Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, August 28, 2014

Thơ Ngọc Hùng - NẮNG THU, TỪ GIÃ, MỘT NGÀY TRƯỜNG SƠN



NẮNG THU

Sương sớm bãng lãng
Xanh thẳm trời thu
Rực nắng ngày chiều
Mật vàng lá cỏ
Nắng thu vời vợi
Đẹp màu áo ai
Trống trường giục giã
Này em, hết hè!
Khai trường nắng thu
Đàn cò mê mãi
Đồng xa tuổi ngọc
Êm đềm cánh say
Lá bay trời thu
Kỷ niệm ngời ngời
Ùa về trong ta
Đường xưa lối cũ
Mừng ngày tựu trường
Chào em, gắng nhé!
Học trò một thuở
Rồi thương một đời…



TỪ GIÃ

Tặng bạn vào tuổi về hưu
Tôi xin gửi một tình yêu ở lại
Cùng bảng đen, phấn trắng, hàng phượng hồng
Những mái tóc huyền, những đôi mắt trong
Những năm tháng thầy- trò luyến nhớ
Tôi xin gửi một tình yêu ở lại
Hội đồng sư phạm, đồng nghiệp thân thương
Thời gian qua nhanh trang giáo án rồi sẽ ngã vàng
Vui buồn đó bao tiết thực hành, thao giảng
Tôi xin gửi một tình yêu ở lại
Mái trường thân quen, tiếng trống điểm nao lòng
Dấu chân sẽ xưa trên miền kỷ niệm
Tháng năm ơi còn đó lối đi về
Tôi cũng gởi một niềm tin ở lại
Bạn bè ơi, này trò nhỏ của tôi ơi
Đường tương lai sẽ thẳng tiến từng ngày
Thành tựu mới nối thành công rất mới…
Lòng lưu luyến tôi thốt lời từ giã
Dù bao điều muốn nói vẫn mê mê
Vì chia tay là đã hết duyên nghề
Tôi chỉ có một tình yêu gởi lại



MỘT NGÀY TRƯỜNG SƠN

Từ Lao Bảo quay về Hướng Hóa
Vượt Đak-rông tìm khẩu La-lay
Khe Sanh đi một thôi dài
La-lay lỡ bộ, hướng về Nam Giang

Xe đi dọc Trường Sơn vời vợi
Cung đường cao ai đợi mà thương
Bâng khuâng hoa tím ven đường
Rừng xanh A Lưới, mây vương Phong Điền
Chui Ròang 1 hầm miền cao đó
Qua Ròang 2 tiếp xó núi xa
Tây Giang mây xám nắng tà
Kịp về Thạnh Mỹ nếp nhà ấm êm

Một ngày đường nhấp nhem, nắng nõ
Trời về chiều chớp đỏ sấm giông
Gió rừng ràn rạt đèo bòng
Đông Trường Sơn đó oi nồng mưa đêm


Nhà nghỉ Đông Trường Sơn, Thạnh Mỹ, Nam Giang, Quảng Nam
Tết Đoan Ngọ (16/06/2010)
NGỌC HÙNG


Tg: LÝ NGỌC HÙNG 
148 LÊ LỢI phường 7 Tp MỸ THO, TIỀN GIANG

Dđ: 0917238868   
READ MORE - Thơ Ngọc Hùng - NẮNG THU, TỪ GIÃ, MỘT NGÀY TRƯỜNG SƠN

NGƯỜI NHỐT VÀO TÔI (Hồi âm bài thơ SỢI TÓC) – PN Trương Đình Đăng

(Gửi TRI ÂM CÁC- Võ Văn Hoa)

Tác giả PN Trương Đìnhg Đăng




Người nhốt vào tôi bài thơ "SỢI TÓC"
Câu chuyện tình yêu xanh màu thời gian
Quà tặng trao nhau chỉ là "sợi tóc"
Xanh tuổi niên hoa, mà mượt xuân thì

Người nhốt vào tôi nỗi niềm chia cắt
Hai trái tim yêu chẳng được chung đời
Nửa thế kỉ sau nỗi đau gặp mặt
Chẳng nhận ra nhau, lau bạc mái đầu

Người nhốt vào tôi người đàn bà khóc
Khi nhận món quà- sợi tóc ngày xuân
Tôi nhốt bài thơ vào sâu kí ức
Bỗng thấy tim mình rưng rức... rưng rưng !

         Cám ơn tác giả Phạm Đình Ân
         Cám ơn Tiến sĩ Huỳnh Văn Hoa
         Cám ơn TRI ÂM CÁC-Võ Văn Hoa

                  Đà Nẵng, 28/8/2014
PHƯƠNG NGỮ- TRƯƠNG ĐÌNH ĐĂNG
READ MORE - NGƯỜI NHỐT VÀO TÔI (Hồi âm bài thơ SỢI TÓC) – PN Trương Đình Đăng

Trúc Thanh Tâm - CHÙM LỤC BÁT SỐ 15



1. VỀ TRI TÔN

Về Tri Tôn nhớ phượng xưa
Nghe ai nức nở như mưa cuối ngày
Qua vùng Bảy Núi, nhớ hai
Nên trời già cứ mãi đày đọa ta !

