Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, August 27, 2009

ĐỖ TƯ NHƠN


NGƯỜI VỀ TRÊN SÂN TRƯỜNG XƯA


Ai về đây mà rộn ràng phố thị

Mấy mươi năm tưởng vọng một mái trường
Thời áo trắng quần xanh hồn cỏ dại
Cánh phượng hồng, trang lưu bút rưng rưng.

Ai về đây mà sân trường rộn rã
Tiếng reo cười và nhịp đập tim vui
Chất chứa lắm những mạch nguồn khôn tả
Như triều dang ngập lụt cả lòng tôi.

Ai về đây chiều qua hay sáng sớm
Lắng nghe từng âm hưởng của mùa xưa
Chân chậm bước cùng đến trường trong nắng
Để tình cờ sống với chuổi ngày thơ.

Ai về đây mắt nhìn nhau tìm lại
Cõi thiên đường đàn chim nhỏ líu lo
Tóc dù bạc nhưng tình còn đọng mãi
Mái trường xưa ấp ủ đến bao giờ.

Ai về đây cuối hạ ngày hội ngộ
Phượng không còn, dư ảnh vẫn thiết tha
Gìn giữ chút ngọc ngà qua dâu bể
Tình Nguyễn Hoàng nồng ấm chẳng phôi pha.


Quảng Trị,04/08/2007



READ MORE - ĐỖ TƯ NHƠN

Wednesday, August 26, 2009

ĐỖ TƯ NGHĨA


ĐỖ TƯ NGHĨA

MỘT ĐÔI KHI TÔI MUỐN



Một đôi khi tôi muốn
tìm giữa cuộc đời
một tâm hồn bạn hữu
để cùng cười khi vui
để cùng khóc khi buồn
nhưng dường như khó quá

Một đôi khi tôi muốn
khoét tim tôi mở ra ngàn cánh cửa
cho cuộc đời vào ra
nhưng tại sao
cửa hồn tôi vẫn đóng
lỗi tại tôi
hay tại cuộc đời?

Một đôi khi tôi muốn
ngủ thật yên những đêm
vì cuộc đời là con dao nhọn
vẫn cắt hồn tôi
thành những miếng ngon lành

Một đôi khi tôi muốn
hồn tôi như nắm tro
để tôi vãi tung ra
bốn phương trời
theo gió...

Một đôi khi tôi muốn
em đến thăm
góc tối của hồn tôi
sâu như mấy tầng địa ngục
một lần thôi
dù chỉ một lần.

Đà Lạt, 1983
READ MORE - ĐỖ TƯ NGHĨA

Thursday, August 20, 2009

DUY KHÁNH

Duy Khánh và gia đình ở Philippins

Duy Khánh (1936 - 2003), tên thật Nguyễn Văn Diệp, còn có nghệ danh Tăng Hồng, Hoàng Thanh. Ông nổi danh từ thập niên 1960, với những bài hát mang âm hưởng dân ca và "dân ca mới" của Phạm Duy, nhạc quê hương. Ông được xem như là một trong bốn giọng nam nổi tiếng nhất của nhạc vàng ("tứ trụ nhạc vàng"), ba người còn lại là: Nhật Trường, Hùng Cường, Chế Linh . Ông còn được biết đến như một nhạc sĩ tài năng với hơn 30 ca khúc, nổi tiếng phải kể đến Thương về miền Trung, Lối về đất mẹ, Ai ra xứ Huế, Xin anh giữ trọn tình quê ...

Tiểu sử
* Duy Khánh sinh năm 1936 tại Quảng Trị, là con áp út trong một gia đình vọng tộc gốc làng An Cự, Triệu Phong, thuộc dòng dõi Quận công Nguyễn Văn Tường, Phụ chánh đại thần triều Nguyễn.
* Năm 1964 ông thành hôn với Âu Phùng, một phụ nữ gốc Hoa, sinh ra 2 người con. Về sau hai người đã ly dị.
* Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, ông ở lại Việt Nam.
* Giữa thập niên 1980 ông cưới bà Thúy Hoa rồi sống tại Vũng Tàu.
* Đến 1988, ông được bảo lãnh sang Hoa Kỳ, tại đây ông tiếp tục ca hát và sáng tác.
* Ông mất vào 12 giờ trưa ngày 12 tháng 2 năm 2003 tại bệnh viện Fountain Valley, Quận Cam, California, thọ 65 tuổi.

Sự nghiệp

Năm 1952, Duy Khánh đọat giải nhất cuộc thi tuyển lựa ca sĩ của đài Pháp Á tại Huế với bài hát Trăng thanh bình. Sau đó ông chuyển vào Sài Gòn để theo đuổi nghề ca hát.

Vào Sài Gòn, ông bắt đầu ghi âm đĩa nhựa và đi diễn khắp nơi, dần nổi tiếng với tên Hoàng Thanh. Ông trở thành một trong ba giọng nam được yêu thích nhất, cùng với Duy Trác, Anh Ngọc. Thời kỳ này tên tuổi của ông gắn liền với những bài có âm hưởng dân ca và "dân ca mới" của Phạm Duy: Vợ chồng quê, Ngày trở về, Nhớ người thương binh, Tình nghèo, Quê nghèo, Về miền trung... rồi đổi nghệ danh là Duy Khánh. Chữ "Duy" trong Phạm Duy, còn "Khánh" là tên một người bạn thân của ông.

Năm 1965, ông cùng với nữ danh ca Thái Thanh thu thanh bản trường ca Con đường cái quan của Phạm Duy. Sau đó cùng hai người hát trường ca Mẹ Việt Nam. Cho đến nay, hai bản trường ca này vẫn gắn liền với giọng hát Thái Thanh, Duy Khánh.

Ông bắt đầu viết nhạc từ năm 1959, nhạc ông thường nói về tình yêu quê hương, mang hơi dân ca xứ Huế và được đón nhận nồng nhiệt, ngay từ hai sáng tác đầu tay: Ai ra xứ huế, Thương về miền trung.

Sau 30 tháng 4 năm 1975, ông nghỉ hát một thời gian dài, sau đó thành lập đoàn nhạc Quê Hương, quy tụ các nhạc sĩ Châu Kỳ, Nhật Ngân, các ca sĩ Ngọc Minh, Nhã Phương, Bảo Yến... Sau khi sang Mỹ vào năm 1988, ông hát độc quyền cho trung tâm Làng Văn, sau đó tách ra, thành lập trung tâm Trường Sơn tiếp tục ca hát và dạy nhạc cho đến cuối đời.

Sáng tác
* Ai ra xứ Huế
* Thương về miền Trung
* Xin anh giữ trọn tình quê
* Lối về đất mẹ
* Huế đẹp Huế thơ
* Tình ca quê hương
* Biết trả lời sao
* Bao giờ em quên, v..v..

Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

NGHE CA KHÚC


Ai ra xứ Huế

Trường cũ tình xưa

Bao giờ em quên

Thương về miền Trung

Anh về một chiều mưa

Đêm bơ vơ

Huế đẹp Huế thơ

Ngày xưa lên năm lên ba

Nén hương yêu
READ MORE - DUY KHÁNH

PHAN PHỤNG THẠCH



Con đường áo lụa

PHAN PHỤNG THẠCH

Ta trở lại con đường xưa áo lụa
Hàng cây cao đứng đợi các em về
Các em không về - Cây buồn lá úa
Ta cũng buồn đi giữa nắng lê thê.

Từ bờ bên ni nhìn qua Thành-Nội
Phượng đã tàn rụng xuống buổi đầu thu
Làm sao quên những ngày qua bóng tối
Lửa kinh thành ngùn-ngụt khói âm u.

Những chuyến đò ngang qua về Thừa-Phủ
Còn chở tình bên nớ tới bên tê ?
Ta mỗi bước càng thêm dài nỗi nhớ
Những chiều mưa sớm nắng các em về.

Ta trở lại giữa sân trường Đồng-Khánh
Lòng hoang vu như cỏ dại quanh tường
Ơi những nấm mồ hương tàn vắng lạnh
Có lời gì muốn nhắn với quê hương ?

ĐỌC THÊM
Lưu bút mùa hạ
READ MORE - PHAN PHỤNG THẠCH

HOÀNG THI THƠ






Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ sinh ngày 1-7 năm 1928 (Mậu Thìn) tại làng Bích Khê, Phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, miền Trung Việt Nam - bắt đầu hoạt động cho văn học nghệ thuật từ năm 1945, khi còn học bậc Trung Học tại Huế rồi Hà Tĩnh.

Sau khi học xong cấp Tú Tài, tháng 10-1950, Hoàng Thi Thơ vào Đại học tại Hậu Hiền, Thanh Hóa.
Năm 1951, Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ vào Sài Gòn dạy Anh ngữ và đi theo luôn con đường viết nhạc, hoạt động văn nghệ. Năm 1957 ông bắt đầu tổ chức những kỳ Đại nhạc hội lớn tại rạp Thống Nhất Sài Gòn; năm 1960 thành lập Đoàn Văn Nghệ Việt Nam và lưu diễn qua nhiều nước Á Châu. Từ 1967 ông là Giám đốc tổ chức những chương trình ca vũ nhạc kịch, đặc biệt tại nhà hàng Maxim's, Sài Gòn... Ông cũng từng lưu diễn tại nhiều thành phố trên thế giới: Vạn Tượng, Hồng Kông, Ðài Bắc, Tokyo, Bangkok, Singapore, Sénégal, Paris, London... và nhiều nơi ở Hoa Kỳ!

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ lập gia đình với nữ ca nhạc sĩ Thúy Nga vào tháng 9-1957 và có 4 người con - 3 trai, gái - mà người con trưởng là Hoàng Thi Thi, vừa là nhạc sĩ vừa là kỹ sư. Ngoài ra ông còn một dưỡng tử là Hoàng Thi Thao, người cháu gọi ông bằng chú và cũng là người theo sát chân ông trong nhiều năm hoạt động văn nghệ.

Ông có trên 500 ca khúc từ tình cảm đến nhạc quê hương, dân ca đến nhạc thời trang, đoản khúc đến trường ca, nhạc cảnh đến nhạc kịch. Nhiều bài hát của Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã rất quen thuộc với người Việt Nam từ những năm 1950 cho đến sau năm 1975, nhất là những bản nhạc có tính chất dân gian, mộc mạc có âm hưởng quê hương đã đi vào lòng dân mà lại lãng mạn như "Rước tình về với quê hương", "Rong chơi cuối trời quên lãng", "Đường xưa lối cũ", "Tà áo cưới", "Trăng rung xuống cầu", Gạo trắng trăng thanh", "Đám cưới trên đường quê", "Duyên Quê", "Tình ta với mình" ...

Ngoài ra Hoàng Thi Thơ cũng có những bản nhạc kể lại những mối tình thường là đau khổ của những người con gái "hồng nhạc bạc mệnh", "Chuyện tình cô lái đò Bến Hạ", "Chuyện tình La Lan", "Chuyện tình người trinh nữ tên Thi", "Nỗi buồn Châu Pha"... Sơn Ca và Thanh Lan ưa hát những bản nhạc này lắm, cô ca sĩ nào cũng đầm đìa nước mắt, làm khán giả cũng thương dùm phận gái trong thời loạn, những người con gái có trái tim lãng mạn, nhạy cảm (người trinh nữ tên Thi), "Ai buồn hơn ai"...

Qua những hoạt cảnh quê hương, một thời miền Nam VN được sống lại những mối tình mộc mạc, những hình ảnh êm dịu của làng mạc, lũy tre, đêm trăng có tiếng chày giã gạo, có đám trai gái hò qua, đáp lại phá phách nhau, những hình ảnh bị lãng quên vì chiến tranh, với giọng hát của cặp song ca Sơn Ca, Bùi Thiện. Sơn Ca thật duyên dáng, giọng hát lanh lãnh và Bùi Thiện, một giọng miền Bắc, điêu luyện đã làm say mê nhiều tầng lớp khán giả khác nhau.

Nói đến vũ, tên tuổi của Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ cũng đã chói sáng cùng với vũ sư Trinh Toàn và vũ sư Lưu Hồng trong công trình nghiên cứu và sáng tạo vũ dân tộc, dựng lên các điệu dân vũ hấp dẫn và sống động. Những điệu vũ như: Vũ múa trống, Vũ lên đồng, Vũ múa nón, Múa xòe, Múa Koho...

Trong lãnh vực điện ảnh, Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ là đạo diễn sáng tác vỡ nhạc kịch đầu tiên năm 1963, mang tên "Từ Thức lạc lối bích đào," năm 1964, vỡ nhạc kịch thứ nhì "Dương Quí Phi", năm 1966 vỡ "Cô gái điên," năm 1968 vỡ "Ả Đào say"...

