Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, March 14, 2018

CHIA TAY ĐẦU TRĂNG MẬT - Thơ Minh Huệ, Nguyễn Khôi sưu tầm và giới thiệu



                 Nhà thơ Minh Huệ


Nhớ một bài thơ của Minh Huệ:

CHIA TAY ĐẦU TRĂNG MẬT

Lời thưa: Nhà thơ Minh Huệ (1927- 2003), tên thật là Nguyễn Đức Thái, sinh ở Bến Thủy/ Tp Vinh / Nghệ An. Ông nổi tiếng với bài thơ "Đêm nay Bác không ngủ" (1951).
Tuy vậy hồi 1953, Nguyễn Khôi tôi (15 tuổi) đang học lớp 6 Trường cấp 2 huyện Phổ Yên/ Thái Nguyên - Chiến khu Việt Bắc, được Thầy giáo cho chép 2 bài thơ của Nhà thơ Minh Huệ:
- Bài "Đêm nay Bác không ngủ" để học làm bài Giảng Văn  (thời ấy chưa có sách Giáo khoa, tất cả là chép tay, học thuộc lòng...)
- Bài "Chia tay đầu Trăng mật", bài này Thầy cho chép để các Trò yêu Thơ "biết Thơ Minh Huệ thực hay đến chừng nào ? Bài này ĐẸP nhất là câu "Óng ánh tóc buông 19 tuổi"... Còn bài thơ "bị cấm" là vì anh Bội đội vào Chiến dịch Thu đông 1953 quyết thắng mà lại viết "Anh bàng hoàng lên hỏa tuyến Thu Đông" là làm nhụt chí khí chiến đấu ! Câu "Chiến tranh. Nghe mới nặng nề sao !" là "Tư tưởng cầu an - Hòa Bình chủ nghĩa "... ảnh hưởng Xét lại Liên Xô / TBT. Chủ tịch Nikita Khơ rút sốp "Chiến tranh là mất hết !"
 Bài thơ chép tay đến nay đã 65 năm, nhiều đêm Nguyễn Khôi tôi nằm thao thức nhẩm đọc cảm nhận: có lẽ sau Tây Tiến / Quang Dũng, Màu tím hoa Sim / Hữu Loan (đều bị cấm) thì bài thơ "Chia tay đầu Trăng mật/ Minh Huệ" là rất đáng đọc... Nguyễn Khôi xin chép lại để các Bạn thơ cùng thưởng thức:


                                       Hà Nội 12-3-2018 - Nguyễn Khôi





          Nhà thơ Minh Huệ lúc còn trẻ


CHIA TAY ĐẦU TRĂNG MẬT

Mùng cưới nếp là chưa rũ xong,
Gối tay chưa kịp nhàu nếp áo,
Trước ngõ sực tin về mật báo
Anh bàng hoàng lên hỏa tuyến Thu Đông.
                    
Bao nhiêu lửa ấm của đêm đầu
Anh nhường em cả, im không nói
Óng ánh tóc buông mười chín tuổi
Trắng vành trăng vời vợi mắt lo âu !
Chìm đáy sông trăng run bổi hổi
Chìm đáy lòng day dứt lắng sâu.
                    
Trách trăng sáng quá, đêm rằm quạnh
Soi bóng đầu thôn, bóng qua cầu !
Anh đi không dám quay đầu lại
Sợ nhìn bóng nhỏ sững đằng sau !
                    
Để cái chết khi giáng trên đầu
Có em, cuộc sống càng thêm chắc.
Bấm bụng rời nhau đầu Trăng mật
Chiến tranh. Nghe mới nặng nề sao !


                          Minh Huệ - 1953

                       
READ MORE - CHIA TAY ĐẦU TRĂNG MẬT - Thơ Minh Huệ, Nguyễn Khôi sưu tầm và giới thiệu

