Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, June 25, 2025

TRẦN NHUẬN MINH, LỊCH SỬ VÀ SỐ PHẬN - Nguyễn Đức Tùng

 



TRẦN NHUẬN MINH, LỊCH SỬ VÀ SỐ PHẬN


Nguyễn Đức Tùng 



Thơ thế sự nói về người khác, thơ trữ tình nói về mình. Trần Nhuận Minh viết cả hai, với một ngôn ngữ có khi vui tươi có khi buồn bã, nửa thương xót nửa châm biếm. Trong anh có một nhu cầu không mệt mỏi, đi tìm ý nghĩa của sự vật, ngắm nhìn, và ngẫm nghĩ về, những hiện tượng xã hội thoạt tiên dễ bỏ qua. Bài thơ Buổi chiếu bóng đã tan, viết năm 1983, trước hẳn thời kỳ được gọi là đổi mới, là một bước đi lạ như thế, và hình như ít được chú ý. Cái nhìn của anh gần gũi, thân mật đối với thế giới chúng ta đang sống. 


Màn đã cuộn đi. Điện đã tắt

Hàng rào xé vé cũng nhổ rồi

Lôi thôi trên bãi toàn gạch đá

Nơi những người xem đã đứng ngồi


Giấc mơ đã rút đi. Khi điện tắt, bạn mới bắt đầu nhìn thấy. Trông ra, lôi thôi những gạch đá. Nhìn xa hơn:


Thăm thẳm trời cao

                                Sao lác đác

Bãi mờ sương khói sáng mung lung


Thơ Trần Nhuận Minh dày đặc chi tiết, ngôn ngữ mô tả khá sống động. Phương pháp của anh bắt rễ sâu trong phương pháp hiện thực mà anh học tập từ thời trẻ, phương pháp ấy nặng về quan sát, biểu hiện, mô tả chân phương, nhẹ hơn về tưởng tượng phóng túng; các hình ảnh và ngôn ngữ ít khi vượt khỏi quy ước. Nếu chỉ như thế, như ở nhiều người khác, Trần Nhuận Minh có lẽ đã không thể đi xa. Ở anh có một điều gì khác nữa, thẳm sâu, nửa như nguyên mẫu văn hóa, lề thói dân gian, nửa như không khí phóng khoáng bạo liệt của cuộc đời hôm nay; chúng cùng chọn ký gởi ở anh những ý nghĩa bí mật. Ít có nhà thơ nào mà tính đương đại và tính dân gian giao hòa thích hợp vậy. 


Đứa thì đêm lạy van người
Ngày ngày vênh váo coi trời bằng vung
Đứa làm đạo diễn văn công
Nỗi đau đời giấu vào trong tiếng cười
Đứa đi buôn ngược, bán xuôi
Vào Nam ra Bắc ăn chơi một mình
Đứa thì làm giám đốc ngành
Đi đâu cũng có nhân tình đi theo
Đứa thì áo túm, quần đeo
Tinh mơ vác gạo, xế chiều bơm xe
Đứa liều vượt biển trốn đi
Nổi chìm nào biết tin gì thực hư
Đứa thì làm trưởng trại tù
Gặp nhau, tay bắt lạnh như đồng tiền


Một hồ sơ xã hội, mô tả những gương mặt, tố cáo những vấn nạn, không phải chỉ những nhân vật mà còn là, và chính yếu là, những thông điệp. Thơ thế sự là thông điệp. Khi văn chương nói vế chiến tranh, nói về đàn áp, nạn nhân bị cướp ruộng đất, không phải chỉ là những hiện tượng được mô tả, mà chính là câu chuyện được kể lại, của những số phận. Thơ Trần Nhuận Minh là những ám ảnh về số phận. Trong một cuộc họp:


Cách ngồi đã hai bề

Bên là các ông chủ

Bên những người làm thuê 


Gần gũi với người dân, các nghệ sĩ, người bần cùng, giữa đám đông, anh dễ nhận ra kẻ bất hạnh. Khả năng cá nhân quý báu ấy, có lẽ đã giúp anh nhận ra khiếm khuyết của một hệ thống, những tổn thương trầm trọng hơn của một xã hội. Người đi giúp việc ở nước ngoài:


Tập ăn thừa dưới bếp

Tập khóc chẳng ai hay

Bài học thời mất nước

Ai ngờ dùng hôm nay


Như vậy, anh đi xa thêm một bước. Sự phân tích sắc bén của Trần Nhuận Minh phần nào được kiểm soát bởi lòng yêu thương, thái độ trầm tĩnh. Cũng cần chú ý đến hoàn cảnh xuất thân, xã hội mà anh sống và làm việc, những ràng buộc văn chương và trần thế, chúng chắc chắn đã tác động không nhiều thì ít đến đường lối sáng tạo của người viết. Anh hy vọng vào sự thay đổi, đánh cược với những hoàn cảnh mà con người hướng tới như một người vững tin vào lẽ phải. Anh không tránh khỏi sự thương cảm, không tránh khỏi nhu cầu quá lớn được chia sẻ, được tán thành (social approval). Anh đã bao giờ trải qua những chấn thương tâm lý; để lại vết thương sâu sắc trong lòng? 


Biết nhường đường cho một thằng ngu

Bạn sẽ chẳng bao giờ phải hối

Hãy về rừng Côn Sơn mà nghe gió thổi…


Bi kịch Nguyễn Trãi. Hơi cay đắng. Thơ anh giàu đối thoại, nhiều kịch tính. Anh biết rõ những hoàn cảnh giàu nhân tính và phi nhân tính, các khuyết điểm của con người, mặt trái của thần tượng, sự tạm bợ của các chiến thắng, mau chóng vẽ ra chân dung thời đại mình và không dừng ở đó, mà đi xa hơn mức độ mô tả. Lương tri của văn học là sự phân biệt giữa kẻ giết người và người bị giết, giữa kẻ nói dối và người bị lừa dối, giữa kẻ tỉnh thức và giấc mơ lầm lỗi của họ. Một thứ văn chương như thế có thể đánh thức lương tri của mỗi chúng ta. 


Chó cũng sủa nhầm, anh hãy mở cửa ra

Người bạn tốt nhất của anh thường ít đến thăm nhà


Một tuyên ngôn kín đáo, khéo léo, nhưng kiên nhẫn, tiếp tục hiện diện quanh chúng ta. Thơ của anh cố gắng đi xuyên qua giữa những mặt cắt khác nhau, cố gắng giữ sự nguyên vẹn của ngôn ngữ để không bị trầy xước và tổn thương bởi một hiện thực mà anh không chấp nhận. Trần Nhuận Minh chọn phương cách của anh, giành nhiều cơ hội nhất để nói lên những ước vọng và suy nghĩ của mình, một cách tinh tế, ở chỗ đông người. Đối với anh, không phải các xung đột là trung tâm của thơ ca, mà chính con đường đi qua và lối vượt ra khỏi các xung đột ấy.


Kẻ khôn ngoan thường giấu điều mình biết…

Ý nghĩ ở đằng đông

                           Miệng nói ở đằng tây

Giấu mưu toan dưới những cốc rượu đầy…

Ta già rồi

            Chẳng biết giấu vào đâu

Nỗi ngu dại

               Học từ thời Tốt Đẹp… 


Thời Tốt Đẹp là thời nào? Sự ám ảnh về lịch sử trong thơ Trần Nhuận Minh thật dai dẳng. Đó là sự trở lại, thăm dò, chiếu ống kính vào cận cảnh, thay đổi chiều kích giữa người viết và sự thật, khi xa khi gần. 