Bị mổ tim mấy năm trước nên sức khoẻ từ dạo đó cũng không được khá, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã qua đời một cách thanh bình, trong khi chờ vợ ông ta đang làm một món cá mà ông thích. Ông mất sáng ngày chủ nhật ngày 23 tháng 9 năm 2001 tại nhà riêng ở Glendale (Nam California), hưởng thọ 74 tuổi.

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ được đưa đến nơi an nghỉ cuối cùng vào thứ Ba sau đó, 2-10-2001

NGHE CA KHÚCAi buồn hơn ai, Vô Thường

Đường xưa lối cũ

Rong chơi cuối trời quên lãng

Rước tình về với quê hương


Chuyện tình cô lái đò bến Hạ

Video Ca sĩ Họa My thăm phầm mộ của nhạc sĩ HTT, Cali, 2007
READ MORE - HOÀNG THI THƠ

Wednesday, August 19, 2009

TRẦN HOÀN

NHẠC SĨ TRẦN HOÀN
Nhạc sĩ Trần Hoàn (1928-2003) là tác giả của nhiều ca khúc nổi tiếng như Sơn nữ ca, Lời người ra đi, Lời Bác dặn trước lúc đi xa, Kể chuyện người cộng sản, Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò ví dặm... Ông còn từng là Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin Việt Nam.

Trần Hoàn tên thật là Nguyễn Tăng Hích, sinh năm 1928, quê quán Hải Lăng, Quảng Trị. Bố của ông là người rất yêu thích âm nhạc và sành sỏi về ca Huế, hát bội, nhạc Tây. Trần Hoàn tự học nhạc và bắt đầu sáng tác từ năm 16, 17 tuổi.

Năm 1935 Trần Hoàn theo học tại Quốc học Huế. Ông bắt đầu nối tiếng với ca khúc Sơn nữ ca viết năm 20 tuổi khi đang ở chiến khu Quảng Bình. Trần Hoàn tham gia kháng chiến, đến ngày hoà bình lập lại, ông về làm giám đốc Sở Văn hóa Hải Phòng. Năm 1964 ông trở lại chiến trường Bình Trị Thiên với bút danh Hồ Thuận An, thời gian này ông sáng tác những bài hát như Tiếng hát trên Gio Cam giải phóng, Lời ru trên nương...

Sau 1975, Trần Hoàn là trưởng Ty Thông tin Bình Trị Thiên. Sau đó ông giữ các chức vụ trưởng ban Tuyên huấn Thành ủy Hà Nội, bộ trưởng Bộ Thông tin, bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông Tin cho đến ngày nghỉ hưu rồi Phó ban Văn hóa - Tư tưởng Trung ương.

Những sáng tác của Trần Hoàn khá phong phú, từ những ca khúc thời kỳ đầu mang tính trữ tình như Sơn nữ ca, Lời người ra đi... cho tới những bài hát Lời ru trên nương, Tình ca mùa xuân, Nắng tháng Ba, Một mùa xuân nho nhỏ... và mang đậm chất dân ca như Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò ví dặm, Lời Bác dặn trước lúc đi xa...


Ông mất ngày 23 tháng 11 năm 2003.

Tác phẩm

* Bà Ba
* Chàng ra đi
* Chào mùa xuân
* Con trâu kháng chiến
* Đêm Hồ Gươm
* Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò ví dặm
* Gửi mẹ yêu thương
* Kể chuyện người cộng sản
* Khúc hát người Hà Nội
* Lời Bác dặn trước lúc đi xa



* Lời người ra đi
* Lời ru trên nương
* Một mùa xuân nho nhỏ
* Mùa xuân nho nhỏ
* Nắng tháng Ba
* Quảng Trị yêu thương
* Sơn nữ ca
* Chiều trên Gio Cam giải phóng
* Tình ca mùa xuân
* Xin mời anh chị về thăm Hải Phòng


NGHE CA KHÚCLời người ra đi

Sơn nữ ca

Lời ru trên nương

Một mùa xuân nho nhỏ

Quảng Trị yêu thương"

Nắng tháng ba

Tình ca mùa xuân

Chiều trên Gio Cam giải phóng
READ MORE - TRẦN HOÀN

Thursday, August 13, 2009

Phạm Xuân Dũng - NỖI NHỚ MÙA HÈ




Có những mùa hè không hề trở lại
Chỉ tiếng ve trĩu cánh phượng hồng
Trang sách cũ xa rồi, xa mãi
Ngân khúc nhạc lòng trong nỗi bâng khuâng.

Người năm cũ tay còn nguyên dấu mực
Hay đã phôi phai chừng ấy dặm trường
Ai lên bảng ấp úng hoài chưa thuộc
Ai dưới lớp nhìn mắt thoáng rưng rưng.

Mùa hè ấy có hoa và có bướm
Có áo dài sáng trắng đường đi
Bạn bè đọc tên trêu đùa tinh nghịch
Hai đứa nhìn nhau đỏ mặt thầm thì.

Ai còn giữ mùa hè trong lưu bút
Chép bài thơ vụng dại học trò
Ai gặp lại, ai xa rồi mất hút
Để sớm mai này cũng hóa xa xưa ...


PHẠM XUÂN DŨNG
Đài PTTH Quảng Trị
READ MORE - Phạm Xuân Dũng - NỖI NHỚ MÙA HÈ

Wednesday, August 12, 2009

PHẠM BÁ NHƠN- CHÙM THƠ



MƯA TRÊN ĐẤT MẸ - Thơ Phạm Bá nhơn - Nhạc Võ Công Diên - Ca sĩ Hoàng Yến*








Mưa Trên Đất Mẹ


Suốt mấy ngày ni mưa rỉ rã

Trời như đang muốn ngã vào đông

Mây tím buồn vương gom thành vũng

Chảy nước tràn sông ngập ruộng đồng.


Mưa lất phất bay, gió heo may

Lâu nay luẩn quẩn mãi nơi này

Mỗi mùa hành tội dăm bảy trận

Như vẫn theo đòi món nợ vay.


Thương lắm quê ơi những tháng ngày

Miền Trung lụt lội mấy năm nay

Mưa dầm nắng hạn rồi bão tố

Nối tiếp như đang cố đọa đày.



Đã chán chê rồi, thôi đừng nữa

Thôi đừng rơi xuống nỗi dây dưa

Phải chăng trời giận hờn ai rứa

Mà cứ mưa chi mãi chẳng vừa.



Dòng Sông Quê Cũ


Có một dòng sông một thời thơ ấu

Mặt nước long lanh trong suốt vô ngần

Những chuyến đò chiều chở nặng nghĩa ân

Bến cũ quen chân mỗi lần theo mẹ



Thuở bé qua ngang đôi bờ lặng lẽ

Giờ đây quạnh quẽ vắng mẹ đi về

Một nỗi niềm riêng một khúc sông quê

Bóng dáng con đê nằm chờ cơn lũ



Những tháng ngày trôi nỗi lòng ấp ủ

Dòng sông quê cũ chảy mãi trong tôi

Giữa chốn xa xôi kiếp người bươn chãi

Nước vẫn về xuôi thắm mát quanh đời.


*Người đưa ca khúc này lên Zing.MP3 đã nhầm lẫn tên ca sĩ.

ĐỌC THÊM

Thơ Phạm Bá Nhơn, phambanhon.com


TRẦN HỮU TÁ - ĐÔI GIÒNG CẢM XÚC...
READ MORE - PHẠM BÁ NHƠN- CHÙM THƠ

Monday, August 10, 2009

CHÙM ẢNH - Mai Lĩnh


Cơi trầu

















Xế chiều

























Bà lão bán chanh





















Chợ chiều


















Ngọt ngào


























Bà Chín






XEM THÊM

Photo Gallery 2
READ MORE - CHÙM ẢNH - Mai Lĩnh

Sunday, August 9, 2009

CAO HỮU ĐIỀN







TRỞ LẠI ĐÔNG HÀ
Cao Hữu Điền

Tôi nay trở lại Đông Hà
Ngẩn ngơ tôi hỏi tôi là ai đây!
Tôi là ai của hôm nay
Tôi là ai của những ngày năm xưa


ĐỌC THÊM
Lời ca khúc
READ MORE - CAO HỮU ĐIỀN

BÙI PHƯỚC VĨNH - TÌNH LỠ





Ngày xưa tôi cũng yêu nàng
Nhưng chưa viết kịp vài hàng gởi trao
Để rồi khi cách xa nhau
Bao nhiêu thương nhớ khổ đau dâng tràn
Chao ôi tình lỡ muộn màng
Thôi đành chấp nhận hai đàng cách xa
Giờ ngồi nhắc chuyện tình ta
Sao ngây thơ quá thật là đáng yêu
Bây giờ nắng sớm mưa chiều
Tóc sương điểm bạc da nhiều vết nhăn
Em giờ một cõi xa xăm
Cô đơn phận gái tháng năm mỏi mòn
Thương em ý chí sắt son
Một mình vẫn bước trên con đường đời
Trách người rồi lại trách trời
Sao bắt em chịu một đời cô đơn.

BPV


ĐỌC THÊM
Chiều quê, thơ
READ MORE - BÙI PHƯỚC VĨNH - TÌNH LỠ

Saturday, August 8, 2009

NGUYỄN TƯỜNG, Tiếng hát chim cà lơi




Tiếng Hát Chim Cà Lơi


Nguyễn Tường




Còn nhớ trong tôi tiếng hát chim cà lơi

"Trời không cho tôi làm tổ trên trời

Làm tổ dưới đất mất con, mất trứng"

Con chim vút bay lên cao rồi vút xuống

Cứ muôn đời điệp khúc hát vu vơ

Lũ chúng tôi những đứa trẻ học trò

Bãi động sau làng là sân chơi tuổi nhỏ

Tiếng hát chim cà lơi cứ miệt mài muôn thuở

Như số kiếp ông trời đặt dưới đất sinh sôi

Tiếng hát thở than hay tiếng hát yêu đời

Làm sao hiểu, chim không bày triết lý

Tuổi học sinh, mang tâm hồn đứa trẻ

Lấy đời chim làm thỏa mãn trò chơi

Những tổ chim non bên bụi cỏ, chôn vùi

Là khám phá, là tiếng cười ngây ngất

Tôi được niềm vui, chim đành phải mất

Một kỳ công lót tổ, bới tìm cây

Những chú chim con, những ổ trứng đầy

Cõi hạnh phúc trời ban cho giữa bãi

Nào ai đã dạy tôi, tình thương yêu muôn loại

Chim cứ bay lên, chim kêu mãi muôn đời

"Trời không cho tôi làm tổ trên trời

Làm tổ dưới đất mất con. mất trứng"

Mấy chục năm nay, làng không còn đất trống

Đã lắm đổi thay, như cuộc sống con người

Vẫn vọng trong tôi, tiếng hát chim cà lơi

Ở những mảnh đời con người dưới đất

Ở bạn bè tôi, còn loay hoay kiếm chác

Những đồng xu nuôi con sống qua ngày

Ở bác nông dân luôn tay cấy, tay cày

Đồng lúa được mùa, đồng tiền mất giá

Ở những chị nghèo xơ hàng tôm, hàng cá

Dám ước mơ gì ngoài hai bữa áo cơm

Ở những thanh niên, sờn chỉ áo công nhân

Chờ được lãnh lương, mồ hôi ướt đẫm

Ở những cô em, đứng bên đường, môi thắm

Đợi những dân chơi lắm bạc, thiếu tình thương

Tiếng hát chim cà lơi, nghe hát giữa đời thường

Lời tố cáo, tội ác tôi ngày nhỏ dại

Tội ác ngày xưa, giờ đây tôi vẫn thấy

Ở những con người sống không mấy lòng nhân


Sài Gòn sáng 8/8/2009





NGỤ NGÔN TẬP 2

1/ NÓI DỐI

Cậu chăn bò bày trò chơi lạ

Lôi bà con thiên hạ tham gia

Ngày kia trời mới sáng ra

Cậu bèn lớn tiếng kêu la khắp làng

" Bớ bà con Cọp hoang đang tới

Mau ra ngay cứu với, Bò đây !"

Cả làng gậy gộc chạy ngay

Cậu chăn được dịp vỗ tay reo cười

Trò con nít, ai người trách móc

Người lớn đây đã học trò này

Nói dối là chuyện thường ngày

Có chi lạ lẫm, về ngay đi làm

Một hôm nọ làng đang ngon giấc

Cọp hoang kia về thật mấy con

Bò bầy, cứ thịt xơi ngon

Cậu chăn la mấy chẳng còn ai tin

Sáng 14.9.09

Nguyễn Tường





ĐỌC TIẾP

Tình yêu bắt đầu từ đó, thơ
Tình yêu ông cháu, thơ
Ngụ ngôn tập 2, tiếp theo
NGỤ NGÔN PHỔ THƠ 1
READ MORE - NGUYỄN TƯỜNG, Tiếng hát chim cà lơi

Friday, August 7, 2009

TRẦN TRÌNH LÃM





Lỡ



Lỡ buồn thôi

Cứ buồn đi

Gió tàn bạo gió

Có khi lại dừng

Lỡ lời thôi

Cứ dửng dưng

Người đâu lại bỗng…

Qua đường

Rồi quên

Lỡ nhìn nhau

Chuốc ưu phiền

Biết bao giờ mới về miền nhạt phai

Lỡ rồi

Ai có tìm ai

Ví dầu người vắng

Một mai cũng đành.