10.5.2014

2. BIỂN BẠC LIÊU

Mơ màng trong cõi tâm linh
Thời gian rớt lại thuở nghìn năm trôi
Bạc Liêu giữa đạo và đời
Nên em thắm chút mặn mòi rất riêng !

05.6.2014

3. CHIỀU HÒN HEO

Mo So sáng kéo mây buồn
Không em ta với Ba Hòn gió reo
Người Hòn Heo cũng đáng yêu
Hồn ai vất vưởng bên chiều Vô Danh !

4.7.2014
TRÚC THANH TÂM
______
GHI CHÚ :

- Tri Tôn cũng có tên gọi là Xà Tón, nằm trong vùng Bảy Núi thuộc huyện Tri Tôn của tỉnh An Giang.

- Bạc Liêu có 2 khu du lịch tâm linh mà du khách thường đến tham quan đó là: Nhà thợ Cha Diệp ở Tắc Sậy, huyện Giá Rai và Chùa Bà Nam Hải nằm trên khu vực phường Nhà Mát thuộc TP Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Mo So, Ba Hòn là hang và núi tự nhiên một khu du lịch của huyện Kiên Lương.

- Hòn Heo: Thuộc ấp Hòn Heo, xã Sơn Hải. Từ bến tàu Kiên Lương lênh đênh trên biển mất 1 tiếng đồng hồ.


- Hòn Vô Danh: Hòn nầy có tên là Kiến Vàng, thuộc huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, dân địa phương thường gọi là hòn Vô Danh, bởi nơi đây chôn rất nhiều xác người từ tứ xứ thời kỳ vượt biên và hình như không ai đến sinh sống.
READ MORE - Trúc Thanh Tâm - CHÙM LỤC BÁT SỐ 15

THIỀN - thơ vui của Châu Thạch




Thiền

Em ngồi chân xếp như in
Chiếc lưng ngay thẳng mắt nhìn vào không
Ta ngồi sao cứ lông bông
Mắt hoa xao động bóng hồng bóng xanh
Em thiền, định có thấy anh
Ta thiền chỉ thấy yên oanh đón mời
Cái tâm nầy khổ em ơi!
Mai đây chắc sẽ ngàn đời trần gian
Em lên cao chốn Niết Bàn
Nhớ ta xin tụng một tràng kinh yêu
Để anh hội chứng Thuý kiều
Chữ tài, chữ mệnh cũng liều cành xuân ./.

                                           Châu Thạch

READ MORE - THIỀN - thơ vui của Châu Thạch

SỐNG HẾT MÌNH VÌ TÌNH YÊU - Nguyễn Văn Hòa đọc thơ Dung Thị Vân

Bìa 1 tập thơ TÌNH NHƯ SƯƠNG KHÓI


SỐNG HẾT MÌNH VÌ TÌNH YÊU

(Nhân đọc tập thơ Tình như sương khói của Dung Thị Vân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2014)