Ai gọi tôi? Những năm chiến tranh

Bóng tường vênh âm âm đêm phòng thủ

Tôi có một phần đời trong mọi gian nhà đổ

Mọi cuộc chia ly người mất người còn


Từ cái nhìn chất phác, đơn giản lúc mới viết, anh ngày càng tìm cách nhận thức lịch sử. Nhưng lịch sử chính là thời gian và phương cách đo lường thời gian ấy, là những hành động nhân nghĩa và tội ác được sắp xếp sao cho nguyên lý nhân quả có thể được giải thích, không thể bị nghi ngờ. Và như thế, lịch sử liên quan trực tiếp tới các số phận. Trần Nhuận Minh là người làm chứng của sự kiện. Mặc dù trong sáng tạo không phải bao giờ bạn cũng cần là người chứng, ví dụ đối với cách mạng văn hóa Trung Hoa, anh chỉ là người từ xa tới, nhưng chính nhờ khoảng cách ấy mà trí tưởng tượng của anh hoạt động, thơ anh bay bổng, mê đắm. Trong những nhà thơ có bài viết về quan hệ Việt Nam - Trung Hoa, Trần Nhuận Minh là người viết nhiều, bền bỉ, từ sớm. Hãy nghe anh nói về Lão Xá, nhà văn bị giết hại trong cuộc cách mạng văn hóa điên rồ của Mao Trạch Đông:


Ông vốn là người mềm yếu, sẵn sàng đổ tội chết 

             cho bất cứ ai, miễn là cứu được mình

Nhưng rồi Ông có cứu được Ông đâu

Ông tự trẫm mình xuống đáy hồ Thái Bình

                                                         trong nỗi khiếp đảm

Lũ trẻ con từng lấy thắt lưng da có móc sắt

                                                        quất vào mặt Ông

Giờ lôi xác Ông lên phơi nắng…


Kính trọng đối với người khác là thái độ chống lại một chế độ bạo tàn. Sự kính trọng chính là nhìn nhận giá trị, và khả năng nhận ra những cá thể trong một cộng đồng. Trong một xã hội mà cá nhân không được kính trọng, con người sẽ bị vùi lấp, trở thành phần tử không tên tuổi, chỉ là công cụ. Khi được một người kính trọng, nhân phẩm bạn lớn lên. Anh ít nói về cuộc chiến tranh Nam Bắc hai mươi năm của người Việt chúng ta, nhưng khi đã nói thì sâu sắc, từ góc nhìn độc đáo:


Chiến tranh ở hai đầu

Anh thờ mờ sương khói

Vẫn không nhìn mặt nhau


Bên cạnh sự kính trọng là đồng cảm. Những người có khả năng chia sẻ với người khác sống cuộc đời ý nghĩa hơn những người không có khả năng ấy. Con người chỉ có thể lớn lên trong vòng tay của gia đình, bè bạn, cộng đồng. Sự đồng cảm là điều kiện của hiểu biết và tương tác xã hội. Không có cảm xúc cá nhân cụ thể, sự hiểu biết chỉ là kiến thức khô khan và lòng tin chỉ là lòng tin mù quáng. Nhiều người đã đi qua trắng tay sau mấy mươi năm trong lòng tin như thế. Khả năng đồng cảm chỉ xảy ra ở những người có khả năng dẹp bỏ sự ích kỷ, cùng vui sướng với thành công của kẻ khác, ra khỏi sự ganh tỵ, âm mưu. Nhờ sự đồng cảm, thơ thế sự của Trần Nhuận Minh, trong nhiều bài, trở nên thơ trữ tình và thơ trữ tình lịch sử. Nếu một người đọc Trần Nhuận Minh như chính anh là, người ấy sẽ nghe được tiếng nói của người trí thức dân dã, đang sống giữa đám đông, một người dùng thơ ca để ghi chú lịch sử, như nhà sử học ghi chép những phong tục ở xóm quê, chỉ một xóm quê ấy thôi cũng nhìn thấy khuôn mặt cả nước.


Cả xã hội diệt trừ cái ác

Cái ác vẫn ngang nhiên cười nói giữa đời


Anh có bi quan không? Khi con người trở nên yếu đuối ích kỷ, tự do xã hội càng bị siết chặt, thì đám đông càng lớn lên, chứ không phải nhỏ lại. Thật ra chẳng có nhà thơ nào nói dùm cho người khác, người ấy chỉ có thể nói cho chính mình, có điều tiếng nói ấy là của một người đang sống và thở giữa những người khác. Thơ Trần Nhuận Minh tạo ra bức tranh lẫn lộn, phức hợp của những câu thơ xuất sắc bên cạnh những câu thơ dễ dãi, sự minh triết bên cạnh khôn ngoan tầm thường. Dù thế nào, cách nói của anh, ý tứ của anh, không lẫn lộn được. 


Những người không ai thay được

Đã nằm đầy ở các nghĩa trang…


Như một người đến nói một điều nhẹ nhàng, không ai chú ý, nhưng bạn nghe được một lần, không quên. Anh đi tìm không những bộ mặt thật của xã hội mà còn sự giải thích đối với các bi kịch. Một nhà thơ có thể giải thích cách nào? Bằng cách tìm kiếm và chỉ ra ý nghĩa của sự việc. Anh ghi nhận tất cả, và đôi khi không cưỡng được, muốn khuyên nhủ tất cả.

 

Không tài năng nào yên ổn ở quê hương

Trẻ con bây giờ cũng chẳng còn nói thật 


Vượt khỏi sức hút, ra khỏi quỹ đạo. Không có gì khó hơn là trở thành quen thuộc với những bí ẩn của đời sống.


Cuồn cuộn mà im lặng

Mặt đỏ lừ trong ánh sao trôi

Sông Lô đi qua đêm như một kẻ giết người

 

Lặng lẽ bông lau rừng thả hồn vào mây trắng

 

Cây đại ngàn nhuốm màu thu lớp lớp

Đỉnh Tây Côn Lĩnh ngút cao

Núi như đàn ngựa đang gào thét

Giữa trời

Lao

 

Cỏ non Đồng Văn hương thơm gió bay…

 

Ta hỏi Lô giang: Chảy mãi mà làm gì?

Ta hỏi Tây Côn Lĩnh sơn: Cao thế có buồn không?

Chợt thấy bông lau rừng

Ta lặng nhìn

Bất lực

 

A ha! Trời xanh, nước xanh. núi xanh, ta xanh!

 

Ta đi một mình cuối mùa hoa rơi

Chán hết mọi sự đời

Hắt rượu lên mây trắng…

                                                       Đặng Yên 8.1994

                                                       (toàn bài Hà Giang)


Ý thức lịch sử. Câu cuối có chút ngang tàng, nhưng không phải là không hợp cảnh. Lịch sử của dân tộc Việt Nam là lịch sử của những số phận cá nhân, hơn là của những tính cách cá nhân, đầy phân vân lưỡng lự, những nghi án, sự đe dọa, cảnh giác và những nỗi sợ hãi. Không được xem xét, không được đánh giá lại, từ những khoảng cách gần và từ độ lùi rất xa, một lịch sử như thế sẽ trôi qua không để lại dấu vết. Một lịch sử được viết bởi các niềm tin mê muội, đơn phương, bất cận nhân tình, sẽ bị lãng quên. Mặc dù có thể tìm ra dấu vết ảnh hưởng của người đi trước, ở giai đoạn đầu, trong lối tả chân mộc mạc của phương pháp hiện thực, thơ Trần Nhuận Minh ở những bài thế sự thành công gần như ít có tiền lệ. Về sau, cái tôi trữ tình nâng thơ anh lên, cái tôi lịch sử làm cho thơ anh có tính triết học. 


Anh còn lại gì cho mình chăng?

Mấy trận đòn oan vài thuyết giáo cũ mèm

Chút kiêu ngạo hão huyền nơi quán trọ

Nhân nghĩa và tự do


Trong đời thực, có khi nào anh rơi vào tình trạng khủng hoảng tinh thần không? Có thể có, nhưng điều ấy không thể hiện rõ trong thơ anh. Chỉ thấy bi kịch người khác, của một hệ thống trật tự xã hội lỗi thời, hơn là bi kịch cá nhân của tác giả. Anh đến sau thời kỳ lãng mạn, trong sự sụp đổ của chủ nghĩa hiện thực, và tìm kiếm những cách nói mới. Thơ anh không có phép lạ, không có lời cầu nguyện tôn giáo. Nhưng trong anh đầy rẫy niềm tin vào con người, lẽ công bằng của tạo hóa, tức là vào cái vượt qua giới hạn con người.  


Mặc ai yêu ta, mặc ai ghét ta

Vắt câu thơ Đường ngang vai, đi khắp nước Trung Hoa

Ối chao hồ rộng! Ối chao núi cao!