T.T.L

21/5/2009



ĐỌC THÊM
Thơ Trần Trình Lãm, Báo Đà nẵng
Thơ Trần Trình Lãm, Tạp chí Da Màu
Thơ Trần Trình lãm, phongdiep.net
READ MORE - TRẦN TRÌNH LÃM

Wednesday, August 5, 2009

MAI THANH TỊNH, Đất mẹ ngọt ngào




Đất mẹ ngọt ngào

Thương tặng:Hải lăng quê tôi



Hải Lăng ơi! quê mẹ yêu ơi!

Khúc hát đưa nôi Ô lâu lắng đôi bờ

Lúa đồng chiêm ươm vàng mùa thương nhớ

Cát bạc đầu cháy bỏng giấc mơ trưa



Vĩnh Định êm đềm ai trao gởi duyên xưa

Mỹ Thủy bãi ngang dập dìu sóng múa

Đã qua rồi thương đau thời binh lửa

Trà Lộc ta về chiều nắng hát vu vơ



Rượu Kim Long men ủ bến mong chờ

Cá Cu Hoan thơm hương đồng ngầy ngậy

Em gái làng cười tươi vào vụ cấy

Cho ai say ngây ngất cả hoàng hôn



Ôi quê mình đẹp lắm Hải lăng ơi!

Cho đôi ta tìm nhau đêm diệu vợi

Gió miên man ru tình yêu ngày mới

Ấm áp ngọt ngào đất mẹ Hải Lăng ơi!



5/2009


ĐỌC THÊM
Thơ Mai Thanh Tịnh, blogtiengviet
Thơ Mai Thanh Tịnh, phongdiep.net
Thơ Mai Thanh Tịnh, lucbat.com
READ MORE - MAI THANH TỊNH, Đất mẹ ngọt ngào

Friday, July 31, 2009

TRẦN KIÊM ĐOÀN - NỖI NIỀM MẤT TÊN






Viết tặng Thầy, Trò... Nguyễn Hoàng
và những ngôi trường đã mất dạng hay mất tên.




Sau 1975, nhiều ngôi trường từ Cà Mau ra Quảng Trị đã bị mất dạng hay mất tên. Thầy cô, bạn cũ một thời vẫn còn đó. Nhưng trường xưa đâu rồi. Những nhân vật lịch sử đứng tên trường như Nguyễn Hoàng, Đồng Khánh, Hàm Nghi, Gia Long, Petrus Ký... không còn mang giá trị cũ. Buổi giao thời, những nhân vật mới có khi chưa xanh mồ lịch sử đã vội lên thay. Tuy lịch sử sẽ có sự phán xét riêng và cuối cùng rất công bằng của nó, nhưng hiện tại, tên gọi ngôi trường cũ chẳng có mặt mày làm chứng, nên tất cả chỉ còn là tín hiệu của trái tim.

Có nhiều câu hỏi về "chính danh" nổi lên. Như trường hợp trung học NGUYỄN HOÀNG sẽ được trình bày sau đây là một thí dụ điển hình trong muôn một.

Với người Việt Nam, Nguyễn Hoàng là một tên gọi vượt lên trên danh tính nhất định thường tình của một con người. Tính cá nhân đã nhường lại cho tính đại chúng; hình ảnh nhân vật đơn lẻ đã chìm khuất sau bóng dáng của cộng đồng dân tộc. Nguyễn Hoàng được nhắc đến như một tín hiệu đến từ dòng lịch sử dựng nước hào hùng tiến về Nam.

Với người dân Quảng Trị, Đông Hà, Gio Linh, Cam Lộ… , kể từ khi ngôi trường trung học đầu tiên của toàn vùng Quảng Trị và phụ cận được thành lập lấy tên là Nguyễn Hoàng, người dân bình thường, giới có học thức khoa bảng cũng như thế hệ trẻ Quảng Trị có thêm niềm tự hào về một “cơ sở văn hiến” ngay trên quê hương mình. Trước đó, học trò Quảng Trị sau khi học hết bậc tiểu học phải vào Huế học tiếp bậc trung học. Chỉ có những gia đình tương đối giàu có mới đủ sức lo cho con vào Huế học. Ngoài ra, đại đa số học sinh Quảng Trị ưu tú, không đủ điều kiện tài trợ “du học Huế” đành bó tay với cấp lớp tiểu học chỉ có trên quê hương mình, ấm ức nhận một “sở học” sơ đẳng vì hoàn cảnh bắt buộc !

Bao nhiêu thế hệ học trò đi qua, Nguyễn Hoàng không còn là một danh xưng, một tên gọi bình thường hay “đại húy” của một nhân vật lịch sử đầu nguồn triều Nguyễn…, mà là một tín hiệu đến từ trái tim. Nguyễn Hoàng đối với Quảng Trị mang cùng ý nghĩa với Sorbonne ở Pháp, Cambridge ở Anh, Havard, Berkeley, Stanford ở Mỹ. Đấy là danh vang của nhũng cơ sở giáo dục của địa phương đã đào tạo nhiều nhân tài làm mọi người tự hào và hãnh diện.

Sau năm 1975, trường Nguyễn Hoàng bị xóa tên. Đấy là một sự “phí phạm” dáng vẻ cao đẹp của bề dày lịch sử. Người Âu Tây, nhất là người Mỹ “tiết kiệm” những tên gọi đã thành lịch sử, dẫu cho đấy là tên của những nhân vật một thời đã từng xông pha đánh trả, chống lại họ.

Trên bình diện lịch sử, chúng ta thử nhận diện Nguyễn Hoàng là nhân vật có công hay có tội với thế đứng ở đâu và như thế nào trong dòng sử Việt.

Nguyễn Hoàng là con trai thứ nhì của Nguyễn Kim. Nguyễn Kim nguyên là Tả vệ Ðiện tiền Tướng quân, tước An Thanh Hầu, trông coi đạo Thanh Hóa. Sau khi Mạc Ðăng Dung chiếm ngôi nhà Lê năm 1527, Nguyễn Kim trốn sang Ai Lao. Vua Ai Lao là Sạ Ðẩu cho ở đất Sầm Châu. Nguyễn Kim xây dựng Sầm Châu làm căn cứ địa, chiêu mộ quân sĩ, tìm cách khôi phục nhà Lê.

Vào tháng giêng năm quý tỵ (1533), Nguyễn Kim tìm được người con út của Lê Chiêu Tông là Lê Duy Ninh, lúc đó 18 tuổi, lập lên làm vua tức vua Lê Trang Tông, mở đầu cuộc trung hưng nhà Lê. Lê Trang Tông phong Nguyễn Kim làm Thượng phụ thái sư, tước Hưng Quốc Công, trông coi mọi việc trong triều về mặt đối nội cững như đối ngoại. Trịnh Kiểm là một tướng tài đã theo Nguyễn Kim. Nguyễn Kim gả con gái là Ngọc Bảo cho Trịnh Kiểm và được vua Lê phong làm Dực Quận Công. Sau khi Nguyễn Kim từ trần, Trịnh Kiểm lên nắm quyền thay Nguyễn Kim và được vua Lê phong làm Ðô tướng, tiết chế thủy bộ quân, kiêm tổng nội ngoại bình chương quân quốc trọng sự, rồi gia phong Thái sư, tước Lạng Quốc Công.

Nguyễn Kim có hai con trai: con trưởng là Nguyễn Uông được phong Lãng Quận Công, con thứ là Nguyễn Hoàng được phong Ðoan Quận Công, cùng giữ binh quyền đi đánh giặc. Trịnh Kiểm nghi kỵ và sợ Nguyễn Uông cùng Nguyễn Hoàng tranh quyền với mình, quyết định ra tay trước và giết Nguyễn Uông. Nguyễn Hoàng dự đoán trước sau ông cũng bị hại, ông nhờ chị là Ngọc Bảo, vợ Trịnh Kiểm xin cho em vào trấn thủ Thuận Hoá, lại ngầm sai người đến vấn kế Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm thì Trạng chỉ vào hòn non bộ, nói: "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân" (một giải Hoành Sơn dung thân muôn đời). Hiểu được nghĩa lý thâm sâu ở đằng sau câu nói đầy ẩn dụ, Nguyễn Hoàng xin vua Lê vào Nam và được Vua Lê thuận cho vào phương Nam trấn thủ miền địa đầu của đất nước. Trở về Thanh Hóa, ông đem theo các thủ hạ thân tín, đồng hương và các đồng tộc vào Quảng Trị, lập Dinh ở Ái Tử sau gọi là Chính Dinh, thủ phủ của phương Nam.

Có thể nói Quảng Trị là “Quê Hương Ân Nghĩa” với Nguyễn Hoàng; và ngược lại thì nhân vật lịch sử Nguyễn Hoàng cũng là ân tổ khai canh ra đất Quảng Trị. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thì kể từ khi đặt chân lên dải đất phía Nam của dãi Hoành Sơn, Nguyễn Hoàng chăm lo mở mang và phát triển về mọi mặt của vùng đất nầy. Đặc biệt là hai trấn Thuận, Quảng có một sự vươn lên về nhiều mặt mà cao nhất là pháp lý và đạo lý: “Luật lệ nghiêm tế mà khoan dung, ân huệ nhiều hơn hơn hình phạt. Bậc chăn dân xử phạt công bằng, phát huy và giáo hoá điều tốt, trấn áp kẻ hung ác. Dân trong hai trấn Thuận Quảng người người đều cảm tình, quý đức. Phong tục được đổi từ hủ tục thành mỹ tục; chợ đò không giành dựt, nói thách; nạn trộm cướp tiệt trừ, cổng ngoài không cần đóng. Khách thương nước ngoài đến buôn bán đông đảo, giá cả phải chăng, thuận mua vừa bán. Quân lệnh nghiêm túc, mọi người dân đều được hưởng an vui, hạnh phúc nên ra sức làm việc, chung lo xây dựng.
***

Lịch sử con người và thế giới là một dòng thay đổi liên tục: Đổi đất, đổi đời và đổi tên. Sự đổi tên công cộng thường xẩy ra khi hoàn cảnh chính trị và địa lý thay đổi. Thông thường, có ba mô thức thay đổi danh xưng: (1) Hiện đại hóa cho thích hợp với nhu cầu và hoàn cảnh; (2) Xoá tên như một sự phủ nhận, trừng phạt; và (3) ghi tên như một sự ghi nhận, vinh danh. Thế nhưng, trong lịch sử thay tên đổi họ xảy ra tại nhiều nơi trên thế giới xưa nay được thể hiện mạnh mẽ và quyết liệt nhất trong hai trường hợp: Vứt bỏ để trừng phạt hay nêu lên để vinh danh! Trường hợp không có sự bó buộc của hai nhu cầu "bỏ" hay "chọn" vì bị xung đột hiển nhiên về mặt chính trị, tôn giáo hay xã hội, giới cầm quyền xã hội khôn ngoan và các nhà lãnh đạo chính trị bản lĩnh sẽ nêu cao tính lịch sử và truyền thống lâu dài lên trên nhu cầu chính trị nhất thời. Thái độ chọn lựa và hành xử của người Mỹ về việc đổi tên trong lịch sử 300 năm lập quốc của họ là một thí dụ điển hình đáng làm cho người dân và giới lãnh đạo nói chung suy nghĩ.

Ham thay đổi như người Mỹ, khoái bắn súng như cao bồi Texas, đại ngôn và thích dùng danh từ đao to búa lớn quảng cáo như giới chính trị và kinh doanh tài nguyên ở California thế mà vẫn hành xử rất hài hòa và mã thượng khi thắng trận. Sau khi chiếm được đất đai từ tay người Pháp, người Mễ Tây Cơ, người Da Đỏ rồi, họ vẫn để nguyên tên những thành phố, dòng sông, rặng núi, di tích, trường học mang tên Tây, tên Mễ, tên người Da Đỏ vốn có từ muôn năm cũ. Thậm chí, có nhiều khi đấy lại là tên của kẻ cựu thù cũng chẳng phải là điều đáng quan ngại vì lịch sử đã sang trang và phán xét công bằng. Trường hợp tướng Robert E. Lee của Mỹ trong thời kỳ Nội Chiến (1861-65) là một thí dụ. Lee bị nhiều sử gia phê phán là “xâm lược” miền Bắc, là kẻ ly khai. Nhưng tên ông vẫn được giữ trên các cơ sở và con đường xứ Mỹ. Đi từ thành phố Baton Rouge (tiếng Pháp), Del Paso, Los Angeles, San Francisco (tiếng Mễ Tây Cơ); qua những vùng Cheyennes, Apache, Chippewas (tiếng Da Đỏ) người ta sẽ thấy ngay sự mềm dẽo “giữ tên như giữ chứng tích lịch sử” của giới cầm quyền Mỹ. Chính nội dung và lịch sử làm vinh danh cho cái tên chứ không phải điều ngược lại! Bởi vậy, trả lại tên NGUYỄN HOÀNG và những tên thân yêu cho ngôi trường xưa sẽ là một việc làm rất có ý nghĩa mang đậm tính văn hóa, phát huy tinh thần giáo dục và kết hợp hài hòa về tâm lý.