Tình như sương khói là tập thơ thứ 5 của Dung Thị Vân. Tập thơ đã thể hiện được những bứt phá và độ chín trên con đường thơ ca của chị.
Đọc qua tập thơ, tôi thấy hầu như bài nào cũng buồn, cũng nói về sự cô đơn, nỗi đau, sự khao khát, hoang hoải… Đó có thể là những nỗi buồn có tên và cả những nỗi buồn không tên nhưng mang nhiều tâm trạng, có thể đó là tiếng nấc nghẹn ngào về số phận, về tình yêu và cuộc đời.
54 bài thơ trong tập Tình như sương khói là tập hợp nhiều điệu khúc buồn, là nỗi cô đơn, những bi kịch của cá nhân, bi kịch cuộc đời. Do vậy, kéo theo việc nhà thơ Dung Thị Vân sử dụng dày đặc một hệ từ vựng chỉ sự buồn, đau, mất mát, lạc lõng, hoài nghi…
Chủ thể trữ tình mà Dung Thị Vân thường hay nhắc đến đó là ANH, EM và TA. Khảo sát trong 54 bài thơ của tập này thì có đến 110 lần nhà thơ nói về EM, 103 lần đề cập đến ANH, 53 lần nhắc đến TA.
Với nhà thơ, ANH đó là tình yêu, là hạnh phúc, là niềm tin tưởng và yêu thương vô bờ.
Anh có biết/ Mỗi một ngày đi qua/ Là một nét hư hao trên khuôn mặt/ Em làm sao trẻ mãi để được Người yêu thương
Nhà thơ lo sợ trước bước đi của thời gian sẽ làm héo mòn nhan sắc và sẽ không còn trẻ đẹp mãi để được yêu thương. Với Dung Thị Vân, tình yêu là lẽ sống nên chị đặt trọn niềm tin và trao cả cuộc đời cho anh:
Nhưng/ Trái tim em/ Nghìn năm vẫn trào tuôn dòng máu nóng/ Chảy vào tim anh/ Nhung nhớ đến nao lòng
Hay: Ngày của trời/ Đêm của đất/ Em của anh/ Đến hơi thở không cùng
                                                              (Viết cho anh)
Vì yêu anh bằng tình yêu đích thực, chân thành, không hề toan tính, vụ lợi; em đến với anh, gắn bó vào cuộc đời anh như là định mệnh: Em như khói sương/ Theo anh tàn năm tháng/ Em như khói sương/ Bao phủ đời anh
…………………………………………………..
Em như khói sương/ Chẳng bao giờ tan biến/ Quấn lấy đời anh/ trong sợi tóc vô hình
                                                  (Em như khói sương)
Nhưng cũng chính ANH là nỗi buồn, sự đau khổ, mất mát, tạo nên những vết thương lòng khó lành theo năm tháng và sẽ dằn vặt suốt cuộc đời EM.
Đời em là chuyến gian nan/ Vòng tay nào khép dâng tràn nỗi đau/ Anh ơi có nhớ mùa Ngâu/ Mà sao ta chẳng một câu ân tình
                            (Rêu phong phủ trái muộn phiền)
Đối với người phụ nữ, gia đình, con cái là chỗ dựa quan trọng nhất của cuộc đời họ. Họ hạnh phúc khi có chồng con, sum vầy, êm ấm.  Nhưng với Dung Thị Vân điều ấy dường như không trọn vẹn. Để rồi trái tim một người đàn bà đa cảm như chị phải rỉ máu. Trong bài Nửa vời, đó là lời tự sự bẽ bàng, xót xa: Có mất nhau không/ Mà bóng ai biền biệt/ Im lặng thế này/ Sao tan nát lòng nhau/ Dĩ văng là đau/ Là vết thương rỉ máu/ Là vết sẹo muôn đời/ Nhói lại những hằn sâu.
Nhà thơ Dung Thị Vân hiểu rằng, hạnh phúc trong đời con người là có thật, nhưng nó lại rất chông chênh. Chị đă kiếm tìm, chờ mong, hi vọng rồi lại thất vọng, lo âu, trăn trở. Đôi lúc chị bàng hoàng, thảng thốt trong những tiếng gọi tái tê:
Anh ơi/ Lệ nhỏ tràn ra giấy/ Anh ở bên trời/ Có nhặt chút xót xa
Em kỳ ảo/ những âm thanh vô vọng/ Sao quanh em/ Đau buốt chữ tình cờ
                                                (Ngăn tim màu lá cỏ)
Thơ Dung Thị Vân thể hiện tính chất trữ tình ở cách cấu tứ bài thơ dựa trên những cảm xúc tâm trạng. Hầu như các bài thơ của chị đều bắt nguồn từ một cảm xúc nào đó. Chị làm thơ một cách tự nhiên, đó như là sự trải lòng, cảm xúc thế nào nói ra thế ấy, khi cảm xúc dâng lên nó trào ra ngọn bút. Những bài thơ: Giữa hai bờ không nhau, Đừng để em phải nhắc, Vết sẹo nào đã đẫm, Trời trở gió vẫn còn anh, Anh có nói, Đoản khúc rời, Mảnh vỡ chiều ba mươi tết, Ly rượu đợi chờ, Bài thơ đêm cuối, Bốn mươi năm, Khua nhàu ký ức... chắc hẳn đã ra đời trong những giây phút mà tâm hồn chị dạt dào những nỗi niềm trắc ẩn. Bởi kết cấu trên cơ sở những biểu hiện của cảm xúc nên mạch thơ Dung Thị Vân trôi chảy rất tự nhiên, tất cả những khía cạnh tâm hồn được phơi bày, thổ lộ ra hết theo dòng suy nghĩ của nhà thơ.
Trái tim người phụ nữ nói chung, bao giờ cũng độ lượng. Người phụ nữ họ chín chắn, sâu sắc hơn nam giới. Với chị, những gì đã đi qua trong cuộc đời, nó sẽ ám ảnh và trở thành những kỉ niệm, nỗi nhớ khôn nguôi, cả sự khắc khoải (dù rằng đó có thể là những điều không hay).
Tháng năm trôi
Tình yêu còn nguyên trong từng câu thơ anh viết
Đốt tim em cháy bỏng những nẻo đường
Anh về cùng em, cùng Đà Lạt yêu thương?         
                                    (Anh có về Đà Lạt cùng em?)
Do vậy, nhà thơ Dung Thị Vân rất ư thức về thời gian, điều đó đồng nghĩa với việc chị tự ý thức về sự tồn tại của mình trên cuộc đời này. Ý thức về sự tồn tại của con người trong cõi nhân sinh rộng lớn. Vì thế, thời gian thường được cụ thể hóa, được phản ánh gắn liền với những bước thăng trầm của cuộc đời đầy biến động:
Người đi khuất nẻo biển sâu/ Đem theo câu hứa kinh cầu tình yêu/ Tháng ba mưa bỏ nắng chiều/ Tháng ba có hạt mưa kiêu nẩy mầm.                                                                      (Mưa).
Ngày xưa anh đă là mây trắng/ Em một nụ hồng trong giá băng/ Từ anh giấc ngủ đêm huyền thoại/ Ảo ảnh vầng trăng cổ tích thi nhân.                                               (Se kết nụ hồng).

