Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, June 17, 2019

EM VÀ TÔI - Thơ Trần Mai Ngân






EM VÀ TÔI

Em chẳng về và tôi chẳng đi
Ở đây con sóng vỗ lưng chừng
Lời chia tay sao còn lấp lửng
Mà đã xa rồi... xa từ khi

Em chẳng về tôi cũng chẳng đi
Ngàn mây lơ lửng nói điều gì
Đã xa từ khi còn ở cạnh
Những mắt môi cười câu biệt ly

Em đã về rồi tôi phải đi
Hôm qua chum rượu thốt phân kỳ
Đôi tay thừa thải như ai trói
Những ngón nằm im thôi xa thôi

Em và tôi rồi phải về nhà
Con đường ngược lối xa hun hút
Mà lòng ở lại chẳng chịu đi
Em chẳng về và tôi chẳng đi...

             TRẦN MAI NGÂN
                     14-6-2019

READ MORE - EM VÀ TÔI - Thơ Trần Mai Ngân

Sunday, June 16, 2019

TÌNH XƯA, TỰ VẤN... - Thơ Tịnh Đàm






TÌNH XƯA

Đời người ước muốn bao phen,
Cũng thành sương khói bên rèm cửa giăng.
Cũng sầu như gió cùng trăng,
Mải mê chìm đắm mộng... rằng về đâu ?!

Nhớ nhau từ thuở ban đầu,
Vòng tay vẫn đợi... sợ nhàu áo quen .
Những hò hẹn cũ chưa quên
Bể đời mấy chặng người chen theo người !

Chiều hôm, chiếc bóng bên trời
Buồn đưa con nước đầy vơi bến nào ?!?
Thôi đành trả lại trăng sao
Tình xưa, xin gửi câu chào biệt nhau !


TỰ VẤN...

Hỏi mình, những tháng năm qua
Được gì và mất... đâu là căn nguyên ?!
Cớ sao lòng lắm lụy phiền
Phải chăng kiếp trước nợ duyên chưa đền ?!?

Hỏi mình, ân nghĩa nào quên
Sống cho vẹn ý, đẹp bền tình thân ?!?
Dòng đời muôn nẻo phù vân
Hợp - tan, ly biệt...lệ ngần xót xa !

Hỏi mình, ở tuổi xế tà
Niềm vui còn lại bên hoa với người ?!?
Sớm chiều, mong chút này thôi
Trăm năm xin hẹn... suốt đời có nhau.

                                       TỊNH ĐÀM
                                        (TP. HCM)

READ MORE - TÌNH XƯA, TỰ VẤN... - Thơ Tịnh Đàm

CÔ GIÁO TÔI : NGUYỄN THỊ MỸ ANH - Phan Dương Thy



  
       Cô giáo Mỹ Anh và học sinh cũ  Phan Dương Thy


CÔ GIÁO TÔI - NGUYỄN THỊ MỸ ANH

Ấn tượng của tôi về cô là nụ cười hiền và chất giọng Quảng Ngãi dịu nhẹ. Chẳng ai biết cô là gái Huế chính tông... Tốt nghiệp Đại học Văn khoa Sài Gòn Năm 1971, cô ra trường và được phân công về dạy tại trường Trần Quốc Tuấn... Sau năm 1975, cô theo gia đình vào Bình Tuy và dạy tại trường THPT Hàm Tân. Năm 1980, cô chuyển ra dạy học tại Phan Thiết. Năm 1990 cô vào Sài Gòn làm trợ lý cho một công ty nước ngoài. Năm 2017 cô về hưu và lên núi rừng Suối Tiên lánh xa cõi tạm, tu thiền. Con gái tuổi Canh Dần, sang số, lận đận đường tình, gian nan phận người, đa mang, chỉ phát triển sở học, không vượng đường quan.(Coi giùm cô một quẻ)
Tôi may mắn được học môn Anh văn với cô suốt 3 năm ở trường THPT Hàm Tân. Vì lớp tôi là lớp chuyên văn, nên Anh văn là ngoại ngữ chính. Học 4 giờ một tuần. Nên cô nhẵn mặt từng đứa. Ngày ấy, bọn tôi những thằng nhà quê lớn đầu lơ ngơ hay ngỗ nghịch. Anh văn thì tàm tạm, chữ được chữ mất. Thấy cô vô lớp là khớp. Cô nói toàn tiếng Anh, không nói tiếng Việt. Cô bảo các em cứ nghe cho quen, chữ nào không nghe kịp cô nói chậm lại. Chữ nào mới thì về nhà tra tự điển. Cô yêu cầu học thuộc từng đoạn(Paragraph), có khi cả bài(Test). Học thuộc từ tiếng Anh, rồi dịch sang tiếng Việt và ngược lại. Mỗi bài test phải học thuộc hàng trăm từ mới. Bài nào cũng dài cũng khó như: His dream, Halong bay, The statement uncle Ho, Laos steadily advanced... Lớp tôi đa số là dân Quảng Trị chạy loạn Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972. Năm 1973 đi khẩn hoang lập ấp theo chương trình của Quốc Vụ Khanh Phan Quang Đán. Nhiều bạn bị cô gọi lên đàm thoại cứ phát âm tiếng Anh theo giọng Quảng Trị làm cô tức cười bảo: "Tiếng Anh mà cũng có giọng Quảng Trị, nữa hả mấy đứa?" Có đứa do học hoài mà chẳng thuộc, nên lại nghĩ ra cách học tiếng Anh theo kiểu gắn liền với một sự vật quen thuộc. Nên khi bị cô gọi đọc bài thì tá hỏa và đọc luôn. Ví dụ: vocabulary thì đọc là vỏ cam bia, Grammar thì đọc là gà mờ, e ducation thì đọc ê du con cầy ngoài sân, miserable thì đọc mi sèm bồ... làm cô cười nghiêng ngả. Có lần đi lao động tập trung mấy thằng tôi thèm thuốc, liền xin nhau, nhưng đứng gần, sợ cô nghe, cô mắng nên nói: "Ê give me dược, Give me xét cờ ri". Cô không hiểu nên hỏi: "Ê tụi bay nói cái chi rứa? Anh không ra Anh, Việt không ra Việt". Mình bảo thưa cô: "Tiếng Anh ở bên xứ Bô hê miêng mới nhập về đó cô"! Tiếng Anh mà tụi em nói lái, nói tiếng lóng thì đúng là "nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò" rồi! Cô làm sao hiểu được! Nhờ cô dạy dỗ tận tình, rèn ngữ pháp, từ vựng kỹ lưỡng, nên kỳ thi tốt nghiệp năm ấy, lớp chúng em đỗ 98 %. Chỉ có bạn ĐTH- người siêu tiếng Anh nhất lớp, bị trượt.
40 năm rồi, lên Face book, tìm gặp, kết bạn với cô, gợi chuyện buồn vui thuở xưa. Mùa này Sài Gòn "nắng nóng cô đi mà thấy lửa", nên mình đã "mời dụ" cô về vùng núi rừng chơi. Thế là máu phượt trong con người "thất thập cổ lai hy" trỗi dậy. Cô muốn trải nghiệm sau 2 năm từng đi khắp Ấn Độ, BăngLađét, NêPan, Myanmar, Cát Tiên tu thiền xem Cung Fu tới đâu? Tôi đã vinh dự được đón cô ra chơi mấy hôm. Chở cô đi khắp 2 huyện Đức Linh, Tánh Linh, lên tới tượng Đức Mẹ Tà Pao xem lễ, lên đèo Tà Pứa lội, xem thác mưa bay. Cô như người không trọng lượng đôi chân vẫn dẻo dai, đôi mắt tươi sáng. Ngày xưa được cô dạy kiến thức để vào đời. Mấy hôm nay được cô dạy cho biết sự trải nghiệm, giá trị sống, cách sống buông bỏ, không phản ứng, thiền hít thở; dùng trí tuệ để khắc chế và điều khiển năng lượng trong cơ thể nhằm hạn chế, đẩy lùi một số bệnh tật, cách thức ăn uống để tránh độc tố... Tiếc rằng, cô không thể ở lại lâu hơn, để được chăm lo cho cô, được tâm tình và nghe cô chỉ dạy. Vì cô về cho kịp khóa tu. 60 tuổi còn có cô giáo thương quan tâm, còn gì vui và hạnh phúc bằng. Mong sẽ được đón cô lần nữa, cô nhé!