Xin đừng bao giờ nổi lên binh đao


Những người yêu nhau, mặt mũi sáng trưng

Những người ghét nhau, mặt mũi tím bầm


Cảm thức lịch sử gắn liền với cảm thức về thời gian. Đó không phải là việc đi tìm thời gian đã mất, hoài niệm, đó là sự tìm kiếm dấu ấn của quá khứ lên đời sống hiện tại, ghi lại tác động làm thay đổi. Đối với anh có lẽ không có gì quý hơn nhìn ra sự thật ấy, sự mất mát. Những vết thương trong anh giữ gìn sự thăng bằng của các thế giới riêng, và anh cẩn thận để chúng không sụp đổ vào nhau.


Không thấy tiếng ếch nhái quen thuộc uôm oam

                                vọng lên râm ran từ các ao hồ ngòi rãnh

Cánh đồng nước trải mênh mông cũng yên ắng lạ lùng

Sấm ngạc nhiên tự hỏi

Vô tích sự vậy sao?


Có mưa và sấm sét, ếch nhái sẽ kêu vang. Nông thôn Việt Nam hiện nay. Sự vắng mặt của nông thôn ấy. Ngôn ngữ của Trần Nhuận Minh duyên dáng, khá dí dỏm, đôi khi tình tứ. Đó là sự châm biếm nhẹ nhàng, tuy đích đáng nhưng ít sâu cay, giận dữ; có lúc là nụ cười mỉm khi tự nhìn lại.


Tôi sinh ra trong mưa bão Kinh Thầy

Tháng Tám nước dâng

trũng gương mặt đói

Mẹ tôi hai mươi bốn tuổi

Đôi mắt lặng thầm buồn mênh mônh

Bà đỡ đặt tôi vào giữa nong

Mong tôi lắm thóc nhiều tiền

Không phải ăn mày, ở đợ

Bà quấn cho tôi vạt áo cũ

Ngai ngái mồ hôi

Tôi khóc chào đời

Tiếng nghẹn trong cổ 

Bà đỡ khẽ kêu "Thằng này rồi sẽ khổ!"


Có một nỗi cảm hoài thế sự mênh mông trong bài thơ. Trần Nhuận Minh dường như trò chuyện với mình, tự tranh cãi với mình; khi nào anh muốn để câu chuyện ấy vang lên cho người khác cùng nghe, anh có loại thơ đậm chất thời sự, khi nào anh cô đơn, buồn, chỉ nói cho một mình mình nghe, thơ anh tâm tình, trữ tình. Nhưng thơ tình mới là trường hợp điển hình hơn cả của thơ trữ tình.


Em đến bất ngờ trời rét dữ

Cây bàng rụng lá đứng run mưa

Ơ kìa, bên cửa bông hồng trắng

Lại nở thơm lừng một đoá xưa


Trần Nhuận Minh dùng nhiều thể thơ truyền thống như tứ tuyệt, lục bát, tuy nhiên chúng không áp đảo khuynh hướng tự do, cách gieo vần rộng rãi, nhất là trong trường ca. Ngôn ngữ thơ tình của anh khá mới. 


Buông trên vai em mà đêm mượt
                                        như nhung
Lọc qua áo em mà hương trời
                                            thơm vậy
Những ngôi sao yêu nhau ríu rít
                                        ở trên cành
Anh đứng chờ em
                        Bạc cả sắc thu xanh...


Đọc bài này, tôi nghĩ: không có hiểu biết thì không có tình yêu. Con người là những sinh vật tồn tại với những lý do. Chúng ta hiểu biết về mình, về người khác, quá khứ. Chúng ta sống giữa những người thân, yêu thương và được yêu thương. Sự xa cách làm chúng ta đau đớn, sự vắng mặt làm chúng ta lo âu. Nhu cầu sâu xa nhất của một người là vượt qua vắng mặt, xa cách. Để được đoàn tụ với người thân yêu, bạn chỉ có thể hoặc sống mãi bên nhau hoặc sống trong tình yêu của người ấy. Tình yêu không phải chỉ là cảm xúc chủ quan và thụ động. Tình yêu là một hành động có thể quan sát, ghi nhận được. Là trao tặng. Sự lớn lên của mỗi cá nhân. 


Về thôi em...

                   Bốn phía đã thu vàng

Mây đã trắng đến từ ngàn năm cũ

Gió đã xanh thổi lên từ Hoa Cỏ

Nở bời bời những khát vọng muôn sau


Con người là những đứa con của thiên nhiên, vì vậy tình yêu giữa người và người, trước sau cũng dẫn tới tình yêu của họ đối với thiên nhiên. Thơ anh ngày càng có tính trữ tình, nhưng đó là thơ trữ tình của một trái tim đã đi qua bi kịch của người khác, lấy chúng làm bi kịch của mình. Khi vui, anh cũng có câu thơ sắc bén.


Cặp đùi em như hai lưỡi kéo

Khép lại dịu dàng

Có thể cắt đứt đời nhiều hảo hán


Phép so sánh táo bạo. Trong khi thơ thế sự tìm cách sắp xếp các sự kiện, thơ tình chính là sự kiện. Thơ tình là ký ức được cắt rời khỏi quan hệ không thời gian, thơ thế sự là ký ức được đặt trong mối quan hệ không thời gian ấy. 


Hoàng hôn Hạ Long, đỏ sao mà gay gắt

Má em hồng tới tận canh khuya


Âm vang của chữ tạo ra những xúc động và ý tưởng khác nhau. Chữ dùng của Trần Nhuận Minh khá đắt hoặc về hình ảnh hoặc về âm vang. Anh có bốn đề tài: công nhân, dân tộc, con người nhân loại, và các đấng siêu nhiên. Bắt đầu từ:


Tâm hồn tôi tràn đầy âm thanh

Tiếng mìn nổ tầng than và tiếng sóng biển


Anh ở gần biển, sống giữa công nhân lam lũ bụi bặm. 


Soi mặt xuống vịnh Hạ Long,

                         ta nhìn thấy ta mà ta không tự biết


Chúng ta tập quen với sự lơ đãng, sự không cẩn trọng, sự phóng túng. Chỉ trong tình huống ấy chúng ta mới vươn tới những điểm ngoài giới hạn, vươn tới siêu nhiên. Sự chú ý là chú ý đến cái toàn thể, và cái toàn thể mang chúng ta trở lại với ngây thơ, sự trong sạch, không vụ lợi. Ý nghĩa không phải là thông điệp và vượt ra ngoài ý định chủ quan của tác giả. Trần Nhuận Minh viết dàn trải, các bài thơ dài, các trường ca và tiểu thuyết chứng tỏ điều ấy, tuy thế anh vẫn tiết kiệm chữ, rút ngắn câu thơ, mài dũa hình ảnh, tối thiểu hóa, để đạt đến tác dụng lớn của ngôn ngữ. Trong trường ca và các bài thơ dài, ngôn ngữ của anh di chuyển mau lẹ như nước chảy, tiến độ nhanh, nhưng không gây cảm giác gấp gáp vội vàng, nhờ khả năng xem xét sự vật tỉ mỉ, cách ngẫm nghĩ, lề lối suy nghĩ của người giàu kinh nghiệm sống, nhiều quan sát, thích mô tả, không phải của người nặng về lý thuyết, lý luận. Bài thơ anh viết về Nguyễn Du:


Đến đâu con cũng gặp Người
Xin dâng chén rượu giữa trời Trung Hoa
Hạc Vàng một bóng lầu xa
Hồ Nam úa nắng chiều tà hanh heo
Tiệc to thường ở nơi nghèo
Đồng ngô khô xác, mái lều gió lay
Người xưa đi sứ qua đây
Bùn lưng bụng ngựa, sông đầy thuyền trôi
Cỏ cây, thành lũy khác rồi
Hoàng Hà đã cạn, thơ Người vẫn sâu
Thời nào thì cũng như nhau
Nõi buồn ly biệt, nỗi đau dối lừa
Tiền Đường sầm sập đêm mưa
Nước âm u chảy như chưa vớt Kiều


Có những bài thơ đọc xong, bạn suy nghĩ khác đi, nhìn thấy khuôn mặt  tác giả khác đi. Chúng ta nói về giao cảm, sự chuyển hóa. Khi bạn tìm cách đọc lại một bài thơ đã đọc một lần, cuốn tiểu thuyết mà bạn đặt xuống hai mươi năm về trước, khi ấy, bạn trở lại với chúng như một người đã thay đổi, và tìm đến chúng để được thay đổi một lần nữa. Đó là loại thơ giữ được vần điệu cổ điển mà vẫn có nhiều ngẫu hứng, bất ngờ, các ý tưởng được phát biểu tự nhiên, một số hình ảnh gần siêu thực, một ngôn ngữ tuy không tối tăm nhưng không phải bao giờ cũng dễ hiểu.