Bìa 2 tập thơ TÌNH NHƯ SƯƠNG KHÓI


Thời gian: ngày, đêm, buổi chiều, ngày mai, ngày xưa, nay, mùa xuân, mùa đông, mùa hạ, năm tháng… được nhà thơ thường xuyên nói đến. Đặc biệt, đêm trong thơ Dung Thị Vân được phản ánh với nhiều dạng, nhiều vẻ, tạo nên sự độc đáo. Qua cảm nhận của chị, đêm như những sợi tơ giăng chi chít, gợi lên tấm chân tình. Nó đan kết hòa quyện để nối ngày qua đêm, nối các mùa trong năm, giữa ngày xưa và ngày nay, giữa quá khứ và hiện tại. Đêm trong thơ Dung Thị Vân là hiện thực cuộc sống, là thân phận con người. Đêm gợi cảm giác buồn, cô đơn, đau đớn, khao khát sống, khao khát yêu, nhiều khi có cả sự ám ảnh: Đêm nay nhỏ lệ khóc người/ Còn đêm nay nữa ta cười với nhau/ Hồng trần một cơi về đâu/ Trong mơ lần nữa gục đầu ái ân (Bài thơ đêm cuối).
Thao thức với đêm dài, nhà thơ Dung Thị Vân nhận thức ở tầm sâu nhất, cao nhất, tự lắng lòng và chị nghiệm ra:
Cái đêm vịn gió thật thà/ Cái đêm khuy áo lụa là ngu si/ Cái đêm vũ trụ vô vi/ Cái đêm còn lại nô tỳ tương tư
Cái đêm đen trắng thực hư/ Cái đêm trời đất khật khừ giao thoa/ Cái đêm khoảnh khắc phong ba/ Cái đêm xúc cảm vỡ nhòa trong tâm
Cái đêm hoa cỏ xanh thầm/ Cái đêm gió thốc nẩy mầm khuyết thâu/ Cái đêm chăn gối lệch nhàu/ Cái đêm trăng chếch bên cầu huyền linh
Cái đêm- quấn quýt...
... vô tình!
Việc lặp đi lặp lại 13 lần “Cái đêm” trong bài thơ cùng tên đă cho thấy được những cung bậc, sắc thái yêu đặc sắc. Sức hấp dẫn của nội dung tự sự trong thơ Dung Thị Vân thể hiện ở việc lựa chọn những hình ảnh giàu tính biểu cảm, khắc sâu vào tâm trí người đọc.
Người phụ nữ thường cả tin, luôn tin vào kết thúc có hậu của một câu chuyện tình. Thế nhưng sau những lần vấp ngă, bị dối lừa, phụ bạc họ không tin vào những ảo tưởng và thơ họ trở thành nỗi buồn trường cửu:
Anh ban cho em- Tình yêu
Và những sáng- và những chiều, khắc khoải
Anh tặng cho em- ngày dài
Trong nỗi đợi chờ- v́ ai đau khổ
Kết lại trong em- bơ vơ
Bấy nhiêu đó là bao nhiêu bệnh hoạn
Có thể nào- những dối gian…
                                               (Người tình bội ước)
Đọc thơ Dung Thị Vân, nổi bật đó là giọng thơ trầm buồn, dịu dàng, tha thiết, đau đáu nỗi đời, nỗi người. Đó là tấm lòng, là tình cảm của một người đàn bà từng trải, chịu nhiều mất mát, hụt hẫng nhưng chị đã sống, đã yêu một cách chân thành và hồn hậu. Quá khứ- hiện tại- tương lai dường như được hòa quyện vào nhau và hội tụ về thời gian hiện tại trong thơ chị.
“Dịu dàng, đằm thắm, không khoa trương, những câu thơ của Dung Thị Vân cứ lặng lẽ đi vào đời như tự thân vốn có của nó. Dung Thị Vân chọn cho mình một lối đi riêng nhẹ nhàng mà sâu lắng, đắm đuối cuồng nhiệt mà tĩnh  lặng, khao khát kiếm tìm mà không đơn độc. Thơ như chiếc cầu phao cứu rỗi những khi trầm uất, những lúc chán chường mệt mỏi. Dung Thị Vân đă tìm được chân dung của mình qua những dòng thơ bằng sự trải nghiệm, những lúc hứng khởi và cả những khi tuyệt vọng để từ đó vươn tới những chân trời thơ đang rộng mở...”. Đó là những lời nhận xét khá xác đáng của Nhà thơ Trần Ngọc Trác khi đọc thơ Dung Thị Vân.
Tôi tin, Tình như sương khói (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2014) của Dung Thị Vân là tập thơ sẽ có một số lượng không nhỏ độc giả đồng cảm và yêu thích. Vì họ tìm thấy ở đó sự đồng điệu và chân thành, nhiều nỗi niềm trắc ẩn của một người đàn bà sống hết mình vì tình yêu./