Tuesday, March 13, 2018

CHÙM THƠ TRẦN NHUẬN MINH


             Nhà thơ Trần Nhuận Minh

 Sinh: Ngày 20/ 8 năm Giáp Thân (1944). Quê quán: Điền Trì,Quốc Tuấn, Nam Sách, Hải Dương (bắc Việt Nam). Hiện sống và viết tại TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (bắc Việt Nam).
Công tác và sáng tác tại Khu mỏ Hồng Quảng từ năm 1962, tham gia sáng lập Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh năm 1969, từng được cử làm  Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh, Tổng biên tập báo Hạ Long.
Giải thưởng Nhà Nước về Văn học Nghệ thuật đợt II, năm 2007.
Đã được xuất bản 44 tập sách, trong đó có 38 tập chính, gồm: 22 tập Thơ, 3 tập Truyện vừa, 1 tập Văn, 1 tập Hợp tuyển Thơ Văn, 2 tập Tiểu luận và 9 tập Biên khảo:
THƠ: Đấy là tình yêu (1971), Âm điệu một vùng đất (1980, in lần thứ 2, năm 2016), Thành phố bên này sông (1982), Nhà thơ áp tải (1989), Hoa cỏ (1992), Nhà thơ và hoa cỏ (1993, in lần thứ 22, năm 2015), Giọt phù sa vạn dặm (2000), Bản Xônat hoang dã(2003, in lần thứ 13, năm 2015), Trần Nhuận Minh - Thơ với tuổi thơ(2003), Gửi lại dọc đường (2005, in lần thứ 6, năm 2011), Trần Nhuận Minh, tuyển tập thơ (2005, in lần thứ 2, năm 2007), 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh (2007, in lần thứ 5, năm 2013), Miền dân gian mây trắng (2008, in lần thứ 5, năm 2014), Bốn mùa - Fourseasons (2008), Bốn mùa (2009, in lần thứ 2, năm 2011), Miền dân gian mây trắng - The white cloud popular area (2011), Cánh rừng đã bay về trời (2012), Thành phố Dịu Dàng (2015, in lần thứ 2, năm 2017), Liệu có kiếp sau
 ( 2017), Qua sóng Trường Giang ( 2017); và Trong hy vọng khôn cùng, Maxcơva (1992), do Iuri Konhetxki tuyển chọn và  giới thiệu, Trần Nhuận Minh - Thi ca tinh tuyển tập do Phùng Trọng Bình, Dương Hạ Nguyệt, Tấn Dương dịch, Phùng Trọng Bình và Dương Hạ Nguyệt giới thiệu,  Nhà xuất bản Phát thanh và Truyền hình Trung ương Trung Quốc, Bắc Kinh (2014).
TRUYỆN VỪA: Trước mùa mưa bão (1980, in lần thứ 7, năm 2016), Hòn đảo phía chân trời (2000, in lần thứ 6, năm 2015), Truyện chọn lọc cho thiếu nhi (2002).
VĂN: Đối thoại văn chương (2012 - chung với nhà thơ, nhà phê bình văn học Canada Nguyễn Đức Tùng).
HỢP TUYỂN: Đá Cháy (2016)
TIỂU LUẬN: Thời gian lên tiếng (2013), Đi tìm Sự Thật ( 2017)
BIÊN KHẢO: 15 tác phẩm. Chỉ tính 9 tác phẩm chính: Tuyển tập thơ Hạ Long (1977, in lần thứ 3 năm 2000), Tuyển tập thơ Bạch Đằng Giang (1988), Tuyển tập Nửa thế kỉ thơ Quân Khu Ba (1995) và Tuyển chọn, giới thiệu thơ của 6 thi hào trong 6 tập Khuất Nguyên, Xergây Exênhin, Raxun Gamzatốp, Yanit Rítxốt, Nicôla Ghiden, Oan Uytman trong bộ sách Thi ca thế giới chọn lọc(2004).

SÁCH THAM KHẢO: Trần Nhuận Minh và ba lần định vị cho thơcủa PHONG LÊ và nhiều tác giả (Nhà xuất bản Văn học, 2009);Trần Nhuận Minh và một hướng tìm diện mạo mới cho thơ của Đỗ Ngọc Yên và nhiều tác giả (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2015).

CHÙM THƠ TRẦN NHUẬN MINH


NGUYỄN DU

Đến đâu con cũng gặp Người
Xin dâng chén rượu giữa trời Trung Hoa
Hạc Vàng một bóng Lầu xa
Hồ Nam úa ráng chiều tà hanh heo
Tiệc to thường ở nơi nghèo
Đồng ngô khô xác, mái lều gió lay
Người xưa đi sứ qua đây (1)
Bùn lưng bụng ngựa, sông đầy thuyền trôi
Cỏ cây, thành lũy khác rồi
Hoàng Hà đã cạn, thơ Người vẫn sâu
Thời nào thì cũng như nhau
Nỗi buồn li biệt, nỗi đau dối lừa
Tiền Đường sầm sập đêm mưa
Nước âm u chảy như chưa vớt Kiều (2)
Nghiệp Thành còn tiếng quạ kêu (3)
Lâm Tri bến cũ, cầu treo rực đèn
Sắc tài chi để trời ghen
Người đâu phải nước đánh phèn cho trong
Cõi đời đâu cũng long đong
Văn chương bạc phận, má hồng vô duyên
Bời bời những cuộc đỏ đen
Chính trường sấp mặt, đồng tiền xoay ngang1...
Đặt chân lên đỉnh Thiên Đàn
Bốn bề mây trắng thu vàng lá rơi
Bâng khuâng con lại thấy Người
Vái Người, con đứng ngang trời Trung Hoa                                       
                             Cố Cung  21 - 9 - 1999