Và tôi nhận ra, trên cõi đời này, chẳng có cái gì
                                                                             cao hơn Sự Thật


Còn bao nhiêu thời gian để tôi nhớ em, ngay cả khi
                                             em ngồi dửng dưng trước mặt


Sự thật gắn liền với thái độ đối với nó, tức là sự trung thực. Sự trung thực xảy ra theo hai hướng: với người khác và với mình. Chúng ta không hoàn toàn tự biết về chúng ta, con người bộc lộ mình trước người khác. Mặt khác, con người cũng tập nhìn vào tấm gương của mình, đời sống nội tâm. Sự trung thực cần tới hành vi, tức là đi kèm hệ lụy. Trung thực với chính mình là khả năng cao nhất trong nhận thức những vấn nạn của con người; thay vì chối bỏ chúng.


Này đây, dòng máu tôi trong suốt chảy ngoằn ngoèo

                                 từ ghềnh đá suối Côn Sơn hoang lạnh tơi bời

Khách khứa hai ngàn núi xanh

Này đây, quả tim tôi treo ở ngoài lồng ngực

Số phận chúng sinh làm nó tự

                                             “ binh bong” 


Trong trường ca, đặc biệt "Bản Xô nát hoang dã", "Nhà thơ và hoa cỏ", tính chất tâm linh trong thơ Trần Nhuận Minh rất rõ. Đó là một loại thơ trí tuệ. Tác giả thường nhắc đến "Đấng Mê Tơi" của anh (2). Thế giới được mô tả trong các trường ca ấy là một thế giới thay đổi từng ngày, không ổn định, nhiều âm mưu và bội bạc, nhiều mất mát và cứu chuộc. Bên cạnh một ngôn ngữ vẫn còn giữ nét hiện thực, các hình ảnh của thơ anh mang lại không khí huyền thoại, thấp thoáng bóng tối bí ẩn, chúng được tìm thấy ở vùng ranh giới của tồn tại.


Tay ta chạm màu mây xà cừ bay lang thang

Những thú rừng khổng lồ sổng từ thuở       
                                                       hồng hoang
Lũ lượt đến bên ta rỡn đùa phô sắc lạ
Cây cổ sống mấy ngàn năm trên đá
Chỉ cao bằng đầu gối của ta thôi

Cứ tự nhiên mà vượt hết mọi thời
Dửng dưng với đói rét đau thương
                                            vương triều đổ nát
Dửng dưng với cõi người quẩn quanh nhợt nhạt
Dửng dưng với trăng sao giả dối tầm thường

Trước thuyền ta, đá nổi như mây huyền ảo
                                                          trong sương 


Anh viết về vịnh Hạ Long. Thời gian liên kết chúng ta. Thời gian xác lập vị trí của chúng ta, định nghĩa chúng ta. Con người chống lại cái chết, sự tiêu hủy, chống lại sự tạm bợ nơi trần thế. Thơ ca ao ước thay cho con người. Chúng ta ao ước điều gì? Hạnh phúc vĩnh viễn. Hay sự tái sinh của hạnh phúc ấy, sau cái chết, một nơi nào khác. Thời gian là một trong những chủ đề quan trọng của thơ trữ tình - tâm linh Trần Nhuận Minh: sự cháy bỏng của tình yêu, khao khát của thân xác và tâm hồn, sự phản bội hay hủy hoại của thời gian. Thời gian là cái chết, sự biến mất, kẻ thù của lời hứa hẹn. Nhưng thời gian cũng làm dịu vết thương: chẳng phải là phép ngắt câu, cách xuống dòng, các dấu phẩy dấu chấm, sự dừng lại giữa chừng một câu văn phạm, những quãng im lặng như trong âm nhạc, chính chúng là những liệu pháp mà thời gian mang tới cho người đọc đó sao?


Cái khoảng cách cuối cùng này

Xuyên qua đời tôi như một cây xương rồng gai

Cơ thể tôi cảm biết sâu sắc

Tất cả sự chà xát của nó…

Cái khoảng cách cuối cùng này

Xuyên qua đời tôi 

                   như một tia chớp giật

Tôi nhận ra mình hoàn toàn trong sạch…


Cuộc đời có thể tuyệt vọng nhưng thơ ca không tuyệt vọng. Giọng điệu trong thơ anh ngày một dịu dàng và, đôi khi, buồn bã hơn. Mặc dù vẫn có những lỗi nhịp, anh ngày càng hướng tới một ngôn ngữ trầm mặc, gợi ý, thanh thản. 


Tôi sẽ đầu thai làm ánh trăng chiều

Để cùng bay với cánh buồm nâu


Nhưng Trần Nhuận Minh không phải là người chủ trương phá vỡ và triệt để cách tân ngôn ngữ. Giai đoạn đầu, chữ của anh chất phác, giai đoạn sau, tài hoa hơn, đẹp hơn, nhưng vẫn nghiêng về cổ điển. Anh yêu thích việc gọi tên sự vật cụ thể, tên người, tên đất. Đề tài thay đổi theo từng thời kỳ, nhưng thường là nhân vật có thật, hoàn cảnh có thật. Với các số phận. Đôi khi bạn có cảm giác đứng bên rìa mép, bất lực, nhưng đôi khi thấy mình ở trung tâm của bão táp. Anh hay nhấn mạnh đến bước ngoặt "đổi mới" những năm tám mươi thế kỷ trước và cho rằng quá trình đổi mới làm thay đổi thơ anh. Nhiều người viết trong nước cũng nói đến điều ấy, nhưng anh nói đến nó thường xuyên, nhấn mạnh. Càng đi xa, anh càng phải giải thích trước hết với chính mình. Tôi cho rằng việc đổi mới chỉ giải thích bề mặt một hiện tượng sâu hơn, cũng như cảm hứng trong sáng tác chỉ đến với người đã chuẩn bị, "đổi mới" chỉ thực sự có tác động mạnh ở người sẵn sàng cho nó. Trần Nhuận Minh là một người như thế, lùi sâu vào góc khuất và chờ đợi, giữa những tiếng thơ ồn ào. Đôi khi giọng anh mộc mạc kiểu văn nói:


Chớ dại mà can chú

Chú nhất cả huyện rồi

Giặc nào chú cũng thắng

Có thua thua ông trời


Thơ Trần Nhuận Minh có nhiều lúc như thế, đang bay cao vút lên bỗng rơi xuống, đang sắc bén, có thể gây sát thương, bỗng trở nên hiền lành, chất phác, chân thật. Chân thật khác với sự thật. Nó thường đẻ ra thơ dở. Nhưng vẫn có ngoại lệ. 


Bây giờ mặt người cũng lẫn
Bạn thù chẳng nhớ những ai
Cúc quần đôi khi không đóng
Cái trong thì để ra ngoài


Đó là khi cái chân thật biến thành tự trào. 

Thơ Trần Nhuận Minh không nổi loạn, nhưng tôi tin con đường làm mới của anh không êm ái, và những chông gai ấy chỉ có anh biết. Anh không quan tâm nhiều đến việc cách tân hình thức, có lẽ vì anh bận tâm hơn đến những vấn đề căn bản khác, xung đột, bi kịch, ý thức lịch sử. Thơ không chua cay mà triết lí thâm trầm, dễ chấp nhận. Có thể gọi đó là sự giảng hòa trong văn chương, không sắp đặt trước, có tính vô thức, phong cách cá nhân. Có lẽ anh tin vào tính phổ biến của các trường hợp đặc biệt, tin vào việc có một hệ thống chuẩn tắc để noi theo, tin rằng có một xã hội tốt đẹp hơn mà chúng ta hướng tới. Mặc dù sẽ có người không chia sẻ cái nhìn của anh đối với xã hội hôm nay, không chia sẻ một số quan điểm về các nhân vật trong thơ, tôi tin rằng, cũng sẽ có nhiều người đồng ý với anh về câu hỏi mà thơ anh đặt ra: thơ dùng để làm gì, có ích cho ai, tự do của nhà thơ là gì, tài năng ở đâu. Trong một số lượng lớn tác phẩm, một rừng nhân vật và tình tiết, giọng nói của Trần Nhuận Minh vừa như nhà thơ trữ tình vừa như người kể chuyện. Trong trường ca và thơ dài, anh còn như một nhà tiểu thuyết. Tiểu thuyết là các xung đột. Sự biến đổi, sự đảo lộn giá trị là những động lực của tiểu thuyết. 