                                                             Phan Dương Thy
                                                                  16/6/2016

READ MORE - CÔ GIÁO TÔI : NGUYỄN THỊ MỸ ANH - Phan Dương Thy

Friday, June 14, 2019

HOA GIÓ - Thơ Lê Hứa Huyền Trân



                    Tác giả Lê Hứa Huyền Trân



HOA GIÓ

Chưa bao giờ con sóng kia thôi ngừng vỗ
Chưa bao giờ có nỗi buồn nào thăm thẳm đáy lòng nhau
Tình cợt đùa hoa gió
Tóc bay rối từng sợi nắng mong manh
Biển mù cát chạy…

Em nép mình bên ly cà-phê rớt giọt lặng lẽ
Bên ly cà-phê gõ tiếng lanh canh ấy
Đã một thời từng có người ngồi ngắm long lanh
Hai đứa bên nhau trốn học đội mưa chung
Nhà cách nhau chỉ có hàng dương reo lời của gió
Tình mươn mướt lên xanh bên rừng chắn cát

Rồi một mai khi ngày tháng vui đùa đã mất
Hàng dương trơ gốc thẩn thờ
Trái tim tan hoang lỗi nhịp
Lời tỏ tình vỡ đắng giọt cà-phê
Chấm hết những năm tháng trong lành
Chấm hết luôn bài tình ca đang dang dở của con sóng an nhiên
Chấm hết những gì đã thành những ký ức dịu dàng
Chỉ có mình hoa gió
Chưa bao giờ thôi bay...

                                              Lê Hứa Huyền Trân
*

Tác giả  : Lê Hứa Huyền Trân
Hội viên Hội VHNT Tỉnh Bình Định
Mọi thư từ phúc đáp xin chuyển về địa chỉ : Lê Hứa Huyền Trân, 1083/30 TRẦN HƯNG ĐẠO ,tổ 17B, KHU VỰC 4, PHƯỜNG ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Sđt : 0972076980
Số CMND : 215257216
Số tài khoản: 4300205298818, ngân hàng Agribank Bình Định, Chủ tài khoản : Lê Hứa Huyền Trân.

READ MORE - HOA GIÓ - Thơ Lê Hứa Huyền Trân

THẦM LẶNG - Lê Nguyên Tuấn

Bài viết của Lê Nguyên Tuấn cho mình thấy rõ đây là một gia đình có truyền thống quá đẹp: Nhân cách, đạo đức và hy sinh.

Cô là nguời vợ hoàn hảo, đẹp người đẹp nết, thầm lặng hy sinh cho chồng con. Vì cô hiểu sự nghiệp cao cả của Thầy là luôn sống vì tha nhân, nặng lòng vì xã hội. Các em thì hiếu nghĩa với ba mẹ, thừa hưởng tấm lòng từ thiện của ba mẹ, nên chuyên tâm hoạt động giúp đở những nguời dân khó nghèo
Thầy Cô LÊ HỮU THĂNG, đã sống bằng trái tim nguyên chất thiện nguyện như thế đó. Hạt giống nhân nghĩa thầy cô gieo đã đơm hoa, kết trái cho đời những tấm lòng vô cùng quý giá.
Một gia đình tuyệt vời. Quang Tuyết xin kính chuyển.





THẦM LẶNG

Bài viết này như những lời tâm sự của tôi dành cho người mẹ thân yêu của mình, không trau chuốt văn chương vì tôi không có năng khiếu đó. Tôi chỉ biết viết bằng con tim của một người con yêu thương mẹ.
Hôm nay khi cơn bệnh alzheimer quái ác đang làm cho mẹ mất đi nhiều trí nhớ, tôi chỉ ước mong khi nghe hay đọc bài nầy mẹ sẽ cảm nhận được một phần trong những gì tôi ấp ủ là tôi thật sự hạnh phúc lắm rồi.

                                                               Lê Nguyên Tuấn

“THẦM LẶNG”