Một thế hệ đàn anh – thế hệ Chiến Tranh Việt Nam… tri thiên mệnh, cổ lai hy đủ cả – đang rủ nhau về đất và sẽ đi hết chặng đường đời không còn xa lắm. Thế hệ đàn em, thế hệ Hậu Chiến Tranh Việt Nam, đang vươn lên lãnh đạo xã hội. Bên cạnh của cải vật chất mà xã hội và đất nước đang có trước mắt, tuổi trẻ Việt Nam cũng tha thiết cần những sức mạnh và gia tài phi vật thể. Đó là truyền thống lâu dài, là di sản truyền đời, là lịch sử kế thừa liên tục của nhiều thế hệ. Mong rằng, sẽ có một ngày, thế hệ đàn anh được dự "lịch sử 100... năm của trường Nguyễn Hoàng và những mái trường xưa" đã mất tên. Trước khi trao lại một bầu trời xanh, một vầng mây ấm và dòng lịch sử luân lưu cho thế hệ đàn em, sẽ còn có một sự đền bù trở lại cho… nỗi niềm mất tên.



Sacramento, ngày Father’s Day - 2008

Trần Kiêm Đoàn

ĐỌC THÊM:
Trang web của Trần Kiêm Đoàn: trankiemdoan.net

Đạo Phật ngày nay

Tác phẩm của Trần Kiêm Đoàn trên vanchuongviet.org

CỘT MỐC MÙA XUÂN
READ MORE - TRẦN KIÊM ĐOÀN - NỖI NIỀM MẤT TÊN

Friday, July 24, 2009

Trần Trà My


HÀNH TRÌNH CỦA MÙA ĐÔNG

Khi những chiếc lá vàng cuối cùng của mùa thu rơi xuống đất và phân huỷ, trên cây chỉ trơ lại những cành cây khô, bầu trời với những đám mây màu xám u ám, đó là lúc mùa đông bắt đầu cuộc hành trình của mình. Giá rét và buồn tẻ. Đấy là tất cả những gì mà con người nói về mùa đông. Không nhẹ nhàng dịu mát như mùa thu, cũng chẳng rực rỡ xinh đẹp giống mùa xuân hay sôi động như mùa hè, Mùa đông tới bằng những cơn mưa dài lê thê và những đợt gió mùa đông bắc buốt lạnh!



Hành trình của mùa đông là vậy, lặng lẽ, u ám khi các thân cây khô trụi lá và hoa, rồi cả những bụi cỏ bên đường cũng khép mình lẫn trốn giá rét. Những chú gấu Bắc Cực cũng bước vào hành trình ngủ đông của mình. Ngòai kia những cơn mưa ầm ầm trút xuống vào khỏang không bất tận và gió thì cứ mải miết gào thét để cũng hòa nhịp vào tiếng mưa…



Còn ta, khóac lên mình tấm chăn ấm trốn trong phòng và nhìn vào tấm kính cửa sổ, nhìn cuộc hành trình của mùa đông đang tiếp diễn ngòai kia. Lòng tự nhủ: “Chỉ ba tháng thôi mà! Rồi mùa xuân ấm áp lại kéo tới.” Bỗng chợt nghĩ mùa đông cũng giống như cuộc hành trình đầy thăng trầm của mỗi kiếp người vậy! Sẽ có những ngày lòng rực lửa chói chang như cái nắng mùa hè, sẽ có những ngày lòng chợt dịu mát thanh thản như mùa thu hay như có những ngày lòng ta rạo rực sự đầy sức sống của mùa xuân tươi trẻ. và cũng có những ngày lòng ta chợt cô đơn trống trải u ám giống mùa đông ảm đạm đang ngự trị ngòai kia.



Thế đó ta ạ, vậy nên không có gì phải buồn, phải ủ rủ rồi trốn mình nơi góc phòng. Vì mùa đông sẽ cho ta nhớ tới những ngày nắng đẹp, để mà khát khao, để mà tìm kiến… Cuộc sống là một cuộc hành trình đi tìm những hành phúc thành công và mùa đông dạy cho ta điều đó. Mùa đông dạy cho ta phải có những lúc ngồi xuống và nhìn lại chính mình, nhìn lại mọi thứ đang hiện diện xung quanh. Để cho ta biết đâu là cái đích ta cần đến và khi mùa xuân tới ta lại vạch ra các chiến lược chinh phục những cái đích mà ta tự đặt ra.



Ừ, thì đời người ai rồi cũng phải trải qua những cuộc hành trình giá rét buồn đau như thế! Để rồi khi nắng xuân về ta lại thấy yêu hơn những tháng ngày u ám đó, đã giúp ta thêm trưởng thành. Cảm ơn nhé cuộc hành trình của mùa đông!


24/ 10/ 2008

Nguồn: vannghequandoi.com.vn

Các bài báo viết về Trần Trà My

Trần Trà My-Giấc mơ thiên thần
"Đóa xương rồng" Trà My đã nở

READ MORE - Trần Trà My

Thursday, July 16, 2009

Sông Thạch Hãn nhìn từ bến đò chợ Sải

TỪ ĐIỂN NGÔN NGỮ QUẢNG TRỊ


A

-Áng : Ước lượng , ước tính , đoán chừng (Tui áng chừng o Vi nặng khoảng 84 kí = Tôi đoán chừng o Vi nặng khoảng 84 kg)
-Ả: Chỉ phụ nữ, dùng cho ngôi thứ 3.
-Ảng: Lu, chum, vại đựng nước.
-Ây: Ừ, à, ầy, ôi. Ây rứa à = À thế a = Ừ thế à!; ầy dèo = Ô chà (cảm thán!) = Ôi chao!; Ầy hèo! = Ừ hè (hèo)! = Thế à!.
-Ấy: Làm. Ấy đi = làm đi. Ấy chưa = Làm (cái đó) chưa?.
B

-Ba láp: Bá láp bá đế, nói lung tung, nói tầm bậy tầm bạ (Long vô đây đừng nói ba láp nghe)
-Ba trợn, ba trạc (có thể nói gộp là ba trợn): Chỉ người có hành động và nói năng ngang ngược, thiếu văn hóa, thiếu suy nghĩ ...)
-Bạc : Đồi cát
-bạo = bão VD : Cơn bạo số 7 sắp tràn vô QT = cơn bão số 7 sắp tràn vào QT
-Bàu : Vùng đất ruộng thấp trủng thường bị ngập nước
-bả : tát ( bả cho nó một cái cho bỏ tật nói bậy = tát cho nó một cái cho bỏ tật nói bậy
-Bắp Mỏ: Chỉ cái miệng. (by Bờm)
-Bấp= vấp VD: bấp cái đội lọi cái răng
-Bắt hôi = Bắt các con cá còn sót lại ( gióng như đi mót lúa ...)
-Béc: mở - béc mắt là thấy chán rồi = mở mắt là thấy chán rồi! - Mưa ham, đòi cho lắm, ăn không hết Béc mẹng dộng vô! rolling on the floor
-Bén: Sắc (dao) dùng riêng, không dùng ghép như từ phổ thông phải là sắc bén. Bén hí: Sắc nghê!
-Béng: Bánh. Bánh trái, bánh xe.
-Bẹo: Béo = nhéo, (By Bo)hi hi,im lặng ko tau bẹo cho chừ
-Bi đan= bàn đạp
VD: Bi đan xe già làng bị hư rồi
-Bì Kê: Hộp quẹt, máy lửa (P)
-Bịn = Vịnh, cầm (Tiếng quê em từ này không có nghĩa là Bịnh cảm các bác à) VD : Bịnh vô cấy cột mà đi kẻo bổ mệ nờ
-Bòn: Vơ vét.
-Bọp= bóp VD: Bọp cái bánh xe coi còn hơi không VD: thằng cu tí (tên hồi nhỏ của chú Bờm) vừa bú vừa bọp bú mẹ nó tề
-Bọp bọp: Một loài họ Ngao, sống ở nước ngọt, màu đen, kích thước lớn đạt trên 7 cm bề ngang.
-Bót = vót, gọt bút chì (cái nghĩa ni khác bót bà ga à nghe) VD: Mi đi bót cái bút chì cho tau cái
-Bót bà ga ; Bà ga: Yên sau xe 2 bánh, giá trên nóc xe ôtô (P)
-Bổ: té, ngã - Bổ ngữa = té ngữa = Ngã ngữa.
-Bốn: Vụng; Bốn bây = Vụng về; bốn lắm = Vụng quá
-Bồn = Bồng (By Vi)
-Bông: Hoa. Cái bông = (một)bông hoa; Bình Bông = Bình Hoa
-bôông = bông , bông y tế
-bôồng = bồng , bồng con
-bơ = một loại từ đệm,có ý nghĩa tương đương với các từ"rồi",chỉ một việc kế tiếp ->hắn đập em bơ em đập lại
-Bơ hớ= lanh chanh VD: O vi bớ hớ quá, chuyện của người khác mà O cũng đi thưa kiện
-Bợ: Bưng bê, đỡ.
-bơng=bê bưng Chú Phúc mô rồi bơng dịa thịt gà lên nhậu cho rồi (By: Nguyen)
-Bợng = Bửng ( miền nam )= Mảng , miếng ( miền Bắc )
-Bớp: Tát tai, vả vào mồm.
-Bụ: Vú. Nậy rồi còn rờ bụ mạ = Lớn rồi còn rờ vú mẹ.
-Bụ nghẹ= lọ nghẹ, than đen nơi nồi chảo
VD: chơi bài quẹt bụ nghẹ
-Bui: Vui vẻ.
-Búi: Rối ren
-bụm mẹng = bưng miệng VD: Chú Bờm bụm mẹng lại kẻo hôi mẹng quái (by Vi)
-Bun: Đầy, đầy ắp, đầy bun. Cơm thì đơm vừa lưng, mần chi mà bun dư cơm cúng!
-Bự: To, lớn. Bự tổ chảng = To đại chang = Quá to lớn.
-Bưa: Chán, ngán, đủ - ăn bưa chưa = Ăn no chưa, ăn ớn chưa, ăn đủ chưa.
-Bựa ni = hôm này VD: Bựa ni Vi mệt đừ
-Bựa diếp= mấy ngày trước đó VD: bựa diếp eng có gặp O vi đó
-Bươi = bới VD: Con gà bươi quào đất tìm ló = Con gà bới đất tìm lúa
-Bường= bình, thường chỉ bình nấu nước VD: có cái bường không cho O mượn nấu méng nác (By Nguyen)
C