Khi vương triều không còn hợp lòng dân

Thì thành đá cũng chỉ là bùn nhão

Ngai vàng đổ trong mùa không mưa bão

Mặt xâm lăng lố nhố khắp kinh thành


Đọc thơ Trần Nhuận Minh cần đọc kỹ văn bản trên nền các tham  chiếu. Đó là sự kết hợp cả hai: các điển tích, môi trường văn hoá, môi trường chính trị, hoàn cảnh cá nhân của tác giả, và tinh thần liên văn bản bắt đầu từ Julia Kristeva. Từ những năm chín mươi thế kỷ trước, mặc dù vẫn trung thành với các nguyên tắc chính yếu của phương pháp hiện thực, anh bắt đầu sử dụng phóng túng hơn hình ảnh và ngôn ngữ của mình. Anh tin rằng thơ ca bắt nguồn từ đời sống thực tế, thế giới vật thể, từ kiến thức, ký ức, các giai thoại. Ngôn ngữ ấy được mang tới bởi nắng gió, biển khơi, sóng biếc, bão tố, mồ hôi, máu, bụi bặm đường phố, hoa cỏ. Như tình yêu quê hương:


Nhà lá ba gian 

Kẽo kẹt tiếng võng

Ao hồ mờ mịt khói sương


Chúng ta không những có một cuộc đời trong thế giới thực tiễn, mà chúng ta còn có một cuộc đời khác, của tâm hồn với những hy vọng nhiều khi khó nhận ra. Thơ Trần Nhuận Minh nói về các khuôn mặt khác nhau của một người, các số phận khác nhau của một xã hội, nhưng bao giờ cũng kêu gọi sự thật và tình yêu. Khuôn mặt khác của sự thật là khả năng nhìn nhận, phê phán, khuôn mặt khác của tình yêu là bao dung, là điên cuồng và kiên nhẫn.


Thời nào thì cũng như nhau
Nỗi buồn ly biệt, nỗi đau dối lừa
Tiền Đường sầm sập đêm mưa
Nước âm u chảy như chưa vớt Kiều 


Thơ vừa là bài hát vừa là câu chuyện. Sự phối hợp có phần mâu thuẫn ấy, giữa một bên là phân tích sắc bén và một bên là tình yêu mơ mộng có phần hoang dại, giữa một bên là triết học và một bên là triết lý dân gian, sự phối hợp ấy làm cho thơ anh xuyên qua được giữa tự sự và trữ tình, giữa chính trị và tình yêu. Ít có bài thơ nào của anh thuần túy trong một lĩnh vực. 


Trái vàng cho em chẳng chín

Thì thôi xanh đến bạc đầu


Đó là giọng vang lên từ nhu cầu nội tại, chỉ nói điều cần nói. Ngay cả trong tình yêu cũng tỏ ra không quá sức buông thả, và những bài học lẩn khuất đâu đó giữa các câu thơ, chúng vừa làm tôn giá trị các câu ấy lên vừa làm hại chúng. Anh thiếu một ngôn ngữ trừu tượng có tính thể nghiệm, vượt ra ngoài nỗi ám ảnh về quan hệ với tha nhân. Thơ Trần Nhuận Minh không đều, giữa nhiều bài xuất sắc có những bài gần như ca dao, giữa những câu thơ tài hoa làm cho những nhà thơ tài năng nhất cũng phải ngẩn ngơ, là những bài thơ minh họa cho ý tưởng, những bài học luân lý vui vui, ngôn ngữ chất phác. Thơ chất phác thường có nhiều xúc cảm, gạt ra ngoài những yếu tố khác có thể làm ảnh hưởng đến chiều hướng xúc cảm của tác giả hay nhân vật. Ngược lại, thơ hài hước, châm biếm loại bỏ các yếu tố xúc cảm, vì vậy hàm chứa sự diễn dịch nhiều chiều. Hai loại thơ này thường không đi đôi với nhau, nhưng ở Trần Nhuận Minh chúng đều xuất hiện không những theo thứ tự trước và sau, lúc trẻ và lúc trưởng thành, mà có thể trong cùng một thời gian. Đó là điểm đặc biệt của Trần Nhuận Minh, xét về tâm lý học sáng tạo. 


Non sông dù đã thay

Mặt người thì vẫn cũ


Anh muốn nói gì trong mấy câu giản dị kín đáo này? Non sông nào? Mặt người nào? Sự ngẫm nghĩ và ý thức trở lại với lịch sử trở nên mãnh liệt khi một tác giả đến gần với cái chết của lịch sử ấy, trước sự đau khổ của nó, trước lụi tàn. Chính vì vậy mà, tôi nghĩ,  không có xúc động thì không có sự thật.  Nếu có một ngày bạn trở về, đứng trên nền nhà cũ hoang phế, ngửi mùi chanh, mùi ổi chín trong đêm, bạn sẽ hình dung ánh sáng của sự thật, hồi quang của giấc mơ, và bạn bỗng tìm thấy gốc rễ của mình.


Đi trắng tóc chưa qua miền thơ dại

Yên làm sao?

                 Thăm thẳm gió thu ơi!


Một bài thơ thành công di chuyển từ phía đã biết tới bến bờ chưa biết. Thực ra hỗn loạn bao giờ cũng là tiền đề của sáng tạo, như khi vũ trụ khởi đầu trước lúc đi vào trật tự. Một bài thơ có thể mang chứa nhiều câu chuyện, một câu chuyện có thể được kể bởi những người khác nhau, với kết thúc khác nhau. Ý định của tác giả, niềm hy vọng của nhà thơ đối với sự bất hạnh của tình yêu hay bi kịch của đời cũng mơ hồ, không ổn định, biến đổi. Hiểu biết và không hiểu biết, sáng sủa rõ ràng và mờ ảo bí mật, lý tưởng tốt đẹp và hành vi đen tối, những mối quan hệ ấy phải tìm được tiếng nói của chúng trong một bài thơ thế sự. Có một chất suy tư, nửa minh triết nửa như bất phục tùng, chảy sâu bên dưới ngôn ngữ Trần Nhuận Minh. Thơ ca đối với anh vừa là biểu hiện của nỗi lòng, vừa là phép chữa lành những vết thương âm ỉ, những vết thương chung mà anh tự mang lấy cho mình như những vết thương riêng.

 

Bây giờ thì chán cả mùa xuân
Những cơn mưa dầm dề sốt ruột
Mây chẳng ra mây âm âm màu lông chuột
Mùa hè ơi xin hãy đến mau!


Tâm trạng. Con đường thơ Trần Nhuận Minh vốn sinh ra từ sự thay đổi nhận thức. Những vô hình, hữu hạn của kiếp người, ý nghĩa và vô nghĩa của tồn tại ám ảnh anh. Đó là một trường hợp ít gặp, giữa các nhà thơ cùng thời, cùng hoàn cảnh. Thời kỳ đầu anh chân phương, càng về sau càng hư ảo.


Nhưng hàng triệu ngọn nến
Chỉ làm cho bóng tối co lại và bền vững hơn

Bóng tối hùng vĩ và bạo liệt
Tồn tại hiển nhiên
Đầy những bất ngờ
Đừng quên
Từ thủa mở trời
Trái đất đã quay nửa mình trong bóng tối
Và
Lịch sử
Cũng sinh ra từ bóng tối... 


Sự liên kết giữa ngôn ngữ và niềm tin, dù đó là niềm tin vào các đấng cứu chuộc, hay vào một thượng đế, hay vào một "Đấng Mê Tơi", sự liên kết ấy bao giờ cũng phức tạp.


