Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, June 6, 2011

TRẦN XUÂN AN - ĐỌC THƠ VÕ VĂN LUYẾN

1

Tôi cứ mãi bâng khuâng khi tìm đọc lại tập thơ đầu tay của Võ Văn Luyến. Điều đầu tiên tôi trực nhận ra cách đây đã hơn một năm, Võ Văn Luyến cũng như một số người thơ khác, hoàn toàn không phải ngẫu hứng khi chọn tên cho tập thơ đầu lòng, tập thơ gồm gần bảy mươi bài thơ anh đã cưu mang, trải lòng với bạn bè, người đọc trên nhiều trang báo suốt hai mươi năm qua: Trầm hương của gió (1). Trực nhận ấy đến lúc này, khi muốn chia sẻ với anh qua những dòng chữ của một bài viết, tôi không thể không nhớ lại dăm câu thơ, đoạn thơ trong tập.

Ở bài thơ Trầm hương, Võ Văn Luyến thể hiện cảm xúc của tâm trạng thường thấy nơi sâu thẳm của trái tim nhiều người, khi về lại một làng quê, làng quê ấy lại chính là mảnh đất đã cho anh tình yêu và chứng kiến trong anh niềm đau rạn vỡ, hối tiếc. Sau rất nhiều năm tháng, người thơ cứ mải mê tìm về kỉ niệm.


Quê kiểng Hoàng Anh chạm ngõ

Chút gì như thể mùa thu

Hối tiếc một thời rạn vỡ

Tình đây, người đã xa mù

Tìm giữa vườn xanh mắt thẳm

Hỏi hoa mấy độ đơm bông

Hỏi tình ngây thơ vụng dại

Buồn nghe lặng tiếng trầu không

Ngẩn ngơ anh về thả gió

Trầm hương kí ức ngút trời

Nỗi niềm mang mang hoa cỏ

Lòng chiều sương khói xa xôi.


Với ý định chỉ trích dẫn đôi ba dòng, nhưng bài thơ Trầm hương của Võ Văn Luyến chỉ vỏn vẹn 12 câu, lại rất khó lòng gạn bớt. Điều ngăn tôi đừng gạn bớt, đó chính là hình ảnh “anh về thả gió / trầm hương kí ức ngút trời…” ở đoạn kết của bài thơ. Không phải là hoài niệm, hối tiếc về những gì trót đã trôi qua nhưng hiện tại vẫn còn có cơ may lại gắn bó, chuộc lại lỗi lầm xưa! Quả thật, giữa đời này có bao niềm đau, ân hận trong kí ức của trái tim vẫn chỉ là niềm đau, ân hận, cho dù cơ may còn đó. Ở Trầm hương, chừng như người thơ về thắp một nén hương trên nấm mộ người yêu dấu xưa. Vĩnh viễn không còn cơ may nào nữa!

Tuy thế, tôi vẫn tìm một cách tiếp cận tứ thơ trong Trầm hương khác hẳn như cảm nhận ban đầu. Tự nhủ với chính mình, ai bảo gió trầm hương kia không phải là thoang thoảng hay ngút trời trầm hương ngày Tết? Chiều ba mươi, đêm giao thừa và những ngày nguyên đán không gian quanh ta chẳng ngan ngát, bảng lảng khói trầm hương là gì. Và cũng tự nhủ, ai bảo mùa thu thực tại không là mùa xuân kỉ niệm trong kí ức? Cũng đâu hẳn tiết trời thực tại lúc người thơ trở về chắc hẳn là mùa thu! Rõ ràng là “chút gì như thể mùa thu”, như thể mùa thu chứ không phải mùa thu! Và như thế, cõi xa mù nào đó trong bài Trầm hương cũng chỉ là một phố phường, làng quê nào xa lắc đó thôi. Cõi xa mù ấy không phải là nơi mà lòng người chỉ có thể giao cảm bằng những làn khói trầm hương khấn niệm.

Với cách tiếp cận thứ hai này, tôi cảm thấy ấm lòng hơn; và hình như nhờ Trầm hương của gió, tôi nhớ về trầm hương nguyên đán tháng giêng, cho dù mãi mãi chỉ còn trong kỉ niệm về người yêu dấu xưa.

Thơ Võ Văn Luyến có những bài nhẹ nhàng như có như không mà gợi mở nhiều chiều, lại thấm thía như thế. Anh không cầu kì, lập dị trong cảm xúc thơ. Thơ anh cứ từ tốn hiện lên trên trang giấy với những gì rất gần gũi, hầu như ai cũng một lần đã trải qua. Nhưng thơ Võ Văn Luyến cũng níu gọi người đọc. Tôi không thể ngừng lại cảm xúc có chút gì như thể khám phá thế giới thơ trong anh.

Lại gặp một lần nữa hương và trầm ở bài Thơ vui viết lúc buồn. Thật ra, niềm vui được hồi tưởng qua tâm trạng không những không vui, mà chừng như cũng không phải buồn bã. Nỗi buồn xen lẫn niềm hi vọng chăng? Cũng không phải là niềm hi vọng mãnh liệt.

Anh mường tượng lúc trở về

Chút đồng nội còn ngậm hương sắc áo

Trời đầy mưa, lòng mong tạnh ráo

Dấu môi xưa toả sáng tình trầm

Một đoạn thơ tươi sáng niềm hi vọng về tiếng gọi mùa thu dịu nhẹ dưới vòm trời không ướt sũng mưa! Hương không còn là mùi trầm, rõ ràng là hương đồng nội, nhưng môi người yêu dấu xưa vẫn phải lưu dấu xưa để toả sáng tình yêu thơm ngát mùi trầm. Sao vẫn là mùa thu, vẫn mùi trầm trong hương đồng nội? Tâm hồn Võ Văn Luyến mãi mãi nguyên đán với chút tình đầu chăng, cho dù tuổi chớm thu?

Hay tình trầm là khối tình cô đặc như trái tim nghệ sĩ Trương Chi trong cổ tích, nhưng không phải là khối tình trầm tuyệt vọng mà ngát thơm hạnh phúc trong hi vọng?

Thơ Võ Văn Luyến biết dừng lại để mời gọi đồng thời mở ra những nẻo đường của tưởng tượng thơ.

Và lại hương cùng trầm, nhưng ở bài Nắng trong mưa, vốn được đặt trước bài trên, là một từ ghép với một ngữ nghĩa nhất định. Lần này, không thể không gạn đi dăm câu có hình ảnh với ngôn từ sáo cũ, để còn lại một trong hai đoạn thơ đẹp nhất bài:

Buổi chiều ru tôi

Bằng xa xôi trầm hương của gió

Cơn gió ướt sũng thị thành

Làm sao hong khô tháng ngày cỏ mật

Đó là cuối chiều ở một ngõ phố, hẻm phường nào đó, nắng úa rơi theo mưa từng giọt, lóng lánh. Người thơ vẫn lắng nghe và đón nhận trầm hương của gió một thuở xa xôi, từ làng quê xa xôi. Lòng người thơ vẫn là kỉ niệm tháng ngày cỏ mật đồng nội, mà thị thành hoá ra là lực cản, một lực cản sũng nước!

Nếu tập thơ khép lại với hình ảnh trong cụm từ nguyên vẹn này: “Trầm hương của gió”, chúng ta cũng có thể hình dung và cảm nhận được tâm hồn và thế giới thơ của Võ Văn Luyến. Tuy vậy, tôi thấy cần phải chia sẻ với anh nhiều hơn, dẫu biết rằng, cho dù anh viết về cha mẹ, về anh chị, về đứa em út non yểu, về vợ con, và về Huế, Hà Nội hay về Mỹ Thuỷ của Quảng Trị quê nhà, cho dù anh viết về bạn bè, hay về Rembrandt, về O’Henry, hình như tâm hồn Võ Văn Luyến vẫn chỉ có thể thể hiện ra trang giấy với mùi trầm hương của gió.

Trầm hương của gió, mùi của tâm linh giao cảm với ai đó không còn nữa trên đời?

Trầm hương của gió, mùi của tâm linh giao cảm với nghìn xưa mênh mang trong dăm ngày Tết nguyên đán rực rỡ?

Trầm hương của gió không chỉ thế.


2

Tôi ngần ngại khi bày tỏ chút liên tưởng có vẻ xác thịt, phù hoa này: Trầm hương của gió, mùi hương liệu gợi lên niềm tinh khiết trong giọt nước hoa, thứ nước hoa vốn đã làm giảm bớt tính xa hoa, kiêu kì, kích thích? Mùi hương liệu trầm trong viên xà phòng chỉ để làm ngát thơm da thịt thiêng liêng?

Thơ viết về tình yêu thời trai trẻ của Võ Văn Luyến không ít, nhưng anh rất ít viết về nụ hôn nồng cháy, cảm giác rạo rực của phút tay chạm vào tay, của ánh mắt lướt vội qua vòm ngực thanh nữ tròn đầy, xinh đẹp đến bàng hoàng, ngây ngất. Đúng hơn, Võ Văn Luyến có cảm nhận, nhưng cảm nhận tình yêu với xác thịt trầm hương thanh khiết.

Mỹ Thuỷ, một vùng biển quê nhà Quảng Trị, với Võ Văn Luyến:

Cái tên đẹp như nàng tiên cá / Trong truyện cổ tích / Đêm đêm / Nàng hiện ra trên thảm cát / Lặng nghe con sóng xô bờ / Lặng nhìn những vì sao đổi chỗ / Những nụ hôn xẹt thành vệt sáng / Mông lung thiên hà khát vọng / Bỗng yêu hơn mặt đất con người / Mỹ Thủy… // … Những chiếc phong cầm xanh / Tấu khúc hoan ca ngày họp mặt / Cầm tay nàng tiên cá rót mật / Vào bài thơ Mỹ Thuỷ yên lành.

Người yêu dấu hoá ra chỉ là nàng tiên cá cổ tích! Nụ hôn không phải nồng nàn, đắm đuối, mà cuống quýt, chỉ dám vội vàng như vì sao băng bay xẹt ngang trời, cho dù niềm khao khát là cả thiên hà. Cái cầm tay không rạo rực, nóng bừng, mà chỉ là nâng lên bàn tay người yêu dấu để rót mật vào thơ cho một vùng quê biển yên lành, sau rất nhiều tháng năm nơi ấy máu đổ, súng bom gào thét.

Và một cửa biển khác, trên đất Thừa Thiên – Huế: Thuận An.

Biển Thuận An đầy gió

Thổi vơi dáng toạ Thiền

Vầng trăng trong lồng ngực

Vuốt đường cong thiên nhiên

Biển vô ưu quá thể

Nụ hôn xẹt ngang trời

Miên man mai xa Huế

Cổ tích lùa vào tôi.

Tôi cam đoan rằng, Mỹ Thuỷ và Thuận An trong Võ Văn Luyến là một, nhưng với Thuận An, người thơ trong anh táo bạo hơn. Người thơ thấy gió Thuận An mặn mà đến mức cõi đời bị thổi vơi mất những dáng người toạ thiền với quyết tâm đạt đến chiùnh niệm, xua tan nhục dục. Tuy vậy, với người thơ, vầng trăng không phải trên lồng ngực, mà trong lồng ngực. Trước khi “vuốt đường cong thiên nhiên”, trái tim phải thật sự toả sáng như vầng trăng. Và vì thế, biển dạt dào như muôn đời vẫn dạt dào vỗ sóng, nhưng vẫn vô ưu trước những nụ hôn phớt nhanh trên đôi môi nồng thơm, trên gò má ngan ngát của người yêu dấu.

