Quê
tôi đó, dân Quảng ai chẳng biết.
Đâu
Kênh làng thuốc xã Triệu long.
Người
Phủ Triệu sử sách ghi dấu.
Bạn
ghé quê tôi bằng đường Quốc lộ.
Xe
dừng ngay Ái Tử, Chợ Hôm.
Cô
gái trẻ đưa đò mời gọi.
Qua
cầu An Mô đưa bạn đến làng.
Làng
tôi đó tuy nghèo nhưng hiếu khách.
Với
rau, dựa bữa cơm đạm bạc.
Nước
chè xanh xin tiếp bạn hết lòng.
Võ Văn Cẩm
Subscribe to:
Posts (Atom)