VẠN LÍ TRƯỜNG THÀNH CA

Phải đến Trường Thành mới là hảo hán a (1)
Hàng chục triệu người tàn
Hàng trăm ngàn người chết
Xác xây vào Thành còn lộ ra xương trắng
Nấm mộ âm u dài hơn vạn dặm
Chắn ngang mặt địa cầu

Tưởng còn thấy từng dãy người,                                             
                       xếp hàng lên đến tận trời a
Chuyển đá vào mây trắng
Tiếng roi thét ngang đầu
Tiếng ngựa hí cháy những triền dốc đứng
Tiếng đá và người, ào xuống vực

Xương máu muôn dân thành đá vữa a
Vua chúa cất lên kì quan
Tội ác tột cùng đẩy công trình lên tột đỉnh
Bóng Tần Thủy Hoàng lừng lững trong sương lạnh
Cờ xí bay ngút ngát...

Hùng vĩ, ngang tàng và bí hiểm a
Từng chặng nối nhau lên cao mãi
Vọng gác ngàn năm khuất trong mây mù
Chim trời đập cánh rồi rơi xuống
Gió cũng bị chặn lại rồi thổi ngược chiều

Thiên hạ đệ nhất hùng quan (1) quả là xứng danh a
Sức lực của thánh thần, trí tuệ của ma quỉ
Tranh cao với trời, tranh dài với đất
Rốt cuộc bảo vệ ai?
Muôn dân đau khổ và oán hận...

Ta là Công dân nước Việt Nam, đến đây,
không biết sau những ai
không biết trước những ai a
Ngửa mặt lên trời mà than rằng:
Bức trường thành bền vững nhất
của mọi quốc gia chính là lòng DÂN
Nếu Tần Thủy Hoàng nghe trước được lời của TA
Thì triều đại ông, không đến nỗi hơn một đời đã mất...

                                             Vạn Lí Trường Thành  
                                                  9h 19 - 9 - 1999
                                             TRẦN NHUẬN MINH
....................

(1) Năm 1813-1814,  Nguyễn Du đi sứ Trung Quốc
(2) Thuý Kiều (trong Truyện Kiều) trẫm mình ở sông Tiền Đường
(3) Nghiệp Thành: Nơi đóng đô của Tào Tháo, thời Tam Quốc
(1) Từ một ý thơ của Mao Trạch Đông.
(1) Dòng chữ đề ở lầu cổng Vạn Lí Trường Thành.

READ MORE - CHÙM THƠ TRẦN NHUẬN MINH

PHÊ BÌNH BẢN DỊCH CUỐN ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ, KỲ 18 - Minh Di



PHÊ BÌNH BẢN DỊCH CUỐN ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ, KỲ 18

Trong thời gian 1 năm rưỡi ở Thuận Hóa và Hội An Thích Đại Sán đã ghi lại một số điều về đất nước và con người xứ Đàng Trong, như khí hậu, động vật, cây cỏ, thổ sản, nhà cửa, phương tiện di chuyển, phong tục, tập quán, buôn bán, sưu dịch, quân dịch,…. tất cả được ghi lại khá tỉ mỉ trong tập bút ký “Hải Ngoại Kỷ Sự”.