Người ta hay cảm tác thơ chứ ít ai cảm tác đoạn văn hay là bút ký, nay tôi lại làm chuyện lạ lùng đó .Chung quy là tôi đang “feeling”, đang cảm nhận rất sâu lắng từ bài viết của người con gái nhà văn Doãn Quốc Sĩ viết về mẹ mình.
Thật là một sự khập khiễng khi so sánh với sự nghiệp của nhà văn Doãn Quốc Sĩ, nhưng ba mẹ tôi vẫn có những sáng ngời trong nhân cách sống và dấn thân với xã hội.
Tôi viết bài này để dâng tặng người mẹ yêu thương của tôi, đồng thời thể hiện sự đồng cảm với con gái của nhà văn Doãn Quốc Sĩ khi cả hai bà đang lâm vào căn bệnh alzheimer quái ác. Hôm nay, tôi viết với tất cả thổn thức, đau nhói trong trái tim và cay xè trên đôi mắt. Nước mắt chỉ chực trào ra khi những kỷ niệm của hàng chục năm về trước chợt tràn về.
Mẹ yêu!
“Thầm lặng” là tính từ mà chưa bao giờ con cảm nhận đầy đủ ý nghĩa của nó cho đến hôm nay con dùng để viết về mẹ. Đời Mẹ là một cuộc đời “thầm lặng” trong gia đình nhỏ nhoi bên chồng và các con đầy biến động theo thời cuộc. Mẹ đã “thầm lặng” trong sự nghiệp không nhỏ của ba.
Con biết mẹ sinh ra trong một gia đình giàu có nổi tiếng của một tỉnh lỵ miền Trung. Nếu mẹ đi theo con đường thương mãi như bên ngoại; nếu mẹ làm vợ của người thương gia thì cuộc đời mẹ sẽ nhẹ nhàng hơn. Mẹ sẽ như các dì của con sống trong sự giàu sang và nhung lụa. Nếu như thế, Mẹ không phải chịu những lần suýt đứng tim vì con đường hoạt động xã hội của ba con. Mẹ không phải hằng đêm khuya khoắt trông ngóng chồng khi ba con phải băng mình trong giông bão, trong lụt lội, trong chiến cuộc để dành lấy mạng sống cho đồng loại. Mẹ không phải mang phận “vợ tù cải tạo” tủi thân suốt nhiều năm trời sau biến cố 1975.
Nhưng con biết mẹ yêu điều đó. Mẹ yêu mẫu người sống có lý tưởng, có trách nhiệm với đất nước và gia đình như ba con. Nếu cho mẹ chọn lựa một lần nữa, con tin chắc mẹ vẫn chọn ba con, phải không mẹ?
Với một thân hình mảnh mai, mẹ bước vào đời với ngành sư phạm. Những tưởng cuộc đời mẹ sẽ bình an trên bục giảng với thiên chức gieo mầm đẹp, ý tưởng hay để lớp trẻ biết cách sống có ích cho xã hội. Nhưng cuộc đời đâu có cho mẹ đeo đuổi những ước mơ nhỏ nhoi đó.
Chiến sự Hạ Lào (1971) bùng nổ ác liệt. Con còn nhớ cả một tháng trời ròng rã mẹ âm thầm cùng ba vào bệnh viện Quảng Trị để phụ băng bó, săn sóc cho các chiến binh trở về đầy máu me, què cụt. Bệnh viện như quá tải khi phải đón nhận thương binh mỗi giờ. Có những đêm, con ngồi ngoài xe chờ ba mẹ trong bóng tối - lúc đó con chỉ mới 6 tuổi. Ở tuổi đó thì còn nỗi khiếp sợ nào hơn khi những tiếng kêu la, rên xiết cứ đưa tới tai con trong đêm vắng.
Rời bỏ Quảng Trị trong đổ nát 1972, vào Đà Nẵng tưởng rằng gia đình sẽ có cuộc sống an toàn khi hàng đêm khỏi phải nghe tiếng đại bác dội về “cắc bụp .... bbbbùm” như trong bài hát Đại bác ru đêm của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Nhưng rồi không phải thế, mẹ lại phải âm thầm thao thức không ngủ, lo âu trước những công việc mới của ba…
Trong vai trò chủ tịch Hồng Thập Tự Vùng I, điều phối hoạt động cứu trợ tỵ nạn và thiên tai của 5 tỉnh miền Trung (từ Quảng Ngãi đến Quảng Trị), ba tôi hầu như không còn thời gian nhiều cho gia đình. Bên cạnh đó, việc tái thiết lại các trường học tại Quảng Trị sau khi có lệnh hồi cư cũng chiếm hết thì giờ của ba. Ba tôi cùng các đồng nghiệp chia nhau về giảng dạy trên mảnh đất còn ngổn ngang đổ nát. Mỗi tuần ba chỉ ở bên mẹ con tôi từ một đến hai ngày. Thậm chí đôi lúc đang ngồi dùng cơm với gia đình mà được tin gọi khẩn cấp như bão lụt, thiên tai,… là ba tôi lên đường ngay.
Ngày đó, ngôi nhà chúng tôi tại Yên Bái (Đà Nẵng) không lúc nào là không bận rộn. Ngôi biệt thự (village) đó khá lớn và đẹp. Nó không chỉ là nhà ở của gia đình chúng tôi mà còn là trụ sở chính của Hồng Thập Tự miền Trung cho nên khách vào ra liên tục. Hầu như ba tôi ở nhà ngày nào là ngày đó có khách, khi thì ba tôi làm việc với các trợ lý của ông; khi thì tiếp khách nước ngoài. Họ là những người làm việc trong Hồng Thập Tự quốc tế nên đủ mọi quốc gia như Pháp, Mỹ, Na Uy, Thụy Sĩ, v.v... Thế là mẹ tôi phải vào vai đầu bếp bất đắc dĩ. Mẹ phải làm sao cho khách hợp khẩu vị, thoải mái. Nhiều cuộc họp khẩn cấp thâu đêm, bà vẫn âm thầm vui vẻ chăm sóc chồng lẫn khách chu đáo.
Ngày đó, những lúc bên nhau luôn là những giây phút hạnh phúc của gia đình.
Thế rồi một ngày, một khoảnh khắc, một dấu mốc và một khoảng thời gian 10 năm cay nghiệt (1975-1985) đã đổ xuống đôi vai mảnh mai của mẹ tôi. Đó là khoảng thời gian mà cuộc đời tôi không bao giờ quên được. Không quên không phải vì tôi quá khổ sở hoặc không được đầy đủ như nhiều đứa trẻ khác. Không quên được, bởi những hình ảnh mà mẹ tôi phải chịu đựng, hy sinh, nhẫn nhục, tủi thân,… và hình ảnh những ngày tháng đó đã ám ảnh tôi cả cuộc đời này. Cứ nghĩ đến chuỗi ngày đó là tôi muốn thét gào lên “Sao không cho anh em tôi trưởng thành sớm để được kề vai gánh vác, chia sẻ bớt nhọc nhằn cho mẹ?” Nhưng câu hỏi vẫn chỉ là câu hỏi vì ngày ấy bầy con của mẹ còn quá nhỏ, tôi lớn nhất: 10 tuổi, còn các em tôi đứa 9 tuổi, đứa 7 tuổi và đứa nhỏ nhất mới 3 tuổi.
Trở thành thân phận vợ tù cải tạo, suốt mấy năm trời bao oan khiên, cực khổ mẹ âm thầm chịu đựng. Từ một người phụ nữ thuần thành, chưa bao giờ phải bươn chải cuộc sống nhầy nhụa của cuộc đời, nay mẹ vừa dạy học vừa phải tập tành mua bán linh tinh trước thềm cửa nhà.
Thêm một điều khổ nạn là hồi đó với đồng lương không đủ sống của một giáo viên, mẹ còn phải có bổn phận đi dạy không lương buổi tối của cái gọi là “xóa nạn mù chữ” mỗi tuần 3 đêm. Anh em chúng tôi còn quá nhỏ lại sợ ma nên kéo hết nhau ra trước cửa nhà mỗi tối để chờ mẹ về. Từ xa xa, thấy bóng dáng mẹ còm cỏi, liêu xiêu bước về là chúng tôi chạy ùa đến, đứa ôm, đứa níu lấy mẹ trong nỗi mừng vui…
Có lẽ vì cuộc sống phải trải qua gian khổ sớm nên đàn con của mẹ có ý thức hơn lớp trẻ cùng lứa thời bấy giờ, chúng tôi làm bất cứ gì hầu phụ giúp mẹ. Mười một tuổi, hàng ngày tôi đã nấu được bữa ăn vài ba món cho mẹ đỡ nhọc nhằn. Mấy đứa em còn lại thay phiên nhau thổi lửa và nấu nồi cơm. Đứa em kế tôi, lúc đầu dấu mẹ rang đậu phụng vào sân vận động Chi Lăng bán kiếm tiền phụ giúp gia đình. Tôi còn nhớ như in khi biết chuyện đó mẹ đã chạy vội vào phòng khóc nức nở.
Cái tủi thân đôi khi còn đau đớn hơn cả thiếu thốn vật chất. Hằng năm, cứ đến ngày giỗ ông ngoại, mẹ dẫn anh em chúng tôi còm cỏi, đen đúa lên nhà cậu cả để cúng ông. Mỗi bữa ăn ở nhà cậu là một bữa cỗ - bằng một tháng sinh hoạt, ăn uống của gia đình tôi khi đó. Sau này mẹ chỉ lặng lẽ đi giỗ ông một mình mà không mang con cái theo, có lẽ bà tủi thân.
Ba tôi cải tạo tại An Điềm - một nơi rừng thiêng nước độc cách Đà Nẵng chừng vài chục cây số. Hàng tháng, cứ vài hôm trước ngày đến hạn kỳ đi thăm nuôi, mẹ tôi lại bận rộn. Mẹ bán đi vài phân vàng trong số của cải để dành nhỏ nhoi để có tiền mua sắm đi thăm ba. Mẹ làm muối ruốc sả, làm thịt chà bông, mua lương khô (hàng của Tàu hồi ấy). Những đêm đó, anh em chúng tôi ngồi quây quần bên mẹ, đứa thì lo trộn chảo muối sả cho chín đều kẻo bị khét; đứa thì lo cho thịt chà bông vào lon “sữa guigo”. Ngoài anh em tôi, còn có bà chị con bác ruột - chị Mimi - phụ mẹ tôi một tay.