Đó là trầm hương của gió, nụ hôn của gió, vuốt ve của gió, trong thơ Võ Văn Luyến.

Võ Văn Luyến còn viết Tình ca mùa đông. Trong bài thơ lục bát này, vẫn là vầng trăng tỏ và nụ hôn nồng, nhưng không còn là ẩn dụ kín đáo:

Biết rằng tôi đã mất em

Sao tôi

Vẫn sống cái đêm bắt đầu

Cái đêm trăng tỏ chân cầu

Nụ hôn cháy đến mai sau không tàn

Cái đêm

Những tưởng đa mang

Với thời gian

Với không gian

Cồn cào

Cái đêm

Lặng lẽ nhìn nhau

Cao xanh chấp chới nghìn câu nên vần

Thôi em

Từ tạ ngày xuân

Hoa mơ rã cánh phù dung sớm chiều…

… Rồi ra

Cũng một lần thôi

Nồng nàn như rượu

Say rồi lại quên…

Lục bát là thể thơ đầy thách thức. Tuyệt vời lục bát, nhưng khó khăn nhất vẫn là lục bát. Võ Văn Luyến bị vần lục bát níu vào khuôn sáo ở một đôi câu, nhưng tình thơ anh rất thật, thật trong một lần trót lỡ môi nồng, trót lỡ mắt ngọt, nhưng cũng thật trong ý thức trách nhiệm. Và anh càng thật khi thú nhận, hoá ra đó chỉ là nụ hôn của tình yêu ngỡ bền lâu, chung thuỷ, ngờ đâu như đóa hoa phù dung chóng úa!

Lần này, Võ Văn Luyến không còn nói đến trầm hương, anh nói đến rượu. Không phải rượu suông. Đúng là rượu nồng nàn. Ai đó say rồi quên, còn anh mãi nhớ. Nỗi nhớ trong anh cũng là trầm hương, làm thăng hoa một lần phạm tục và một đời phàm tục.

Võ Văn Luyến có một bài thơ với tứ thơ đã khá quen thuộc đối với nhiều nhà thơ Quảng Trị: Đi bên dòng sông tình sử. Riêng về đề tài này, anh viết không mới hơn, hay hơn hoặc sâu hơn, nhưng vẫn rất đáng trân trọng. Điều đáng trân trọng ấy là ý tưởng sâu kín ở ngoài bài thơ: Có gì đáng yêu hơn khi người yêu là cô gái quê nhà có cảm xúc gắn liền với tình sử quê hương, chứ không phải vay mượn từ văn hoá nước ngoài.

Thì đã yêu con sông khi đi bên em

Anh hoài cảm về cô lái đò ngày xưa ấy

Nước vẫn chảy bèo vẫn trôi

nhưng hình hài trái tim ở lại

Đập nhịp rộn ràng

Dẫu bao lần đến hẹn sang ngang

Cứ ngần ngại dòng sông nước chảy

Con đò trầm chìm một đời con gái

Có thể nào lặp lại trong nhau?…

… Cơ chi trời thắp nắng mãi mùa đông

Em ngồi kể mối tình xa xưa ấy

Rồi doạ dẫm: Nếu anh yêu thế đấy

Em sẽ làm con nước biếc nguồn trong!

Không phải con đò bằng trầm hương. Con đò dân dã đã trầm mình, chìm luôn một đời cô thôn nữ lái đò ngang tuyệt vọng, nông nổi quả quyết tự trầm mình! Nhưng cho dẫu nước chảy bèo trôi, trái tim Trương Chi trong lồng ngực cô gái lái đò xinh đẹp mãi mãi còn lại trong thơ. Cô gái Quảng Trị như anh viết, “duyên tơ một ngày thương đau trắng tóc”, còn chàng trai sĩ tử vác lều chõng vào kinh đô dự thi kia cứ vô tình biền biệt! Và anh còn bào chữa cho cô gái quê nhà nhẹ dạ, cả tin mà nặng tình, trọng tiết nghĩa, “nghĩa thương yêu, tội tình gì đâu / đa cảm thế, dễ dàng chi quên được”. Rõ là chất nhà thơ trong anh đã lấn át chất nhà giáo nghiêm khắc, tỉnh táo cũng ở trong anh.

Tôi cứ tiếc là Võ Văn Luyến không vượt được bốn câu lục bát ca dao tình sử:

Trăm năm dầu lỗi hẹn hò

Cây đa bến cộ (:cũ) con đò khác đưa

Cây đa bến cộ còn lưa

Đò xưa sớm thác, người xưa chưa về! (2)

Dẫu sao, Đi bên dòng sông tình sử của Võ Văn Luyến vẫn thoang thoảng trầm hương tình sử quê nhà Quảng Trị. Giá như cô gái Quảng Trị nào cũng chung thuỷ với lời hẹn ước như thế nhưng không nhẹ dạ, cả tin và nông nổi đến thế.

Cũng về tình sử, nhưng tình sử Phong Châu, nơi có thành Cổ Loa và nỏ thần, có mối tình oan khốc Mỵ Châu. Một Mỵ Châu được Võ Văn Luyến gọi là nàng Mỵ (nguyên văn của anh là Mỵ nương với chữ nương không viết hoa). Một trái tim người nữ bị tên giặc Triệu – Hán gián điệp lôi vào mưu kế cướp nước. Một lưỡi gươm oan nghiệt của An Dương vương đã vung lên và người con thương quý đã chết, chết cái chết của kẻ phản quốc. Một khối trầm hương màu đỏ tía (hay khối trầm hương chết?) đã được nhân dân tạc thành tượng công chúa cụt đầu để nghìn năm, muôn đời mãi nhớ. Một kẻ gián điệp cướp nước nhưng không bội tình tự kết án trầm mình xuống Giếng Ngọc. Có điều rất lạ là Võ Văn Luyến dùng chữ trầm với hai nghĩa. Thật ra, trong chữ Hán, chỉ có một chữ trầm mà thôi. Trầm là chìm, là sâu kín. Cũng mặt chữ Hán ấy, trầm phải đi đôi với hương để thành từ ghép chính phụ trầm hương, có nghĩa là loại gỗ hương liệu bỏ vào nước thì chìm. Ta quen gọi tắt là [gỗ] trầm. Tên giặc Triệu – Hán tự kết án chết trầm mình và hoá thành “khối tử trầm” trương nước Trọng Thuỷ bên “khối tử trầm” cụt đầu nàng Mỵ? Điều rất lạ còn là Bạch Mã – Hải Vân hùng quan, chứ không phải là đèo Mộ Giạ (Mụ Giạ), nơi An Dương vương cùng đường, và cũng là nơi An Dương vương biết rõ Mỵ Châu cũng là một thứ giặc ngồi sau lưng! Điều rất lạ ấy phải chăng là lòng anh muốn bao dung đến mức chiêu tuyết cho cả Trọng Thuỷ gián điệp, và cải biên huyền sử để tôn thờ cả chú ngựa trắng (Bạch Mã), vốn là “chứng nhân” duy nhất của bi kịch cha giết con vì con là giặc phản quốc ấy?

Lại rất tiếc là Võ Văn Luyến chưa thật thành công trong thể lục bát ở bài Chiêu tuyết khối tử trầm này. Nếu ở những bài khác anh thành công, đây là bài thứ hai (gồm bài Tình ca mùa đông ở đoạn trên), anh bị vần và nhịp thơ lục bát (một thể thơ tuyệt vời nhưng đầy thách đố) níu vào khuôn sáo, cũ mòn về ngôn từ, hình ảnh.

Trong thơ Võ Văn Luyến còn có chút gì xao động của trái tim, nhưng không hẳn là cảm xúc – tâm hồn yêu đương, càng không phải là cảm giác – da thịt yêu đương.

Rõ ràng không chỉ khép lòng lại với quê nhà Quảng Trị, người thơ đã mở rộng lòng mình ra đến những vùng đất xa trên đất nước. Đó còn là Hà Nội, chút duyên đến từ một câu thơ hay, đưa đẩy tới một lần đi dạo cùng nhau dưới hàng cây sấu, và Hà Nội qua một giọng hát học trò. Đó còn là cô gái Cần Thơ thoáng gặp ở Huế. Không phải là tình yêu đương, cơ chừng là những giây phút đa cảm, lãng mạn mơ hồ.

Có thể những thi thoảng ấy cũng là trầm hương của gió, toả ra từ chính khối trầm kết tinh trong ngực anh, phập phồng, co thắt – rộng mở, để tâm hồn anh luôn hồng tươi máu ấm? Tôi nghĩ đến tình yêu con người trên những miền xứ sở đất nước, bất chợt người thơ phản ánh ra ở từng dáng dung cụ thể nào đó và đồng thời bắt gặp lòng mình ở từng dáng dung cụ thể ấy.

3

Mở tập thơ Trầm hương của gió ra, chúng ta còn thấy những bài thơ về những tình cảm ruột thịt, thân thương. Út ơi! Đó là tiếng gọi thầm thì thương nhớ, cũng là tên một bài thơ. Hình ảnh người cha cặm cụi bên chiếc máy may từ sớm cho đến lúc dĩa dầu hao khô, từ tuổi trẻ cho đến lúc mắt mờ, tay run trước đường kim mũi chỉ, hình ảnh người mẹ từ thời thôn nữ trăng rằm đến tuổi già xế bóng vẫn một nắng hai sương cấy gặt trên đồng, chợ chiều chợ sớm, khiến lòng ta chùng lại, và càng nghẹn thắt khi đó là hình ảnh của nỗi nhớ thương trong niềm tưởng niệm về người em gái út non yểu:

… Bố may đến dĩa dầu hao

Mẹ đi cấy. Út bám vào đôi vai

Dìu nhau chơi suốt cả ngày

Bạn bè hết dế đến bầy gà tơ

Lạ lùng thay, tuổi ngây thơ

Truyện Nôm làu thuộc chẳng chờ học xong…

Cha mẹ bận việc đến tối mắt tắt đèn, đứa anh trai phải cõng em gái út, dỗ em, chơi đùa với em, và nhờ nghe cha kể truyện thơ nên thuộc nằm lòng, lại kể cho em nghe từ tuổi chưa đến trường. Ngậm ngùi, đau xót là em không còn nữa trên đời, từ mấy mươi năm trước!

Thật ra, tôi đã diễn giải thơ Võ Văn Luyến. Với thơ anh, không cần đến thao tác đó. Thơ anh vốn trong sáng, dung dị, lại có dăm bài đã là một thứ truyện thơ dân dã. Chất truyện thơ này, chính anh đã nói lên nguồn gốc sâu xa của nó. Chỉ có đôi điều, tôi thấy tiếc, nếu anh dùng ngay tiếng địa phương Quảng Trị mình, như cha (hoặc bọ) và mạ, thay vì bố và mẹ, có lẽ những người đồng hương từ Thanh Hoá đến Thừa Thiên – Huế xa quê sẽ bật khóc khi đọc Út ơi!.

Thơ Võ Văn Luyến còn rất xúc động khi anh viết về tình nghĩa trong hạnh phúc: hạnh phúc với người vợ (một cô giáo hệ mầm non) cùng hai đứa con gái cưng (Diễm Hạnh và Trang Phúc).