Nguyễn Văn Hòa      
Giáo viên Trường THPT Nguyễn Thái Bình,
xã Xuân Phước, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên
Điện thoại: 0984.833.247























READ MORE - SỐNG HẾT MÌNH VÌ TÌNH YÊU - Nguyễn Văn Hòa đọc thơ Dung Thị Vân

Wednesday, August 27, 2014

Đình Hy - VỀ KẾT THÚC TRUYỆN TẤM CÁM CỦA NGƯỜI VIỆT



VỀ KẾT THÚC TRUYỆN TẤM CÁM 
CỦA NGƯỜI VIỆT

  Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, truyện Tấm Cám là một truyện được đông đảo nhân dân ta biết, chẳng những thế, mô-tip/kiểu này hầu như nhân loại đều hình thành, sáng tác thành những truyện nổi tiếng với các tên gọi Cô Lọ Lem, nàng Tro Bếp, Tấm Cám. Bởi những truyện này phản ánh, bao hàm hiện tượng xã hội chung của đời sống con người: hiện tượng dì ghẻ con chồng. Và tác giả dân gian bao đời luôn dành cho Tấm tình cảm ưu ái; dù muôn đắng ngàn cay, chết đi, hóa thân sống lại, rốt cuộc Tấm vẫn trọn vẹn hạnh phúc. Hơn thế nữa, một số tác giả thơ, nhạc hiện đại, một vài bài phát biểu, một số M.C các chương trình… thỉnh thoảng vẫn lấy hình tượng Tấm làm cảm hứng sáng tác, lời dẫn cho mình: hiền dịu như Tấm, lam làm như Tấm, lẩn khuất đâu đó cô Tấm dịu hiền, Cô Tấm ngày nay… Đương nhiên rằng cô Tấm là tội nghiệp, đáng thương vì những oan nghiệt do mẹ con dì ghẻ gây ra rồi. Trong thể loại ca dao cũng đúc kết: Mấy đời bánh đúc có xương… Với cách nhìn nhận biện chứng thì không phải tất cả mọi dì ghẻ trên đời đều ác cả. Chúng ta nhớ lại phim Dì ghẻ của Liên Xô trước đây xây dựng nhân vật dì ghẻ thật nhân từ, tràn đầy tình thương yêu con chồng.
 Bài này chỉ luận trong phạm vi truyện Tấm Cám, và chỉ đề cập đến kết thúc truyện liên quan số phận mẹ con Cám mà thôi; đồng thời đặt nó trong hệ thống truyện theo mô-tip Tấm Cám của một số dân tộc.
Cốt truyện theo mô-tip Tấm Cám của các dân tộc thường giống nhau, ở đây tôi xin nhấn mạnh là truyện các dân tộc ở phương Đông hay trời Tây đều có chi tiết chiếc giày của Tấm xuất hiện, kỳ lạ thay; còn sự khác nhau là những chi tiết tùy theo đặc điểm cuộc sống, phong thổ, quan niệm tâm linh để sáng tạo ra người phò trợ Tấm như: Bụt, Thánh Thần, Người tóc xõa, cô Tiên, thậm chí người mẹ hóa thân thành bò cái hoặc thành chim về giúp… Nhưng đáng chú ý hơn là kết thúc truyện liên quan mẹ con dì ghẻ và nhất là thái độ hành xử của Tấm.
Trước hết chúng ta xem một số truyện như sau:
- Truyện Nàng Diệp Hạn (do Đoàn Thành Thức, đời Đường ghi chép từ thế kỷ thứ IX). Đây là một truyện ghi chép rất sớm. Nội dung truyện đại lược như sau:
“Tương truyền khoảng trước đời Tần Hán có người chúa động họ Ngô ở phương Nam, lấy hai vợ, người vợ cả sinh đựơc một cô gái tên là Diệp Hạn rồi chết. Sau đó cha Diệp Hạn cũng chết. Mụ dì ghẻ hành hạ cô, thường sai đi hái củi ở những nơi núi rừng nguy hiểm và gánh nước ở những chỗ khe sâu”
Sau đó truyện dẫn dắt việc Diệp Hạn bắt cá nuôi => dì ghẻ lừa Diệp Hạn giết cá ăn => người tóc xõa chỉ chỗ chôn xương cá bày Diệp Hạn đem về chôn trong buồng => ngày hội, mẹ con dì ghẻ sai giữ nhà, giữ vườn => Diệp Hạn cầu xin xương cá cho áo lụa, giày vàng => Diệp Hạn đi hội => gặp dì ghẻ, Diệp Hạn sợ hãi bỏ chạy rơi chiếc giày => có người nhặt được bán cho vua nước Đà Hãn. Tiếp đó truyện kết thúc: “Nhà vua sai phụ nữ khắp cả nước đi thử giày nhưng không một ai đi vừa; sau tìm được Diệp Hạn thì cô đi vừa ngay. Diệp Hạn mặc áo đi giày, đẹp như người trời. Nhà vua liền đưa cô cùng nắm xương cá về cung. Còn hai mẹ con mụ dì ghẻ thì bị đá bay tới đánh chết…”(1).
- Truyện Ta Gia - Ta Luân của dân tộc Choang có nội dung như sau:
Ta Gia là cô gái người Choang mồ côi bị dì ghẻ bạc đãi => Mẹ cô hóa thân thành bò cái ăn vỏ gai thải ra lụa trắng => Dì ghẻ biết chuyện giết chết bò => Quạ mách bảo Ta Gia chôn xương bò => ngày hội, Ta Gia bị dì ghẻ và con gái dì là Ta Luân sai giữ nhà => Quạ bảo Ta Gia đào đất áo lụa, vòng vàng, giày vàng => Ta Gia đi hội đánh rơi giày xuống cầu => công tử con chúa động nhặt được treo ở hội => Ta Gia nhận lại giày => kết hôn công tử => Ta Gia về thăm nhà bị giết, Ta Luân mạo nhận là Ta Gia về với công tử => chim quạ chế nhạo Ta Luân bị bỏ vào nước sôi => nước sôi chế nhạo Ta Luân bị hất đổ ngaòi cửa => chỗ đó mọc cây tre => cây tre móc đầu tóc Ta Luân bị chặt đốt => bà già nhặt lóng tre làm ống thổi lửa => ống thổi lửa hóa thành cô gái thành con nuôi => nhà công tử ăn gà bị mèo vồ đùi gà chạy đến nhà bà già => công tử đuổi đến nhà bà già thì gặp vợ cũ mình là Ta Gia sống lại.
Truyện kết thúc: “Thế là vợ chồng, mẹ con đoàn tụ cùng nhau về nhà. Ta Luân thấy Ta Gia trẻ đẹp trắng trẻo hơn trước, bèn hỏi Ta Gia xem làm thế nào được vậy? Ta Gia nói là nhờ người khác bỏ vào cối mà giã. Ta Luân vào nằm ngủ trong cối gạo, rồi bảo mẹ nó giã; chày vừa nện xuống thì Ta Luân chết luôn. Mẹ nó tức uất lên cũng chết nốt”(2).
Truyện Ta Gia - Ta Luân này có 2 dị bản:
- Bản trong Từ điển truyện kể dân gian Quảng Tây cũng có những tình tiết như bản ghi của Lam Hồng Ân. Cũng từ tre bà lão nhặt về làm ống suốt khung cửi. Bà lão bắt gặp cô gái và nhận làm con. “Cô gái đó chính là Ta Gia, nhờ bà lão giúp đỡ, cô gặp lại chồng và con trai, cả nhà lại đoàn tụ. Hai mẹ con Ta Luân thì biến thành hai con chim mà ai thấy cũng ghét”(3).
- Bản do Qua Vĩ ghi: khi chết dì ghẻ hóa thành chim kêu: “hại người hại mình”.
- Thú vị là truyện Chị Tấm em Cám của tộc người Kinh ở Trung Quốc (tiếng Hán Mễ Toái thư hòa Khang muội). Người Kinh là người Việt di cư sang Trung Quốc vào năm 1511. Về căn bản giống truyện Tấm Cám ở Việt Nam, có khác một số chi tiết quan trọng so với truyện ở ta: không có ông Bụt giúp mà chính mẹ Tấm hóa thành chim ngầm giúp Tấm, kết cục không có chuyện Tấm trả thù mẹ con nhà Cám. Chi tiết chị Tấm bị hành hạ => mẹ biến thành chim ngầm giúp => Tấm hát hay, vua tìm đến => Dì ghẻ đuổi Tấm đi => Tấm rớt giày hoa, quân nhà vua nhặt được => dì ghẻ lừa đưa Cám về làm vợ vua => Tấm bị đầu độc chết chôn ở cánh đồng => Mộ Tấm mọc cây la thi (cây thị) => bà lão xin thị rụng xuống vạt áo bà => Trái thị hóa thân của Tấm giúp bà lão cơm canh => nhận nhau làm mẹ con => biết sự thật bà lão đi báo vua => vua đến gặpTấm đưa bà lão và Tấm về cung…
Kết thúc như sau: “Vua đòi mụ dì ghẻ đến hỏi chuyện. Mụ ta nói: Nếu bệ hạ tìm được một cô Tấm thứ hai thì mẹ con tôi xin chịu lửa thiêu dầu nấu”. Nhà vua liền sai đun sôi vạc dầu, rồi gọi Tấm lên điện. Thế là hai mẹ con nhà Cám sợ quá kêu thất thanh, rồi ù té bỏ chạy”.
Có bản kể là: “Hai mẹ con mụ dì ghẻ sợ quá ngã quỵ xuống ngất xỉu”(4).
Đó là những kết của những truyện kiểu Tấm Cám. Thế giới truyện cổ tích vô cùng phong phú, bởi đó là sức tưởng tượng của dân gian, vô cùng đa dạng, bởi đó là truyền khẩu, tam sao nên nhiều dị bản… Thế thì ở đây kết thúc truyện, hay như ngày nay chúng ta thường nói: Tấm ổn rồi, còn số phận mẹ con Cám thế nào? Và qua những truyện vừa kể trên, không có chuyện Tấm có hành vi trả thù, ngay cả truyện Ta Gia - Ta Luân của dân tộc Choang, Tấm cũng ở mức: “... thấy Ta Gia trẻ đẹp trắng trẻo hơn trước, bèn hỏi Ta Gia xem làm thế nào được vậy? Ta Gia nói là nhờ người khác bỏ vào cối mà giã. Ta Luân vào nằm ngủ trong cối gạo, rồi bảo mẹ nó giã; chày vừa nện xuống thì Ta Luân chết luôn. Mẹ nó tức uất lên cũng chết nốt”.
Thậm chí chúng ta còn nhớ mô-típ Tấm Cám khi lên phim Ba hạt dẻ dành cho Lọ Lem, các nhà làm phim CHDC Đức đã tuân thủ kết cuộc có hậu. Lọ Lem cuối cùng là vợ của Hoàng Tử. Còn trong các bản dịch Cô bé Lọ Lem thì Lọ Lem nhân hậu, sau khi kết hôn với Hoàng Tử đã tha thứ cho dì ghẻ, gả chồng cho hai em con dì ghẻ. “Lọ Lem vốn vừa đẹp vừa nhân hậu. Cô cho hai em ở trong hoàng cung và gả ngay hôm ấy cho hai vương hầu trong triều”(5).
Như thế chúng ta xem lại truyện Tấm Cám trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam do Nguyễn Đổng Chi công bố: nội dung và tình tiết truyện thì ai cũng biết, song chúng tôi xin trích lại phần kết thúc truyện để chúng ta xem xét: “Cám thấy Tấm trở về và được vua yêu thương như xưa thì nó không khỏi sợ hãi. Một hôm Cám hỏi chị:
- Chị Tấm ơi chị Tấm, chị làm thế nào mà đẹp thế?
Tấm không đáp, chỉ hỏi lại:
- Có muốn đẹp không đẻ chị giúp!
Cám bằng lòng ngay. Tấm sai quân hầu đào một cái hố sâu và đun một nồi nước sôi. Tấm bảo Cám xuống hố, rồi sai quân hầu dội nước sôi vào hố. Cám chết, Tấm sai đem xác làm mắm bỏ vào chĩnh gửi cho mụ dì ghẻ, nói là quà của con gái mụ gửi biếu. Mẹ con Cám tưởng thật, lấy mắm ra ăn, bữa nào cũng nức nở khen ngon. Một con qua ở đâu bay đến đậu trên nóc nhà kêu rằng:
Ngon ngỏn ngòn ngon,
Mẹ ăn thịt con,
Có còn xin miếng!
Mẹ con Cám giận lắm, chửi mắng rầm rĩ, rồi vác sào đuổi quạ. Nhưng đến ngày mắm ăn gần hết, dòm vào chĩnh, mụ thấy chiếc đầu lâu của con thì lăn đùng ra chết”(6).
Kết cuộc này nhìn vào ban đầu thấy có vẻ thỏa mãn tâm lý người nghe kể chuyện, người nào ác độc thì cuối cùng cũng phải đền tội ác. Phải gặt bão thôi. Nhưng ở đây nhân vật Tấm làm mắm Cám và gửi đến cho dì ghẻ ăn, chỉ đến khi phát hiện ra thứ mắm chính là thịt da con mình thì dì ghẻ lăn đùng ra chết. Hiệu quả của chi tiết trả thù này có quá mức bình thường không, có bị phản cảm không khi ta nhớ lại những kết cuộc của cốt truyện các dân tộc liệt kê trên đây? Hầu như các truyện đều kể cái chết mẹ con dì ghẻ là do Trời, sấm sét, đá bay vào, người khác, hoặc uất lên mà chết; nhưng quan trọng không phải là Tấm trực tiếp trả thù.
Hình như trong Tấm Cám có một điều gì đó không ổn?
Chúng tôi cho rằng: sáng tác dân gian là sự bồi đắp/thêm bớt liên tục theo hành trình dân tộc, nhất là thời đại các sáng tác này chỉ truyền khẩu, chưa được văn bản hóa. Có bản truyện, câu ca tưởng như là ổn định, hóa ra ở đâu đó lại có hiện tượng na ná. Và khó lòng phân định cái nào là trước/sau, trừ trường hợp ngôn ngữ xuất lộ để định dạng. Hiện tượng này gọi là dị bản, dị bản văn học dân gian vừa làm khó con người hậu thế, nhưng là tính chất làm phong phú dòng văn học dân gian của một dân tộc. Nói đâu xa, ngay cả hiện tượng giữa ca dao và thơ của tác giả cụ thể hẳn hoi, có khi không biết bên nào có trước, bên nào có sau mà truyện Kiều và ca dao là một ví dụ.
Điều không ổn này phải tìm ở yếu tố sự bồi đắp/thêm bớt liên tục may ra mới giải thích được, phải chăng có trường hợp bồi đắp của một cá thể trong dân gian hay một trí thức nào đó xưa làm thay chi tiết Trời phạt/sét đánh chẳng hạn bằng chi tiết trả thù tàn nhẫn này? Văn mạch truyện Tấm Cám, lô-gich tất yếu là kết cuộc là mẹ con dì ghẻ phải chết, đạo lý dân gian rất đơn giản: Gieo gió ắt gặt bão(7). Nhưng vấn đề là phần lớn cái chết của mẹ con dì ghẻ đều không do nhân vật Tấm trực tiếp tác động, mà gián tiếp: xấu hổ tự tử, đá bay vào. Mỹ học dân gian thông thường khó cho phép Tấm làm điều gì ác cả, hiền lành như thế, lam làm như thế, Tấm chỉ việc chống lại, không tiêu diệt mẹ con dì ghẻ.
Vẫn phải để ngỏ vấn đề gọi là sự trả thù của Tấm một cách tàn nhẫn này. Chừng nào chưa lý giải rốt ráo sự bất bình thường này của tính cách nhân vật Tấm trong truyện cổ tích này và có thể nhiều truyện các dân tộc khác nếu phát hiện, tôi chưa dám xem cô Tấm là dịu hiền, lam làm, như một biểu tượng trong sáng tác của mình./.

                                         ĐÌNH HY
              Văn học Nghệ Thuật Ninh Thuận   
                   dinhhy_nt@yahoo.com.vn
         ------------------------

(1) Kiều Thu Hoạch, Văn học dân gian người Việt: góc nhìn thể loại, NXB Khoa học xã hội, H. 2006, trang 518 - 519.
(2) Dịch theo bản ghi của Lam Hồng Ân trong sách “Bàn luận tản mạn về văn học dân gian Quảng Tây” – dẫn theo Kiều Thu Hoạch, sđd, trang 522.
(3) Tào Đình Vĩ, Quảng Tây dân gian cố sự từ điển, – dẫn theo Kiều Thu Hoạch, sđd, trang 524.
(4) Kiều Thu Hoạch, sđd, trang 527.
(5) Cô bé Lọ Lem, NXB Thanh Niên, 2006, trang 15.
(6) Dựa theo Đỗ Thận: Một truyện kể An Nam về cổ tích Tro Bếp, BEFEO, tập VII, q. 1-2 (1907) và lời kể của người của người miền Bắc. Dẫn theo Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập 4, NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí Minh, 1995, trang 222 - 223.
(7) Xem thêm: Chu Xuân Diên: Về cái chết của mẹ con người dì ghẻ trong truyện Tấm Cám, trong “Văn hóa dân gian, mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên cứu thể loại”, NXB Giáo Dục, 2001.


READ MORE - Đình Hy - VỀ KẾT THÚC TRUYỆN TẤM CÁM CỦA NGƯỜI VIỆT

BIẾT KHÔNG… KHÔNG BIẾT - thơ Hoài Huyền Thanh

Tác giả Hoài Huyền Thanh




BIẾT KHÔNG… KHÔNG BIẾT

        

Biết không thể

    Sao lòng muốn thế

    Để bây giờ

  “Con cá biệt tăm”

Biết khó quên

    Sao còn lần lữa

    Ngày ngày qua

    Nỗi nhớ dài thêm

Biết không nên

   Sao còn nắn nót

   Gửi tờ thư

   Gió thả qua thềm

Biết hắt hiu

   Sao không từ bỏ

   Để ngậm ngùi

   Trăng tỏ đèn lu

Biết mỏi mòn

   Sao đang tâm buộc

   Heo may về

   Nắng đợi mưa trông

Biết không thật

   Sao lòng chao chác

   Mịt mù xa ...

                Chiếc lá Diêu Bông.



                            Hoài Huyền Thanh            





READ MORE - BIẾT KHÔNG… KHÔNG BIẾT - thơ Hoài Huyền Thanh

TRỜI THU HIU HẮT - thơ Trúc Thanh Tâm






TRỜI THU HIU HẮT



Giật mình từng chiếc lá rơi

Em ơi có thấy đất trời vào yêu

Mắt nhìn nhau tiếng suối reo

Nhịp tim nhè nhẹ đổ đèo ái ân



Em về chiều cũng bâng khuâng

Chim theo lối nắng mờ dần phía xa

Anh ngồi đếm tháng ngày qua

Hương yêu một thuở tình ta còn nồng



Mưa dầm phố lại có sông

Mây từ muôn kiếp còn hồng dấu xưa

Trên cành con gió đẩy đưa

Trời thu hiu hắt bao mùa nhớ thương



Quê nhà lạ hoắc phố phường

Bao năm xa cách mà dường chiêm bao

Cầu tre, trường cũ nay đâu

Từ trong sâu thẳm nỗi đau ngậm ngùi !



                     Mùa nước nổi, 24.8.2014

                       TRÚC THANH TÂM
READ MORE - TRỜI THU HIU HẮT - thơ Trúc Thanh Tâm