Trời vừa tờ mờ sáng, khoảng 4 giờ mẹ đã đánh thức chúng tôi dậy, mặc áo quần tươm tất để chuẩn bị lên đường thăm nuôi ba. Mẹ cho chúng tôi đi hết - ngay cả đứa em út tôi mới 3 tuổi. Mẹ biết ba rất muốn gặp mặt đầy đủ các con của ba. Một chiếc xe honda thồ thường hay chở cá, được thuê chở cả 5 mẹ con cùng giỏ hàng thăm nuôi. Bây giờ tôi cũng không thể hình dung được làm sao một chiếc xe honda hai bánh lại có thể chở hết sáu mạng người (kể cả người xe thồ). Chúng tôi ngồi vắt vẻo đủ cách trên hai cái thúng dùng chở cá. Khoảng cách chỉ vài chục cây số mà đến trưa mẹ con tôi mới đến trước cửa trại, vì xe phải đi thật chậm.
Vượt qua chặng đường đầy những con dốc, quanh co của rừng núi để chỉ được gặp nhau trong giây lát dưới sự giám sát của cán bộ trại. Trong thời gian 30 phút thì nói được gì? Chúng tôi còn nhỏ nên được giám thị cho đến gần ba. Khi ôm ba, lồng ngực tôi như bóp nghẹt, cảm giác khó thở, muốn chực khóc thét lên. Còn mẹ tôi đứng đó, nhìn ba tôi, nhìn cảnh cha con quấn quít mà nước mắt ràn rụa trên đôi mắt sâu hoắm qua mấy đêm liền không ngủ.
Vậy đó, suốt 3 năm trời chưa bao giờ mẹ tôi vắng một lần thăm nuôi chồng dù nhiều khi gia đình khá túng thiếu. Mẹ không xin xỏ, không than vãn, không cầu cạnh ai, mẹ vẫn cố hết sức mình để đùm bới cho ba bằng tất cả sự dành dụm, chắt chiu.
Rồi gia đình chúng tôi lần lượt xuôi Nam tìm đường vượt biên. Mẹ lại lo âu, mất ngủ để lo cho anh em tôi: đứa 15, đứa 14 tuổi ra đi mà đứa nào cũng còn quá ngây thơ, khờ dại. Lo lắm chứ! Làm sao mẹ tôi không lo khi bao nhiêu nguy hiểm đang rình rập hai đứa con còn bé bỏng của mình. Phần lo con bị bắt rồi tù đày, phần sợ sóng biển mênh mông lành ít dữ nhiều. Mẹ đọc kinh lạy Phật cầu nguyện hằng đêm vào mỗi chuyến đi của chúng tôi. May mắn chỉ đến với gia đình tôi ngày đó được một lần là người em trai tôi đến bến bờ tự do ở cái tuổi 14. Chuyến đi này có cả tôi, khởi hành từ Sông Ông Đốc - Cà Mau. Vì lạc điểm tập trung nên cả nhóm bị công an đuổi bắt, mạnh ai nấy chạy tán loạn, tôi phải tìm đường về Sài Gòn trong khi em tôi lên được tàu và đến miền đất hứa. Hai tháng sau, mẹ lại dẫn tôi về Trà Vinh. Khi tìm được mối ghe cho tôi, mẹ yên tâm vì lời hứa hẹn ngon lành nhưng rồi số người vượt biên chuyến ấy lại bị bắt trọn. Tuy tôi còn tuổi vị thành niên nhưng cũng bị ngồi tù, mẹ phải xoay xở, mấy tháng sau mới chuộc tôi ra được. Không ngờ con người mô phạm, hiền lành thế mà khi cần mẹ tôi cũng có những quyết định can đảm, táo bạo đến không ngờ.
Từ những thất thoát, tốn kém khi lo cho hai anh em tôi vượt biên, gia đình tôi thật sự lâm vào cảnh khánh kiệt vào những năm 80 – 83. Còn lại 3 anh em chúng tôi mỗi đứa phải tá túc mỗi gia đình mà ba mẹ tôi gởi gắm. Cứ đến cuối tuần, chúng tôi vội đón xe bus về quận Bình Thạnh để sum họp với ba mẹ.
Hằng ngày tôi biết ba mẹ tôi ăn uống khá đạm bạc vì việc làm thường ít gặp may. Hơn nữa, cách làm ăn của ba mẹ tôi hiền quá - theo kiểu nhà sư phạm - nên luôn bị lừa và mất mát. Vậy mà khi đàn con ùa về, lần nào mẹ cũng ráng làm bữa cơm thật ngon miệng cho các con ăn.
Một căn phòng trước đây người ta dùng làm văn phòng, tạm thời họ để cho ba mẹ tôi sử dụng. Cái giường ngủ của ba mẹ tôi ngày đó thì không thể hình dung được. Từ những thanh gỗ tạp phế thải, ba đã tự chế thành chiếc giường bằng cách kết nối chúng lại với nhau. Đêm nằm ngủ, sáng ra nhức mỏi cả lưng vì độ gập ghềnh của mặt giường.
Cả gia đình chúng tôi khi đó còn lại 5 người (em trai tôi đã đến được Hoa Kỳ), đêm nằm dùng chung một tấm mền dù lính hồi xưa. Bởi vậy khi tôi trở mình thì đầu bên kia ba tôi không có chăn đắp. Đến mùa nước lớn, nửa đêm đang say ngủ cả nhà phải vùng dậy vì nước lên cao, thấm ướt đến lưng.
Ông Trời tiếp tục thử thách ba mẹ tôi. Sau nhiều lần làm ăn thất bại, ba mẹ tôi quyết định xa Sài gòn về vùng kinh tế mới An Hạ. Lại một chặng đường gian truân mới mà ông Trời mãi trêu cợt gia đình tôi. Nhiều lúc tôi oán hận ông Trời, bấy nhiêu đó chưa đủ làm mẹ tôi mòn mỏi, cực khổ sao? Nơi vùng đất ấy, nước phèn làm cho làn da vốn trắng sáng của mẹ tôi xấu đi nhiều. Đã khổ lại phải chịu thêm cái cằn cỗi của nắng gắt và phèn chua. Ba tôi phải đi gánh mía trong khi mẹ tôi hàng ngày đạp xe ra chợ mua bán kiếm ít tiền lời để lo bữa ăn cho gia đình. Những lúc trời mưa lớn, đường sá đầy sình bùn dơ dáy, mẹ vẫn vội vã đạp xe vượt qua quãng đường lầy lội ấy để kịp về nhà với chồng con.
Hôm nay hình ảnh ấy bỗng dội về làm con đau điếng cả người. Mẹ ơi!!!
Mẹ! Mẹ ơi! Từ ngày được làm con của mẹ đến nay đã gần 50 năm, con chưa nghe một lời than thở của mẹ. Con cũng chưa bao giờ thấy mẹ gắt gỏng hay nói một câu làm phiền người khác, nói gì đến chuyện mẹ làm mất lòng ai.
Con người không là thần thánh, đôi khi quá mệt mỏi, khổ sở mình cũng dễ cáu gắt với những người chung quanh. Mẹ tôi thì không và không bao giờ dù chỉ là lời nói làm buồn người khác.
Sống cho đàn con thì mẹ quá tuỵệt vời; sống cho chồng thì không làm sao nói hết những yêu thương, hy sinh mà mẹ dành cho ba. Ngày ba con bị căn bệnh hiểm nghèo mà bệnh viện chê, mẹ con mình đạp xe đèo nhau trong cái nắng gắt, cái mệt lả để đi gõ cửa từng nhà và bác sĩ để vay tiền chữa bệnh cho ba. Hình như quyết tâm của mẹ đã làm ông trời cảm động nên ba vượt qua cơn bạo bệnh, không uổng phí công lao của mẹ.
Gia đình mình được đổi thay tốt hơn nhiều khi đặt chân đến Hoa Kỳ. Cuộc sống không còn mệt mỏi như chặng đường dài vừa qua nhưng về mặt tinh thần mẹ vẫn âu lo. Giấc ngủ của mẹ vẫn chập chờn, bất an vì lo cho con cái. Mẹ còn lo cho Oanh - vợ của con, không biết khi nào mới được đoàn tụ.
Có những đêm hai mẹ con mình ngồi trò chuyện, con nhớ như in mẹ cứ đăm chiêu và lẩm bẩm “Mẹ lo cho con Oanh quá! Không biết mọi chuyện có suôn sẻ không?”. Rồi mẹ thắp nhang lạy Phật cầu cho mọi chuyện được thuận lợi. Mẹ thương con dâu như là đứa con mẹ mang nặng đẻ đau vậy. Còn Johnny của chúng con thì quá diễm phúc vì cháu được bà nội dành cho rất nhiều tình yêu thương.
Không bao giờ!
Mẹ ơi! Không bao giờ gia đình bé nhỏ chúng con quên được những ưu ái, những yêu thương của mẹ dành cho. Bởi vì không bút mực nào, không ngôn từ nào có thể diễn tả được tấm lòng biển cả ấy.
Mẹ tôi là vậy đó, là một đời âm thầm, lặng lẽ quên mình để lo cho gia đình, con cháu.
Suốt bao năm trên xứ Hoa Kỳ và đến ngày hôm nay, bao nhiêu tiền dành dụm được mẹ đã cùng với ba tôi dùng vào việc giúp các em sinh viên nghèo có điều kiện tiếp tục học. Kết quả là hôm nay đã có lớp đầu tiên ra trường, trở thành những kỹ sư, bác sĩ,… có ích cho xã hội.
Lại vẫn “thầm lặng”
Mẹ yêu!
Ngày mẹ về thăm gia đình con tại Denver tháng 4 năm nay, mỗi ngày con viết nhật ký vài dòng về mẹ.
Con được ngắm nhìn mẹ, được chính tay con nấu từng món ăn ngon cho mẹ; được đùa giỡn với mẹ và cũng có những đêm con lặng lẽ ra hiên ngồi một mình, nghĩ về mẹ rồi thổn thức thương mẹ.
Con sẽ về một ngày không xa, để được cùng các em xây cho cho gia đình mình - cho ba mẹ cùng các con của mẹ một “ngôi nhà” vĩnh cửu.
“Ngôi nhà” này con muốn nó mang nhiều kỷ niệm một thời với hàng bông giấy của căn nhà cũ trên đường Trần Hưng Đạo (Quảng Trị); có cây hoa sứ, cây dừa của căn nhà ở Yên Bái - Đống Đa (Đà Nẵng). Trong những căn nhà ấy, gia đình mình đã từng một thời sống bên nhau với bao kỷ niệm đẹp.
Một “ngôi nhà” để con có ngày được trở về bên ba mẹ và mãi mãi không bao giờ xa mẹ nữa.
Ngày đó con sẽ không còn làm người chồng, người cha nữa mà chỉ mong được làm đứa con bé nhỏ bên mẹ như năm nào; để được nằm ôm mẹ với giấc ngủ bình an mãi mãi.