Ta tự tạo ra Trời và Đạo Trời để giữ gìn ta

                                                  giữa đời thường cám dỗ

Rồi lại tự lừa đảo ta trong cả cõi linh hồn

Xòe hết ngàn cánh tay, chẳng chạm vào bát ngát

Ta rùng mình rơi trong muôn thẳm cô đơn


Có thể chủ đề của một bài thơ của anh không có tính luân lý hay triết học, nhưng các chất liệu nghệ thuật tạo ra bài thơ ấy có sức gợi mở, liên kết về các quan tâm xã hội hoặc siêu hình. Bất kỳ một tác phẩm văn chương nào cũng là sự chọn lựa không những về mặt thẩm mỹ mà cả về mặt luân lý của tác giả. Nhưng trong khi thơ thế sự đặt ra những câu hỏi cho những đối tượng có thể và cần phải lên tiếng, thì thơ trữ tình đặt ra những câu hỏi cho những đối tượng không thể trả lời. 


Thuở bé ta nằm dưới rừng sao dát bạc

Mơ con thuyền trăng vắt vẻo chở ta đi

Vượt hiểm nguy có khi nhờ Mộng Ảo


Thơ ấy là chuyển hóa, vì nghệ thuật đối với Trần Nhuận Minh là phương pháp tự cứu rỗi. Từ vị trí khá khó khăn trong thời buổi này, anh nhìn thấy điều mà người khác khó nhìn thấy, hay thấy nhưng không thể nói. Lương tri của một người bắt đầu từ bao giờ? Nhiều nhà phân tâm học cho rằng, nó bắt đầu lúc bạn nhận ra sự dối trá lần đầu, không phải từ người lạ, mà từ người thân yêu hay thần tượng của bạn, nói thế có nghĩa là, lương tri là sự chống lại giả dối. Trong một xã hội mà dối trá dày đặc, người có lương tri sống thế nào? 

Sống một cách đau buồn. 


Bạn ơi, nếu bạn có gì buồn đau
Hãy trút vào gồng gánh của tôi

Tôi gồng hết gánh này rồi gánh khác
Như thuế nộp vào kho
Những buồn đau là thuế của kiếp người


Thơ Trần Nhuận Minh dung chứa sự phức tạp của cá nhân và lịch sử, sự ám ảnh của các số phận, bao gồm hy vọng và phản bội, lòng tốt và tội ác. Đó là tiếng nói của một phần của nhân dân, nhưng đôi khi hơn thế, có thể đi xuyên qua biên giới ngăn cách người Việt và người Việt. Và hơn thế, đi xuyên qua ngăn cách giữa hiện tại và thời gian, và trong một vài góc mở kỳ ảo, giữa tồn tại và sau tồn tại. Không phải bao giờ thơ anh cũng được vậy, tất nhiên, và mặc dù anh ở trong số các nhà thơ mà tác phẩm là tập hợp những cái hay và cái dở bất thần, giọng nói của anh, các hình ảnh, nghệ thuật tu từ, không ngớt vang lên như một sợi dây, xâu chuỗi những khúc đường tối sáng quanh co của một hoặc vài thế hệ. 


Em đi khăn ấm che ngang mặt
Nào biết em xinh đến thế nào


Là anh nói về mùa xuân. Tính mờ ảo che lấp tính trong sáng, hay ngược lại? Thơ anh ít bí ẩn, nhưng khi bí ẩn chiến thắng, thì anh có một loại thơ lạ. Sức sống của cuộc đời thật, mùi đất cày vỡ dưới chân, tiếng nổ hầm than ở quanh, bụi bặm đường phố bao bọc anh, khiến cho người đọc không cần phải tưởng tượng nhiều khi vẽ ra các chân dung. Bài thơ của anh mời gọi tham dự, giàu có hiện tại, đầy rẫy xây dựng và phá hủy, người tử tế với người và người dẫm đạp lên người, trong một xã hội lúc nào cũng tự nhận là hướng về thiên đường. Trong ý nghĩa này, thơ Trần Nhuận Minh là thơ cảnh báo, thức tỉnh. Anh như người du ca trên đường, không muốn làm phiền ai mà vẫn có thể làm phiền nhiều người. Ngôn ngữ ấy thách thức các ranh giới giữa tả và hữu, đúng và sai, giữa chính thống và phi chính thống, Nam và Bắc, quá khứ và tương lai. Ngày nào người đọc thơ có thể chia sẻ lòng tin và bất hạnh của mình cho người khác, chia sẻ sự hiểu biết, trong khi vẫn giữ vững tình yêu đối với cuộc đời, người ta sẽ còn tìm đọc thơ anh.


nhưng trong tim chúng ta cuồng nhiệt vẫn y nguyên

trong đêm tân hôn anh lại một phen

chảy nước mắt

nghẹn ngào

vì em cao giọng đọc đồi gió hú


Sự cuồng nhiệt nào, hướng về điều gì? Nhớ lại là làm sống lại quá khứ. Nhớ là hành động sống. Nhớ một người là giữ cho người ấy sống lâu dài trong chúng ta, và do đó trong thời gian. Một người bị quên đi là một người đã chết. Nói cho cùng, tất cả thành công của bạn, danh tiếng, lòng tốt của bạn, những hy sinh của bạn, được đo lường bằng ký ức của người khác sau khi bạn đã ra đi. Ký ức tập thể và ký ức đối với lịch sử còn lớn hơn ký ức cá nhân. Nếu chúng ta rời bỏ quá khứ hoàn toàn, nếu chúng ta chỉ chọn lựa để biết một phần của quá khứ, nếu chúng ta chỉ chọn để thừa nhận một khuôn mặt trong nhiều khuôn mặt của lịch sử, tức là chúng ta không sống trọn vẹn kỳ vọng của đời mình. 

Tìm thấy một cách dễ dàng các bi kịch cá nhân là điểm mạnh của Trần Nhuận Minh, nhưng mau chóng đi tìm lối thoát, kết cục tốt đẹp, sự hòa giải, những kết luận công lý tạm thời, thực ra không phải là sở trường của văn chương. Thơ ngày nay chuyển động theo hai hướng cực đoan: các nhà thơ nổi loạn, gần như không có mục đích, và những người xoay quanh các nghi thức truyền thống, ngày càng mê tín. Giữa hai khuynh hướng ấy, Trần Nhuận Minh vận động như một người tìm cách chống lại hoàn cảnh riêng, tìm kiếm không ngừng tiếng nói thích hợp. Thơ anh vì thế là một loại thơ hướng tới thay đổi, hướng tới đám đông, và trong nhiều trường hợp là một loại thơ trình diễn, có thể diễn đọc trên sân khấu. Anh nói về người khác trước khi nói về mình. Tính biểu tượng trong thơ Trần Nhuận Minh, chuỗi đa nghĩa của nó, làm hứng khởi người đọc, làm say đắm những kẻ còn quan tâm đến người khác. Tính dân tộc và tính dân gian giao hòa, ngôn ngữ giản dị, hơi chất phác nhưng hàm súc, nhạc điệu dịu dàng nhưng lôi cuốn, chúng làm lan tỏa sự thật mà anh phát hiện như một người đi tới trước, có thể làm kinh ngạc nhiều người. Người ấy tới trước nhờ vào quá trình nhận thức và nhờ vào tình yêu gần như nhẫn nhục, hay đôi khi, gần như can đảm, phát hiện và làm lan tỏa mau lẹ sự thật, và đến lượt nó, sự thật ấy chiếm lấy tâm hồn bạn, thuyết phục và lặng lẽ thay đổi bạn.


Nguyễn Đức Tùng 


Gần Tết nguyên đán 2018


(Trong loạt bài Đọc Thơ, bài 12)


ductungducnguyen@gmail.com

bachnguyen@shaw.ca


Chú thích:


(1) Lời trong kinh Phật.


(2) Đặng Văn Sinh: http://vanchuongplusvn.blogspot.ca/2012/04/oc-ban-sonate-hoang-da-cua-tran-nhuan.html. 

Có thể xem thêm: Thái Doãn Hiểu, Gánh bao nỗi người, báo Văn nghệ, số 28, thứ Bảy, 12. 7. 2008.