Trong thơ Võ Văn Luyến, bóng dáng quê nhà Quảng Trị xương rồng cát trắng vẫn rất trắng cát, nhưng thiếu hẳn màu xanh kiên cường, kiên tâm lạ lùng, hoa nở trắng muốt, nao lòng, say lòng và gai sắc đến bật máu tay vin, tay chạm vào đó. Anh không muốn nói đến gai sắc của loài hoa trắng muốt, thân khía cánh sao hoặc lá lưỡi rồng xanh, xanh một sắc xanh kiên cường, kiên tâm đến kinh ngạc ấy. Nhưng thật ra, gai sắc người ta vẫn yêu, như đã yêu hoa hồng, hoa bưởi lắm gai đó thôi. Và thật ra, tôi vẫn tìm thấy gai sắc trong thơ anh, loại gai cần có để lẩy những nhọt đanh cần lẩy kẻo ung thối da thịt người. Bài Làng xưa chứa đựng một niềm nhức nhối:

Nơi cất giấu sự bình yên

Bàn chân khắc đường kỉ hà năm tháng

Nơi những con đỉa đói lép kẹp

Một đời gập lưng đợi chờ bên cây lúa

Nơi lũ chuồn chuồn đẹp trăm sắc màu

Buồn không nhấc nổi mình bay liệng

Nơi hương đồng cỏ dại

Phung phí nỗi đam mê mòn vẹt

Làng làng làng làng làng

Đâu đó ai còn cất lên tiếng gọi!?

Tôi thật sự rùng mình kinh hãi. Làng xưa, chốn địa ngục do những Bá Kiến, những Nghị Quế thống trị đó sao? Những hình ảnh thường thấy, được chọn đặt vào thơ thành những ẩn dụ, mang ngữ nghĩa khác, tạo nên một lực phê phán nén chặt, và do đó, bùng nổ dữ dội. Làng thôn hôm nay được cảnh báo về nguy cơ vốn luôn luôn, muôn thuở mai phục – nguy cơ về sự tái lập địa ngục làng xưa, dưới bàn tay bọn cường hào ác bá mới, hút máu người, bóp chết ước mơ người! Đó là gai sắc của loài xương rồng hoa trắng trên miền cát trắng nghiệt ngã về thiên nhiên, tỉnh táo và sắc bén về trí tuệ, tầm nhìn.

Cho dẫu Võ Văn Luyến chỉ nói đến tâm hương chứ không phải hương trầm thật trong Út ơi!, hay không nhắc đến chút trầm hương nào trong bài Làng xưa, tôi vẫn bị tên của tập thơ là Trầm hương của gió ám ảnh. Như thể không nói đến gai sắc mà thật sự gai rất sắc, trầm hương ở đây là cũng như thế: hương của trầm (chất nhựa tinh luyện, cô đặc của một đời cây dó trên rừng thẳm) vẫn bảng lảng đâu đó từ cái tâm (trái tim) người viết.

Tôi có khiên cưỡng không, khi muốn bao quát hết tập thơ 67 bài của anh, vốn được anh tuyển chọn lại sau hơn 20 năm làm thơ, qua một tên chung cho cả tập? Thú thật, tôi muốn tìm ra một nẻo vào thế giới thơ của Võ Văn Luyến. Và từ góc độ trầm hương của gió mà anh đã định vị ở bìa sách, ở mỗi trang sách, với những ngã ba, ngã tư ý nghĩa (các tầng nghĩa) của cụm từ, tôi cảm nhận thơ anh.

4

Tôi biết Võ Văn Luyến không thể học được người thơ xưa, đốt trầm lên để làm thơ, ngâm thơ hoặc đàm đạo về thơ, trong làn hương thơm ngát với những sợi khói mỏng manh, la đà bay. Tôi cũng biết anh không thể đủ tiền để chơi sang bằng cách mua nguyên một khối trầm lớn, đem về khắc những hình ảnh kỉ niệm vào đó rồi đặt trên bàn viết. Thật ra, thi ca đã từ lâu rời khỏi những tao đàn quý tộc, quan lại, để về với giảng đường đấu tranh, chiến trường súng nổ, công trường dậy lửa, vỉa hè thành phố xô bồ, bùn đất nông thôn tĩnh lặng. Thi ca và trầm hương ngỡ không còn mối dây liên hệ nào. Nhưng cũng thật sự là không phải thế.

Thi ca và trầm hương vẫn còn đó, nhưng trầm hương là khối tim. Và không còn gió quẩn trong thi các, thi sảnh quan phương mà là gió đồng, gió biển, gió đồi, gió phố.

Trên khối trầm hương trong lồng ngực ấy, Võ Văn Luyến dành một chỗ cho tình đồng đội một thời làm nghĩa vụ quân sự ở biên giới phía Bắc, cho tình bạn của những người làm thơ, làm báo, dạy học.

Về tình bạn và duyên nghiệp thi ca, báo chí, Võ Văn Luyến viết được những bài thơ hay nhất trong Trầm hương của gió. Tôi chỉ xin trích nguyên văn 2 bài, không thêm một lời bình phẩm nào. Ai lại đi bình phẩm những gì đã thật sự làm mình rưng rưng nước mắt.

Khúc tang tình nhớ bạn (3)

Đường trăng lẻ bóng chân khuya

Nao nao một thuở đi về bên nhau

Nhiều đa mang vẫn cơ cầu

Chết trong hi vọng ngàn sau sạch lòng

Bạn vào phố thị người đông

Tôi về đồng đất cấy trồng niềm yêu

Thơ mang thời vụ ít nhiều

Nên chi dân dã bám theo kiếp người

Vẫn vầng trăng thắp bên trời

Vẫn câu nhân ngãi nói lời trái tim

Muôn sau đời mãi đi tìm

Muôn xưa còn đó nổi chìm lênh đênh

Mặc ai gõ nhịp kim tiền

Ta làm gõ kiến an nhiên hồn mình

Tình tang là cái tang tình

Vãn đường chợt thấy bóng hình trôi theo.


Cảm khúc

Tặng TXA., NH.

Bây giờ bên cốc rượu đắng

Bạn bè một thuở ra đi

Tôi ngồi bên tôi thầm lặng

Đèn xanh, ngọn đỏ, đề thi

Dặn lòng còn đầy thương nhớ

Dấu chân lối cũ đi về

Trắng đất, trắng trời áo trắng

Sao ta trắng nỗi đê mê?

Hành trang câu thơ mỏng mảnh

Gió bay qua mặt con người

Ta cúi nhặt từng con chữ

Ròng ròng cát trắng tuôn rơi…

Đã tự nhủ mình không nên bình phẩm trước những bài thơ tặng mình, khiến mình rưng rưng nước mắt, nhưng cũng không thể kìm được!

Tôi hiểu Võ Văn Luyến, anh muốn thể hiện một điều: Là nhà giáo, anh luôn luôn trắng nỗi yêu mê trước những tà áo trắng học trò phổ thông trung học. Yêu mê (yêu đương đến mê dại), chứ không phải đê mê (cảm giác mê mẩn bậc thấp hoặc trạng thái man mác, bát ngát). Người đọc thường tiếp nhận từ “đê mê” theo nghĩa thường dùng, phổ biến nhất (trong tiếng Việt hầu như chỉ có một nghĩa ấy)! Phải chăng, với nghĩa đó, nhà giáo Võ Văn Luyến đã khẳng định bằng câu hỏi phủ định một cách thẳng thừng, bộc trực đến thế? Thẳng thừng, bộc trực là điều khá lạ trong thơ anh. Và mặc dù người đọc đồng ý rằng, tác giả viết ra hai chữ “đê mê” để phủ định, nhưng ai cũng hiểu là, chỉ cần lỡ tay viết đến hai chữ ấy trong văn cảnh thể hiện quan hệ trong trắng học trò – bảng đen, phấn trắng đó, sẽ tạo nên một hiệu ứng phản cảm, ít ra cũng nghe rất chỏi, rất ngại.

Trong kho từ vựng còn có từ trầm mê, Đào Duy Anh định nghĩa bằng nghĩa mở rộng trong Từ điển Hán – Việt của ông: mê muội, đắm chìm [trong những giáo thuyết]. Ồ, với giáo thuyết nào, ta cũng cố thấu suốt, đồng thời phải cố vượt lên để làm chủ trí tuệ mình! Hình như anh chẳng nói thế là gì trong bài Tự sự trước năm 2000, một bài thơ trong Trầm hương của gió? Vậy thì, hãy tự hỏi vì sao ta trắng sạch nỗi trầm mê hoặc yêu mê chăng? Hay vẫn để nguyên văn câu tự hỏi, trước khung cảnh trắng đất, trắng trời áo trắng, ta biết vì sao ta vẫn giữ lòng trong trắng với nỗi man mác, bát ngát?

Và cũng phải nói thêm một điều nữa, trước khi khép lại bài viết đồng cảm, chia sẻ này. Võ Văn Luyến đừng lo thơ ca của mình rồi như nước lã, như cát khô chảy sạch qua kẽ tay. Con chim gõ kiến vàng, với một hình ảnh trong thơ hiện đại được nhiều người biết đến, ta ngỡ như biểu tượng gõ nhịp thời gian, cứ tích tắc, tích tắc, và bàn tay vốc cát khô, cát ròng ròng chảy, với tri thức văn học cổ, ta ngỡ như đồng hồ nước, đồng hồ cát, cứ rơi rơi, rơi rơi. Nhịp gõ tích tắc và tiếng rơi rơi, cũng như âm thanh của đồng hồ tự động, điện tử, sẽ mãi âm vang thầm thì vào vô tận. Chúc Võ Văn Luyến kiên tâm với nhịp trái tim – khối trầm hương thơ ca trong ngực mình. Rộn ràng. Tê dại. Xao xuyến. Trầm lắng. Náo nức. Và ở nơi lồng ngực đó, còn rất nhiều cung bậc khác của tình cảm con người, rất con người, nhưng căn bản vẫn rất đúng đắn, chuẩn mực – đúng đắn, chuẩn mực của thật – tốt – đẹp.

Đọc bài viết này, tôi hi vọng sẽ là một dịp Võ Văn Luyến nhìn lại để bước tới. Với tinh thần chia sẻ, nhất là có ý thức lắng nghe các phản hồi, những gì tôi viết, đúng hay sai, sâu hay cạn, khen hay chê, thiết tưởng không phải là vô ích. Bạn có thể thẩm định lại.

Nhà thơ – thạc sĩ văn chương Võ Văn Luyến vẫn còn nhiều tập thơ và tiểu luận. Bạn thân mến, tôi chúc tất cả sẽ được xuất bản trong nay mai!

Tp. HCM., 10 giờ 02 phút

ngày 12. 9. HB4

(28. 7 Giáp thân HB4).

TRẦN XUÂN AN

(1) Trầm hương của gió, Nxb. Thuận Hoá, 2003.

(2) Trong tiểu thuyết Bướm trắng, Nhất Linh có ghi lại bài ca dao này. Xem thêm: Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ, ca dao Việt Nam, bản in lần thứ 8, Nxb. KHXH., 1978, tr. 298 – 299. Theo tôi nghĩ, trong sđd., Vũ Ngọc Phan đã chép lại một tục bản (bản viết nối), chứ không phải là dị bản. Nhưng không hiểu sao, Vũ Ngọc Phan lại tách ra làm hai, xem như hai bài độc lập, mỗi bài chỉ một cặp câu lục và bát. Nguyên văn như sau:

Trăm năm đành lỗi hẹn hò

Cây đa bến cũ, con đò khác đưa

Cây đa cũ, bến đò xưa

Bộ hành có nghĩa, nắng mưa cũng chờ!