                                                                  Lê Nguyên Tuấn

READ MORE - THẦM LẶNG - Lê Nguyên Tuấn

Thursday, June 13, 2019

KHI MẸ VỀ VỚI BA... - Thơ Trần Mai Ngân



                    Nhà thơ Trần Mai Ngân


KHI MẸ VỀ VỚI BA ...

Khi mẹ về với ba
Nhà mình thênh thang lạ
Cái góc võng mẹ nằm
Tiếng đưa không còn nữa...

Khi mẹ về với ba
Vừa qua ngày Đoan Ngọ
Nơi đâu cũng đầy hoa
Cứ như hoa ngày cưới

Con tưởng tượng nụ cười
Mẹ và ba tái hợp
Thiên đường giờ chỉ một
Miên man một góc trời

Khép lại trang cuộc đời
Mẹ về cùng với ba
Riêng con buồn ở lại
Thương nhớ mãi không phai...

Khi mẹ về với ba
Nhà mình sao vắng lạ
Mênh mông biết dường nào
Khi mẹ về với ba....

           Trần Mai Ngân
Tết Đoan Ngọ 2019 - Giỗ Mẹ
   
READ MORE - KHI MẸ VỀ VỚI BA... - Thơ Trần Mai Ngân

XIN MÃI CÒN NHAU, - Thơ Hồng Thúy, nhạc Nguyễn Tuấn, ca sĩ Ngọc Mỹ, video clip Hùng Đặng





XIN MÃI CÒN  NHAU

Chiều lặng bước chân biệt ly.
Dạ sầu héo hon người đi
Nghe bao gió mưa tơi bời
Nghẹn ngào sương khói trắng chơi vơi…

Nhạt nhòa tháng trôi, ngày qua
Một thời dấu yêu vội tan
Dư âm tiếng khuya muộn màng
Chạnh lòng ai giữa đêm dài sâu

Kỷ niệm gợi mãi hoa nắng giấc mơ hồng
Dịu dàng ngọt thắm hương sắc mắt môi người
Tình yêu ngỡ xuân nồng
Nào đâu ta biết trước phong ba.

Ngoài trời lạnh giá, đông đến xám mây ngàn
Từng lời hạnh phúc theo cánh tuyết bay tàn
Người sao nỡ vô tình…
Ngậm ngùi riêng nỗi đau mình ta.

Đợi chờ, nhớ thương, người hay?
Cuôc tình mãi xa tầm tay.
Trong tim khát khao sum vầy
Vườn tình xanh lối ta còn nhau.

                              Hồng Thúy





Thơ: Hồng Thúy
Nhạc Nguyễn Tuấn
Ca sĩ: Ngọc Mỹ
Hòa âm: Đỗ Hải
PPS: Hùng Đặng

READ MORE - XIN MÃI CÒN NHAU, - Thơ Hồng Thúy, nhạc Nguyễn Tuấn, ca sĩ Ngọc Mỹ, video clip Hùng Đặng

NHỚ MÙA HOA SỮA - Thơ Thủy Điền




NHỚ MÙA HOA SỮA

Hà nội mùa nầy hoa Sữa nở
Hỏi em còn nhớ, nhớ không em ?
Thuở xưa hai đứa thường hò hẹn
Chiều về dạo phố ngắm hoa say

Hà nội mùa nầy vai  sát vai
Thanh nam, thiếu nữ áo lộng, hài
Dìu nhau đi giữa Hà nội phố
Vui, nở nụ cười, tay nắm tay

Hà nội mùa nầy em có hay... ?
Sắc, hương hoa Sữa tỏa, trắng ngời
Có thường tiếc, nhớ ngày xưa hỡi
Hay đã quên rồi, như gió bay

Hà nội mùa nầy em có hay.....?
Nhớ cây hoa Sữa nở  đêm ngày
Nhớ ai đang đứng kề... song cửa
Đợi tiếng chuông chiều, đợi  dáng ai.

                                      Thủy Điền
                                     12-06-2019

READ MORE - NHỚ MÙA HOA SỮA - Thơ Thủy Điền

THƠ VIẾT CHO TÌNH NHÂN - Thơ Đặng Xuân Xuyến



               Nhà thơ Đặng Xuân Xuyến



THƠ VIẾT CHO TÌNH NHÂN

Biết rõ thơ tình ta thầm viết tặng ai
Lại cứ dửng dưng như ta tặng thơ người lạ
Giả bộ thở than trách ta khờ dại
Đem chân tình ký gửi phía trời xa

Yêu có tội gì? Yêu sao chẳng nói ra?
Sống cuộc đời ta sao phải ngó trước sau thiên hạ?
Trái tim đập không lụy lời lý giải
Sao phải dằn lòng lời thiên hạ đúng sai?

Đã biết rồi liệu cần nữa diễn tròn vai?
Miệng thế gian chắn che sao hết được?
Tim run rẩy sợ lo bởi mấy lần trầy xước
Mắt nhung huyền còn thảng thốt lúc chiều vơi...

Đã bảo rồi. Chẳng để nữa lệ rơi
Khó khăn lắm thuyền mới về bến đợi
Mở lòng yêu để đời thôi xốc nổi
Để nụ cười ấm lại sáng bờ môi.