-Cà rem= kem
VD: ai cà rem không
-Cả đôống= cả đống
VD: Người giỏi như thằng nớ ngoài quê tau cả đôống
-Cả vạt= rất nhiều, ý nói quá nhiều
VD: Đồ nớ tau cả vạt (cả đống)
-Cại chắc: Cãi (cãi nhau, chối cãi)
-Cà mèn: Cặp lồng. (P)
-Cà Lơi = con chim sơn ca
-Cá tràu: Cá lóc, cá Quả
-cái chi= cái gì, cái nào VD: Mi nói cái chi rứa= Mi nói cái gì thế
-Cá Gáy: Cá Chép
-Cá trù: Cá tràu = cá lóc.
-Cây Sầu đâu = cây sầu đông , cây xoan
-Cáy=gáy VD: gà cáy canh 3 mạ thức con dậy học bài/ Cáy: ghét trên cơ thể, đất và da lâu ngày không tắm.
-Cấy : cái , đực cấy = đực cái , con cấy
-Căn bảy: căn giữa của nhà ba gian (dùng để thờ cúng).
-Cẵng: Chân (Xem thêm: chin). Lọi cẵng = Gãy chân.
-Cặm: Cắm. Cặm bông = Cắm hoa. (có khi, có nơi phát âm là gặm. Gặm bông = cắm hoa)
-Cắm = cắn (cắm lại = cắn lưỡi )
-Ceng : món canh , súp ...
-Cẹng : Cánh. chim gãy cẹng = chim gãy cánh
-Chàn= giàn, cũng có thể dùng để chỉ chàn khói
VD chàn mướp= giàn mướp
-Chóc chóc: Lau chau. Thằng Mưa dỏ mờ cấy mẹng cứ chóc chóc.
-Chụi = dụi ( đừng chụi tay vô mắt = đừng dụi tay vô mắt )
-Con cấy: Con gái nhỏ đến chưa chồng nhưng dưới độ tuổi lỡ thì. TN: con cấy con cóc, con gái con đứa
-Cóc= con nhỏ nhỏ trong lip xe đạp, người nam gọi là con chó
VD: Xe bị trật cóc đạp không chạy
-con dái == con nhái vd: đêm ni lên ái tử bắt dái hè
-con ôốc = con ốc
-Con tít= con rít VD Hôm qua chú Bờm thò tay vô cái hang bị con tít cắn cho 1 phát
-con bịp bịp= con bìm bịp VD: thịt chim bịp bịp ăn vô là túi nớ khỏi ngủ luôn
-Con vè ve= con ve VD: ê đi trặc vè ve không
-cọn: Cọng (cọn rau = Cọng rau) Cọn = cõng
-Côi: Trên - Ở côi tề: ở trên kia
-Chạc = sợi dây
-chẹn = nhánh ( chẹn ló = nhánh lúa )
-Cổ = củ (cổ khoai lang = củ khoai lang )
-Cồn : Vùng đất nhô cao hơn so với xung quanh ( Cồn Tiên , đảo Cồn Cỏ ...)
-Cơn : cây , cơn đèn = cây đèn ,cơn chuối = cây chuối
-Có Mang : chỉ người phụ nữ đang mang bầu ( bụng mang dạ chửa)
-Cột: Trụ, gốc. Cột điện = Cây trụ điện; cột cây = Gốc cây
-côộc= cộc VD: bấp cái cộộc ngã cái uỵch
-Cột( động từ) : trói , buộc, siết chặt ( muốn ngủ lâu cột trâu cho trặt = muốn ngủ lâu buộc trâu cho chặt)
-Còm : còng. Lưng còm = lưng còng ...cúi thấp lưng xuống.
-Coi : xem , nhìn. đi coi phim = đi xem phim ; mi coi chi rứa = mi nhìn gì vậy.
-Cợ: Cỡ
-Có chi mô nờ = có gì đâu nào
-Cổi = cởi VD: Chú Lợi cổi cùn dảy xuống rào tắm = Chú Lợi cởi quần nhảy xuống sông tắm
-cợi = cưỡi VD: Cu Bo cợi lưng ngựa
-Cưa : Đi tán tỉnh , làm quen ( quan hệ trai gái )
-Cươi: Sân trước
-Chao: Rửa qua trên bề mặt nước. Đem bó rau heo ra chao sạch đất rồi cắt chơ đừng dác Long hí! Chao cẳng (vùng Vĩnh Linh)= Rửa (sơ qua) chân.
-Chắc: Nhau. Chắc chắn (phổ thông) = Chắc nụi khác In chắc = Giống nhau, ưa chắc hoặc ưng chắc = Yêu nhau
-Chầu: Chờ : chầu chực, chờ đợi; Chầu rìa: chờ chực một bên. Chà: ui chầu = ui chờ = Ôi chà!
-Chẹp: Chẹp bẹp = Nằm sát ván (đau chẹp bẹp = Ốm liệt giường)= bị đè đến mỏng dính; Chẹp mỏ: Cãi bị thua, nói bị người ta phản đối nên thua;
-Chẹ= chiếu VD: lấy chiếc chẹ ngoài hàng rào vô cho mạ (By Tre Làng)
-Chin: Chân, cẳng. Chin bàn = chân bàn = cẳng bàn.
-Chỉn: Sợi chỉ, Chỉn chu = Chỉnh chu.
-chi dữ rứa = sao nhiều thế VD: Mua bông hồng cho Vi chi dữ rứa (by Vi)
-Chun: Chui (Chui rúc, chui qua).
-Chự: Giữ. Chự dà = giữ nhà = trông coi nhà cửa
-Chực : Rình rập , chờ đợi , ( thằng ăn trộm đứng chực ... = thằng ăm trộm đứng rình rập ...) ăn chực = chờ đợi người khác dùng bữa là nhào vào ăn. ăn ké.
-Chắc : Cứng ( vững chắc) và còn nghĩa khác là " chắc" khi đứng riêng biệt thì nó không có nghĩa , nhưng khi ghép với từ khác lại có nghĩa như : Đập chắc= đánh nhau ; đứng một chắc = đứng một mình
-Chấp : tỏ ý thách thức (tau chấp luôn cả hai thằng mi = Tao thách luôn cả hai thằng mày )
-Chành rành : ý nói người vô duyên rolling on the floor) (Thành ngữ QT: Chành rành chựa rựa)
-Cấu = cào VD: con mèo cấu mặt của Bo = con mèo cào mặt của Bo
-Cón: Lạnh cóng
-Cù: Rủ (Cù rủ). Muội với Bờm cù chắc đi chơi.
-Cụ = cậu VD: Con của O Vi sẽ kêu eng Nguyen bằng cậu hay dượng hè ??
-Cù két: Tọc lét, cù kít.
-Cùn: Quần. O Vi mặc cùn lòi tún!
-Cùn = thiếu sắc bén ( Rựa cùn = rựa không sắc ; lý sự cùn = lý sự thiếu sắc bén)
-Cựa: Cửa. Cựa đường = Cổng ngõ
-Cúi: Trốt cúi = đầu gối, Cái cúi = Cái (đầu) gối.
-Cơn: Cây - Cơn chanh = Cây chanh
-Chà bong= dăm bông (miền nam), ruốc (miền bắc)
VD: ăn cơm với chà bong
-Chạn: Chạn Bếp: Kệ, giá treo trên ông đầu râu để đựng củi sấy, thức ăn, đồ màu
- Chành rành, chèng rèng= lanh chanh, việc không ai nhờ cũng làm VD: O Vi nớ chành rành lắm, không ai mượn hết cũng xong vô mần
-Chạp: Làm cỏ mộ (tảo thanh) - Giỗ chạp: cúng Ông Bà
-chũi = chổi VD: Cu Bo mô rồi cầm cấy chũi ra xuốc cươi coi
-Chụm = đun, nấu VD: Thằng Mưa chụm cấy nồi rau heo cho mạ tề
-Chợn: Giỡn. Ví dụ: chợn chó chó lờn mặt
-Chờng = Giường ( Chú Bờm mần o Hà sập chờng )
-Chộ: Thấy, nằm mơ By Nguyen. (bựa qua nằm chộ = Hôm qua nằm mơ; Eng Tâm đi với mèo bị vợ chộ = Cry)
-Chổ: Nhổ Chổ nác méng = Nhổ nước bọt
-Chọ: có nghĩa đống - một đống,(by Bo) một khoảng, một số (ít). Đau bụng, Toa lét khôn vô, thằng Bo ra góc vườn mần y một chọ!!!! rolling on the floor rolling on the floor
-Chúc mồng = con chim chào mào
-Chụp = bắt,tóm lấy,vồ lấy, cầm lấy (chụp cái thằng nớ lại = bắt cái thằng kia lại ; thằng nớ chụp bụ o tê ...) by nguyentuan
-cực chảng đãn : sự vất vả, mệt nhọc
-Côống : cống (côống thoát nước = cống thoát nước)
-Chôồng=chồng, xếp VD:Chồồng cái ghế lên cái bàn, chôồng chén dịa...
-Chạng vạng = chập tối VD: Mưa Ham chơi quái, ngày mô cũng chạng vạng mới về, ba mi biết thì chết
-chạng ạng = to bè ,khá to,rất to
- Chặng: Một đoạn, một khúc . Eng Tuấn ngó to con rứa mờ cấy nớ O khám được có chặng chơ mấy! rolling on the floor
-Chảng hảng ( đứng chàng hảng , nằm chảng hảng, ngồi chảng hảng ): Thế đứng , ngồi hoặc nằm giang rộng, giạng háng (banh rộng , mở rộng) hai chân. VD : O Vi con cấy mà nằm chàng hảng thiệt vô duyên = O Vi con gái nằm dạng háng thật vô duyên )
-Cù = rũ rê , lôi kéo ( Thằng Bo nó cù o Vi đi chơi rồi = Thằng Bo nó rũ o Vi đi chơi rồi)
D

Vần D hay được dùng thay thế âm NH: Dư - Như ; Dà = Nhà ; Dớp = Nhớp
-Dái : con nhái. vd: đêm ni lên ái tử bắt dái hè
-Dệ: Dễ.
-Den = mồi lửa, thổi lửa, chụm lửa VD: O Vi den nồi cơm răng mà nó khét hết hè.
-Dệ ngai, dễ ngai=coi thường By Nguyen
VD: đừng có dệ ngai cấy thằng dỏ đó, ngó do dỏ rứa chứ cái mỏ hắn dài...một tấc
-Dên= thồi, thường cho lúa chảy từ thúng xuống nôống rồi gió thổi hạt lép bay đi (từ ni phải 20 điểm đó)
VD: trời gió to ra dên lúa
-Dịa: Cái đĩa; Cách phát âm khác là địa. Ngốc mập rứa mà bựa mô cũng ăn cả dịa cơm bun!
-Dị = mắc cở, thẹn thùng VD: Chú Bờm cứ dòm O chăm chăm O dị òm
-Dói= chưởi, kêu, la (từ ni lấy ít nhất cũng 20 điểm O hi)
VD: hôm qua nguyentuan đập thằng Bo mạ thằng Bo tới dói
-Dòm, dìn: Nhìn (By Bo)
-Dôi : dư ra , thừa ra , phát sinh thêm ( Khối lượng thực tế dôi ra so với dự toán ban đầu = khối lượng thực tế thừa ra ( phát sinh) thêm so với dự toán ban đầu )(By Nguyentuan)
-dọi : đi theo VD: tau mắc đi làm, đừng có chạy dọi (Bo)
-Dú: Thu, dấu, Dú chuối: Ủ chuối cho chín.
-Dít : kì, kì lưng ; Cu Bo mỗi khi tắm xối xối là xong chớ có dít đất côi thân hình mô = Cu Bo mỗi khi tắm dội dội là xong chứ có kì đất trên thân mình đâu. (Bo, O Vi)
-Dắn = nhắn VD : Dắn tin cho eng Tuấn = nhắn tin cho anh Tuấn
-dãy đực = Con heo nái khi thời kì động đực (by Nguyentuan)
-Diều : nhiều , diều tiên= nhiều tiền
-dỏ dỏ: nho nhỏ VD: Cu Bo dỏ dỏ rứa mà chuyện chi cũng rành (by Vi)
-Dư ri=như thế này
-Dư rứa=Như thế kia VD: phải làm dư ri này=phải làm như thế này
- Dư thiệt= như thật VD: chú bờm nói dư thiệt nờ, có ma mô nó yêu chú=Chú bờm nói như thật, không có ma mô yêu chú
-Du = dâu VD: con du của già làng khéo ăn khéo nói ghê
-Dúm củi, dúm bếp= mồi lửa VD: Vô dúm cái bếp cho mạ cái (Tre Làng)
-Doọc= mệt VD: sao mà dọoc cái thai quái= sao mệt cái thai quá
-Dà=Nhà VD: cái dà đó to thiệt= cái nhà đó tô thật
-Dôông= chồng VD Hai cấy dôông đập chắc trước cươi (ví dụ rất kinh điển)
-Dường dịn= nhường nhịn VD: Một điều dịn chín điều lèng
-Dịn= nhịn, cũng có ý hường nhịn VD: Sáng ni dịn đói đi học
-dãy mã, dẫy mã= chạp mộ, sửa sang lại mồ mã VD: năm rồi nguyentuan về quê dãy mã
Đ