Tập “Hải Ngoại Kỷ Sự” là một trong những tác phẩm quan trọng viết về Việt Nam thời cổ của các tác giả Trung Quốc thời trước; giá trị của tác phẩm là ở chỗ tự thuật ở đây căn cứ những gì tác giả thấy tận mắt, nghe tận tai. 
Ngày mồng 1 tháng 2 năm Ất Hợi, trước Ngọ, Nguyễn Phúc Chu thiết trai tăng cung thỉnh Đại Sán, và tiếp đó cúng dường ca vũ. Sau đó Đại Sán có hỏi chuyện các nàng ca kỹ:
~ Phạn tất, thỉnh viết: - Lão hòa thượng tiền đắc dĩ ca vũ cung dưỡng phủ?
Dư viết: - Thập cung dưỡng trung, âm nhạc kỳ nhất dã.
Vương viết: - Cáo quá thủy cảm.
Tùy mệnh xuất cung nữ tứ, ngũ thập nhân… dã dung (冶容) nhạn hàng, chúng âm tịnh tấu, ca giả trì(遲) kỳ thanh dĩ mị chi, vũ tụ phi dương tự thái liên tình thái, ca kỳ khúc điệu dã.
Diễn [演] bãi, xuất nô tiền (帑錢) ngũ thập thiên dữ dư thưởng tiểu hầu (小侯), tiểu hầu tức lê viên (梨園) chi xưng, dịch nhã danh dư? Ngữ trung thường dĩ Đông Kinh vi niệm, ngôn Đông Kinh nguyên bản Quốc cương thổ, kỳ tiên thế nãi An Nam chuế tế (贅婿) phân phiên ư tư, hậu chuyển cường thịnh…. tự thử cát cứ bản quốc, nhân thị cải xưng vi Đại Việt vân!
Vấn đáp mỗi vị thông sự thố mậu, thị dĩ bất phục đa ngôn.
                 /  Hải Ngoại Kỷ Sự. Qu. I  /.
~ Cơm xong, (vua) mời: - Lão hòa thượng trước đây có được cúng dường ca vũ không?
Tôi nói: - Trong 10 thứ cúng dường âm nhạc là một.
Vua nói: - Phải nói qua mới dám thỉnh.
Liền đó gọi 4, 5 chục cung nữ ra… mặt mày trang điểm, đứng theo hàng lối thứ tự, các thứ nhạc khí đồng thời tấu, người ca tiếng ca ngân nga cho đắm lòng người, ống tay áo múa tung bay như tư thái hái sen, ca nhạc khúc của mình.
Diễn (ca vũ) xong, xuất tiền vương phủ đưa tôi 50,000 tiền thưởng các tiểu hầu, tiểu hầu là tên gọi các cô ca kỹ, cũng chẳng là tiếng gọi thanh nhã sao? Trong lúc nói chuyện các cô này thường tỏ lộ hoài niệm Đông Kinh, nói Đông Kinh vốn là cương thổ nước mình, nói đời trước của vua (hiện nay) là rể của vua An Nam, được cho ra trấn thủ đất này, đến sau trở nên cường thịnh…. từ đó cát cứ bản quốc đây, nhân đó đổi quốc hiệu là Đại Việt.
Trong khi đối đáp, thường vì thông sự dịch sai lạc cho nên tôi không nói nhiều! 

Minh Di:
Sự kiện Lê Thánh tông đánh Chiêm Thành năm 1473, bắt cả nhà vua Chiêm Thành Bàn La Trà Duyệt, chiếm đất đổi tên khác, không thấy “Đại Việt Sử Ký” ghi chép.

Về quan hệ Việt / Chiêm, Việt / Trung, rồi Chiêm Thành và Trung Quốc, có bao nhiêu Sử liệu trong tay, trong đó có một số tác phẩm của những người đã từng tới xứ Chiêm và sống tại đây một thời gian vài ba tháng, 1 năm hay năm ngoài, với tư cách là Sứ giả Trung Quốc, tôi đều dẫn hết trong cuốn “Nam Biên”.
Tuy chưa thể gọi là đầy đủ nhưng ít ra những Sử liệu này cũng có thể cho người đọc một cái nhìn tổng quát về những nét chủ yếu về Chiêm Thành.
                                                                            &
Sau cùng, cũng có một đôi điều cần nói thêm ở đây.
Cuối tác phẩm “Nam Biên” tôi có mấy giòng:
~ Duyệt lại Cổ sử người ta thấy có một sự tránh né của Sử gia Việt Nam thời cổ, nói rõ ở đây là bộ “Đại Việt Sử Ký”, khi viết về “hành trình về phương Nam” của An Nam. - hoặc nói rõ ra là cuộc Chiến tranh giữa Chiêm thành và Đại  Việt.
Trong hơn 1,000 năm lệ thuộc phương Bắc thư tịch của chúng ta bị Trung Quốc, hoặc lấy đi hoặc tiêu hủy không là ít lắm, thế nhưng vẫn còn một số được họ lưu giữ - và có một số trong số này được họ ấn hành để nghiên cứu! Đây là chưa kể trong khá nhiều thư tịch của học giả, nhất là Sử gia nước họ chúng ta, người Việt ngày nay, còn có thể thấy lại được con người của chúng ta ngàn năm trước.
Trong khi đó thư tịch của Chiêm Thành cổ nhân chúng ta thẳng tay tiêu diệt, không còn manh mối gì! Nguồn Sử liệu chủ yếu còn lại về Chiêm Thành đến từ phía Trung Quốc!
Ngoài ra, có thể Cao Miên, tức Chân Lạp cổ cũng có vài ghi chép về Chiêm Thành!
Có lẽ cần học thêm tiếng Miên nếu muốn thêm phần nào về dân tộc Chiêm Thành.
Lại nữa, có vẻ Sử gia, học giả của chúng ta những thời trước đã không mấy người có hứng thú chép về một Quốc gia - một Dân tộc, một thời đã bị chúng ta tiêu diệt!
~ Phải chăng đây là một mặc cảm? Phải chăng hay chẳng phải?
Mất nước đã là một nỗi bất hạnh lớn lao, con cháu ngày nay rồi cũng không rõ gì nhiều về tổ tiên mình lại là nỗi bất hạnh khác, đây là nỗi bất hạnh của người Chàm còn lại!
Sử gia thường nói tới điều gọi là “bài học lịch sử”, và cũng chính Sử gia lại đã thường quên nhắc tới một điểm trong “bài học lịch sử” đó:
~ Niềm tự hào của một Dân tộc luôn luôn được trải bằng xương, tưới bằng máu của một Dân tộc khác.
Muốn tiêu diệt một nước, tiêu diệt Văn hóa của nước đó trước! Việt Nam của những thời trước, là Giao Chỉ, là An Nam…. đã áp dụng triệt để nguyên tắc này, và áp dụng đến lạnh lùng, một sự lạnh lùng của Lịch sử!
Lịch sử vốn lạnh lùng, như Sử gia phải bình thản trước sự kiện Lịch sử, chính xác là phải “lãnh tĩnh” trước mọi biến động - nhưng “lãnh tĩnh” rồi không có nghĩa là lạnh lùng sắt đá trước cảnh tang thương, lầm than của con người, của đồng loại!
Đây là góc cạnh nhân bản của Sử gia, và chính tấm lòng “nhân bản” này mới làm nên một Sử gia chân chính, ngoài những đức tính khác phải có của Sử gia.
                                                                             &                