Hà Nội, ngày 29.04.2019
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - THƠ VIẾT CHO TÌNH NHÂN - Thơ Đặng Xuân Xuyến

ĐƯỜNG TÔI ĐI HỌC – Nguyễn Văn Quang



        Tác giả Nguyễn Văn Quang




ĐƯỜNG TÔI ĐI HỌC

Quê tôi - làng An cư, là một ngôi làng nhỏ thuộc xã Triệu Phước. Làng nằm cạnh một dòng sông, đoạn cuối của hợp lưu hai sông Thạch Hãn và sông Hiếu đổ ra cửa Việt. Tên làng, tên xã nghe thì bình yên, hạnh phúc thế, nhưng quả thực dân chẳng an cư và chẳng được phước lộc là bao!
Sống nơi nước mặn đồng chua, dân thuần nông không đủ gạo ăn, phải đi làm thuê khắp bốn phương trời. Nghe câu hát của Duy Khánh (một người con của làng) thì đủ thông cảm:

Quê hương em nghèo lắm ai ơi
Mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn!

Nhà tôi không đến nỗi ba đời ăn củ chuối nhưng cũng ba đời đi ở đợ, làm thuê! Ông nội tôi lên làm thuê tận trên vùng sơn cước, Cha tôi và hai chú tôi phải đi ở giữ trâu, phụ cày cho nhà giàu tại ba xã khác nhau; tôi mồ côi cha lúc bảy tuổi, hai em tôi chết từ nhỏ vì thiếu ăn và bệnh tật không có thuốc chữa. Mẹ tôi đi làm thuê, tôi đi mót lúa, mót khoai để nuôi nhau sống qua ngày! Thế nhưng không hiểu tại sao tôi vẫn ước ao được đi học!

Thời Pháp thuộc, quê tôi nằm trong vùng kháng chiến. Tôi mới 8 tuổi nhưng đêm đêm vẫn hăng say cùng với người lớn trong xóm đi học bình dân học vụ trong các nhà thờ họ hoặc tại đình làng. Năm 1951 ở xã có mở trường cấp Một thì tôi ghi danh đi học lớp Một, rồi lớp Hai tại một nhà thờ họ của làng Cao Hy, cách làng tôi một cánh đồng. Hằng ngày tôi mang cái bị lác đựng một cuốn vở, một chai mực tự pha chế và một ngòi bút cán làm bằng tre có buộc vào đầu cán một lưỡi bút, gọi là bút lá tre. Đi học về phải đem bị vở ra vườn nhà moi đất lên, bỏ vào cái hố nhỏ đã đào sẵn, đặt bị vở trên hai thanh tre gần mặt đất rồi đậy lên bị một tấm lá chuối và lấp đất lại cho ngang với mặt đất. Tay chân, quần áo tuyệt đối không để có một vết mực. Tây mà phát hiện có mực, chúng biết đi học trường Việt Minh thì chúng đánh chết. Còn nhỏ mà bọn tôi đã rất ý thức phải làm gì để tồn tại trong chiến tranh. Đến lớp học, việc trước tiên là phải đào một cái hầm tròn vừa cho một người ngồi, gọi là hầm tròn hay hầm cá nhân. Lần đầu tiên máy bay bắn bay ngang qua, chúng tôi chạy ra hầm, nhảy xuống ngồi mới biết hầm còn cạn quá, vai và đầu nhô trên mặt đất, dễ ăn đạn như chơi! Sợ quá, hôm sau tôi phải mang cuốc chét theo, cố gắng đào sâu thêm. Một hôm tôi đang trên đường về thì máy bay đến bắn mấy loạt rồi bay đi. Tôi nhét bị vở vào gốc cây giữa đồng rồi núp mình giữa ruộng lúa đang chín vàng. Máy bay bay đi đã lâu mà không thấy con về, mẹ tôi lo lắng quá nên cầm lấy một cái hái (dụng cụ để gặt lúa) giả vờ đi gặt lúa để tìm con. Hai mẹ con gặp được nhau giữa đồng lúa thì ôm nhau khóc. Tại nhà, mẹ tôi đào hai hầm cá nhân dọc luỹ tre, cách nhau chừng bảy mét để hai mẹ con núp khi có đại liên từ ca-nô dưới sông hay moóc- chê dưới đồn Cửa Việt bắn lên và ca-nông trên Đông Hà bắn về. Mẹ con tôi không nằm chung hầm vì sợ trúng đạn pháo thì chết cả hai! Mỗi lần hai mẹ con chạy ra hầm, mẹ tôi luôn khấn to: Lạy trời nếu rủi ro có chết thì cho tui chết, để con tui được sống kẻo hắn còn nhỏ dại tội nghiệp!

 Nơi hợp lưu 2 ngọn sông người dân cào xúc hến nước lợ để cung cấp các chợ trong tỉnh (Khúc sông từ Giàng Hến về Cửa Việt)
Qua năm 1953 Tây về đốt nhà, thiêu sạch cả làng. Mẹ tôi đi kiếm tre và rơm làm lại một cái lều che mưa nắng. Cũng năm ấy chúng đóng đồn ở đầu làng gọi là bốt (poste) An Cư. Tây đóng đồn khắp nơi. Cách vài ba cây số có một đồn. Dọc tỉnh lộ 4 từ thị xã về đến Cửa Việt chúng đóng đến 7 đồn. Vậy là tôi thất học. Năm 1954 chia cắt đất nước, năm 1955 chưa có trường, tôi lại thất học. Đến năm 1956 chính quyền miền Nam cho mở trường sơ cấp, tôi đã lớn xác nên phải thi xếp lớp và được vào học lớp Ba. Đến 1959 học hết lớp Năm, tôi đi bộ 7 cây số lên trường Đại Hào để thi Tiểu học. Đỗ Tiểu học thì tôi phải ở nhà đi giữ trâu cho người bà con vì mẹ làm thuê không đủ nuôi con học trường tỉnh. Tuy thế tâm trí tôi luôn nuôi một ước mơ được tiếp tục đi học như bạn bè cùng trang lứa! Nhưng một đứa trẻ con như tôi, đi bộ 16 cây số lên đến trường tỉnh Nguyễn Hoàng để học tiếp Trung học là điều không thể. Nhìn mấy đứa bạn con nhà khá giả được tiếp tục đi học trường tỉnh trong khi tôi phải một mình đi theo con trâu ra đồng, nhiều đêm nằm tủi thân âm thầm khóc! May làm sao, năm 1960, bộ Giáo dục thời bấy giờ cho mở mỗi quận một lớp Đệ Thất. Tôi nghe được tin ấy mừng lắm, vì nghĩ rằng đây là cơ may mình có thể tiếp tục con đường học tập. Làng tôi có một đứa học sau tôi một lớp tên là Phụng, Thằng Phụng lại mồ côi mẹ, cha chiêu yếu làm không đủ nuôi con phải nhờ người o của hắn nuôi giúp. Hắn cũng là một đứa hiếu học. Vậy là hai đứa tôi rủ nhau nộp đơn thi vào Đệ Thất Trung học Triệu Phong. Quá mơ ước được đi học mà đi thi chứ lòng không tự tin lắm vì đã bỏ học một năm và mình là dân nông thôn e không tranh nổi với dân trên vùng ngoại ô và thị xã! Thế mà kết quả đến không ngờ. Cả hai đứa tôi đều lọt vào con số ít ỏi 50 trên 492 học sinh dự thi. Thi đỗ rồi vẫn không nghĩ ra cách để đi học. Mẹ tôi và o của thằng Phụng đều lắc đầu: “Tau chịu, tau chịu!”
Trong làng có một bà quan đã đến nhà nói thẳng với mẹ tôi rằng: “Mấy đứa cháu tau ở trên thị xã sáng sữa bò, tối trứng lộn sung sướng thế mà học không nổi, con mi bủng beo rứa, đừng cho hắn đi học, sinh bệnh ra mà chết chừ!”
Mẹ tôi nghe nói thế sợ quá, kiên quyết không cho tôi đi. Tôi thì nằng nặc xin mãi, nên cuối cùng mẹ tôi đành nhượng bộ, nói lẩy: Mặc kệ mi, mi mần răng học được thì học, tau bất kham!”