Với tục bản này, ca dao Quảng Trị hình như đã được nhân dân ở đó sáng tạo thêm theo mô-típ (motif) “tình chị duyên em”, “tình bạn duyên mình” với hoàn cảnh cụ thể là con đò xưa (chị / bạn) sớm thác, thì con đò nay (em / mình) vẫn chờ sĩ tử (khách bộ hành), nếu người sĩ tử ấy thật sự có nghĩa. Tôi cũng mong chàng trai vào kinh đô dự thi ấy thật lòng có nghĩa thuỷ chung, không phải cố tình phụ bạc, nhưng vì hoàn cảnh nào đó, không thể quay lại với con đò hẹn ước.

(3) Trích đúng nguyên văn, có đối chiếu (để chỉnh sửa lỗi in ấn): Nhiều tác giả, Còn đây thương nhớ, tuyển tập thơ, Hội Văn học – nghệ thuật Quảng Trị xuất bản, 1993, tr. 41. Bài này còn được đăng trên tạp chí Cửa Việt, tuần báo Văn Nghệ (Hội Nhà văn VN.), nhưng rất tiếc, tôi chưa kịp tra cứu lại số và ngày tháng năm phát hành.

Đã gửi:

1. Võ Văn Luyến (ngay sau khi viết xong, 12. 9. 2004)

2. Inrasara (12. 9. 2004)

(Bài đã đăng trên Tạp chí Cửa Việt, số tháng 11. 2004).

Nguồn: http://c.1asphost.com/TrXuanAn/

READ MORE - TRẦN XUÂN AN - ĐỌC THƠ VÕ VĂN LUYẾN

ĐOÀN QUỲNH NHƯ - THÁNG SÁU SÀI GÒN



Chiều nay cũng như những buổi chiều nao cơn mưa ào ạt lại đi qua thành phố này, khoảng cách chỉ từ đường băng về nơi cư ngụ chỉ vài bước chân thôi cũng kịp để ướt sũng, Đã bao năm với mưa Sài Gòn, nó thật thà đến và đi như bản tính của con người bản xứ.

Khi rời xa thành phố ồn ào này, màu mưa nắng cứ bàng bạc trong trí nhớ tôi, không tỏ không mờ, mà thân quen quá đỗi. Từng góc phố, con đường, hàng cây bốn mùa xanh lá; những con hẻm nằm nép thân chênh vênh bên toà nhà như ngày càng muốn đẫy đà hơn; ghánh hàng rong đội nón xuôi ngược của các bà các chị, người lái xe ôm thư thả đọc báo chờ khách nơi cột điện góc phố phường, hè quán càfê nơi người người tiện đường ghé chân uống ly nước mát hay tránh cái nắng như bốn mùa đều là “hạ trắng”…và cô đọng trong tôi từng gương mặt anh em bạn bè gần gũi giọng nói điệu cười, những ánh mắt hiền hoà, hiền như tia nắng buổi mai Sài Gòn sóng sánh tách càfê thơm tho.


Đặc sản nơi đây có lẽ là “nắng Sài Gòn” ai có một lần “nếm” qua cũng sẽ khó mà quên. Không thể quên những trưa nắng đổ trộn lẫn với đường phố xe cộ khói bụi, tiếng ồn lất át những gương mặt vận hành bất động.


Dẫu vậy khi chiều tà đêm buông thì sự dịu dàng nữ tính của cô gái Sài Gòn hiện ra với hàng cây xanh gió lộng, phố khoác lên mình chiếc áo lung linh vũ điệu màu sắc ánh sáng.


Nó như là một thực thể có hai phần âm dương như đêm và ngày tách biệt. Ban ngày, một chàng thanh niên với thân hình vạm vỡ, lực lưỡng để ghánh vác bao guồng quay cuộc sống, cần đến năng lượng cả mồ hôi, sự xông xáo và năng động. Còn khi đêm về thì kiều diễm đỏng đảnh như môt cô gái trẻ trung luôn biết điểm trang trên môi nụ cười tươi tắn.


Có lẽ đó là nét hài hoà, món quà tạo hoá ban tặng cho thành phố này. Khi ai đã có lần ghé đến thì đều muốn có dịp quay lại không hẳn là thôi thúc nếu như có thêm một lý do riêng nào đó…/.



Đ.Q.N



Nguồn: vanchuongviet.org


READ MORE - ĐOÀN QUỲNH NHƯ - THÁNG SÁU SÀI GÒN

VÕ THỊ NHƯ MAI dịch thơ VÕ VĂN HOA


SOMEWHERE FARAWAY


someone drying her hair every morning

someone sleeping with his unforgotten love for years

somewhere faraway

I’m on my way searching you

lagerstroemia spreading her purple beauty on hillsides

gloomy squirrel passing by

white rabbit disappearing behind the foliage

there reflecting my shadow

in the tales of somewhere far far away

somewhere faraway

wild birds spreading their wings

along Truong Son,

are you still searching for your girly footprints ?

a time of smoke and fire

wondering whereabout your teammates lying

trees in the thick forest crowded with wounds

someone is drying her hair

with a distant look in her eyes

towards Truong Son...


(poem by Vo Van Hoa, translated by Nhu Mai)


CÓ MỘT NƠI XA NÀO


Có người hong tóc mỗi sớm thức dậy

Có người ngủ quên chuyện tình mấy mươi năm

Có một nơi xa nào!

Tôi đi tìm em

Hoa bằng lăng tím sườn đồi đến lạ

Con sóc buồn, con thỏ trắng vụt qua khóm lá

Tôi soi bóng mình

Như soi vào cổ tích

Có một nơi xa nào !

Có một nơi xa nào !

Chim rừng động cánh

Em vẫn đi dọc TrườngSơn

Tìm lại dấu chân son những ngày khói lửa

Đồng đội em ngã xuống nơi nào ?

Cây rừng ken dày phế tích

Có người hong tóc

Mắt vẫn hướng về xa ấy,

Trường Sơn…


22/10/2004

READ MORE - VÕ THỊ NHƯ MAI dịch thơ VÕ VĂN HOA

Sunday, June 5, 2011

NGUYỄN ĐỨC TÙNG – THƠ ĐẾN TỪ ĐÂU: DƯƠNG TƯỜNG

Thơ đến từ đâu là một công trình tập thể của 25 nhà thơ quy tụ chung quanh cuộc phỏng vấn của Nguyễn Đức Tùng, nhiều bài trong đó đã được phổ biến trên mạng lưới Talawas năm 2007, nay được ra mắt bạn đọc bởi nhà xuất bản Lao Động. Cuốn sách, trong nội dung tự tại của nó, là một tác phẩm hay, có giá trị phổ cập về hai mặt lập thuyết và thời sự.

Đặt vào bối cảnh văn học hiện nay, Thơ đến từ đâu, là biến cố, làm cơn gió thông thoáng, một luồng tư duy tươi thắm, quy tụ được nhiều nhà thơ giàu kinh nghiệm sáng tác, thuộc nhiều lứa tuổi, nhiều trường phái khác nhau, trong và ngoài nước, không phân biệt chính kiến. Vì vậy về mặt khách quan, cuốn sách làm nên sự kiện.

(Đặng Tiến, Thơ đến từ đâu, www.khoavanhoc-ngonngu.edu.vn)




DƯƠNG TƯỜNG:
VIẾT KHÔNG KHÁC NGƯỜI TA THÌ ĐỪNG VIẾT



Ngày 6 tháng 4 năm 2007 tại Hà Nội, chúng tôi đến thăm nhà thơ Dương Tường tại nhà riêng. Dương Tường ngồi sau một chiếc bàn nhỏ và thấp chất đầy sách vở và ly tách giữa một căn phòng rộng dùng làm phòng triển lãm tranh. Tranh treo kín các tường. Chúng tôi gồm có Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Trọng Tạo, Du Tử Lê, Nguyễn Đức Tùng, và nhiều bạn bè văn nghệ khác, người từ Sài Gòn ra, người ở ngay Hà Nội. Trưa hôm đó Dương Tường dẫn chúng tôi đi thăm phố và ăn trưa. Chiều hôm sau, 7 tháng 4, một mình tôi quay lại địa chỉ trên theo lời hẹn.


Buổi chiều Hà Nội nhiều nắng, nhưng mát, dịu dàng. Chiếc ngõ dẫn vào nhà ông sâu, quanh co, vắng người, như ở chốn quê. Anh chị Dương Tường đón tôi ở cửa, tươi cười, thân ái.

Ngồi gần bên nhà thơ, hai người trong căn phòng rộng và im vắng, tôi có cảm giác chất nghệ sĩ trong người Dương Tường toả ra thành một với những bức tranh trên tường. Buổi chiều có vẻ siêu thực.
Nguyễn Đức Tùng: Xin đọc một bài thơ của anh. “Tình khúc 24”.
24 phím cầm chiều
24 nhành sương mím
24 tiếng ve sầu đại lộ tháng tư

Gửi lại em
cầu thang 24 bậc
tờ thư 24 gác mưa
làn menuetto 24 âm xưa

Gửi lại em
Mùi hoa sữa 24 miền hoài niệm
Ga khuya 24 lần đưa đón
Bài huê tình 24 lối sân sau

24 có phải là tuổi trẻ không? Rất vui và cảm động được ngồi với anh như thế này. Thưa anh, những người yêu thơ Dương Tường vẫn còn theo dõi các hoạt động của anh.


Nhà thơ Dương Tường ( Ảnh từ Thanhnien.com)

Dương Tường: Mình mới gặp các bạn lần đầu mà đã thấy thân thiết như bạn bè lâu ngày. Hôm qua, Trinh, vợ tôi, cũng nói rằng, không hiểu do một giao cảm đặc biệt nào, gặp các anh thấy rất mến.

Nguyễn Đức Tùng: Ngoài tuổi trẻ, thơ Dương Tường cũng như đi ra từ chính tuổi thơ của tác giả, nghĩa là vượt qua những quy ước thông thường của ngôn ngữ người lớn.

Dương Tường: Nhà thơ Áo Rainer Maria Rilke có nói cái ý là sung sướng thay cho những người có một tuổi thơ như là kho báu để nhìn lại mỗi ngày. Tôi nghe anh Nguyễn Đức Tùng mở lời hôm nay thì tôi biết ngay là người đang nói chuyện với tôi là một người rất giàu có. Một người hết sức giàu có tuổi thơ.

Nguyễn Đức Tùng: Craig Powell, một nhà thơ–phê bình (poet-critic) và là bác sĩ tâm lý người Úc, đã từng sống và làm việc tại Canada, cho rằng ngôn ngữ thơ là các quá trình tâm lý sơ cấp (primary process), trong khi ngôn ngữ văn xuôi là các quá trình tâm lý thứ cấp (secondary process) [1] . Đọc thơ anh có lẽ nên nhìn từ góc độ đó chăng? Tôi e rằng những người biết đến tên Dương Tường thì nhiều, nhưng những người hiểu Dương Tường có lẽ là ít, ngay cả trong giới phê bình văn học. Có đúng thế không thưa anh?

Dương Tường: Tôi e rằng đúng như thế. Hiểu được thơ của mình cần phải có cái nhìn rất mới, nếu không thì không đồng cảm được.

Nguyễn Đức Tùng: Anh bắt đầu làm thơ từ bao giờ?

Dương Tường: Tôi bắt đầu làm thơ từ những năm 1950, thời kháng chiến chống Pháp. Nhưng chỉ làm thơ cho mình và cho bạn bè, nghĩa là không xuất bản. Cho đến những năm 1988 hay 1989, với tập thơ đầu tay in chung với Lê Đạt, đó là tập Ba mươi sáu bài tình. Như thế là từ khi bắt đầu làm thơ đến khi bắt đầu xuất bản là hơn ba chục năm.