Vì phải tiếp xúc với Trung Quốc để nhờ giúp đỡ chống lại Giao Chỉ từ đó người Chiêm dần dần đã học chữ Hán, viết văn, làm thơ chữ Hán - và hơn thế nữa, còn đọc tới cả Kinh điển Trung Quốc như Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư….

Tập “Trạc Anh Đình Bút Ký” (濯纓亭筆記) kể rằng sau khi Nguyên triều diệt Tống triều Thẩm Kính Chi (? - ?) lưu vong phương Nam tới Chiêm Thành xin giúp quân chống với Nguyên triều, khôi phục Tống triều! Chiêm Thành nói nước mình nhỏ để từ chối.
Thẩm Kính Chi vào tận triều khóc lóc van xin cũng không được.
Thẩm Kính Chi ở lại Chiêm Thành, vua Chiêm đối đãi như khách nhưng trước sau vẫn không cho làm quan. Thẩm Kính Chi lo nghĩ đến phẫn hận, sinh bệnh mà chết.
Vua Chiêm làm một bài thơ thương tiếc như sau:
Động (慟) khốc Giang Nam lão cự khanh (鉅卿),
Xuân phong thức lệ (拭淚) vị thương tình.
Vô đoan thiên hạ biên niên nguyệt,
Trí sử nhân gian hữu tử sinh.
Vạn điệp (萬疊) bạch vân già cố quốc,
Nhất phôi (一抔) hoàng thổ cái (蓋) hương danh.
Anh hồn (英魂) hảo trục (好逐) Đông lưu khứ,
Mạc hướng biên ngu (邊隅) oán bất bình!

Khóc thảm Giang Nam lão đại khanh,

Gió xuân quét lệ mà thương tình.
Cớ chi thiên hạ ghi năm tháng,
Để khiến nhân gian có tử sinh.
Mây trắng vạn tầng che cố quốc,
Đất vàng một nắm lấp hương danh.
Hồn thiêng nếu nhập giòng Đông cuốn,
Chớ hướng góc trời dạ bất bình!

Tham khảo:
Thù Vực Chu Tư Lục. Qu. VII. Nam man. Chiêm Thành.

Dưới bài thơ của vua Chiêm nói trên, Nghiêm Tòng Giản viết:
~ Quan thử tắc Chiêm Thành bất duy thô thông [粗通] văn mặc nhi thả đôn trọng (敦重) tiết nghĩa; bất duy kỳ thần hữu thi tài nhi kỳ chủ dịch thiện biên chương, bân bân (彬彬) hồ thanh danh văn vật, thất (匹) vu Triều Tiên, siêu vu Nhật Bản viễn hĩ!
Ngã Thái tổ khoa cử chiếu chi ban, chân bất bỉ lậu kỳ nhân nhi dục nạp chi vu hợp giáo đồng văn (同文) chi thịnh dã, nghi tai!
~ Coi đây thì (người) Chiêm Thành chẳng những thông thi văn mà còn trung hậu, trọng tiết nghĩa; chẳng những bề tôi nước này có tài làm thơ mà rồi vua của họ cũng giỏi việc văn chương, tiếng tăm về các phương diện lễ, nhạc, Điển chương đều trọn vẹn, ngang với Triều Tiên, vượt xa Nhật Bản.
Thái tổ triều ta ban chiếu về khoa cử đúng là không coi người xứ này là quê mùa, mà muốn chiêu nạp họ nhập nền giáo hóa hay đẹp rực rỡ của những nước cùng văn tự.
(Phụ chú.
+ Hảo trục (好逐). Chữ “hảo” ở đây nghĩa là “nếu như”.
+ Đồng văn (同文). Cùng dùng 1 thứ văn tự (chữ viết), ở đây tức chỉ văn tự Trung Quốc).