READ MORE - TRẦN NHUẬN MINH, LỊCH SỬ VÀ SỐ PHẬN - Nguyễn Đức Tùng

“DOANH NGHIỆP VỚI THỊ TRƯỜNG” - MỘT CUỐN SÁCH ĐÁNG ĐỌC! - Giáp Kiều Hưng

 

Tác giả Giáp Kiều Hưng

“DOANH NGHIỆP VỚI THỊ TRƯỜNG”

- MỘT CUỐN SÁCH ĐÁNG ĐỌC!

 

*

 

Để tìm một cuốn sách về kinh nghiệm làm giàu thật hay thực sự không phải là một điều dễ dàng, mặc dù trong tủ trưng bày ở các nhà sách loại sách này chất cả đống với những cái tên đầy “kích thích”. Nhưng, ở đây, chúng tôi muốn giới thiệu một cuốn sách mà theo cảm nhận của chúng tôi, mỗi một dòng, một chữ đều bật ra trong tâm huyết, từ máu thịt của người viết như những lời “tâm sự” “gan ruột”.

 

Cuốn sách bao gồm hai phần. Phần thứ nhất, tác giả hệ thống cho bạn đọc những kiến thức rất cơ bản của một nhà kinh doanh về thị trường. Đối với những ai đã từng qua các “cua” đào tạo về quản lý kinh tế hay đã từng đeo “mác” sinh viên các trường kinh tế thì những kiến thức như thế này không phải là điều mới mẻ. Tuy nhiên để nghĩ cho sâu, hiểu cho kỹ thì không phải ai cũng làm được vì sự phong phú của thị trường. Chính người viết cũng rất khiêm tốn khi viết: “Người viết không có tham vọng trình bầy hết những vấn đề của thị trường hoặc liên quan đến thị trường bởi tính muôn màu muôn vẻ của thị trường, bởi tính biến đổi (nhu cầu và thị hiếu) không ngừng của thị trường”. Ở đây, tác giả “xoáy” váo ba vấn đề chính:

 

- Tìm hiểu thị trường 

- Chiếm lĩnh thị trường 

- Các chiến thuật chiếm lĩnh thị trường

 

Đây là những nguyên tắc, những điều nên làm và thật cần đối với các doanh nghiệp. Cái “được” mà tác giả xây dựng được trong phần này của cuốn sách là đã “mềm hoá” được những kiến thức kinh tế vốn không mấy “dễ tiêu” đối với người đọc. Vì lẽ đó mà nhiều bạn đọc đánh giá sách của Đặng Xuân Xuyến không nặng về lý thuyết. Nhưng theo chúng tôi, có lẽ đó là cảm nhận của cả hai phần vì ở phần thứ hai của cuốn sách có rất nhiều lời khuyên hữu ích đối với các doanh nhân trẻ mà những lời khuyên này xuất phát từ những điều tâm huyết của người viết khi chiêm nghiệm cuộc sống, chiêm nghiệm quá trình kinh doanh của bản thân cũng như của những doanh nghiệp thành đạt trên thương trường. Điều đáng ghi nhận là Đặng Xuân Xuyến đã không truyền đạt những lời khuyên ấy theo lối “dội” từ trên xuống mà lời lẽ rất chân tình, giản dị nhưng không kém phần mãnh liệt, thổi vào người đọc một luồng cảm hứng cháy bỏng về khát vọng làm giàu. Hãy nghe: “Tôi thành thật mong bạn đừng bao giờ chấp nhận cuộc sống an phận thủ thường, đừng bao giờ bằng lòng với những gì đã có vì cái chất người như vậy không bao giờ giúp bạn trở thành ông chủ được đâu” (Khát vọng làm giàu). Và “hãy mạnh dạn xắn tay áo lên mà miệt mài công việc! Hãy trau dồi kiến thức và mở rộng các mối quan hệ tốt đẹp trong xã hội!” (Thời cơ). Đọc những dòng này, người đọc sẽ rất có cảm tình về khát vọng làm giàu, khát vọng xây dựng cuộc sống, sự nghiệp của chính bản thân người viết. Không trăn trở, không “đau đớn” về cái khát vọng làm giàu của mình thì Đặng Xuân Xuyến không thể bật lên khẩu hiệu đầy lôi cuốn như thế. Cứ cho rằng bạn là người bàng quan với của cải, vật chất nhưng tôi tin bạn là người trọng danh dự và bạn sẽ cảm thấy mình bị thua kém khi đứng cạnh những người bạn thành công trong kinh doanh. Và khi ấy bạn có chắc chắn rằng mình sẽ không có một chút tị hiềm nào trong lòng? Ở đây, Đặng Xuân Xuyến khuyên chúng ta rằng: “đừng nhìn vào cách tiêu tiền của họ mà hãy nhìn vào cách kiếm tiền của họ”. Nhìn để mà học, mà học thì chắc chắn để làm việc rồi. Có nghĩa, bạn phải là con người của hành động!

 

Với 10 đề mục trong phần hai của cuốn sách, bên cạnh việc thôi thúc, kích thích khát vọng làm giàu của bạn, Đặng Xuân Xuyến còn truyền đạt rất nhiều những kinh nghiệm trong thực tiễn kinh doanh. Điều này thể hiện chủ yếu ở ba đề mục:

 

- Chính sách dùng người. 

- Đánh giá khách hàng. 

- Giao dịch - tiền đề của thành công.

 

Tất nhiên, tác giả không quên nhắc đến “kẽ hổng trong quản lý vốn” – một trong những tiền đề cơ bản khiến cho doanh nghiệp… phá sản! Đọc những mục này, tất cả những chiêu thức quan trọng của các nhà lãnh đạo trong việc quản lý nhân sự, đánh giá khách hàng và giao dịch với đối tác, tác giả đã phân tích từng chi tiết nhỏ giúp cho người đọc dễ hình dung ra “chiến trường” của mình hơn. Ở đây, tác giả đã giúp đọc giả làm công việc gian khổ, khó khăn nhưng cũng thú vị nhất đó là hiểu rõ cả “địch” và “ta”. Bạn có thể hiểu mình nhưng bạn đâu biết hết được tâm lý của mọi đối tác. Không phải là quá khen nhưng công lao nghiên cứu của tác giả trong lĩnh vực tâm lý kinh doanh quả là không thể phủ nhận. Tất nhiên, khi đã khẳng định được danh tiếng của bạn thì không thể không tính chuyện khuếch trương danh tiếng ấy lên và Đặng Xuân Xuyến cũng không quên gởi đến độc giả những kiến thức trong vấn đề quảng cáo rất cần thiết cho các doanh nghiệp trong thực tiễn.

 

Bên cạnh phần chính của cuốn sách, hai phụ bản là “Vài lời về bốn tể tướng đại tài trong lịch sử Trung Quốc” và “Đôi điều về bốn danh tướng vang bóng một thời trong lịch sử Trung Hoa” của cùng tác giả Đặng Xuân Xuyến là một món quà khá thú vị. Đây có lẽ chính là điểm nhấn để chúng ta tin sự uyên thâm của Đặng Xuân Xuyến là… Đặng Xuân Xuyến.

 

Bạn có thể không tâm đắc với những điều mà cuốn sách này đặt ra, thậm chí bạn còn hiểu ngược lại vì mỗi người có một quan điểm riêng, thủ pháp riêng trong kinh doanh. Chính tác giả cuốn sách này cũng chỉ khiêm tốn mong muốn: “Cuốn sách sẽ giúp bạn có một khái niệm cụ thể về thị trường và doanh nghiệp; có thể bạn là người đang chuẩn bị bước vào công cuộc kinh doanh thì Doanh nghiệp với thị trường sẽ làm tốt khâu “chuẩn bị” nắm bắt được một số nguyên lý cơ bản để an tâm bước vào nghiệp chủ; còn nếu bạn đã là một doanh nghiệp thực thụ và tài ba thì với hai trăm trang sách này, chí ít sẽ trút bỏ được một số sai lầm đáng tiếc sẽ xảy ra trong cuộc đời kinh doanh của bạn”. Vâng! Tư tưởng đặt ra rất lớn cho tác phẩm - tư tưởng ấy là dành cho bạn đọc - nhưng mong muốn của tác giả thì lại giản đơn như vậy.