 Hậu điện nhà thờ HỌ ĐỖ vẫn còn dáng dấp xưa cũ, ngày ấy những cô cậu học sinh THTP ngồi học tại nơi nầy
Tôi và thằng Phụng vẫn quyết tâm đi học. Dù sao, mẹ tôi cũng như o thằng Phụng vẫn thương con, thương cháu, vẫn thầm mong sao cho chúng tôi ăn học bằng người. Và thế là họ tiếp tục kiếp làm thuê, cần cù hơn, chịu khó, chịu khổ nhiều hơn để có cơm có khoai, sắn cho chúng tôi ăn học! Tất nhiên chúng tôi không thể ở nhà trọ nên chỉ có một cách duy nhất là rèn đôi chân cho chắc, khoẻ để cuốc bộ một ngày hai vòng: Từ An Cư lên nhà thờ họ Đỗ Bích Khê một năm, rồi sau đó là đình Cổ thành và đình Hậu kiên. cung đường cả đi lẫn về trên 24 cây số. Mẹ tôi ngày đi làm thuê, đêm đi bắt cá bằng cách cùng những người khác vây sáo lại để bắt gọi là đi mò sáo. Tôi học xong bài là một mình đến chõng tre ngủ. không biết mẹ về từ lúc nào. Nhưng cứ gần 3 giờ sáng là mẹ thức dậy ăn cơm. Nói là ăn cơm nhưng thực ra thì cơm ít, sắn khoai nhiều. Phần lớn cơm bới vào mo cau cho bữa ăn trưa để khi mở ra ăn tại lớp đỡ tủi hổ với bạn bè! Ăn uống xong, chuẩn bị sách vở, chừng 3 giờ rưởi sáng hai đứa hai cái bị lác, hai mo cơm và hai cái gậy chống đi trong đêm tối mịt mờ! Băng qua cánh đồng làng Cao Hy (xã Triệu Phước) gặp một trạm gác của lính dân vệ xã. Họ quát lớn: “Ai, đứng lại!” Cả hai đứa sợ run người, nhưng cũng lấy lại bình tỉnh để đáp: “Dạ hai đứa cháu bên làng An Cư đi học.” Họ lại hỏi vặn: “Học hành đâu giờ này?”