Tập “Thù Vực Chu Tư Lục” sưu tập được tất cả 5 bài Đường thi của Chiêm Thành:
3 bài thất tuyệt cú và 2 bài thất ngôn bát cú, bài dẫn trên đây là 1 trong 5 bài này.
4 bài kia được dẫn từ tập bút ký “Cận Phong Văn Lược” (近峰聞略) là các bài: 
(1). Sơ phát (初發).
(2). Dương Châu đối khách (揚州對客).
(3). Giang lâu lưu biệt (江樓留別).
(4). Nhất trượng hồng (一丈紅).
Bài thứ 5 trên đây không thấy Nghiêm Tòng Giản cho biết đề tựa.
Trong các tập bút ký của danh nhân, học giả, Trung Quốc ngày trước đâu đó chúng ta có thể tìm được một vài bài Đường thi chẳng những của Sứ giả Chiêm Thành mà còn của các Sứ giả Nhật Bản, Giao Chỉ khi đi Sứ qua Trung Quốc.

Chẳng những giỏi Đường thi, giới học thức Chiêm Thành cũng giỏi cả văn xuôi.
Một tờ Biểu văn viết Hán văn của Quốc vương Chiêm Thành gởi vua Tống triều.
~ Cảnh Đức…… Tứ niên. Khiển sứ Bố Lộc Gia Địa Gia đẳng phụng Biểu lai triều.
Biểu hàm tịch dĩ văn cẩm, từ viết:
~ Chiêm Thành Quốc vương Dương Phổ Câu Tỳ Trà Thất Li đốn thủ ngôn:
~ Thần văn nhị đế phong cương Nam chỉ giới ư Tương, Sở, tam vương cảnh giới Bắc bất cập ư U, Yên¾ ngưỡng chúc (矚) xương thời, thực mại (實邁) vãng tích, phục duy hoàng đế bệ hạ! Càn Khôn thụ khí, nhật nguyệt trừ anh (儲英), xuất Chấn cư tôn, thừa cơ ngự cực, từ bi phu (敷) ư thiên hạ, thanh giáo bị (被) ư vực trung; nghiệp mậu (茂) tiền vương, công phương (芳) tồ hậu (徂后), thương sinh thị niệm, hoàng ốc phi tâm. Vô phương bất thị sinh linh, hữu thổ tịnh vi thần thiếp. Chân phong biến bố, bái trạch (霈澤) chu hành, phàm mộc chiếu lâm, cộng tăng tủng biến (聳抃).
Thần sinh ư biên bỉ, hạnh tập Hoa phong, nghị điệt (蟻垤) phong phòng (蜂房), liêu (聊) vi toại tính. Long lâu, phụng các, thượng (尚) trở (阻) quan quang, tái niệm tự hà (自假) thiên uy, hoạch toàn phong bộ (封部), lân vô xâm đoạt, tục hữu thư tô (舒蘇).
Mỗi tuế bái khiển, hạ thần vấn ninh (問寧) thượng quốc. Mông thánh hạ ân triêm (恩霑) hành vĩ (行葦), phúc cập đồn ngư (豚魚). Đặc nhân hồi ban tứ nhung khí, thần bản thổ duy vọng khuyết phần hương, hoan hô bái thụ! Tâm tri đa hạnh, hạt (曷) đáp hồng ân? Thánh quân ký niệm ư tân vương, vi khẩn khẳng vong ư thuật chức.
Kim khiển chuyên (專) tín thần Bố Lộc Gia Địa Gia, phó Sứ thần Trừ Bô Ma Hà Ca Gia, Phán quan Thần Bì Bá Để, nhất hàng nhân lực đẳng, bộ thự (部署) thổ mao viễn xung tuế cống. Tuy biểu Sở mao (楚毛) chi lễ, thực hoài Lỗ tửu (魯酒) chi ưu! Kiền (虔) vọng duệ minh (睿明), phủ khoan khiển lục (甫寬譴戮). Chuyên tín thần đẳng hồi nhật, quân dung (軍容) khí trượng, diệu vũ chi vật, phục nguyện trùng gia tứ lai.
Cái niệm thiêm vi thần tử, hợp cáo quân, thân. Phục sức, xa dư, uy nghi phủ việt bất cảm tư chế, duy vọng ân ban. Can mạo miện lâu bất nhiệm tử tội.
/  Tống Sử. Qu. CDXXCIX. Ngoại quốc 5. Chiêm Thành 

                                                                            Minh Di


READ MORE - PHÊ BÌNH BẢN DỊCH CUỐN ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ, KỲ 18 - Minh Di