Từ lúc bắt đầu làm thơ là tôi đã có một tâm niệm là tôi viết phải khác những người khác. Nếu viết không khác người ta thì đừng viết ra. Vì mỗi người có một tính cách khác nhau nên thơ nếu là của anh thì nó phải phát lộ cái personality (nhân cách) của anh.

Nguyễn Đức Tùng: Nhân cách của nhà thơ biểu hiện qua phong cách, giọng điệu. Phong trào Thơ Mới và văn học trước 1945 như Tự lực Văn đoàn, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, cùng thời với anh, đã ảnh hưởng đến phong cách của anh ra sao?

Dương Tường: Tôi sinh năm 1932. Như thế là tôi sống qua thời kì Thơ Mới, tất nhiên là thế hệ của tôi, bạn bè tôi đều thấm đẫm tinh thần của thời kì vàng son rực rỡ đó. Nhưng ảnh hưởng của họ đối với tôi thì không đơn giản. Ví dụ như vào thời đó nhiều người thích thơ Xuân Diệu nhưng tôi lại không. Thời đó tôi thường nói đùa với bạn bè rằng ông Lamartine ngủ với ông Verlaine thì đẻ ra Xuân Diệu.

Nguyễn Đức Tùng: Ý anh nói là Xuân Diệu không có gì mới cả.

Dương Tường: Đúng thế. Ông ấy chính là hậu duệ của chủ nghĩa lãng mạn Pháp mà Lamartine và Verlaine là tiêu biểu, chứ đối với tôi vào thời đó thì không có gì mới cả.

Nguyễn Đức Tùng: Vào thời đó mà nghĩ như thế quả là táo bạo. Nhưng Xuân Diệu lại là một tài năng lớn.

Dương Tường: Đúng thế. Có những người là thiên tài nhưng tôi vẫn không thích. Victor Hugo lớn lắm chứ, rõ ràng là thiên tài, nhưng tôi không thích.

Nguyễn Đức Tùng: Những nhà thơ Việt Nam nào ảnh hưởng tới anh nhiều nhất?

Dương Tường: Đinh Hùng và Huy Cận.

Nguyễn Đức Tùng: Mặc dù làm thơ từ rất sớm, nhưng lúc nào thì thơ Dương Tường là Dương Tường như hiện nay?

Dương Tường: Thơ viết từ khoảng 1950 đến 1960 tôi đều bỏ hết, vì sau này đọc lại tôi thấy chúng không phải là tôi, mà thật ra là bắt chước. Từ những năm 1960 thì thơ Dương Tường mới là của tôi. Trên đây tôi có nói về Đinh Hùng và Huy Cận. Tôi cho là cái chất lãng mạn, triết lý và sầu muộn của hai ông đã ảnh hưởng đến tôi nhiều.

Nguyễn Đức Tùng: Nhưng kĩ thuật làm thơ của anh hoàn toàn khác với kiểu cổ điển của Huy Cận và Đinh Hùng. Hầu hết các bài thơ của anh là thơ tự do.

Dương Tường: Hồi đầu tôi cũng làm thơ có vần. Về sau thì biết rằng muốn thoát ra về nghệ thuật thì phải làm mới các thể thơ. Nhưng tôi vẫn chú trọng đến âm nhạc trong thơ. Các nhà thơ trẻ hiện nay ít chú ý đến điều này.

Nguyễn Đức Tùng: Tôi sẽ xin quay lại với các nhà thơ trẻ. Anh vừa nhắc đến thời gian 1960. Năm 1960 là vừa sau vụ án Nhân văn-Giai phẩm. Vụ NVGP ảnh hưởng đến anh và đến văn chương của anh như thế nào? Anh có vai trò gì trong NVGP?

Dương Tường: Tôi không phải là một thành viên chính thức của NVGP, nhưng trong thực tế thì cũng gần như vậy. Nhiều người biết rõ điều đó, chính quyền cũng biết. Rõ ràng là từ đầu tôi đã nhập cuộc với NVGP. Đó là một phong trào văn nghệ đòi quyền tự do biểu đạt. Tôi là bạn thân và cũng là bạn đường của các anh Trần Dần, Phùng Quán, Hoàng Cầm, Lê Đạt, và tôi sát cánh cùng các anh ấy ngay từ đầu.

Nguyễn Đức Tùng: Như vậy về mặt danh nghĩa, Dương Tường không phải là thành viên chính thức của NVGP, nhưng trong thực tế anh có bị chính quyền hồi đó làm khó dễ gì không? Ảnh hưởng về chính trị và đời sống của vụ NVGP đối với anh như thế nào? Anh có chia sẻ các giá trị của NVGP không?

Dương Tường: Có chứ. Ảnh hưởng về chính trị rất nhiều. Tôi phải đi học tập ở Thái Hà ấp trong một khoá chỉnh huấn. Sau đó thì phải đi lao động ở mỏ than Cẩm Phả và khu gang thép Thái Nguyên. Lớp chỉnh huấn này gồm có trên 100 người, trong đó có vài chục người là trực tiếp liên quan đến NVGP, do Nguyễn Đình Thi phụ trách, và có những quan chức chính trị đến giảng bài và hướng dẫn kiểm điểm như ông Đỗ Mười. Tôi đi lao động ở mỏ Cấm Phả hai tháng, sau đó đi lao động ở khu gang thép Thái Nguyên. Hết thời gian lao động cải tạo thì không được về Hà Nội mà vào làm phóng viên Thông tấn xã Việt Nam, phân xã Nghệ An.

Ngày nay nhìn lại tôi vẫn không ân hận gì về những việc đã làm lúc còn trẻ và hãy còn bồng bột. Tôi chia sẻ các giá trị của NVGP. Các đòi hỏi của họ về quyền tự do biểu đạt của văn nghệ sĩ là có giá trị vĩnh viễn trong mọi thời kỳ. Ngày nay cũng như thời xưa.

Nguyễn Đức Tùng: Từ năm 1960 về sau, cội nguồn và diễn trình của thơ Dương Tường ra sao?

Dương Tường: Xin nói thêm một chút nữa. Ngay sau vụ NVGP thì tôi lại dính vào một vụ án thứ hai là vụ án “xét lại”. Hồi đó có sự mâu thuẫn giữa khuynh hướng giáo điều theo Mao Trạch Đông và khuynh hướng “xét lại” theo Liên Xô. Đảng ta hồi đó theo Mao, nên những người ủng hộ “xét lại” bị đàn áp. Bạn bè thân của tôi hồi đó như Vũ Thư Hiên, Vũ Huy Cương, Kiến Giang và nhiều người nữa cũng bị đi tù. Đó là năm 1965 hoặc 1966. Bạn thân của tôi là Bùi Ngọc Tấn cũng dính vào vụ này. Kể ra nếu Tấn không ở Hải Phòng thì chưa chắc đã bị bắt.

Nguyễn Đức Tùng: Tại sao ở Hải Phòng lại bị?

Dương Tường: Cũng giống như trong cải cách ruộng đất, mỗi xã, mỗi thôn, đều định trước chỉ tiêu là phải tìm cho ra từng ấy, từng ấy địa chủ, trong vụ “xét lại” hình như chỉ tiêu bắt người cũng được định trước cho từng địa phương, nghĩa là một địa phương phải bắt bao nhiêu người thì mới đúng chỉ tiêu. Hải Phòng không phải là trọng điểm “xét lại” nhưng cũng cần bắt một số và chẳng may Bùi Ngọc Tấn rơi vào số ít đó. Nếu Tấn mà ở Hà Nội thì có thể không sao. Đó là tôi đoán vậy, chứ không khẳng định là thực tế đã diễn ra như thế. Có điều chắc chắn là tất cả những người bịt bắt trong vụ này đều không được xét xử công khai. Phần mình, tôi cũng đã chuẩn bị sẵn ba lô để họ gọi là vào thẳng nhà tù, vì thấy bạn bè như Vũ Thư Hiên đã bị bắt. Nhưng công an gọi tôi lên thẩm vấn một tháng trời mà không bắt.

Nguyễn Đức Tùng: Anh nhìn lại vụ án xét lại như thế nào?

Dương Tường: Rất nhiều người bị bắt oan và không có án xử gì cả (mình quen mồm gọi là “vụ án” chứ thực ra, có xử gì đâu mà gọi là án!). Vụ xét lại là một cố gắng của những người trí thức muốn ủng hộ các cởi mở ở Liên Xô vào lúc đó, làm cho xã hội có một bộ mặt nhân bản hơn. Thật ra phong trào xét lại cũng tương tự như đổi mới sau này.

Nguyễn Đức Tùng: Nhưng sau đó cuộc sống của anh và gia đình chắc là bị ảnh hưởng?

Dương Tường: Ảnh hưởng nặng nề. Vợ chồng tôi nếm đủ mùi, nhưng thôi, mình chả muốn kể khổ làm gì. Bây giờ nói về thơ. Như anh Nguyễn Đức Tùng có đọc, thơ của tôi viết như thế thì vào những năm 1960 ai mà đọc được, báo nào mà dám đăng, vì vậy thơ tôi không in được, và không có độc giả.

Nguyễn Đức Tùng: Tình trạng thơ không có độc giả, sáng tác không có tiếng dội lại, không có phản hồi đã ảnh hưởng như thế nào đến quá trình sáng tạo của anh?

Dương Tường: Tôi đã tâm niệm từ đầu rằng con đường thơ của tôi sẽ không thay đổi. Tôi đã chọn con đường ấy, đã chịu nhiều hệ luỵ, nhưng sẽ đi đến cùng. Vì vậy tình trạng không in được thơ, không có độc giả, không ảnh hưởng nhiều đến con đường của tôi. Tất nhiên là tôi cũng có những độc giả riêng của mình, đó là những bạn bè thân quen. Nhất là những bạn trẻ yêu mến thơ tôi, có khi họ ghi chép lại, nhờ thế mà nhiều bài thơ tôi bị mất vẫn tìm lại được, nhờ sự ghi chép của các bạn trẻ.

Tuy vậy, trong sáng tác văn học, cái feedback của độc giả và nhà phê bình là rất quan trọng. Nếu tôi có những feedback như thế, kịp thời, chắc là thơ tôi đã có nhiều thay đổi. Vì chỉ có một nhóm bạn bè thân, và vì khá cô độc, cái mạch nguồn của thơ tôi không phát triển thành các nhánh rẽ khác mà lẽ ra nó phải có. Đó là một hạn chế đáng tiếc. Rất đáng tiếc.

Nguyễn Đức Tùng: Điều anh nói đang chạm đến một vấn đề của xã hội Việt Nam hiện nay. Cũng có nhiều người cho rằng bất chấp sự áp bức của một số chế độ, tự do của người sáng tác là không ai lấy đi được, và vì vậy tự do xuất bản không ảnh hưởng gì nhiều đến sáng tác của một nhà văn.

Dương Tường: Không phải đâu, độc giả ảnh hưởng lớn lắm. Có Bá Nha thì ít nhất cũng phải có một Tử Kỳ chứ. Mặc dù vậy tôi cũng có một số bạn trẻ yêu thơ Dương Tường, và cũng có ảnh hưởng đối với thơ của họ.


Nguyễn Đức Tùng: Đó là ảnh hưởng của anh lên người khác, chứ còn ảnh hưởng của người đọc lên thơ anh lại là một chuyện khác. Trường hợp này ảnh hưởng của người đọc là không đáng kể, và như vậy là một thiệt thòi cho nhà thơ, đúng không ạ?

Dương Tường: Vâng. Đúng thế. Tôi tiếc lắm, vì nếu như tôi được in công khai và có sự phản hồi kịp thời của dư luận văn học, thơ tôi ngày nay chắc đã phát triển ra thành những hướng bất ngờ khác.

Nguyễn Đức Tùng: Tôi đã đọc tuyển tập Thơ Dương Tường [2] của anh, trong đó có những bài tôi thích như bài “Tình khúc 24”, bài “Bella”, hay phần thơ “Tôi đứng về phe nước mắt”. Ngôn ngữ của anh giản dị, nhưng thật ra không dễ hiểu. Giản dị và dễ hiểu là hai khái niệm khác nhau. Tiếc rằng có hiện nay nhiều người không phân biệt được điều này. Có những câu hay đột ngột, nhưng cũng có những câu chưa thuyết phục lắm. Xin phép được trích dẫn trước mặt anh.

Mặt trời Colorado
dậy sớm
Đánh cắp của ta quà tuyết đêm qua

Là bài hay và dễ hiểu.

Bao giờ
về
thượng nguồn thơ
nghe
u ơ

Cũng hay và dễ hiểu.

Đến như:

Bao giờ về
U tịch
Bên kia?

Thì phạm vào lỗi lặp lại (non-originality).

Hồ môi thơ lã chã âm xưa
bản nháp chiều tơ liễu
đưa mưa

Thì hay nhưng hơi khó hiểu đối với những người đọc trung bình. Rõ ràng là thi pháp tượng trưng, hơi bị lộ.

Khoảnh khăk
Phố nằm tênh hênh
Con jó thôk
bỗng chốk
vú nũm cau
phau phau

Thú vị và bất ngờ. Nhưng dễ rơi vào tình trạng tự bắt chước mình. Một khuyết điểm mà Trần Dần cũng không tránh được.

Còn những câu như:

Người đàn bà hít mùi mồ hôi ba năm chờ
cười vô lối
Cửa sổ sóng sánh tiếng huýt sáo của một người
Đi chơi đêm

Rất đặc sắc. Mang dấu ấn riêng của Dương Tường. Chúng đã làm tôi liên tưởng đến E. E. Cummings (1894-1962), một nhà thơ dùng hết cuộc đời mình để nắm bắt những giây phút sống động đầy cảm giác thực tại, bằng cách lược bỏ các suy tư vốn dễ phát sinh về thực tại đó.

When by now and tree by leaf
She laughed his joy she cried his grief
Bird by snow and stir by still
Anyone’s any was all to her

Viết như thế thì tuyệt quá.

Dương Tường: Cám ơn anh Nguyễn Đức Tùng đã đọc thơ tôi. Nếu có thì giờ tôi rất muốn nghe những phê bình góp ý khen chê của một nhà thơ và nhà phê bình thuộc thế hệ trẻ và ở nước ngoài như anh. Tôi rất cần sự thưởng thức và đánh giá của người đọc.

Nguyễn Đức Tùng: Hôm nay ngồi trước tập thơ mới nhất, tập thơ Đàn của anh. Đó là một thứ thơ ngoài lời. Tôi xin nói rằng có thể gọi anh là nhà thơ đứng ở biên giới của ngôn ngữ. Điều đó không phải bao giờ cũng có lợi cho anh. Không phải ai cũng đọc được, hoặc họ đọc được mà không tán thành. Nếu anh có những feedback kịp thời, có lẽ anh sẽ còn phát triển hơn nữa về hướng này.

Dương Tường: Những feedback ấy đã không có vào đúng lúc mà nó ra đời. Khi người ta viết lại quá khứ và công nhận tác phẩm của mình, thì cái mạch nguồn thơ của mình vào lúc ấy đã không còn nữa, Tôi nghĩ ở Việt Nam đã có nhiều người cũng rơi vào tình trạng như tôi.

Nguyễn Đức Tùng: Tập thơ Đàn cần một thứ độc giả riêng của nó. Nó gồm ba mươi trang gồm các hình vẽ với các ghi chú rải rác. Tôi thích bức số một, số hai, số ba, số năm, theo thứ tự trong tập này. Chúng gây cảm giác mênh mông khó tả. Nhưng những bức khác như hình số bốn có dáng như một ly rượu, một nhánh cây leo, và con bướm đậu trên chân ly, tôi không thích vì nặng tính quy ước. Thưa anh, như vậy thơ đã hoá thành hội hoạ hay một thứ nghệ thuật sắp đặt trên giấy rồi chăng?

Dương Tường: Không phải. Thơ không phải là hội hoạ dù rất gần với hội hoạ. Các tác phẩm của tôi cũng không phải là tranh, mặc dù nhìn như những bức tranh. Đó là một thứ thơ không dùng đến ngôn ngữ thông thường và sử dụng các biểu đạt siêu ngôn ngữ (meta-language).

Nguyễn Đức Tùng: Theo nhận xét riêng, tôi cho rằng Dương Tường là một trong những nhà thơ trí thức của Việt Nam hiện nay còn sống. Một thứ scholar. Một tinh thần như thế, một phong cách trí thức như thế làm lợi hay làm hại cho thơ? Và như thế nào?

Dương Tường: Tôi bắt đầu thực hiện tập thơ Đàn khi cảm thấy cần mở rộng biên giới của ngôn ngữ, nếu tôi được phép dùng theo cách nói của anh Nguyễn Đức Tùng ngày hôm qua. Anh Châu Diên, người viết lời giới thiệu cho tập thơ Đàn cũng nói rằng: “Thơ không lời, theo cách gọi của Trần Dần, thực ra không phải là một cái gì dị thường lắm. Ở đầu nguồn, có lẽ là những calligrammes của nhà thơ cách tân hàng đầu của Pháp Guillaume Apollinaire, những bài thơ được trình bày bằng cách viết biểu hình, mà tôi tạm dịch bằng một từ Hán Việt tân tạo: thư đồ thi. Cũng như cái mắc áo, cái bồn tiểu lật sấp của Marcel Duchamp là tiền đề cho hình thức installation (sắp đặt) sau này, thư đồ thi của Apollinaire, theo tôi nghĩ, là tiền đề cho thơ ngoài lời hay thơ không lời mà Dương Tường và Trần Dần thể nghiệm vào giữa những năm 1970”.

Nguyễn Đức Tùng:

Ai bẻ ghi tôi
Tu-huýt còi
Hoang ga em?

Đúng là có thể xem Dương Tường, trong một số bài, là một E. E. Cummings của Việt Nam. Do những điều kiện lịch sử khắc nghiệt, trải qua những vụ án như NVGP, vụ án xét lại, một Cummings như thế đã không có điều kiện để tạo dựng hình ảnh (image) của mình lớn hơn, vươn được lên đẳng cấp thế giới, cả về nghệ thuật lẫn ảnh hưởng.

Các nhà phê bình văn học Việt Nam hiện nay hình như không ai đọc Dương Tường như một nhà phê bình, và giúp cho người đọc trung bình có khả năng tiếp cận nó ở mức độ phổ thông. Theo anh có phải vì các nhà phê bình Việt Nam không có đủ trình độ lý luận, hay bởi vì họ vướng phải những chuyện nào khác?

Dương Tường: Các nhà phê bình không quen với cách viết của tôi nên họ ngại. Người Việt Nam thường chậm hơn trong những cách tân văn học và nghệ thuật. Dư luận chính thống cũng không ủng hộ tôi. Nói chung là do văn hoá và học thuật của chúng ta còn đi sau thế giới.


Có một điều thú vị là tập thơ Đàn của tôi có một bức được dùng làm bìa cho cuốn sách quan trọng của Victor Shklovsky, cuốn A Sentimental Journey – Memoirs, 1917-1922 do Nhà xuất bản Dalkey Archive Press, Illimois (Mỹ), ấn hành năm 2004. Quả là một bất ngờ khi tôi nhận được thư của Nxb này xin phép được dùng một trang trong tập Đàn làm bìa cho cuốn sách đó. ( xem ảnh). (Ảnh từ Tạp chí Sông Hương)

Nguyễn Đức Tùng: Kể về số phận, Dương Tường là người đi xuyên suốt chiều dài lịch sử của đất nước, và là người tham gia, mặc dù không phải là nhân vật chính, vào các sự kiện sôi động ở miền Bắc. Thế thì toàn bộ tư tưởng của anh, suy nghĩ và hành động của anh trong đời sống, như một công dân, đã ảnh hưởng đến thơ của anh như thế nào. Dòng thơ ngôn ngữ của anh, và sau này dòng thơ ngoài lời, đã được cắm rễ trên mảnh đất ấy như thế nào? Thơ có phản ảnh đời sống của anh không? Anh có chủ định mang những vấn đề của đời sống vào thơ không hay anh cố tình gạt chúng ta khỏi toà lâu đài của thơ ca?

Dương Tường: Nếu đọc kĩ, sẽ thấy trong thơ tôi nhiều dấu ấn của dòng đời. (Đọc thơ)

Ở đây tất cả đều tủn mủn
Chỉ riêng khổ đau là hoành tráng
Thôi chào Tovarish [3] Thế kỉ
Giờ lũ hồng rồi
Tôi chẳng còn thì giờ dặn dò cái chậu giặt
Kìa con chim xứ rét đã về
Ngậm một nhành IM hoá thạch
Tôi đi
Hành tinh hoang

Nguyễn Đức Tùng: Có ba nhà thơ cùng thời mà ngôn ngữ thơ của họ có những nét giống nhau, tôi xin xếp loại là dòng thơ ngôn ngữ ở Việt Nam, đó là Trần Dần, Lê Đạt, Dương Tường, trong đó Dương Tường có những nét riêng. Anh so sánh như thế nào giữa thơ anh và thơ của Trần Dần, Lê Đạt xét về mặt nghệ thuật?


Dương Tường: Về thơ tôi gần với Trần Dần hơn cả, và có chịu ảnh hưởng của anh ấy. Lê Đạt và tôi cũng có những điểm tương đồng. Lê Đạt tự gọi mình là phu chữ, còn tôi đã từng viết rằng mình một đời ăn nằm với chữ. Tiếng Việt, ăn nằm có nghĩa là vợ chồng. Nhưng đối với Trần Dần, thì tôi coi anh ấy vừa là bạn vừa là thầy của tôi. Những người thầy của tôi trên thế giới có Apollinaire, E. E. Cummings, còn ở trong nước thì tôi chịu ảnh hưởng của Huy Cận, Đinh Hùng, nhưng tôi có hai người thầy trực tiếp là Trần Dần và Tất Vinh. Tất Vinh là anh ruột của vợ tôi. Tất Vinh không phải là một người cách tân lắm, nhưng từ buổi đầu anh ấy là người đã truyền cho tôi cái đam mê về thơ.

Nguyễn Đức Tùng: Từ sau 1954 ở miền Bắc có hai dòng văn chương, dòng chính thống được nhà nước bảo hộ, và dòng văn chương phi chính thống bị cấm đoán, cấm xuất bản, trong đó có anh. Giới trẻ ở miền Bắc lớn lên dĩ nhiên hoàn toàn chịu ảnh hưởng của dòng văn chương thứ nhất, cả về tư tưởng lẫn tâm hồn, và do đó mà về bút pháp. Đọc một số các nhà văn lớn lên ở miền Bắc, ngay những người khá cách tân, hiện nay khoảng từ bốn mươi tuổi trở lên, về tiểu thuyết hay về thơ, thì thấy rõ như thế. Nhưng các nhà văn, nhà thơ trẻ hơn, sinh ra hay lớn lên sau 1975, đang tìm cách thoát khỏi các ảnh hưởng này. Đó là sự phủ nhận tích cực. Nhìn lại, anh nghĩ sao về các thành tựu của những nhà thơ lớn thuộc dòng chính thống như Tố Hữu, Chế Lan Viên? Ảnh hưởng văn chương của họ như thế nào?

Dương Tường: Về mặt con người, tôi không dành một sự kính trọng đặc biệt nào cho Chế Lan Viên, nhưng về mặt văn chương thì ông ấy đúng là một nhà thơ lớn. Còn Tố Hữu là con đẻ của cách mạng, vị trí của ông ấy trong thơ cũng không ai xoá được, mặc dù tôi không thích thơ ông. Không thích là một chuyện mà thẩm định khách quan là một chuyện khác. Nói về mặt nghệ thuật, chúng ta phải có một khoảng thời gian để quên đi những mặt phi nghệ thuật của một tác giả, trước khi có thể đọc lại họ một cách bình thường. Hiện nay thì có người cũng chưa đọc như thế được. Điều đó là dễ hiểu. Ngay cả trong tác phẩm của họ, không phải bài nào cũng hay và đáng ca ngợi như hiện nay. Cái việc ca ngợi quá đáng như thế, trở thành một sự sáo rỗng, tuyên truyền, nói cho cùng là có hại cho cả Chế Lan Viên lẫn Tố Hữu.

Nguyễn Đức Tùng: Từ sau kháng chiến chống Pháp, xét về mặt lịch sử và về mặt nghệ thuật, thơ Việt Nam có nhiều nhánh rẽ, ít nhất là năm hay sáu nhánh: thơ miền Bắc chính thống, thơ miền Bắc phi chính thống, thơ miền Nam, thơ hải ngoại, thơ trẻ cách tân không bị cấm đoán hoặc là bị cấm đoán hiện nay. Từ 1954 đến 1975, về mặt nghiên cứu và phê bình văn học, miền Bắc đã thiết lập xong những thành tố căn bản, như việc đào tạo những tài năng về lý luận, nghiên cứu, phê bình, và các viện nghiên cứu. Trong khi đó về mặt sáng tác, nhờ có tự do, miền Nam đã có được một nền văn học phát triển, trong đó thơ ca mang lại nhiều thành tựu, với các tên tuổi còn lại từ thời tiền chiến như Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, đi qua các giai đoạn kế tiếp với Nguyên Sa, Bùi Giáng, Quách Thoại, rồi sau đó là Tô Thuỳ Yên, Du Tử Lê, Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Đức Sơn, Nhã Ca, và một truyền thống dư dật về tiềm năng, sau này còn kịp gieo những hạt giống sáng tạo bay bổng của nó ở khắp nơi v.v… Anh nghĩ sao về dòng thơ miền Nam trước đây?

Dương Tường: Do điều kiện lịch sử anh em chúng tôi ở miền Bắc rất ít được đọc miền Nam, ví dụ như anh Du Tử Lê mà tôi mới gặp hôm qua cùng với anh, tôi mới chỉ được đọc một hai bài, cho đến hôm nay mới có trên tay cuốn sách của anh Nguyễn Đức Tùng vừa tặng mà chưa kịp đọc (Với Du Tử Lê, đời sống trở nên thơ mộng hơn [4] ). Đối với những người mà tôi đã được đọc tương đối đầy đủ, thì ở miền Nam ngoài Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng là những nhà thơ mà tôi hết sức yêu mến từ thời trước, những người khác như Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, và một mảng nào đó của Nguyên Sa, là tôi đặc biệt kính trọng.

Nguyễn Đức Tùng: Các nhà thơ trẻ thường dành cho anh sự yêu mến. Nhận định của anh về sáng tác của các nhà thơ trẻ trong nước hiện nay như Vi Thuỳ Linh, Nguyễn Vĩnh Tiến, Lynh Bacardi, Lê Vĩnh Tài, Nguyễn Thế Hoàng Linh, Lý Đợi, Nguyễn Thuý Hằng v.v… ra sao? Các sáng tác của họ là những đóng góp quan trọng hay chỉ là những trò nhảm nhí không có giá trị văn học?

Dương Tường: Tôi là người rất kì vọng ở lớp trẻ, rất hoà đồng với họ. Tính tôi thì rất ham…

Nguyễn Đức Tùng: Ham vui?

Dương Tường: (Cười) Ham vui thì đúng rồi. Nhưng ý tôi muốn nói là ham hoà đồng vào lớp trẻ. Tôi cho rằng nếu gọi những đóng góp của họ là những đóng góp lớn thì không đúng hoặc nên dè dặt, nhưng đó là những thứ quặng. Quặng thì không phải là vàng, nhưng nếu biết gạn đục khơi trong thì sẽ có thể tìm ra vàng trong đó. Họ cần sự tinh luyện.

Nguyễn Đức Tùng: Sự tinh luyện đó là gì? Lớp trẻ cần làm gì và học gì để có sự tinh luyện đó?

Dương Tường: Sự tinh luyện nằm ở chỗ không được thoả mãn với chính mình. Thường xuyên học hỏi thêm nữa. Rất nhiều. Khi họ được lăng xê, thì đó chỉ là bước đầu mà thôi. Đọc nhiều, học nhiều, tư duy thơ nhiều hơn nữa.

Nguyễn Đức Tùng: Ở gần chỗ ngồi của chúng ta hôm nay có chân dung rất đẹp của Dương Tường treo trên vách, do Vi Thuỳ Linh dựng trong ngày hội thơ tháng giêng ở Hà Nội. Vi Thuỳ Linh tạo ra nhiều dư luận khen chê khác nhau. Có những dư luận thuần tuý văn chương, và những dư luận phi văn chương. Anh nghĩ sao về thơ của cô? Nói cụ thể hơn, với tư cách một người làm thơ lớp trước và là người đã từng viết phê bình và điểm sách, anh nhận định những mặt mạnh và những mặt yếu của thơ Linh ra sao? Tôi cũng có đọc bài phê bình của Nguyễn Thanh Sơn về Vi Thuỳ Linh.

Dương Tường: Tôi là một trong những người cổ vũ Vi Thuỳ Linh và giới thiệu cô với độc giả. Tôi cũng là người đã dịch thơ Linh ra tiếng Pháp đăng trên Europe, một tạp chí lớn ở Pháp. Tôi cho rằng thơ Linh có được cái cảm xúc nguyên chất và tạo ra một mạch chảy của riêng mình. Sau tập thơ Đồng tử, tôi có nói với Vi Thuỳ Linh rằng nếu cô cứ tiếp tục làm như thế thì cô sẽ hết vốn, hết tinh hoa. Vốn đây là vốn chữ. Vì mỗi nhà thơ có một lượng chữ tinh cốt nhất định.

Nguyễn Đức Tùng: Anh muốn nói là từ vựng?

Dương Tường: Đúng thế. Từ vựng. Mỗi người chỉ có một từ vựng giới hạn mà thôi. Tất nhiên, tôi nói từ vựng đây là từ vựng đặc thù của nhà thơ, mang dấu ấn của nhà thơ. Đừng có tiêu phí chữ. Cái đó là cái yếu của Vi Thuỳ Linh. Cô ấy cứ viết ào ào đi. Cần phải biết dừng lại để suy nghĩ, nói chung là phải biết dừng lại.

Nguyễn Đức Tùng: Một nhà văn nữ Hoa Kỳ trong một lớp dạy về văn học mà tôi được tham dự mới đây, có nói đại ý rằng: khi viết thì viết cho hết ý mình, đừng có để dành lại cho cuốn sách khác, vì đến lúc đó lại có cái khác.

Dương Tường: Điều đó rất đúng, nhưng trong một tác phẩm cụ thể thì mình phải tập viết ngắn. Vi Thuỳ Linh viết thơ rất dài, vì cô không thể nào viết ngắn được. Tức là chưa biết tạo ra tinh chất.

Nguyễn Đức Tùng: Rất nhiều nhà văn, nhà thơ ở miền Bắc thuộc thế hệ thơ chống Mỹ, hoặc của miền Nam trước đây và ở hải ngoại, đều đồng ý với nhận định rằng thơ trẻ hiện nay lẫn lộn giữa thật và giả, và rằng các xúc động của thơ trẻ là ít có thật. Anh nghĩ thế nào về nhận định có phần nghiêm khắc này?

Dương Tường: Tôi cho rằng những người đưa ra nhận định như thế hoặc là giáo điều, hoặc là không chịu đọc kĩ các nhà thơ trẻ và chịu khó kiểm nghiệm họ. Cần phải hoà đồng với tâm thức của giới trẻ hiện nay, đứng trong góc nhìn của họ thì mới hiểu và thông cảm được. Cần phải thấy cái suy nghĩ dằn vặt, cái thao thức của lớp trẻ hiện nay, chứ nếu mà đứng xa cách như thế và đưa ra sự phê phán thì tôi cho rằng nếu không phải hồ đồ thì cũng chưa được chín chắn cho lắm.

Nguyễn Đức Tùng: Kế hoạch viết của anh như thế nào trong một hai tháng tới hay một hai năm tới?

Dương Tường: Trong một năm nay tôi không viết gì nhiều, đúng ra viết rồi lại xé, vì khi đọc lại tôi thấy thơ của mình chưa có gì mới. Nó thiếu cái evolution.

Nguyễn Đức Tùng: Tiến bộ, tiến hoá?

Dương Tường: Cũng không phải là tiến hoá, evolution, theo cách tôi hiểu, có nghĩa là triển diễn, không nhất thiết là “tiến”. Khi tôi không thấy được cái đó trong thơ mình, thì tôi xé bỏ bản thảo. Chưa khác được những cái tôi đã làm trước đây. Có thể nói là tôi đang ở trong giai đoạn khủng hoảng sáng tác. Nhà thơ bao giờ cũng phải tìm cách vượt qua cái mình đã làm, và không được lặp lại.

Nguyễn Đức Tùng: Ngoài thơ, anh còn viết ở nhiều thể loại. Nhiều người biết đến anh như một dịch giả hoặc nhà nghiên cứu văn học. Ví dụ trong tập Chỉ tại con chích choè [5] , có bài của anh tranh luận với Hoàng Trinh về nhà văn Mỹ Faulkner, kí năm 1970. Những bài như thế có được xuất bản không, dư luận ra sao?

Dương Tường: Bài đó chưa bao giờ được xuất bản trước 1975. Tôi còn gửi tới tạp chí và tới Hoàng Trinh. Ông ấy lúc đó là viện sĩ. Ông ấy có đọc hay không thì tôi không biết chắc. Nhưng tôi đoán là có đọc. Vì sau đó trong cuốn Phương Tây văn học và con người, ông ấy bỏ bài về Faulkner ra ngoài. Nhưng im lặng không lên tiếng gì cả.

Nguyễn Đức Tùng: Anh là một trong những người rất hiếm hoi am tường những bộ môn nghệ thuật khác nhau. Những người làm thơ có nên có những hoạt động khác ngoài thơ không? Điều đó có giúp ích gì cho họ không?

Dương Tường: Tôi không phải là người thường đưa ra lời khuyên. Nhưng tôi tin rằng người làm văn học cần có cái culture generale, tức là cái nền văn hoá chung. Không có cái nền văn hoá như thế thì anh chỉ viết một thời gian rồi hết vốn liếng, không đi xa được. Tuy nhiên, do làm nhiều thứ quá, từ dịch thuật cho đến hội hoạ, tôi cũng thấy mình ôm đồm nhiều quá, ôm nhiều quá thì không chặt. Qui trop embrasse mal étreint, người Pháp nói thế. Trong lời bạt cuốn Chích choè tôi cũng gợi ý để anh Lê Đạt khi viết lời bạt nhắc đến điều này.

Nguyễn Đức Tùng:

Ở đây tất cả đều tủn mủn.
Chỉ riêng khổ đau là hoành tráng

Là những câu thơ hay và dễ hiểu của Dương Tường. Viết được như thế là vì anh đã sống qua một thời gian khổ của dân tộc. Cái thời ấy đến nay vẫn còn. Nhưng viết như thế này:

Em đi
môi mọng
đùi mọng
vú ấm
tim trống
đầu trống
Em đi - nhớt đêm
Em đi - mưa xiên
Em đi - trời nghiêng
Em - đời bỏ quên

Thì không phải ai cũng thưởng thức được. Theo tôi, Dương Tường đã tạo ra được một lối viết mới với cách dùng chữ táo bạo.

Dương Tường: Muốn làm ra những điều táo bạo, tôi nghĩ phải có những kiến thức thông thường và những kiến thức sâu sắc về văn hoá, lịch sử. Sự không đọc nhiều hiểu rộng của lớp trẻ bây giờ cũng là một điều đáng lo, đáng báo động.

Nguyễn Đức Tùng: Ở trong nước hiện nay những nhà phê bình nào theo anh là quan trọng đặc biệt đối với thơ?

Dương Tường: Tôi cho rằng Hoàng Ngọc Hiến là người có nhiều đóng góp cho phê bình văn học, anh là người đưa ra khái niệm “Chủ nghĩa hiện thực phải đạo”, là một người rất tâm huyết. Tôi đánh giá cao Phạm Xuân Nguyên giữa những người trẻ tuổi hơn. Có một cây viết phê bình trẻ cũng có nhiều khả năng mặc dù viết ít là Nguyễn Thanh Sơn. Ngô Tự Lập cũng là một cây bút lí luận-phê bình đáng chú ý, nhưng anh bạn trẻ này có một nhược điểm giống tôi là… (cười) “đa mang” quá.

Nguyễn Đức Tùng: Còn nếu nhìn chung cả một nền phê bình văn học thì sao?

Dương Tường: Tôi chỉ xin giới hạn ở nền phê bình trong nước. Theo tôi, nói chung đó là nền phê bình thiên lệch, nó không có khả năng phát hiện được những tài năng văn chương, mặt khác nó không bênh vực được những giá trị nhân văn và nghệ thuật bị vùi giập. Đối với những cuốn sách dở thì không ai phê bình, còn đối với những cố gắng cách tân chưa được định hình thì họ lại đánh.

Nguyễn Đức Tùng: Mặc dù không phải là người chính thức trong NVGP, anh là người theo sát các hoạt động đó. Anh nghĩ sao về việc phát Giải thưởng Nhà nước cho bốn người vừa qua? Anh Nguyễn Trọng Tạo có nói hôm qua trong buổi gặp nhà thơ Lê Đạt rằng cách phát giải thưởng đối với anh Hoàng Cầm là không đàng hoàng.

Dương Tường: Cái giải thưởng ấy theo tôi là quá muộn. Tiếng Anh nó có cái tính từ overdue dùng ở đây là thích hợp nhất. Overdue có nghĩa là quá muộn như là một món nợ quá hạn lâu rồi vẫn chưa trả. Điều thứ hai là tôi rất tiếc là không có Hữu Loan trong số những người được tặng Giải thưởng Nhà nước đợt này. Tôi nghe nói là Hội đồng xét giải cũng có nhắc đến anh ấy nhưng có người bảo Hữu Loan có những tuyên bố quyết liệt trước đây nên họ gạt ra. Thứ ba là Hoàng Cầm, phát giải thưởng thì nhắc đến “Lá diêu bông”, nhưng “Lá diêu bông” là một bài trong tập Về Kinh Bắc, tập sách đã đưa cả Hoàng Cầm lẫn Hoàng Hưng vào tù. Hoàng Hưng chỉ cầm tập sách ấy mà lại còn đi tù lâu hơn Hoàng Cầm.

Tôi nghĩ: làm sao mà không có một lời xin lỗi công khai được.

Tóm lại là nó có hai tính chất: overdue và không thật đàng hoàng.

Nguyễn Đức Tùng: Anh nhận xét ra sao về các tờ báo và các website do các nhà văn hải ngoại thành lập?

Dương Tường: Tôi cho rằng talawas là website quan trọng nhất hiện nay, nó cung cấp một diễn đàn cho tất cả những cá nhân có ý kiến riêng. Đây là điều mà trong nước không thể nào làm được? Mặc dù có bị tường lửa, theo tôi biết trong nước cũng đọc talawas rất nhiều chứ không ít đâu. Vì vậy nó rất quan trọng. Mặc dù không thể không có những khuyết điểm nào đó, vì nó đụng chạm đến nhiều vấn đề khác nhau, talawas và các tờ báo liên mạng khác ở hải ngoại và ở trong nước có nhiều đóng góp và tôi mong rằng những đóng góp đó ngày một lớn hơn nữa.

Nguyễn Đức Tùng: Tôi đã từng đọc bài thơ “Bức tường Việt Nam” anh viết ở Washington trực tiếp bằng tiếng Anh cùng bản dịch tiếng Việt của chính anh.

Viết ở bức tường Việt Nam

bởi lẽ mình với cậu
chưa hề biết nhau
nên mình đến

bởi lẽ cậu bỏ lại mẹ cha cùng
người hôn ước
và mình cũng từng giã biệt vợ con
nên mình đến

bởi lẽ tình yêu mạnh hơn thù hận
và có thể bắc cầu qua mọi đại dương
nên mình đến

bởi lẽ cậu không trở lại
còn mình đã có ngày về
nên mình đến

At the Vietnam wall

because i never knew you
nor did you me
i come

because you left behind mother, father
and betrothed
and i wife and children
i come

because love is stronger than enmity
and can bridge oceans
i come

because you never return
and i do
i come

Anh nghĩ sao về cuộc chiến tranh Việt Nam vừa qua?

Dương Tường: Tôi mong rằng sau này người Việt Nam chúng ta cũng có một bức tường như thế để tưởng niệm những người lính tử trận ở cả hai bên. Nhìn lại, tôi vẫn nghĩ đây là một cuộc huynh đệ tương tàn, trong đó những người lính là những người mất mát nhiều nhất, những nạn nhân lớn nhất, lính miền Bắc cũng như lính miền Nam. Cần phải nghĩ về họ và viết về họ với sự thương mến và lòng kính trọng cao nhất. Những vết thương mà cuộc chiến tranh Nam Bắc gây ra trong lòng dân tộc chúng ta rất khó lành, còn lâu mới lành. Văn học cần phải đi về hướng đó, làm sáng tỏ lịch sử.

Nguyễn Đức Tùng: Xin cám ơn anh. Chúc anh khoẻ và còn sáng tác lâu dài.

*
Nhà thơ Dương Tường đưa tôi về. Hai người đứng ở ngã tư đường dưới những tàn phượng vĩ toả bóng mơ màng, chờ taxi rất lâu, vì mải trò chuyện quên cả đón xe. Sau đó, trời tắt nắng, anh cùng đi taxi với tôi về khách sạn, rồi mới chia tay, quyến luyến.

© 2007 talawas

[1]“Poetry, as the language of the unconscious and of dreaming, has its roots in primary process experience and is closer to the primordial union with the mother than the secondary process language of prose. The poems that move us most deeply are those which evoke the poignancy of that lost union, when in fantasy the boundaries of self and other were melted away.” (Craig Powell, được trích dẫn bởi Gary Geddes, 20th Century Poetry and Poetics, Fouth Edition, Preface pg. xv, Oxford University Press, Toronto, 1996).
Tạm dịch: “Thơ ca, như là ngôn ngữ của vô thức và giấc mơ, bắt nguồn từ các kinh nghiệm thuộc quá trình sơ cấp và gần với sự hòa hợp nguyên sơ của tình mẫu tử hơn là ngôn ngữ văn xuôi vốn thuộc về quá trình thứ cấp. Những bài thơ làm chúng ta rung động một cách sâu xa là những bài thơ dấy lên được nỗi xúc cảm về sự hòa hợp đã mất này, khi trong giả tưởng những biên giới giữa cái tôi và người khác trở nên nhạt mờ.”
Tôi cũng xin nói thêm về các khái niệm mà Powell đã diễn tả quá ngắn gọn trên đây, có thể khó hiểu đối với một số độc giả ít tìm hiểu về phân tâm học. Đoạn này, viết vào lúc biên tập, là dành cho quý độc giả đó.
Một trong những lý thuyết nổi tiếng của Freud là lý thuyết “tôpô”, Topographic Concepts, được xây dựng từ khoảng 1900, đặc biệt trong cuốn Diễn dịch các giấc mơ (The Interpretation of Dreams). Freud chia tâm trí ra làm ba vùng hoạt động có chức năng khác nhau. Ý thức (conscious), được xem là phần “trên cùng”, tiếp nhận các tác động từ môi trường bên ngoài và các tác động từ cõi tiền ý thức (preconscious). Cõi tiền ý thức (hay tiềm thức) chứa các hoài bão, cảm xúc, kí ức… mà người ta có thể thăm dò được nếu biết cách tập trung chú ý, một cách tự chủ. Các hoạt động tâm thần của ý thức và tiền ý thức được gọi là secondary process (các quá trình hay diễn trình thứ cấp).
Vô thức là phần “dưới cùng” của tâm trí, nơi mà ý thức không thể tiến vào được bằng phương pháp tập trung chú ý. Vô thức chứa các ý tưởng, cảm xúc, hoài vọng bị nén lại. Tiền ý thức hoạt động như một bộ máy kiểm duyệt, kiểu như Ban Tư tưởng Văn hoá ở Việt Nam, đứng giữa một bên là vô thức một bên là ý thức.
Chỉ khi nào cơ chế kiểm duyệt này không làm việc, đi “nghỉ hè” đâu đó, ví dụ như trong các giấc mơ, các ý tưởng, cảm xúc, hoài vọng bị nén lại trong cõi vô thức sẽ hiển lộ vào trong ý thức. Các hoạt động tâm thần của vô thức được gọi là primary process (các quá trình hay diễn trình sơ cấp). Primary process là đặc trưng cho các suy nghĩ của trẻ con, hiện ra trong các giấc mơ, và dễ quan sát hơn ở những người chậm phát triển trí tuệ (mental retardation).


Nguyễn Đức Tùng


[2]Dương Tường. Mea Culpa và những bài khác. Tuyển tập thơ. Nhà xuất bản Hải Phòng 2005.
[3]Tovarish, tiếng Nga, nghĩa là đồng chí.
[4]Nguyễn Đức Tùng. Với Du Tử Lê, đời sống trở nên thơ mộng hơn. Tuỳ bút và phê bình. Tự Lực Bookstore xuất bản. California 2007
[5]Dương Tường. Chỉ tại con chích choè. Tạp luận. Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2005.

Nguồn: nguyenductung.vnweblogs.com
READ MORE - NGUYỄN ĐỨC TÙNG – THƠ ĐẾN TỪ ĐÂU: DƯƠNG TƯỜNG