-Đao: Con Dao
-Đạ: Đã. Đạ ngá = Đã ngứa.
-Đạ chận: đã giận ( chận là giận) VD : táng một bớp tai cho đạ chận = táng một bớp tai cho đã giận (By Bo & nguyentuan)
-Đá giò lái= đá quay một vòng ra sau làm đối phương bất ngờ, cũng có thể chỉ sự thất bại bất ngờ trong tình yêu
VD: thằng nớ bị đá giò lái rồi
-Đái: Dái , tinh hoàn ( thắt đái = Hai hòn dái bị tụt vào trong ) VD: O Vi đá làm chú Lợi bị thắt đái = o Vi đá làm chú Lợi bị thắt dái) by nguyentuan rolling on the floor rolling on the floor
-Đại chẳng = to lớn by nguyentuan
-Đai = dai ( đai dư thịt trâu tra = dai như thịt trâu già)
-Đám= dám, tỏ ý thách thức (by Già Làng)
VD: Mi đám đụng vô cái móng chân tau không?
- Đéng = điếng ( Chú Bờm cắm o Hà một méng ở háng đau đéng= Chú Bờm cắn o Hà một miếng ở háng đau điếng )
- Đéng(danh từ) = Ráy tai
-Đập: Đánh. vd : Đập chắc = đánh nhau (O Vi thêm)
-Đìa = ao , hồ
-địu = dây dun VD: mấy chạc địu mắc chắc khở khôông ra = mấy sợi dun mắc nhau gở không ra
-Đam = con cua đồng (nguyentuan)
-Đàng: Đường. Con đàng xưa em đi (By Nguyen) . Đàng quan: Đường lớn (by Vi)
-Đặt trẹt= ngày đầu tiên cho heo con ăn (từ ni đáng giá 50 điểm)
VD: heo con nó sắp lớn rồi đặt trẹt chưa O
-Đấy = đái ( o Vi nậy rồi còn đấy trấm = Cô Vi lớn rồi còn đái dầm ) By nguentuan
-Đị: Đõm, Đĩ. Làm đị = Làm đỏm = Làm bộ = Làm dáng = Làm Đõm = làm Đĩ : Chỉ sự se sua trang điểm ăn diện của chị em khác làm ! = đi làm ! : Bán Trôn nuôi miệng
-Đọ: Đó. Đọ tề = Đó kìa.
-Đi mánh = đi buôn lậu
- Đi Sim = Trai gái đi tỏ tình ( dân tộc Vân Kiều )
- Đi bỏ trầu = Dạm hỏi trước khi cưới
-Độ cợ : ước đoán kích cỡ ( o Vi cao độ cợ 1,6 m = 0 vi cao khoảng 1,6 m ) (by Nguyentuan)
-Đọa: Mệt By Bo VD: Mỗi lần thằng Bo vô cho có một từ mần eng cập dật bắt mệt!
-Đòn triêng : Đòn gánh (By nguyentuan)
-Đôi: Ném, (By Nguyen)
-Đột: Cái lu (sành sứ)
-Đớp= ăn VD: ê, mi đớp chưa=ê, mi ăn chưa
-Đờn = Đàn ( đánh đờn = đánh đàn) (by Nguyentuan)
-đúc tạc= giống nhau như in VD:Thằng con hàng xóm răng mà giống chú Bờm đúc tạc rứa hèo
-Đốn: Chặt, đống. Lấy rạ đốn cơn tre = Lấy rựa chặt cây tre; Rác đỏ cả đốn = Rác đổ cả đống.
-Đợt: long nhong (ý vô bổ). Bé Mèo mới đi đợt về độ, cái đồ... ! Việc dà thì khôn chịu mần!
-Đợ: Đỡ. Đi xe đạp cho đợ tốn xăng! rolling on the floor. Ở đợ: Giúp việc, đầy tớ. TN: Bán vợ đợ con
-Đỡ: Mắc cỡ, xấu hổ.
-Đọi: cái tô (Thành ngữ QT: Lời nói đọi máu)
-Địa: Cái đĩa.
-Đụa = đũa, đôi đũa gắp đồ ăn VD: Eng Nguyen ăn theo kiểu tây chừ cầm đụa không được mà gắp đồ ăn.
-Đụi (có vùng, có khi đọc là ụi): Húc (by Bo)
-Đụn = đống ( đụn rơm = đống rơm ) By nguyentuan. Eng Tuấn đi ra ngoài hè ẻ cả đụn ui chao là gớm!!!! Không nghe đâu Không nghe đâu
-Để đèng = để dành VD: chừ ăn một méng béng thôi để đèng ngày mai ăn = giờ ăn một miếng bánh thôi để dành ngày mai ăn
-Đệc = khờ
-đéng -> ráy tai -> đéng trít lỗ tai rồi tề.coi mà khươi ra
-Đợng = đựng VD: lấy cái rổ đợng bó rau = lấy cái rổ đựng bó rau
-Đôông đôông : nóc nhà
-Đùi cui = dùi cui VD: Mưa cứ khóc hoài bị ba lấy cấy đùi cui khỏ một cấy
-Đi đồng= đi ỉa, hay chỉ người đi ỉa ngoài hè, ngoài lòi, ngoài đồng VD: Hôm nay con nó đi đồng chưa+ hôm nay con nó đi cầu (ỉa) chưa
-Đưới = dưới ( lên côi rừng ,xuống đưới biển = lên trên rừng , xuống dưới biển )
-Được nời = làm tới VD: Chìu chú Lợn quái nên chú được nời = Chiều chú Lợn quá nên chú làm tới (by Vi)
E

-Eng: Anh , Eng tam = anh em
-Ẻ: Đại tiện
-ếc : ếch VD: Túi qua Thanh Nhiên đi câu 1 oi ếc (By Thanh Nhien)
G

-Gác đờ bu: Chắn bùn xe (P)
-Gác đờ sên: Chắn xích, hộp xích xe (P)
-Gáy: Trạng, nói trạng. O Vi biết chi về DTT mà bày đặt gáy!
-Gặm: Cắm. Gặm cơn = trồng cây (tương đương/xem thêm: cặm)
-Gân: Liều, gắng, cố
-Ghi đông= tay lái xe dạp-
VD:Ghi đông bị quẹo rồi
-Gáo = Dụng cụ có cán cầm để múc nước ( Bà con kiểm tra các nơi khác có dùng từ này không ?)
-Guậy: Phá (Xem thêm Quấy)
-Giặc = Giật ( Giặc dây thì động rừng = giật dây thì động tới rừng )
-Giò: Chân, cẵng, cẵng chân. Què giò = què cẵng = què chân
-Gò: Tán gái
-Gớm, gớm guốc: Bẩn, Dơ bẩn (tương đương/xem thêm tởm)
-Gác - Măng - rê: Cái tủ bếp (P)
-Gác đờ co = người cận vệ ( Từ Pháp hóa )
H

-Hà= thường nói để trẻ nhỏ hả miệng khi cho ăn
VD: hà nè con= hả miệng đi con
-Hè: Khoảng đất ngoài nhà, sát vách
-hôi xoong = mùi hôi của nước tiểu VD: Mưa nậy rồi mà còn đấy trấm hôi xoong quá (by Vi)
-Họt: Học tập, học hỏi.
-Họoc dọi= làm theo, copy lại ý của ai đó...(dọi có rồi nhưng dọi này nghĩa khác à nghe)
VD: O Vi họọc dọi chú Bờm làm từ điển (vd thôi nghe, đừng chận nghe O rolling on the floor)
-Họn : Họng (viêm họn = viêm họng) Nguyentuan)
-Hôn = Hông (By: Vi) Bồn em trẹo hôn = Bồng em vẹo hông
-hộn = hỗn VD: Thằng Mưa dỏ mà nói hộn ghê ta ơi (By Vi)
-Hun = Hôn ( chú Bờm hun o Hà = chú Bờm hôn o Hà ) by nguyen tuan - Thiệt khôn rứa, mần rứa được à?/ By BỜM
-Hèo : (nhẹ hơn) hử , hở , răng ngu rứa hèo = sao ngu thế hử
I

-Ì: Ừ. Ì đọ: Ừ đó
-In: Giống - In chắc = Giống nhau.
-Inh: Ồn.
-"Im" ->bóng dim ->đi vô trông im mà đứng
K

-Khoai xẫm= khoai bị nước ngâm nước mưa hay bị ngập lụt
VD: Thằng mô ăn khoai xẫm mà địt hôi thế
-Khu: Mông, Khu=mông Cái khu O nớ sệ rứa chắc mắn con lắm. -Khu: đít. TN: Cong khu = Cực lực, hết sức (Cong đít lên mà làm!)
-Khun = khôn VD: chú Lợi nậy rứa chứ chưa chắc khun hơn thằng Mưa mô nờ = chú Lợi lớn vậy chứ chưa chắc khôn hơn thằng Mưa đâu à .
-Khớn: chừa, khiếp Xem xêm (Tương đương): Tởn
VD chú Bờm dại 1 lần rồi mà vẫn chưa khớn
-Kí: Cái - Kí lô - Ki lô (trọng lượng), Kí ni nì = cái này này.
-Kị: Giỗ (Ông Bà). Hôm ni kị Mệ = Hôm nay giỗ Bà.
-Kiết=kiết mọt, keo kiệt, tận cùng (By nguyen) VD: thằng nớ hênh hoang rứa chơ nghèo kiết xác
-Khui= mở VD: khui cái chai bia=mở cái chai bia
-khở = gở VD : Bờm ngồi buồn khở cứt mụi = Bờm ngồi buồn gở cứt mũi
-khéo , chảu = đẹp ( con nớ coi cũng khéo đó = cô đó nhìn cũng đẹp đó )
-khải = gải VD: Eng Nguyen ngồi khải ghẻ ngá = anh Nguyen ngồi gải ghẻ ngứa
-khươi-> lấy ra -> khuơi cái nút chai tui với
-khôông: không , khôông biết = không biêt
-Khôông ai đáy= không ai dạy VD: đổ ba trợn con không ai đáy
-Khoóc = khóc ( 0 Hà khoóc hết nước mắt vì Bờm = 0 Hà khóc hết nước mắt vì Bờm)
L

-Lả: Lửa
-Lã: Nước lã = nác lã = nước lạnh (chưa đun sôi)
-Lái : Lưới (dùng đánh bắt cá)
-Láng = trơn , nhẵn , phẳng , ( láng xậy = bóng loáng)
-Lại: Cái lưỡi (By Vi) Lọi lại = gãy lưỡi. O Vi nói diều mà chưa bị lọi lại!
-lạt = nhạt ( tình cảm chi mà lạt dư nước Ôốc = tình cảm gì mà nhạt như nước ốc )
-Lạt lẽo = lạnh nhạt , thờ ơ ( Lúc ni o Vi đối xử với tui lạt lẽo quái = Lúc này o Vi đối xử với tui lạnh nhạt quá )
-Lắng : Lạnh , nguội ( Con không ăn cơm đi cả lắng mất = Con không ăn cơm đi kẻo nguội mất )
-Lay cay: (gây) phiền hà, (ưa) rắc rối, (thích) phức tạp
-Lậy: Lấy
-Ló: Lúa
-Lộ : lỗ ,lời lộ = lời lỗ
-lô cốt= công sự dùng trong chiến đấu phòng ngự
-lò xô= bếp dầu thường để nấu nướng VD: Có cái lò xô không cho mượn về nấu cơm bựa ni hết củi rồi
-Lon ghi gô (lon gui gô): Lon bằng nhôm, màu trắng, của quân đội ngày xưa dùng đựng cơm, lương khô.
-Loi: Đấm, thụi (Xem thêm thụi) - By: Vi
-Lòi : Dư, thừa , lồi , lộ ra , phơi bày ra , đưa ra , hở hang ... VD : O vi mặc quần để lòi lộ tún ; con rắn rắn lòi đầu ra khỏi hang ; dấu đầu lòi đuôi = dấu đầu hở đuôi.
-Lọi: Gãy. Lọi giò = gãy chân.
-Lâm: Lầm, sa lầy, sa đà.
-Lẹo: Bị nhọt ở mi mắt Nghiã khác (từ lóng) là giao hợp
-Lèng: Lành. Áo quần lèng lặn = Áo quần lành lặn = ăn mặc chỉnh chu.
-Leng pheng= Lén phén = xớ rớ lại gần. O Vi leng pheng với chú Phúc có ngày ăn H2SO4 đậm đặc. (By Nguyen
-Lơng xơng: Lơm xơm; ko biết rõ,chắc là ko có việc gì làm,cứ đi tàm bậy tàm bạ............... By Bo
Thằng Ku Bo nó chạy lơng xơng một chút nữa là nó trợt chin bổ lăn quay = Thằn Ku Bo nó chạy loanh quanh vòng vòng một tí xíu nữa là sẩy chân té lăn quay added Vi
-Lợ: Lỡ - Đao Lợ: Dao Lỡ = Dao cau (Huế) - Loại dao dài, bản lớn; Lợ thời = lỡ thời, lỡ làng.
-Lờ: Đồ vật dùng bắt cá, Bộ phận sinh dục nữ
-Lồông: Lồng, vùng (động từ) Lồn lên = lồng lên = Vùng lên. Lồn ! dệ xợ = Lồng lên (mãnh liệt) dữ dội! (Chú Bờm mất vệ sinh by Vi)-Lộ: Lỗ, cái lỗ. Buôn ri lộ rồi, cua chui vô lộ.
-Loọc = Luộc ( loọc rau = luộc rau)
-Lộ nghẹ: Mồ hóng bám quanh xong nồi (By Bo)
- Lộ khu = lỗ đít VD: lộ khu eng Nguyen toàn là sẹo = lỗ đít anh Nguyen toàn thẹo (by Vi)
-Lảm nhảm: Nói nhiều, nói đi nói lại một chuyện.
-Lúi húi -. mần chi mà lúi húi đưới bếp rứa. Lúi húi nớ nghĩa là cặm cụi làm chi đó By Bo.
-Lưa = còn VD : Vi ăn méng béng ni nếu lưa thì eng Tuấn ăn = Vi ăn miếng bánh này nếu còn thì anh Tuấn ăn (By Vi)
-Lủng: Thủng. Quần bị lủng 1 lộ đại chang nơi mông (By Vi)
-Luynh = Dầu Nhớt (nhờn) bôi trơn động cơ
-liệng= ném, quăng VD: cái đồ dỡ hơi đó liệng quách cho rồi
-Leng queng : loanh quanh
M