CHIỀU QUẢNG TRỊ - Thơ Thanh Nguyệt


An Gia 9.jpg


CHIỀU QUẢNG TRỊ Một buổi ta về nhặt dấu yêu Dòng sông Thạch Hãn lắt lay triều Huyền Trân vạn nẻo màu son thắm Lâm Ấp muôn đời nét ngọc xiêu Cổ lũy thu đông còn đứng lặng Hồng nhan khói lửa cũng phai nhiều Chiều buồn vặn khúc Ai Tư Vãn Cửa Việt ru hờn bóng tịch liêu… Cửa Việt ru hờn bóng tịch liêu Mười năm lạc bước tưởng đâu nhiều Hiền Lương thấm lạnh xương nhành trắng Bến Hải nghiêng gầy mẹ dáng xiêu Khắc khoải hồn non đau tiếng nhạn Lần khân mộng cũ nặng cơn triều Kìa ai khuấy vội tay chèo mỏng Quảng Trị vương buồn một chữ YÊU Thanh Nguyệt
12/3/2016

READ MORE - CHIỀU QUẢNG TRỊ - Thơ Thanh Nguyệt

Monday, March 12, 2018

CÚC CUỐI MÙA - Chùm ảnh - Chu Vương Miện













READ MORE - CÚC CUỐI MÙA - Chùm ảnh - Chu Vương Miện

QUÊ ANH - Thơ - Mai Vân Văn Thiên Tùng


Cánh đồng xã Hải Thiện.
Ảnh: Phạm Đình Quát.


QUÊ ANH

Mai Vân Văn Thiên Tùng


Bình Trị Thiên một thời danh quen gọi
Câu hò vè mái đẩy lẫn mái đưa
Em có lần nào đến mảnh đất nầy chưa?
Có thấu hiểu ngọn ngành phương ngữ đó?
Đây cội nguồn tâm miền Trung vốn có
Câu hò vang theo nhịp đẩy đò đưa
Điệu mái nhì … ơ hờ… mỗi sớm trưa
Âm mái nện … dậy vang đêm thanh vắng.
Câu đối đáp … nam thanh - kìa nữ tú
Hò vay đi … đáp trả đối liền cơ
Thúc đều tay giã gạo… giọng hờ …ơ…
Mái đẩy dô… dô… đều tay khua nhịp
Bài nói lối … đan xen câu trạng ví
Cô lên đồng ngúc ngắc điệu Chầu văn
Mỗi cô đồng áo mão với chít khăn
Màu sặc sỡ y là Tiên giáng vậy…
Em có biết? những khúc dân ca ấy
Là cội nguồn có từ thuở khai sinh
Tự khi nao đã có tại quê mình
Răng, rứa, mô, tê…. ả, eng, bọ, mạ ….
Câu phương ngữ vẫn tồn lưu thế ạ
Điểm tâm giao trụ cột nối ba miền
Dẫu bao lần thiên - thế đảo liên miên
Nhưng vẫn trụ giữa muôn vàn gian khó
Em có biết giữa hai đầu nỗi nhớ?
Bắc đèo Ngang câu vý dặm điệu đà
Nam Hải Vân lưỡng Quảng diễn tuồng ca
Bao dòng chảy lượn vòng theo triền thoải.
Ôi! Một thuở tam sông đồng buộc nối
Nhật Lệ đưa lữ khách tới Hãn giang
Truông nhà Hồ hiểm địa tiếng nguy nan
Rồi mới đến Phá Tam vào cửa Thuận
Khách xuôi ngược Kinh Thành cùng tỉnh quận
Đều vượt qua bao bến lắm truông đàng
Trường Tiền kia soi nhịp đáy Hương giang
Chuông Thiên Mụ ngân đưa từng hửng sáng…
Ráng em nhé! Gắng về thăm một bữa
Nơi Huyền Trân lìa quốc đến Chàm vương
Để Châu Ô - Châu Rí khởi đầu chương
Thời Tiên chúa đặt dinh-thành Nam tiến…

Q.Trị,19.5.2017
Mai Vân-VTT

READ MORE - QUÊ ANH - Thơ - Mai Vân Văn Thiên Tùng

CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN





CẢNH NÀO CẢNH

chẳng đeo sầu
cảnh người chả có đượm màu an vui
bà chủ tát tai ông chủ
ông chủ đá đít thằng ở
thăng ở đá lưng con chó
con chó đớp con mèo
con mèo vồ con chuột nhắt
chạy mất

kẻ nằm xuống kẻ đứng lên
thương tiếc nhau vinh danh nhau
truy điệu bộ nhau
trên mâm thịt chó
người khôn kẻ khó
sống hèn chết vinh quang
có hoa cườm 
có hoa tang
có hòm
có phu khiêng đi chôn
có mộc tồn 
bồi dưỡng
liên hoan

giữa đại dương cá voi há mồm
hút một cái cả tạ cá con chui thỏm vào mồm
nước chảy qua mang cá 
còn bao nhiêu vào dạ dầy
cá nhà tang, cá mập ăn tiếp
cá nhỏ là miếng ăn cho cá lớn
con yếu là miếng ăn cho con mạnh
đó là luật của biển cả
từ xưa giờ
đó là định luật tự nhiên ?