“Dạ, tụi cháu học trường Trung học Triệu Phong, tận côi Sãi, xa lắm!” -
“Ừ, rứa thì cho đi đi!”
Chúng tôi mừng quá, tiếp tục cuộc hành trình.
Qua đến Bồ Bản thì trời tờ mờ sáng. Đôi chân phải hoạt động đều và khẩn trương để có thể kịp giờ vào lớp (7 giờ sáng). Nhiều lúc trể giờ, lén nhảy cửa sổ vào ngồi bàn sau cùng mà vẫn bị thầy phát hiện, kêu đứng dậy la một trận nên thân. Sau khi chúng tôi trình bày lý do, hoàn cảnh, thầy cũng thông cảm và cho ngồi tiếp tục học. Nhìn chung, tụi tôi phần lớn là con nhà nghèo, thất học từ nhỏ và ở xa trường, nên việc đi học gắn với mo cơm bới. Mùa đông không phơi được nên cái mo để gói cơm mốc meo trông rất bẩn! Trên đường đi, hai đứa tôi gặp các bạn khác cũng cặp kè mo cơm bên mình, cũng kiếp nhà nghèo như nhau, cùng cảnh ngộ nên dễ thân nhau. Chúng tôi hẹn đợi nhau cùng đi để chuyện trò cho quên mệt nhọc. Qua Vĩnh Lại có Trương Đăng Sỏ, lên Đại Hào có Phạm Tiến, Phạm Như Tâm ... Hỏi ra mới biết Tiến mồ côi cha, mẹ đi lấy chồng, được bà nội nuôi từ bé. Bà nội đã già nhưng thương cháu quá cũng ngày hai buổi đi giũi cá về bán kiếm gạo cho cháu ăn học! Cảm động làm sao tấm lòng thương con, thương cháu của bà Mẹ Việt Nam! Trong lớp, con nhà giàu chơi với nhau, bọn con nhà nghèo chúng tôi chơi thân với nhau; tụi tôi nghèo cơm áo nhưng rất quyết tâm nên học khá giỏi, được thầy cô thương và thường quan tâm động viên, giúp đỡ. Trường quy định mặc đồng phục quần xanh, áo trắng. Chúng tôi cũng phải chấp hành để khỏi bị phạt. Nhưng mẹ không có khả năng may nổi cho con bộ đồng phục nên tôi phải tự bản thân tìm cách làm thuê để có quần áo mặc. Một loại hình lao động mà bây giờ tôi vẫn nhớ rất rõ là đi thắp hương thay. Tôi có một người bà con họ hàng nhà ở trên thị xã Quảng Trị. Nhà này có người con gái chết trẻ, đem về chôn ở nghĩa địa của làng. Do xa xôi cách trở, gia đình họ không thể về thắp hương liên tục 50 ngày đầu ở mộ được. Họ thấy tôi nghèo cũng muốn giúp đỡ, nên đã hợp đồng với tôi. Nội dung như sau: “Cứ mỗi chiều tối tôi ra nghĩa địa thắp hương cho người vừa qua đời ấy, thắp đủ 50 ngày” thì sẽ cho tôi đủ vải để may bộ áo quần đi học. Tôi ra điều kiện là vải tốt, xấu cũng được, nhưng vải áo phải màu trắng, vải quần phải màu xanh đậm.
Họ chấp nhận, và tôi hăng hái thực hiện hợp đồng. Mấy buổi đầu đi một mình ra nghĩa địa trong gió lạnh tôi thấy run người, nhất là lúc ra về trời tối thêm nên cứ tưởng tượng có người chết đi theo sau lưng mình. Nhưng chí đã quyết, nghĩ đến bộ áo quần đồng phục sắp có đã giúp tôi vượt qua tất cả. Mỗi năm người mỗi cao thêm, áo quần thì dần bạc màu và ngắn lại, lai quần đã lên quá mắt cá chân khá xa, nhưng nó vẫn theo tôi cho hết năm Đệ Tứ!
Lớp tôi có một bạn cũng con nhà nghèo, quê ở Ái Tử học rất giỏi, vì nó đã học trường tư một năm trên thị xã nên cái gì nó cũng biết trước, nói cho cam quả, nó cũng thông minh, (mà không thông minh thì làm sao hồi ấy nó chỉ đỗ Tú Tài mà bây giờ nó dạy luyện thi Đại học cho ba đứa con và các học trò đời nay đến học thêm với nó?). Học trò trong lớp có nhiều đứa giỏi, phần lớn là những đứa con nhà nghèo, cần cù, chịu khó học. Môn Pháp văn thì tôi và thằng Hoá ngang sức nhau, cuối năm Đệ Lục, hai đứa tôi đã viết lưu bút cho nhau bằng tiếng Pháp. Toán thì nó giỏi hơn tôi nên luôn đứng đầu sổ. Học xong lớp Đệ Ngũ thì nó thi băng lên Đệ Tam Nguyễn Hoàng, nghĩa là bỏ qua lớp Đệ Tứ. Tôi không dám thi băng, sợ trượt thì xấu hổ, hơn nữa lúc ấy tôi chưa nghĩ mình có thể đi bộ một quãng đường gần 16 cây số để lên học trường Nguyễn Hoàng.
Học xong lớp Đệ Tứ là thi Trung học Đệ Nhất cấp. Hồi ấy đánh giá bằng cấp chia làm 4 hạng: Ưu, Bình, Bình thứ và Thứ. Tôi được hạng Bình. Mừng quá, tôi chạy ngay về nhà báo cho Mẹ biết. Mẹ tôi bắt một con gà giò, sáo một lon nếp đặt lên cúng tạ ơn Trời đất, Tổ tiên.
Bốn năm học ở Triệu Phong để lại biết bao nhiêu kỷ niệm thân thương, nhưng rồi tôi cũng đành tạm chia xa mái trường để lên Trung học Đệ Nhị cấp Nguyễn Hoàng. Mấy đứa bạn nghèo nhà quê xa trường chúng tôi lại phải tìm cách giúp nhau để có điều kiện ăn học. Con đường duy nhất là kiếm nhà dạy kèm để có cơm ăn và có chỗ trọ. Nhanh nhất trong đám chúng tôi là Phạm Tiến. Hắn bạo dạn, xông xáo, không sợ xấu hổ. Hắn đi hỏi từ nhà này qua nhà khác. Tôi chưa từng làm quen với cảnh sống thành phố nên rụt rè, lớ ngớ không dám đi hỏi tìm. Đang lo lắng bồn chồn thì thằng Tiến chạy về báo cho tôi là đã tìm ra chỗ dạy kèm cho nó và một chỗ khác cho tôi. Tôi mừng như bắt được vàng!
Hắn dẫn tôi đến giới thiệu với nhà chủ rồi ra về. Tôi cảm ơn hắn và ở lại với nhà ấy. Ông chủ nhà là một sĩ quan cấp uý, có một mẹ già, vợ và 4 con nhỏ. Việc làm của tôi không những dạy học mà còn việc đưa và đón các cháu đi học hàng ngày. Tôi ở trọ được hơn một tuần thì chị vợ gọi tôi đến và thân mật bảo: “Anh chị cũng cần em ở dạy cho các cháu, nhưng bà mẹ chồng không muốn có người lạ trong nhà. Em thông cảm và chịu khó đi tìm nhà khác mà kèm.” Nghe chưa hết câu, tôi đã sững sờ, tuyệt vọng, nghĩ rằng con đường đến trường đã bị chặn lối từ đây! Sáng hôm sau tôi bỏ buổi học, về quê xin mẹ mấy đồng để ăn cơm ở quán cơm xã hội, nằm cạnh bờ sông Thạch Hãn. Tôi bỏ học hai buổi để đi kiếm nhà làm gia sư (gọi là làm prề-xép-tơ, tiếng Pháp: précepteur). Tôi đang buồn lo không ngủ được thì thằng Phụng, thằng bạn nghèo cùng làng đến báo một tin vui: “Có một gia đình nông dân ở xóm Dương, thôn Cổ thành đang cần một prề-xép. Họ có hai con trai năm vừa rồi thi trượt Đệ Thất Nguyễn Hoàng, muốn nhờ người kèm để sang năm thi lại.”
Tôi như người chết đuối níu được phao. Thằng Phụng dẫn tôi đến giới thiệu với bác chủ nhà, chuyện trò một hồi, nó chào ra về. Tôi cảm ơn nó và ở lại với gia đình này. Hồi ấy vào cho được Đệ Thất Nguyễn Hoàng thật chua xương! Dạy cho học sinh từ yếu kém lên trung bình hoặc khá thì còn dễ, dạy cho thi đỗ Đệ Thất quả là một áp lực lớn đối với tôi, nhất là mình còn có tham vọng học giỏi. Nhưng với quyết tâm của cả thầy lẫn trò, với sự chăm lo, động viên của bác chủ nhà, năm sau hai học trò tôi kèm đều đỗ vào Nguyễn Hoàng với vị thứ khá cao. Bác chủ nhà tuy nông dân nhưng rất chăm lo việc học cho con. Bác mừng quá, nói lời cảm ơn tôi, và mời tôi tiếp tục kèm cặp hai em cho đến ngày tôi thôi học Nguyễn Hoàng. Do sức khoẻ yếu, làm việc quá sức nên việc học của tôi đuối dần. Thi Tú tài Bán tôi đỗ Bình thứ và Tú tài Toàn chỉ đỗ hạng Thứ. Tôi hơi buồn nhưng không xấu hổ vì biết mình không thể làm hơn thế, khỏi đúp lớp là may! Xong Tú tài Toàn, các bạn tôi tiếp tục vào Huế kiếm phương tiện học tiếp Đại học. Tôi không mơ gì thêm nên bằng lòng về xin một chân dạy giờ tại trường Bồ đề Triệu Phong. Gần cuối năm học 1967-1968 tôi trở lại thăm trường cũ Triệu Phong, thì cơ duyên đã đến. Tôi được gặp thầy Hiệu trưởng Phan Thanh Thiên, thầy mời tôi vào phòng uống nước. Thầy hỏi tôi có thích về dạy trung học Triệu phong không, tôi mừng quá, nói lời cảm ơn thầy. Sau đó thầy đã làm việc với Nha Học chánh, và hai tháng sau tôi đã có giấy nhận về dạy tại ngôi trường mà 4 năm trước mình còn là học trò ở đây. Những đứa bạn nghèo của tôi mạnh dạn vào Huế kiếm nhà dạy kèm để học tiếp lên Đại học. Các bạn đã tự lo việc học được rồi thì giục tôi bỏ dạy để vào Huế học với họ. Tôi không chịu nên họ bàn cách thứ hai là cứ ghi danh học, bài vở họ chép dùm, gởi xe đò (xe khách) ra cho tôi. Có thầy ở Sài gòn ra dạy thì báo để tôi đổi giờ dạy cho các giáo viên khác để vào học. Kiên trì theo con đường ấy, với sự giúp đỡ của những thằng bạn nghèo tốt bụng, ba năm sau, năm 1971 tôi đã đỗ được bằng Cử nhân Việt Hán.
Con đường đi học của tôi là vậy đó, gian nan, vất vả, nhưng chưa bao giờ than thở, bỏ cuộc. Nghiệm lại, thấy câu nói của người Pháp: “Vouloir c’est pouvoir - muốn là được.” nghe cũng có lý!

Nhờ được thầy cũ giúp đỡ, tôi có cơ duyên gắn bó với trường xưa cho gần đến ngày trường ngưng hoạt động (4/1975). Tôi là người thứ ba ở với trường lâu nhất: 4 năm học và 7 năm dạy. (Trường tồn tại 15 năm thì Thầy Hồ Bính và bác Hồ Thơm ở với trường 14 năm, tôi: 11 năm.)
Từ cái duyên trở thành cái nợ. Nợ này không ai đòi tôi, nhưng tình cảm đối với trường xưa, sự hàm ơn đối với thầy cũ và những kỷ niệm thân thương của tuổi học trò cứ bắt tôi phải ngày đêm suy nghĩ. Trường thì đã bị huỷ hoại trong chiến tranh. Năm mươi năm trôi qua, cũng đã hai phần đời người mà thầy xưa, bạn cũ mỗi người một nơi, ai còn ai mất, sống thế nào, chết ra sao, ... không thể biết được hoàn cảnh của nhau! Tôi đem tâm tình này trao đổi với các thầy cô, các CHS của trường về nguyện vọng tổ chức một ngày đoàn tụ, và làm một cuốn Đặc san kỷ niệm - xem như một cuốn lưu bút của 15 thế hệ học sinh TP thân yêu. Vui thay, mọi người đều đồng tình ủng hộ và quyết tâm thực hiện thành công cả hai nguyện vọng đã đề ra.

                                    Thị xã Quảng Trị, tháng 4/2010
                                               Nguyễn Văn Quang

READ MORE - ĐƯỜNG TÔI ĐI HỌC – Nguyễn Văn Quang