-Ma leng: Ma lanh, ranh mương By Bo. Cu Long ma lanh lắm! rolling on the floor rolling on the floor
-Mạ: Mẹ (By Nguyentuan)
-May ơ= đùm, hai cái trục trước và sau của xe đạp nơi gắn tăm vô đó
-Mần: Làm (By Nguyentuan)
-Mần lẫy= giận hờn, làm cái chi đó không vừa và cắt ngang giữa chừng không làm nữa VD: O Vi mần lẫy không ăn cơm tề
-Mắc = bận VD: O Vi mấy ngày ni mắc việc quái bơ chú Bờm nối thơ một chắc
-Mi : Mày (By Nguyentuan).
-Miềng:mình (chỉ người đang nói) By Be_oanh - Bé Oanh còn dỏ mờ đám nói: Miềng biết yêu rồi!!! rolling on the floor
-Mụ : bà già , Chỉ phụ nữ đã có chồng: con mụ ni, mụ nớ. Mụ = Mệ Bà cô Nội, Mệ Bà cô ngoại. Thưa mụ mà về đi con!
-Mự = mợ VD : Mự là vợ của cụ = Mợ là vợ của cậu
-Mụi : Mũi /By Vi - Cái mặt của chú Bờm không chổ mô dòm ra vẻ hết, mui sứt, mẹng rộng chạc oạc, mụi trẹt, néc lông cả bợng. Rứa mà Vi ưng bất đoạ!
-Mụt = Chỉ khối u trên cơ thể ; mầm cây mới đâm chồi.. ( mụt nhọt ; mụt măng)
-Mun=tro VD: xúc mun đổ hầm cầu
-Mẹng: Miệng VD: cấy mẹng chú Bờm to in cấy trạc
-Mệ= bà VD: mệ nội=bà nội
-Mo = Cái gàu múc nước
-Mỏ: Miệng VD: Mỏ con nớ dài hai phân
-Mỏ ác = một vị trí trên chỏm đầu con người ( huyệt Bá hội )
- Màng tang = Thái dương ( một vị trí trên cơ thể con người )
-Mợ= mỡ bôi xe hay mỡ ăn VD: Cho xin chút mợ bôi xe
-Mô : đâu VD: đi mô cho tau đi với
-Mọoc: Mọc. Mọt cơn = Mọc cây
-Mơi=mai VD: Ngày mơi đi chơi nghe
-Mót = lượn lặt những cái gì còn sót lại ( mót lúa , mót đậu ...)
-mốt= kia VD: Ngày mốt đám cưới eng
-Một phân hai sãi=Một vừa hai phải (TN)
-Mắt trọ trọ = Mắt mở to , trố , nhìn mà không chớp mắt...
-Mẹc: Mặc, ăn mặc; Nghĩa khác (do cách phát âm) là cái trẹt -xem thêm cái trẹt.
- Méc = mách ( đem kể lại một chuyện gì đó cho người khác ) VD : Mi là thằng ăn trộm , tau về méc mạ tau .
-Mẹt: chỉ con gái, phụ nữ: thị mẹt).
-Méng: Miếng. O Vi ăn chi ngon rứa, cho xin méng!
-Mói: Muối VD: Mói mặn dệ sợ = muối nặn dể sợ
-Mồng trót : cái phao câu của loài long vũ (gà , vịt)
-Mồng đóc : Âm vật (Một vật nhỏ nằm ở bộ phận sinh dục phụ nữ -
-Mén: Nhỏ VD: Thằng Mưa mén mén mà ranh mương = thằng Mưa nhỏ nhỏ mà ranh mương
-Mẹng: Miệng
-Mẽng trèng , mẽng chai = mãnh vỡ của gạch ngói , chai lọ thủy tinh ...
-Mò : Sờ soạng , sờ mó (By Nguyentuan) Mò: Đi mò mò = đi không ai thấy = đi mà ít thấy.
-Mui: môi (Mui méng = mui miếng = môi méng = Môi). Vi ăn chùng dính đầy mui mén mà cại!
-Mửa= ói, nôn VD: Chú bờm mới uống có 2 chai mà mửa tùm lum
-Moóc = Móc ( moi moóc = moi moóc ( hay để ý đến chuyện riêng tư của người khác )
-mược= mặc, từ ni mà chưa có thiệt vô lý hết sức
VD: Chú Phúc không chịu mược cùn thì cho chú ở lỗ
N

-Náng : nướng, nước thịt VD: Hôm qua O náng một con tôm hùm thiệt là to
-Năng = Căng ( Khi xưa C moọc trước răng , bây chừ răng rụng C vẫn năng dư đờn - Hò Quảng Trị
-Nạo: Làm nạo = Làm đại = Làm cho rồi - Khác Nạo vét!
- Nạm: nắm
-Nằm trấp = nằm úp mặt
-Nằm ngả = nằm ngữa mặt
-Nằm Nơi = Phụ nữ đang nghĩ ngơi sau khi sinh đẻ
-năm ngoái = năm vừa rồi VD: Năm vừa rồi QT ít thành viên hơn năm ni
-Ngợ = ngượng VD: Tình cờ gặp người yêu củ, O ngợ kinh khủng
-Nậy: Lớn. Thằng Mưa mới đó mà chừ nậy ghê hè!
-Nần bà : đàn bà , phụ nữ
-Ngá: Ngứa. Thấy QTO mấy bựa ni bị hack mà ngá gan!
-Ngáng = chặn ngang , chắn lại.. ( đưa chinh ngáng mần thằng nớ bổ trấp =đưa chân chặn lại làm thằng kia té sấp )
-Ngó: Thấy, nhìn thấy, nhìn.
-Ngọ, cựa ngọ = Ngõ, cửa ngõ VD: Dà em có hoa vàng trước ngọ
-Ngót: Hết, Hết sạch, hết cỡ.
-Nhỡi: Chơi. Đi nhỡi = đi chơi.
-Nác: Nước. Uống méng nác = Uống miếng nước. Nác lã = nước chưa đun sôi.
-Nè: Cành của cây tre (Chỉ các cành lá sau khi róc khỏi thân cây tre)
-Neng: Răng (cái răng)
-Néc: Nách
-Ngái: Xa (xa xôi, cách trở).
-Ngạ = Hết ( Khi đứng riêng không có nghĩa , khi kết hợp các từ khác nghĩa là HẾT . VD : Chừng đó là ăn không ngạ rồi = chừng đó là ăn không hết rồi )
-Ngoảy: Quay, ngoái, ngoảnh. Ngoảy đi: Quay đi; Ngoảy lại: Ngoái lại = Ngoảnh lại.
-Ngoẻn: ăn (Tả ý ăn nhanh chóng). Địa Gà bự rứa mà eng Nguyen ngoẻn xí bơ hết
-Ngủ cục: Ngủ gục
-Nì, Ni: Này
-Nỏ: Không. Nỏ biết = Không biết
-Nôống= cái nia lớn, cái ni hình như chỉ có Quảng trị
VD: lấy cái nô ống dên lúa
-Nơm= chơm
VD: Cái nơm= cái chơm
-Nớ : đó , cấy nớ = cái đó
-Nót: nuốt
-Nói láo = nói sai sự thật , nói dối
- Nói ba láp ba đế = nói năng thô thiển thiếu suy nghĩ
- Nói cà lăm = nói lắp , nói lặp
- Nói Trạng = nói phóng đại , tự đề cao mình
- Nước méng = Nước miếng , nước bọt
-Nốp: Nốp rọt = Nóng ruột (có vùng đọc là nốt rọt)
-Nốt: Dân vạn đò
-Nờ: Nào (từ đệm) Có chi mô nờ = có gì đâu nào.
-Núp: Trốn. Tè núp (tè núp tích bắn): Trò chơi Đánh trận giả của trẻ con.
-Núm = cầm một vật gì đó - Ví dụ :: Chú Bờm đi mô cũng núm cấy lưng cùn kẻo sợ bị tuột = Chú Bờm đi đâu cũng cầm cái lưng quần kẻo sợ bị tuột By Vi
-Nứng : Hiện tượng cương cứng của dương vật , âm vật
-Nôốc = Chỉ những người dân sống trên vạn đò
-Nhớp = bẩn, dơ
-Nẹt : Đuổi, rượt VD: mần chi mà như bị ma nẹt rứa ??
-Nọ : Không. " Nọ biết nơi tề"
-Nút lại : hôn nhau ( dùng lưỡi)
-Nghị = Suy nghĩ ( nghị mãi không ra = suy nghĩ mãi không ra )
-Nóng hủi=nóng quá VD: O nớ không biết phải sốt không mà nóng hủi
O

-Oi= giỏ đựng cá
VD: Cho eng mượm cái oi đi nơm cá
-Ồ ngai: Gai con mắt
-Ôn: Ông, Nhớ lại (phổ thông)
-Ỏm: ồn ào, ỏm tỏi: Ồn ào quá (ý coi thường, khinh)
-Ồ ngai: Gai mắt (sự việc chướng tai gai mắt)
-Òm:từ này phải đi theo 1 từ nữa mới có nghĩa tăng lên nghĩa của từ trước nó, như thúi òm, dê òm...
-Thúi òm=quá hôi. Đứa mô ăn khoai xẫm mà địt thúi òm
-Ốc dộc: Hổ thẹn! Tệ quá đi, mắc cỡ quá đi
-O=cô, dì VD: O vi=cô Vi
-Ôông= ông VD Ôông nớ bơ hớ ghê , đái giửa đàng
-Ơn say=từ ni khó giả thích lắm, vì chỉ có người QT mới nói VD:Mới mấy năm mà nó lớn dữ vậy hà, ơn say chưa, nếu không gặp nhau ngoài đường không nhận ra
-Ót = Gáy (Vị trí nằm phía sau tiếp giáp đầu và cổ )
- Ở lổ = Không mặt quần áo , khỏa thân ( Bắt gặp chú Bờm với o Hà ở lổ )
-ôống troóng = cuống họng
P

-Phét: Nói láo, nói trạng. Nói phét tấu: Nói Khoác lác
-Phét mơ tuya: Dây khoá kéo (P)
-Phỉnh= lừa, nói dối VD: Thằng nớ bị phỉnh (lừa) mà không biết
-Phạng giường= Làm sạch cỏ bờ của ruộng lúa VD: Hôm ni rẻng không đi phạng giường cho cậu cái
-Phuốc tăng= cổ xe đạp
Q

-Quớ: Hoảng. Lúa quớ = Loạng quạng
-Quệ = mệt, nhừ tử, mỏi
-Quẹp: (tính từ) thua thiệt, Quẹp mỏ = Trít mồm, ăn hết quẹp mỏ! (câu hỏi tu từ) = ăn hết thì lấy gì mà ăn?
-Quẹt: Dễ dàng (ý khinh thường - đồ quẹt nớ tau làm xí xong)
-Quái: Lạ, quá, kỳ. Quái ghê = Lạ ghê = Lạ nhỉ; Lỳ quái = Lỳ quá; Quái lạ = Kỳ lạ; lạ quái = Lạ quá.
-Quấy: Phá, khuấy, guậy, quậy. Đừng quấy = Đừng phá khuấy, đừng khuấy, đừng guậy= Đừng quậy phá.
-Quào = một động từ cào, cấu
-Quáng ca = quáng gà ( người bị bệnh về mắt )
-Quén = vén ( chú Lợi ngủ dậy không quén mùng = chú Lợi ngủ dậy không vén mùng )
R

-Rập: Đạp mái.
-Rặt rặt = Con chim sẻ
-Răng: Sao - Vì răng? = Tại sao?
-Rọ= cái lồng xúc heo
VD: lấy cấy rọ xúc heo trên chàn bếp
-Rế = con dế mèn
-Rọt: Bụng, lòng dạ
-Rọn: Ruộng, Rọn ló = Ruộng lúa (Nói rọn thôi là đủ nghĩa ruộng lúa-Người QT chỉ gọi duy nhất nơi trồng lúa là ruộng)
-Rún: Lỗ rốn, lỗ tún, Eng Tâm cấy rọt thì to, rún tòi cả thước rứa mà còn dậu!
-Rạ: Rựa, gốc của cây lúa. Cơn rạ = cây rựa (Cây như cây mác nhưng cỏ mũi khoằm mỏ két)
-Rứa: Thế - Rứa à = Thế à.
-Reng: Ồn ào không đáng có (bựa qua nhậu xí mà mụ vợ reng ỏm y!) Reng: Vùng Long Hưng = Răng
-Rím: Giấu kỹ (Thành ngữ QT: Rím rím mà rịm ra troi nghĩa là: Im lặng vậy mà trung tiện là ra giòi)
-Xối = dội
-Rớ = Cất vó ( một hình thức đánh bắt cá )
-Rào : Con sông nhỏ , con suối
-Rẽng : rãnh rổi. VD: Rẽng quá nọ bít mần chi nơi
-Rêng = rên rỉ VD: Khi túi O nghe eng Tuấn rêng dữ dằn
-Rờ=sờ VD: ê rờ xem cái bánh xe tau có xẹp không= sờ xem cái bánh xe coi có xẹp (hết hơi) không
-Rú = Rừng cây thấp ở đồng bằng
S