CHIẾN TRANH

thì khổ và chết
hòa bình thì khổ đồng bào nghèo
treo niêu
làm thân nước nhỏ
vất vả trăm chiều

hết trời tới trăng
hết trăng tới cuội
hết thật tới dối
là người quá khó
làm cuội


TIỀN HẾT

là mọi thứ hết theo
lương thực hết
vũ khí đạn dược hết
bom đạn hết
tự dưng chiến tranh chấm dứt
là đế quốc xâm lăng
về nước
và hòa bình đến trong đổ nát
tất cả không được gì ?
đều khánh kiệt

CHU VƯƠNG MIỆN

READ MORE - CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN

TÔI VỀ, ANH Ở LẠI... - Thơ Trần Mai Ngân





TÔI VỀ, ANH Ở LẠI...

Tôi đi về ghé thăm biển xưa
Bờ giá lạnh như vừa xa người
Sóng trôi đời tôi... anh ở lại
Để mãi chiêm bao một nụ cười

Tôi đi về anh ở lại thôi
Không chia tay nhưng đã nghìn trùng
Sóng trôi đời tôi... ôi mịt mùng
Dòng nước mắt khóc tim lạnh lùng...

Tôi đi về với tôi quạnh hiu
Cố quên đi có những buổi chiều
Sóng trôi đời tôi sầu cô lẽ
Đã được là bao nhiêu, bao nhiêu

Anh ở lại, sóng trôi đời tôi
Tôi đi về mới hay xa rồi
Anh ở lại, sóng trôi đời tôi
Tôi đi về mới hay xa rồi!

                  3-3-2018 
             Trần Mai Ngân

READ MORE - TÔI VỀ, ANH Ở LẠI... - Thơ Trần Mai Ngân

Saturday, March 10, 2018

CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN





CẢ THÁNG HẠ

ve sầu thương và khóc
khóc cho học trò hoa phượng đỏ tươi
những con khóc o còn nước mắt
quê hương như ri chả lẽ ngậm cười ?

ôi cõi phù sinh là mấy chốc
đến rồi đi
hết cười lại khóc
cõi hư vô
một bánh luân hồi
quay vô định và quay mải miết


ĐÁM MA

mọi thứ sự nghiệp công danh
tiền tài gái ghệ
đều chấm dứt
chôn xong hỏa thiêu xong
là hết
mọi thứ đều không cần thiết


BUỒN NHƯỢC TIỂU

năm 2017 đầu năm 
bà mẹ vợ chết
cuối năm hai ông cậu chết


BUỒN ĐẾ QUỐC

mới đây danh hài Văn Chung ra đi
thụt lùi là nhà thơ Đặng Tấn Tới
nhà văn nữ Hàn Song Tường
kế tiếp là nhà thơ Trúc Thanh Tâm
đầu năm đi cả cặp
Lý Đại Nguyên và Trần Văn Nam
trước đó thì
Cao Thế Dung và Nguyễn Văn Sang
Phạm Ngọc Lư, Đinh Cường

cọp khổ vì da, voi khổ vì ngà
đàn ông khổ vì lá đa
trăng tròn trăng khuyết
người khỏe người mệt
kẻ đầy đủ kẻ tàn tật
sông sâu biển sâu
lòng người chốn nào ?
nơi nao ?
khôn sống mống chết
cặp bài trùng
giống nhau y hệt

con người đi ngửa mặt lên
trâu bò đi cúi mặt xuống
trên toàn cầu
bao nhiêu quốc gia
đi ngửa mặt ?
bao nhiêu cúi mặt ?


BUỔI SỚM

giống buổi trưa
buổi trưa giống buổi chiều
buổi chiều giống buổi tối

có kẻ điên vì thời cuộc
có kẻ vì gái
vì tiền
có kẻ vì làm thơ
có kẻ giả điên
để được nói bậy nói bạ
và ở truồng

một đời được bao lần Xuân Tết
xuân tết tới hoài người có hay
bao năm xuân tết đi chạy giặc
tết xuân có đến rừng cỏ may ?
77 tuổi nhìn tết xuân
phố xá nơi đây vẫn nhộn nhàng
ai tết ai xuân thì cứ nhận
ai không thì lặng lẽ qua đường
tết ta nơi xứ nguời tạp chủng
ngang gió đông về thổi dửng dưng
còn hai ngày nữa là ngày tết
nhìn mai vàng nở sắt se lòng

CHU VƯƠNG MIỆN

READ MORE - CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN