Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, December 23, 2011

CHÙM THƠ VỀ NOEL


NOEL VẮNG EM

Gửi em chút rét mùa đông
Phơn phớt lạnh để má hồng thêm xinh.
Em là ngọn nến lung linh
Trong đêm lễ hội giáng sinh diệu kỳ.
Thả hồn vào chốn mê ly
Tôi mong được ước những gì nến ơi?
Đêm nay mới thật tuyệt vời
Trăm năm xin đợi người ơi hãy về.
Tình ta nồng thắm duyên quê
Noel năm ấy câu thề nhớ không?
Tình anh chôn chặt đáy lòng
Bao điều muốn nói mà không thành lời.
Gửi người yêu cuối phương trời
Giáng sinh trong ấy tuyệt vời không em?
Tôi đăm đăm nỗi khát thèm
Sánh vai em để cùng xem đêm hồng.

Giáng sinh có rét mùa đông
Ấm lòng tôi ngọn nến hồng là em!
                      Lương Thế Hùng


MÃI TRONG NHAU

Giáng sinh dịp rét cuối đông
Em tôi chẳng chút phấn hồng vẫn xinh
Chấp tay em nguyện Chúa linh
Cầu cho hạnh phúc chúng sinh thường kỳ
Người người đừng có phân ly
Bên nhau toại ước những gì Người ơi
Thiên đường Chúa ở cao vời
Trần gian con sống Ngài ơi ngự về
Mong cho tình đẹp chân quê
Lời nguyền trong trắng hướng về nẻo không
Bên anh em giữ vẹn lòng
Dẫu cho gian khổ quyết không nửa lời
Một mai mỗi đứa mỗi trời
Giữ mình chung thủy chẳng rời nghe em
Nếu có  dục vọng khát thèm
Nguyện xin ơn Chúa dẹp êm lửa lòng

Bao năm vẫn rét cuối đông
Tình yêu dưới  Chúa mãi hồng trong em . . .
                            Võ Làng Trâm

 BAO GIỜ . . .

Tôi qua ngưỡng tuổi cuối đông
Còn  em vẫn cứ tươi hồng,đẹp xinh !
Cầu xin ơn Chúa hiển linh
Ban cho phép lạ tái sinh thần kỳ
Kể từ dạo ấy,chia ly
Đôi đường cách biệt,mong gì người ơi .
Câu thơ dang dở nửa vời
Cuộc cờ chưa dứt,hỡi ơi,thu về !
Vầng trăng trên bến sông quê
Vẫn còn ghi đậm lời thề giữa không
Đớn đau trĩu nặng trong lòng
Thiếu người chia xẻ,nói không nên lời !
Tìm nhau góc bể chân trời
Tháng ngày vò võ trông vời dáng em.
Ảnh xưa ngắm mãi,vẫn thèm
Đôi lòng kề cận chờ xem nụ hồng...

Rét về,trời đã sang đông
Bao giờ tình lại ửng hồng, hở em ?
                     Sông Thu




NOEL CÓ EM

Em ơi đến lạnh  mùa đông
Trời thì giá buốt má hồng còn xinh ?
Đêm về ánh nến lung linh
Vui trong lễ hội Giáng Sinh kinh kỳ
Thánh đường rực sáng mê ly
Em xin mộng ước những gì em ơi ?
Khung trời đêm lạnh tuyệt vời 
Bao nhiêu ý đẹp, Chúa ơi ! nguyện về
Cho thêm nồng ấm tình quê...
Anh cùng thành kính khấn thề trời không
Bao năm chất chứa trong lòng
Cầu Trời, cầu Chúa, cầu mong mấy lời
Thiên thần ngự trị cõi trời
Xin cho nguyện ước suốt đời bên em
Thỏa lòng  tình mộng khát thèm
Bên nhau sum họp vui xem đèn hồng...

Giáng Sinh trời  lạnh đêm đông
Mà anh vẫn ấm bởi lòng có em!
                             Cao Bằng
READ MORE - CHÙM THƠ VỀ NOEL

Thursday, December 22, 2011

TIÊN SƠN THI TẬP (trang thứ 25) - Lão nông thi sĩ LINH ĐÀN phụng dịch


Hiệp Biện Đại Học Sĩ TRẦN ĐÌNH TÚC (1804 - 1892) người làng Hà Trung, huyện Địa Linh (nay là Gio Linh), tỉnh Quảng Trị, làm quan đến Tri Phủ Vĩnh Tường, Thượng Thư triều Tự Đúc, Tổng Đốc Hà Nội.

Năm 1873 từng được cử ra dàn xếp vụ Francis Garnier ở Thành Hà Nội, năm 1883 là Chánh sứ trong vụ thương thuyết hiệp ước với Harmand.

Di cảo để lại có Tiên Sơn Thi Tập, khoảng 260 bài thơ. với 130 trang, khổ 12x18 giấy dó, viết tay bằng tự loại thảo thư.
Thơ trong Tiên Sơn Thi Tập của cụ chủ yếu là tự sự, vịnh cảnh, nói về quan hệ bạn bè với thi hữu đương thời như Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Hàm Ninh vv … Lâu nay ít phổ biến rộng rãi trên thi đàn Việt Nam.

Thơ chữ Hán của các Vị tham chính rất có giá trị về thời gian như thơ cụ Trần Đình Túc là chứng nhân lịch sử.

Không muốn trước tác của người xưa đi vào quên lãng, thân hữu của gia đình Ông Trần Đình Tài (hậu duệ đích tôn đời thứ 5 của cụ Trần Đình Túc) đang chú thích, phiên dịch Tiên Sơn Thi Tập.

Linh Đàn phụ trách phiên dịch và giới thiệu với bạn đọc trang thứ 25 của tập thơ : Linh Đàn rất mong được sự chỉ giáo cao minh của Quý Vị.

                餞刑部司務陳德弘
        
         青眼相看索老何
         每逢吾子客中過
         人知雁影雲邊小
         髮併鬚行雪裏多
         仙肯萬分拋富貴
         塵心一半抱熏譁
         那愖別後長相憶
         清緒悠悠寄白霞
                                  陳廷肅




Tiễn Hình bộ Ty Vụ Trần Đức Hoằng

Thanh nhãn* tương khan tác lão hà
Mỗi phùng ngô tử khách trung qua
Nhân tri nhạn ảnh vân biên tiểu
Phát tịnh tu hàng tuyết lý đa
Tiên khẳng vạn phân phao phú quý
Trần tâm nhất bán bão huân hoa
Na kham biệt hậu trường tương ức
Thanh tự du du ký bạch hà

                Trần Đình Túc


*Thanh nhãn  =  Mắt Xanh. Nguyễn Tịch trong Trúc Lâm Thất Hiền, khi tiếp người hiền thì mắt xanh, khi tiếp kẻ tiểu nhân thì mắt đục, ý nói biết nhìn người.

Dịch thơ
Tiễn Hình bộ Ty Vụ Trần Đức Hoằng 
             
Già cả nhìn nhau đôi mắt xanh
Mỗi lần gặp gỡ đến người thanh!
Cũng như bóng nhạn mây biên ải
Nào khác râu hàng tóc tuyết quanh
Ý lão chẳng màng muôn phú quý
Lòng trần giữ trọn nửa tinh anh
Mai sau cách trở còn nguyên ước
Lửng thửng tơ xanh gởi ráng thành
          
Linh Đàn phụng dịch

READ MORE - TIÊN SƠN THI TẬP (trang thứ 25) - Lão nông thi sĩ LINH ĐÀN phụng dịch

CHÙM THƠ LỤC BÁT- NHIỀU TÁC GIẢ


THƠ SAY  

Câu thơ viết giữa cơn say
Cho điên đảo đất cho quay quắt trời.
Đưa tay níu vội tiếng cười
Nghiêng vào đôi mắt của người chưa quen.
Lơ mơ thật giả sang hèn
Vài ba chén chửa bõ bèn mà say.
Hai tay nâng lấy vơi đầy
Ừ thôi... uống cạn chén này... ừ thôi.
Ai người đỏ má hồng môi
Mà câu thơ cứ nổi trôi dập dềnh...?
Bình khô bỗng chốc nhẹ tênh
Men tình em cứ bồng bềnh trong tôi.
Ngoài kia trăng đã lên rồi...

LƯƠNG THẾ HÙNG


TÌNH SAY

Thơ mà viết được lúc say
Học đòi Lý Bạch lăn quay giữa trời
Vừa ngâm vừa đọc vừa cười
Qua lại trông thấy người người làm quen
Mắt mờ đâu rõ sang hèn
Sờ tay quờ quạng lại bèn nói say
Ghé miệng tu cả chai đầy
Khề khà viết tiếp bài này mới thôi
Thơ tình ngọt lịm bờ môi
Nghe sao như thể mây trôi dập đềnh
Dù trong tâm trạng buồn tênh
Em như chiếc bóng bồng bềnh bên tôi
Cuộc đời dẫu xế bóng rồi ,
. . . Thế Hùng anh hỡi chơi bời quá tay ! . .

VÕ LÀNG TRÂM. 
                                        

THƠ TÌNH SAY

Bài thơ tình viết lúc say
Hơi men chếnh choáng, văn hay ngút trời
Mặc ai quở trách chê cười
Cho ta tỏ chút tình người mới quen
Thân nhau chẳng kể sang hèn
Gặp nhau mấy thuở, chi bèn cứ say
Chén thù chén tạc vơi đầy
Tình anh, tình chị vui vầy không thôi
Rượu vào má đỏ hồng môi
Tình em phơi phới, hồn tôi dập dềnh
Tiệc tàn bình đã nhẹ tênh
Ra về tiếc nuối, ngở ngàng trong tôi
Ô hay! Ta đã si rồi…!

VĂN THANH
                         

TA SAY

 Ngã nghiêng người tĩnh, ta say
Bình chưa cạn rượu đã quay đất trời
Mắt đang nhòe ướt chợt cười
Vì đâu nông nỗi, hỡi người vừa quen
Thương nhau đâu kể thấp hèn
Tình trong gối mộng, ngoài thềm trăng say
Cạn ly ta lại chuốc đầy
Rã rời, khập khểnh...lần này...nữa thôi!
Sầu tình mượn chén mềm môi
Thuyền chưa đổ bến, mãi trôi đầu ghềnh
Thơ lưng bầu rượu buồn tênh
Tái tê đầu lưỡi chồng chềnh hồn tôi
Tĩnh ra!...Thuyền đã xa rồi...

THU VÂN
                                        

NHỚ ĐÊM SAY

Nhớ xưa có một đêm say
Bóng trăng chếnh choáng mây bay lưng trời
Bên nhau khúc khích giọng cười
Dìu nhau lảo đảo hai người yêu quen
Nhà tranh một mái đơn hèn
Hai trái tim bên ngọn đèn yêu say
Chén thù chén tạc vơi đầy
Đêm dài say mãi tình này không thôi
Một đêm cận má kề môi
Say thôi phách lạc hồn trôi dập dềnh
Bây giờ nhớ lại buồn tênh
Đêm say xưa ấy còn bền trong tôi
Thương ôi,một thuỡ xa rồi

MẠNH TRƯƠNG.


MỘT LẦN SAY

Ước chi có một lần say
Ngả nghiêng vũ trụ,ngừng quay đất trời
Tha hồ được khóc,được cười
Đưa tay níu chặt tay người mới quen
Không còn cách biệt sang hèn
Đã vui hội ngộ, ta bèn cứ say.
Mắt em giếng ngọc trăng đầy
Hồn tôi ngụp lặn đêm này quên thôi.
Ửng hồng, tươi thắm làn môi
Tóc như sóng gợn, mây trôi dập dềnh
Thân em sợi khói nhẹ tênh
Lửng lơ, quấn quít, bồng bềnh bên tôi.
Tình ta chắp cánh bay  rồi....

 SÔNG THU


 ĐẤT CŨNG SAY

Ta sầu ta lại uống say
Sầu chi đất cũng lăn quay giữa trời
Ta say ta khóc ta cười
Đất say đất ngã nghiêng người đã quen
Ta say vì nỗi thấp hèn
Đất to lớn quá ai chèn mà say?
Kìa sông kìa núi vơi đầy
Còn ta hồn chiếc, thân gầy mà thôi
Ta say vì uống mềm môi
Uống gì mà đất cũng trôi dập dềnh?
Tưởng rằng tôi nhẹ tênh tênh
Ngờ đâu đất cũng bồng bềnh như tôi
À ra tri kỷ đây rồi!

CHÂU THẠCH

READ MORE - CHÙM THƠ LỤC BÁT- NHIỀU TÁC GIẢ

Wednesday, December 21, 2011

LÊ BÁ LƯ - ĐẾN ĐỘNG HOA VÀNG GẶP “GÃ TỪ QUAN”

      
     Quán cà phê Hoa Vàng nằm ở một góc khuất  trong cư xá Bắc Hải, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Đến đây, khách thường thấy một người đàn ông tầm thước, dáng vẻ nông dân, da ngâm ngâm, mũi lân, trán cao, miệng rộng, răng to, khi thì ngồi một mình cặm cụi viết trên cuốn sổ nhỏ bằng nửa bàn tay, khi thì ung dung chuyện trò với khách, đó là nhà thơ Phạm Thiên Thư,  tác giả thi phẩm “Động Hoa Vàng”, đã được nhạc sĩ tài danh  Phạm Duy phổ thành ca khúc nổi tiếng “Đưa em tìm động hoa vàng” được rất nhiều người yêu thích.





                                "Gã từ quan" Phạm Thiên Thư

      Bạn bè thân hữu thường gọi quán Hoa Vàng là "động Hoa Vàng" và nhà thơ Phạm Thiên Thư là: “gã từ quan”,  bởi “Động hoa vàng- Rằng xưa có gã từ quan” đã gắn liền với tên tuổi Phạm Thiên Thư, và nhà thơ cũng đã từng rủ bỏ cuộc đời trần tục, lên chùa tu hành kinh kệ gần 10 năm.

      Trong những lần tiếp xúc với nhà thơ Phạm Thiên Thư, tôi cảm thấy ông là một con người đặc biệt,  bao hàm nhiều tính cách, mênh mang nửa đạo nửa đời. Trông ông vừa như một thiền sư sâu lắng, một triết gia uyên thâm, một thi sĩ lãng mạn, vừa là gã lãng tử thích rong chơi cõi đời…, coi mọi chuyện trần gian đều là phù du, hư ảo. Phạm Thiên Thư luôn có vẻ ung dung tự tại, nhưng nhìn vào khối lượng tác phẩm đồ sộ của nhà thơ, chúng ta có thể hiểu ông, trước hết là một nghệ sĩ tài năng với năng lực sáng tạo và sức làm việc thật phi thường.  Sự nghiệp 50 năm sáng tác của ông đã đóng góp vào kho tàng văn học nước nhà vài chục vạn câu thơ độc đáo, với nhiều tác phẩm trong nhiều lãnh vực. 
                                                                                                  
      Phạm Thiên Thư luôn tìm tòi sáng tạo, mở cho mình con đường sáng tác riêng. Nhiều  tác phẩm kinh điển đã được ông chuyển thành thơ. Phạm Thiên Thư đã thi hóa 7 bộ kinh của Phật giáo, như kinh  Kim Cương (kinh Ngọc), kinh Pháp Cú (kinh Thơ), kinh Hiền Ngu (kinh Hiếu, kinh Hiền)…

    Với lòng kính trọng thi hào Nguyễn Du và yêu mến truyện Kiều, Phạm Thiên Thư đã “cả gan” viết “Hậu Kiều- Đoạn Trường Vô Thanh” tiếp nối “Truyện Kiều- Đoạn trường Tân Thanh” dài 3.296 câu lục bát, với tinh thần đề cao tính dân tộc, xóa bỏ mọi điển tích, từ chương Hán ngữ, thay vào đó bằng lịch sử, điển tích, ngôn ngữ, đất nước, con người Việt Nam…“Đoạn Trường Vô Thanh” đã đoạt giải nhất văn chương toàn quốc năm 1973 dưới chế độ cũ Sài Gòn.

        Phạm Thiên Thư  đã sáng tác từ điển cười  bằng thơ, đây là một tác phẩm độc đáo với 24.000  câu tứ tuyệt. Theo châm ngôn “nụ cười bằng mười thang thuốc”, “cười vui đẩy lùi bệnh khổ”,  cười để chữa bệnh (tiếu liệu pháp), nhà thơ đã nghĩ ra đủ mọi thứ trên đời cười; sử dụng sự hài hước, dí dỏm để chữa tâm bệnh. Trong lời giới thiệu “Từ điển cười” của Phạm Thiên Thư, bác sĩ Trương Thìn - Chủ tịch Hội Đông y TP. Hồ Chí Minh đã viết: “Phạm Thiên Thư làm y thơ, tiếu liệu pháp, ai cũng cười, cười phá được khổ đau, cười òa trong giác ngộ,…”. Nhà thơ đã được Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục “Là người Việt Nam đầu tiên sáng tác từ điển cười bằng thơ”.

        Cuộc hạnh ngộ của hai bậc nghệ sĩ  tài hoa họ Phạm- nhạc sĩ Phạm Duy và thi sĩ Phạm Thiên Thư, đã để lại nhiều giai thoại một thời trong giới văn chương. Khoảng thời gian 1970, nhạc sĩ Phạm Duy sau khi qua quảng đường dài sáng tác, từ dân ca, tình ca, tâm ca, hoan ca, tục ca, vĩa hè ca,… sáng tác của Phạm Duy đã đí vào  bế tắc, chán chường. Lúc đó cơ duyên Phạm Duy đã bắt gặp  những vần thơ nhẹ nhàng, thanh khiết, mênh mang, thâm trầm, nửa đạo nửa đời, thiền ý sâu xa của thi sĩ kiêm tu sĩ Thích Tuệ Không (pháp danh của Phạm Thiên Thư), Phạm Duy đã tìm ra lối thoát cho hồn nhạc, thấy được con đường đi vào Đạo ca, hay đúng hơn là đi vào Đạo sống. Ngoài một số nhạc phẩm Phạm Duy sáng tác từ những vần thơ của Phạm Thiên Thư đã đi vào lòng công chúng, như  “Đưa em tìm động hoa vàng”, “Ngày xưa Hoàng thị”, “Em lễ chùa này”… Phạm Duy còn hợp tác với Phạm Thiên Thư để cho ra đời 10 bài Đạo ca nổi tiếng. Có thể nói cuộc hạnh ngộ của Phạm Duy và Phạm Thiên Thư là duyên may, "như mây gặp núi", đã làm danh tiếng hai nghệ sĩ tài danh  họ Phạm thêm lừng lẫy và còn để lại cho đời những tác phẩm bất hủ. Trong kỷ niệm 50 năm sáng tác của nhà thơ Phạm Thiên Thư được tổ chức tại Nhà hát TP Hồ Chí Minh đêm 21/12/2011, nhạc sĩ Phạm Duy đã nói: "Nếu không có Phạm Thiên Thư thì  không có Phạm Duy". Câu nói có thể phần nào xả giao, nhưng  cho thấy Phạm Duy đã tôn trọng và đánh giá rất cao thơ của Phạm Thiên Thư.












                                 Nhà thơ Phạm Thiên Thư và nhạc sĩ Phạm Duy giao lưu cùng khán giả

      Kỷ niêm 1000 năm Thăng long Hà Nội, Phạm Thiên Thư cho ra đời tác phẩm “Hát ru Việt sử thi”, mà theo nhà thơ, đó là tình cảm và trí tuệ, anh hùng khí phách, âm thanh và sự sống con người Việt Nam muôn đời qua siêu thức hát ru …” Với 3.325 câu lục bát, “Việt sử thi” đã kể chuyện lịch sử bằng thơ từ thời vua Hùng dựng nước đến triều đại Tây Sơn….


    Thơ của Phạm Thiên Thư đủ  sắc màu, giai điệu, “sang trọng” lẫn “bình dân”. Có những vần thơ lung linh huyền ảo, bay bổng, nhẹ nhàng thoát tục, dễ đưa tâm hồn người lâng lâng vào cõi thiên thai, mơ hồ.  

 Thức giấc ta nhìn em
Long lanh ngoài cửa sổ
Hạt lệ xanh thiên cổ
Sáng giữa vầng đêm đen
Ngôi sao hình như quen
Ướp trong lòng thơ cũ
Dường có chi ấp ủ
Đậu thơm nhành hoa sen…
  (Sao khuya)

Những câu thơ tha thiết, nồng nàn:
 Thôi thì em mặc áo xanh
Cho hồn ta ẩn bên nhành kết thơ
Thôi thì em rủ tóc tơ
Cho ta tựa gốc sương mờ tịnh tâm
Thôi thì em nguyện lâm râm
Cho ta ngửi nẫu môi trầm như lai
Lỡ không cái gã địa tài
Đắp chăn gã ngủ giấc dài trong tôi
Một mai ta có luân hồi
Tái sinh lại giữa khóe môi em hồng…
   (Khúc tự tình phù du)
 Có những câu  ngang tàng khí phách:
….Vó ngựa qua cầu còn mây mù
Khói phù hư dong nốt phù du
Xốc xếch đeo túi thơ bầu rượu
Cùng cỏ hoa vẫy chào xuân thu

Khua mái chèo cuốn cả thiên thanh
Thuyền chở xuân gỗ cùng đơm nhành
Vỗ bầu rượu hát câu chuốc rượu
Gạc chân mây nổi giữa dòng xanh…
   (Ngày xưa Tù Thức)

Phiêu diêu thoát tục
….Ðất Nam có lão trồng hoa
Mùa hoàng cúc nở ướp trà uống đông
Lại đem bầu ngọc ra trồng
Bầu khô cất nậm rượu hồng uống xuân

Người vui ngựa chợ xe thành
Ta leo cầu trúc bên ghềnh thác rơi
Theo chân chim gặp mây trời
Lại qua khói động hỏi người tu non….
   (Động hoa vàng)

     Cùng với những thi phẩm tuyệt tác, nhà thơ Phạm Thiên Thư còn có không ít tác phẩm “bình dân”, nôm na, hóm hỉnh, chọc cười, như 10 bài thơ răn vệ sinh:
      
Đi cầu (tập hỷ xả)
Cái xấu cho đi chẳng tiếc chi
Thải luôn hờn giận- chớ nên ghi
Coi như mơ ngủ- như chưa gặp
Để trướng trong tâm – có ích gì?



Rửa mặt (tập chu toàn)
Vò cho khăn sạch mới đem dùng
Lỡ dán đêm qua tới “ị” cùng
Chớ tưởng của mình là sạch cả
Biết đâu kẻ xấu lén xài chung
  
Soi gương (tập tự trọng)
Ra phố nên soi kỹ mặt mày
Đẹp mình trước đã để người hay
Đẹp hơn tất cả là nhân cách
Chẳng hỗ trời cao thẹn đất dày

 Mặc đồ (tập cảnh giác)
Trước giũ rồi sau mới xỏ vào
Biết đâu rết, nhện ẩn trong “bào”
Cứ nên cảnh giác là hơn cả
Những chỗ không ngờ- bị mới đau…

   Sắp bước vào tuổi 72, Phạm Thiên Thư vẫn miệt mài sáng tác, nhà thơ vừa tiết lộ đã hoàn thành và sẽ “trình làng” trong năm 2012 một số tác phẩm: “Hồi ký 1”, với 10.000 câu thơ nói về cuộc đời của mình từ thuở ấu thơ đến năm 1975 ; “Nhật ký quán Hoa Vàng”, nhật ký thể thơ, ghi lại những gặp gỡ giao lưu với bạn bè, thân hữu thường ngày tại quán Hoa Vàng, khoảng 8.000  bài thơ 4 câu; “Xanh ngôn huyền”, chuyển từ tác phẩm “Huyền ngôn xanh” (ý tưởng khắp thế giới- google) và có thêm một chương; “Dưỡng  sinh huyền”, gồm 6.000 câu thơ về phương pháp dưỡng sinh Phathata (Pháp- Thân- Tâm). Nhà thơ còn sắp cho ra đời một công trình đồ sộ, là bộ “Từ điển Tâm Phật”  khoảng 10.000 trang thơ, gồm 4 phần: Tâm Phật 1, Tâm Phật 2, Tâm Phật 3 và Tâm ngôn Thiền.

      Nhà thơ Phạm Thiên Thư cho biết, hiện nay ông vừa hiệu đính các tác phẩm sắp xuất bản, vừa tiếp tục viết “Hồi ký 2” về cuộc đời từ sau năm 1975 đến hiện tại; đồng thời bắt đầu viết “Kinh Trang”, chuyển từ tác phẩm "Trang Kinh" của Trung Quốc sang thể loại thơ 4 câu, theo tinh thần ngôn ngữ Việt Nam.





                               Nhà thơ Phạm Thiên Thư và nhà báo Lê Bá Lư





                               Nhà thơ Phạm Thiên Thư và nhà thơ Bùi Phước Vĩnh



                         Nhà thơ Phạm Thiên Thư với những người mến mộ

     Có thể nói sáng tạo của nhà thơ Phạm Thiên Thư thật độc đáo và phi thường. Đến nay ông đã viết hơn 15 vạn câu thơ thuộc nhiều lãnh vực. Chỉ tính trong 10 năm qua, ông đã cho ra đời hơn 30 tác phẩm trường thi. Dường như ông viết từ siêu thức, thơ đã có sẵn trong đầu cứ thế mà trào ra. Nhà thơ bộc bạch: “Có lẽ là nhờ vào nguồn lực thiền, mỗi lần cảm xúc tôi khẽ nhắm mắt lại là thi tứ dâng lên”.Phạm Thiên Thư thường thức làm thơ đến 1- 2 giờ sáng và mỗi đêm ông ngồi thiền ít nhất là 1 tiếng đồng hồ, mà theo ông là để "phục hồi và nạp thêm năng lượng".

       Với phong thái ung dung, hòa nhã của một thiền sư, nhà thơ Phạm Thiên Thư lúc nào cũng khiêm cung và sẵn sàng chia sẻ với tha nhân. Thấm nhuần tư tưởng Phật giáo nên thơ ông dù ở lãnh vực nào cũng chứa đựng tư tưởng thiền. Theo ông, không cần phải vô chùa tu hay sống biệt lập, ai ai cũng có thể tìm chân lý thiền trong cõi trần tục này. Ông thường khuyên mình cũng như khuyên người: “Luôn biết mình dốt-Để gột tính kiêu-Để yêu như mới-Để cởi mối hiềm-Để thêm tinh tiến…”.

      Ngoài  là một nhà thơ nổi tiếng, Phạm Thiên Thư còn là một nhà ngoại cảm, một thầy thuốc chữa bệnh khá nổi tiếng theo phương pháp dưỡng sinh Phathata do ông sáng lập. Theo ông,  Phathata là một phương pháp chữa trị bệnh tật và rèn luyện sức khỏe bằng cách đánh thức tiềm năng con người, tự điều chỉnh bế tắc, rối loạn cơ thể và tâm lý thông qua khả năng siêu ý thức và những cách tham thiền, vận nội công và yoga. Phương pháp này được chính quyền địa phương công nhận đã điều trị hiệu quả cho những người cai nghiện ma túy tại cộng đồng dân cư.

    Phạm Thiên Thư tên thật là Phạm Kim Long, sinh năm 1940 tại Hải Phòng, vào Nam năm 1954, ông đã từng đi tu gần 10 năm ở chùa Vạn Thọ - thành phố Hồ Chí Minh (1964-1973). Sau khi hoàn tục ông lập gia đình, có 3 người con trai. Cuộc đời nhà thơ cũng trải qua nhiều thăng trầm, ông đã từng làm nhiều nghề vất vả để kiếm sống. Quán Hoa vàng của gia đình ông được mở từ 10 năm nay. Đây là cũng là nơi gặp gỡ, giao lưu của giới văn nghệ sĩ và những người mến mộ “gã từ quan- Phạm Thiên Thư".

     Vốn là một người am hiểu sâu sắc Phật pháp và giáo lý nhà Phật, nhà thơ Phạm Thiên Thư đã hiểu lẽ vô thường của tạo hóa. Ông thường nói đời người là phù vân nhưng cũng nhiều thú vị, đừng âu lo, không trụ, không chấp mới được an lạc. Ông thường khuyên bạn bè hãy cười nhiều hơn để thêm sức khỏe cho mình và mang niềm vui đến cho mọi người. Phạm Thiên Thư thường hay dí dỏm: cười nhiều vui nhiều thế giới sẽ hòa bình.... Nhà thơ đã nâng giá trị nụ cười lên tầm cao nhân văn./.

       Lê Bá Lư
READ MORE - LÊ BÁ LƯ - ĐẾN ĐỘNG HOA VÀNG GẶP “GÃ TỪ QUAN”