-sạc rê= vắt chỉ, vắt sổ VD: đem áo quần (mới cắt) đi sạc rê
-Sập: Cái Sập - rương lớn dùng để đựng (Lương thực dự trữ, vật dụng..) Phía trên nằm ngủ.
-Sẩy cỏ (có người gọi trẩy cỏ): Tảo mộ
-Sáng trợt = khoảng thời gian từ 7 giờ - 8g30 sáng ( ngủ chi mà sáng trợt mới dậy = ngủ dậy muộn )
-Săng = gỗ ( lẻ săng = khúc gỗ )
-Séc= tò ý thách thức với những việc khó làm
VD: tau séc mi đó có dám tán O Vi không?
-Sèm: Thèm. Thấy mà sèm = Thấy mà thèm
-Sẹo: Thẹo. Mặt tui mụn diều nên cả sẹo y!
-Sốn: Sống.(By Nguyentuan) ''Sốn trong đời sốn, cần có một tấm lòng!"
-Sớn xác: Lanh chanh lập cập bất cẩn -> cái tội sớn xác ko chịu bỏ
-Su: Sâu (chỉ độ sâu).
-Sói : hói ( sói trôốc = hói đầu)
-Sương= gánh VD: đi sương cho mạ đôi nước
T

-tắn = rắn VD: con tắn= con rán
- Tấy = con rái cá ( thú mỏ vịt )
-Trấy: trái VD: Trấu dâu ni chua dệ sợ = trái dâu này chua kinh khủng
-Tầm vất tầm vơ : tam vất tứ vơ
-Tau, tui : tao , tôi , mình...
-Táp: Đớp, cắn, ăn (Thường dùng cho súc vật) Bị chó táp = bị chó đớp = bị chó cắn.
-Thần đân: (Lỳ, liều) Không vâng lời can ngăn để tiếp tục làm 1 việc gì đó - Vẹ đừng mà cứ làm thần đân!
-Tra: Già, Gác gỗ trên cao sát mái. Ông nớ tra òm = Ông đó già ghê! Ló bỏ lên tra cả lụt = Lúa chất lên gác tránh lũ.
-Thẹo: Sẹo
-Trặt = chặt ( cột cho thật trặt= cột cho thật chặt )
-Trặc: dụ dỗ con ve leo lên cành của mình rồi bắt
-Théc: Ngủ. (đi ngủ)
-Trẹt: cái Dần lúa gạo (thúng mủng dần sàn),Trẹt: Mỏng (tẹt). Trẹt lẹt: chỉ độ dầy (quá mỏng, không như mong muốn)
-Thinh: Im, làm thinh. TN: Thinh như đột đột = Êm như díp = Im như cái lu. Thinh nào = Im lặng nào = Làm thinh đi.
-Thỗ : Dỗ (dụ dỗ , nói nhỏ nhẹ , nói dịu ngọt ...(VD: thỗ em cho nó nín đi = dỗ em cho nó nín đi)
-Thổ: Đánh đập. Đừng hỗn tau thổ chết tổ mi chừ.
-Thùi địt (thù địt): Cây lá mơ. Nói nghe thùi địt = Nói chả ra gì = Nói nghe vô duyên.
-Thụi: Đấm.
-Trẹo = Vẹo
-Trít: (trịt) Bịt, bịt lại, bị bí, kiết. Trít ống nước = bịt ống nước, Trít mọt = kiết mọt: keo kiệt, bủn xỉn (Lỗ nhỏ như lỗ mọt mà cũng ... trít luôn);
-Tréc = Cái xoong nồi bị hư hỏng được dùng vào việc khác
-Tróc: (Động Từ) Tróc trọ = Gõ đầu, Tróc ly nước = Uống ly nước, Tróc cái = Làm (một) cái.
-Troi: Con giòi (bọ ruồi)
-Trọi = gõ ( dùng tay gõ vào đầu gối hoặc đầu )
-Tron: Trong; Nước tron = Nước trong; Tron nớ = Trong kia.
-Trọt: Chỗ trước mấi hiên, hàng giọt nước mái trước nhà
-Trốt: Đầu người, động vật. Trốt cúi: Đầu gối.
-Trôn: Bộ phận sinh dục Nữ.
-Trôộng = lủng, rách.
-Truồng= chuồng VD truồng heo nhà eng sạch như khách sạn
-Trọ: Như Trốt, sọ (đầu sọ)
-Trợt = trượt ( trợt chin bổ xuống cống = trượt chân ngã xuống cống)
-Trú: Trấu (vỏ lúa)
-Tru: Con Trâu
-Trù : Trầu. ăn trù = ăn trầu. .... Em chi mà em, mấy chú danh lên, mệ kiếm mấy đồng ăn trù!!!... rolling on the floor
-Trù = định VD: Tau trù ngày mai đi câu cá mà ngày mai trời mưa rồi
-Trự : Đồng ( đơn vị tiền tệ ) VD : Không có một trự mà ăn trầu = Không còn một đồng mà ăn trầu By nguyentuan
-Tưng tửng[/b]=mát mát, điên điên (nghĩa là chưa điên nhưng có chạm chi đó) Chú Phúc tưng tửng rứa mà giỏi ghê
-Trảy: Rôm sảy (trẻ em) Nổi trảy: Nổi nóng, nổi giận
-Tàu bay = máy bay
-Trẩy: Làm sạch sẽ, Trẩy mộ = Tảo mộ, Trẩy cây: cắt bỏ cành lá, trẩy khoai (sắn): dỡ vồng khoai (sắn) thu hoạch. Cu Long hoang ra trẩy cơn roi đập đã = Cu Long hư ra chặt (rồi vót) cây roi đánh đã.
-Trày = Chày ( tiếng trày trên sok BomBo = tiếng chày trên sok bom bo )
-Tràng=sàng VD tràng gạo=sàng gạo
-Trậm trầy trậm trật = lơ ngơ, hậu đậu, trật lên trật xuống
-Trữa: Giữa, ở giữa
-Trừa = chừa, để dành VD: Chú Lợi ăn kẹo mà không trừa cho O một méng = chú Lợi ăn kẹo mà không chừa (để dành) cho O một miếng
-Trùi = Vật nhọn bị bào mòn ( cái đục này trùi quá = cái đục này mòn quá )
-Trến: Doạ, hù doạ (By Vi)
-Trệt: Mệt, hết sức. trệt kẹng = mệt, mệt quá (Kẹng: chân)
-Túm:Tóm, nắm, bắt, giữ, gom (động từ)
-Tún: Lỗ rốn, lỗ rún.
-Túi = tối ( trời túi như đêm 30 )
-Tẹt mốt: Phích nước (P)
-Tê: Kia VD: qua bên tê lấy tau cấy áo = qua bên kia lấy tôi cái áo (
-Tề: Kìa VD: Bên nớ tề = bên kia kìa
-Tế: Cúng, chưởi, mắng (la rầy như đang cúng tế!). Cái nớ để mà tế à (câu hỏi tu từ)= Cái đó để mà làm gì (để mà cúng à!). Bựa qua ITCOM bị mạ tế = Hôm qua ITCOM bị mẹ mắng.
-Tọa: ngồi VD: mời quý vị an tọa = mời quý vị ngồi
-Toóc = Gốc rạ còn lại sau khi gặp lúa
-Tọa lọa: Tan nát, tóa hỏa (Thành ngữ QT: Tọa lọa tầm tinh - Hư hỏng tan nát hết/hoặc = tóa hỏa tam tinh).
-Tòi: Lòi ra, thòi ra.
-Tởm, tởm lợm: Dơ, Dơ bẩn (Tương đương/xem thêm: gớm, gớm guốc)
-Tởn: Khiếp
-Tợp: Húp, uống. Tợp tớp: Tưởng bở, tưởng dễ ăn!, lanh chanh, tưởng dễ.
-Trạc= cái rổ thường dùng để gánh phân
VD: Xúc phân vô cái trạc gánh lên trồng khoai
-tự thị = tự tiện VD: Chú Bờm tự thị chỉnh sửa bài của eng Tuấn mần eng nớ giận tím gan = chú Bờm tự tiện chỉnh sửa bài của anh Tuấn làm anh đó giận tím gan
-Trẹt= cái nhỏ hơn cái nốông, thường đựng những cái nhỏ để phơi, có khi dùng cho heo con ăn
VD: Cho mượn cái trẹ về phơi dưa cải
-Trỉa -> gieo trồng -> O Vi đi trỉa đậu với Bo ko?
-Triếc = con ngõng trời
-Trúc: Bổ, té. O Vi diện kiến dung nhan Bờm bơ trúc ngữa, quái đẹp, choáng!
-Trung : trong , trung dà = trong nhà
-Trốốc cúi = đầu gối VD: Trốc cúi O bị sưng một cục
-Trôông= mong, ngóng
VH: Mấy hôm ni Binhminh đi mô o Vi trôông đọa hi
-Thiệt=thật VD:Nói như thiệt=nói như thật
-Trôống= thường chỉ đem cá cho vào thau nước, hay chậu nước khi chưa mần thịt
VD: Đem mấy con cá tràu trốông cho mạ cái
-Trôồng= dọn, sắp xếp VD: Ăn xong rồi mà không ai trôồng chén đọi hết= ăn xong rồi mà không ai dọn chén bát hết
-Truống= đem xuống VD: truống nồi cơm xuống cho mạ cái
-té ra= thì raVD: té ra thằng Mưa nó ưa O nớ à
-Thúi òm= hôi quá VD: đứa mô xả mà thúi òm
-Tù tê= ngày kìa
U

-Un = vun , vón lại , gom lại ( un luống rau = vun luống rau )
-Um: Ồn (Chỉ sự ồn ào). Chuyện không có chi mà làm um y!
-Ưng: Ưa, Thích, muốn
V

-Vẹ: vẽ, bảo (chỉ bảo)
-Vọt: Nhảy vọt, phóng
-Vồn: Vồng. Vồn khoai, vồn sắn = Vồng khoai Vồng sắn. Đi xớt vồn khoai = Đi vun vồng trồng khoai
-Vá - Cái Vá: Môi (muỗng lớn)
-Vày = vò VD : Vày nạm rơm ( vò nắm rơm)
-Vứt: Vất (Vất bỏ)
-Vụng = Vũng , hố ( Vụng bom = hố bom )
X

Âm X hay dùng thay âm S - Xướng dệ xợ = Sướng dễ sợ, xổ xách = sổ sách .....
-Xán: Quănng, ném (by nguyen).
VD: Ê bà tợn là tau xán cái Phụ Khoa trữa mặt đó!
-Xàm Xàm: Nói tầm bậy, nói lung tung.
-Xăm= lốp xe đạp
VD: Đi cửa hàng mua mấy cái xăm xe đạp
- Xắp : Cắt ( đi xắp tóc = đi cắt tóc ) By nguyentuan. Eng Tuấn chuyên môn đi xắp tóc bằng lại, dổ râu bằng neng! rolling on the floor rolling on the floor
-Xeng: Màu xanh
-Xên: Cái xẻng
-xéc = xách ( chú Bờm đi xéc nước cho o Vi tắm )
-Xâm: Xâm xoàng. Bựa qua việc diều làm xâm luôn = Hôm qua việc nhiều làm xâm xoàng luôn!, Xâm mình, liều mình.
-Xỏ: Xâu (xâu chỉ luồn kim) TN: Xỏ lá, xỏ que=xỏ lá ba que = lươn lẹo, ranh mương
-Xớ rớ = Léng phéng = Leng pheng (Xem thêm leng pheng)
-Xum: Xúm. Xum vô = Xúm vào
-Xót= giả, làm cho nhỏ ra VD: Đi xót cho mạ ít mói= đi giả (cho nhỏ ra) cho mạ ít muối
-Xọc=chọc, thường dùng khi lấy cái que, đùi đưa vào một cái lỗ VD: lấy cái que xọc vô cái hang
Y

-Ỷ y: tin chắc chắn. Việc tọa lọa rồi mà còn ỷ y - Hỏng việc tơí nơi mà còn chắc chắn
-y chang , y đúc = chỉ hai hiện tượng hay hai sự vật gióng nhau ( hai đứa ni gióng nhau y chang )

http://www.langnhachkiem.net/Quang-Tri-Que-Huong-toi/1/4/
READ MORE -