 

Dẫu sao, sau khi đọc xong hai trăm trang sách của Đặng Xuân Xuyến, tôi biết mình đã phần nào chịu ảnh hưởng tư tưởng của anh chàng quá nhiều tham vọng này.

 

Chẳng biết sự ảnh hưởng ấy có… hại không?

 

*.

 

Hà nội, ngày 15 tháng 10 năm 1999. 

GIÁP KIỀU HƯNG 

Ảnh tác giả Giáp Kiều Hưng


READ MORE - “DOANH NGHIỆP VỚI THỊ TRƯỜNG” - MỘT CUỐN SÁCH ĐÁNG ĐỌC! - Giáp Kiều Hưng

Saturday, June 21, 2025

ĐUỔI TRĂNG LÊN ĐỒI - Thơ Huỳnh Liễu Ngạn

 


HUỲNH LIỄU NGẠN 

ĐUỔI TRĂNG LÊN ĐỒI

 

qua cầu đứng đợi ánh trăng

của hai nhánh tóc chia ngăn lối về

bên ni ngó sang bên tê

mà sương khói vẫn u mê dặm trường

 

những chiều nắng rải mùi hương

trôi theo ngọn lá sầu thương lên cành

đôi lòng cách một trời xanh

bóng em mờ ảo tan nhanh giữa dòng

 

lặng nhìn mặt nước uốn cong

qua xuân tới hạ long đong phượng hồng

đời như sầu rụng mênh mông

giữa trời huế mộng chiều giông mưa đầy

 

xa như vạn cổ nào hay

đã làm ướt hết hàng cây huế rồi

làm sao đuổi trăng lên đồi

cho hơi thở được đôi môi huế chờ

 

theo từng nhịp đập hoang sơ

lạnh vòng tay áo hững hờ em đi

chiều nay huế mộng mơ gì

để tình huế chạm xuân thì mà say

 

bên thềm mái tóc nhẹ bay

thấy em mở áo lùa mây vào lòng

gió làm hanh ngọn sầu đông

em qua không kịp huế trông cũng gầy

 

nhớ hoài bữa ấy đến nay

cứ xao xuyến từng ngón tay rẽ đường

thôi đừng hẹn nữa tơ vương

chỉ là giấc mộng hoang đường trần ai

 

bên hiên phượng nở một vài

bông hoa rơi xuống đem cài tim anh

tìm đâu màu tím long lanh

của đôi mắt huế vây quanh trường tiền.

 

17.3.2022 

HUỲNH LIỄU NGẠN

 hiephuynh479@gmail.com


Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo.

Từ nguồn: Kết nối Huế thương.

READ MORE - ĐUỔI TRĂNG LÊN ĐỒI - Thơ Huỳnh Liễu Ngạn

NẮNG QUÁI - Truyện ngắn Lê Yên

 


Lê Yên

NẮNG QUÁI

 

    Bà mười ngồi thừ người trên ghế dài sofa, nhìn ra phía trước hàng hiên, vạt nắng chiều nóng bức xuyên qua cổng rào, gay gắt, khó chịu. Nhà bà hướng mặt trời chiều nên phải chịu vậy. Hồi mua căn nhà này hai ông bà đã cãi nhau một trận ra trò, cuối cùng bà phải thua cái lý lẻ thực tế của ông “Bà đủ tiền mua căn nhà như ý không. Nhờ có cái nắng rọi thẳng vô nhà mới tới lượt bà mua đó.” Bây giờ thì bà đã thương lắm cái nắng chiều oi bức này rồi. Giữa Sài Gòn người đông đất chật, để có được một căn nhà đó là chuyện mà nhiều người mơ ước.

 

   Tới giờ đi đón cháu, bà dắt chiếc xe đạp điện ra cổng, không quên đem theo áo mưa, trời bắt đầu chuyển mùa, mưa đầu mùa dễ bệnh, đứa cháu gái nhỏ mới học lớp ba, cứ hay đau nên phải chăm kỷ. Bà giành với ông phần đón cháu, bà nhớ cháu. Trước khi khóa cổng bà không quên vói vào trong dặn dò:

    - Ông Mười ơi! Tui đi đón cháu đây.

    Buông tờ báo đọc dỡ, ông Mười nói vọng ra

    - Tui nghe rồi.

     Bóng lưng bà vừa khuất, ông đã lật đật với công việc lau nhà. Ông quét từng ngóc ngách cho sạch, sau đó pha nước lau nhà, bật quạt, rồi lau thật kỷ từng viên gạch. Một lát sáp nhỏ về, nhà cửa phải sạch sẽ, thơm tho mới được - Ông nhủ thầm trong bụng như thế! Bà đón cháu còn cà kê chán mới về, ông dư thời gian để làm.

 

   Căn nhà hồi mới mua một tầng cũ kỹ đã được ông lên tấm nữa, sửa sang làm mới nên nhìn sáng ra. Ông lau từ nhà dưới lên nhà trên muốn gãy cả lưng, công việc này ông giành làm, vì hai đứa con gái sao làm nỗi, bà lại càng không thể làm, còn thằng rể đã một ngày mệt mỏi với công việc, thôi thì ông làm cho xong.

 

   Trời tối sầm chuyển mưa, gió cuốn từng cơn, Sài Gòn thường có những trận mưa rào bất chợt, ông buông cây lau nhà chạy lên sân thượng, gom hết quần áo vào trong, nhìn ra còn hai cái mẹt đậu đen bà phơi, ông trút nó làm một không kịp coi lại cho kỷ. Ông chép miệng “Đàng nào chả vô nồi, lỡ rồi.” Mưa bắt đầu rớt hạt, mưa cho đất trời dịu bớt nóng. Ông kéo cửa giếng trời cẩn thận, xong tiếp tục lau cho xong tầng trệt. 

 

   Bên ngoài vẫn mưa như trút, cả tháng nay oi bức nên khi mưa được là như trút nước, ông lo lắng, không biết bà có đem theo áo mưa hay không? Gia đình ông vào Sài Gòn tính ra cũng gần hai chục năm, cảm giác như mới hôm qua, con gái lớn có gia đình, mua được nhà riêng, hiện đang cho thuê, con út ra trường đi làm rồi, vậy mà ông bà cứ đùm túm như sợ lạc mất con, ở chung trong một nhà ông mới yên tâm được. Ông chà cho chúng từng đôi dép, chăn màn ngày nào cũng đem ra phơi cho thơm mùi nắng, rồi giũ sạch, gấp cẩn thận đặt cuối giường. Ông nhớ cái nắng miền Trung, ông thương làn da đen sạm vất vả với cuộc sống của người dân chân chất trên vùng đất ấy, đó là quê nhà. Bây giờ ông đã thích nghi với thành phố, vậy mà bao thói quen ngày cơ cực như ăn vào máu, không thể bỏ được. Đang suy tư thì bà về tới. Ông lật đật chạy ra ẵm cháu vào trong, sờ hai bàn chân con bé lạnh ngắt, quay lại bà ông lên tiếng: 

 

     - Bà rửa chân đi, nhà tui mới lau đó. Nhanh làm vệ sinh cho cháu để cảm lạnh thì khổ.

     - Tui biết rồi. 

 

   Bà nhón chân đi né chỗ ông vừa lau mà tức anh ách. Cái bệnh sạch sẽ không ai chịu được, ngày nào cũng lau từ trên xuống dưới rồi rên đau lưng, rồi chê bà bày bừa. Hồi xưa ông đâu có cái tánh khó khăn vậy đâu, bây giờ nói được ba câu là kình nhau rồi. Bà cảm giác trong đầu ông chỉ có con cháu, bà làm gì cũng không vừa mắt, nghĩ tức thiệt chớ, mấy chục năm không chê, giờ chê trước, chê sau. Đưa tay bật công tắc điện bếp, bà chợt hỡi ôi!

 

    - Ông Mười! Sao ông cho tiêu với đậu đen vào chung, làm sao đây!

    Bà hét lên, khiến ông giật cả mình, chợt nhớ ra hai cái mẹt màu đen ông dồn làm một lúc trời mưa. “Thôi chết rồi, làm sao đây! Kiểu này bà hành tội ông phải mấy ngày”

     - Ông không thấy tôi phơi riêng hai thứ à. Mắt ông để đâu vậy.

     - Trời mưa, chạy không kịp, nên tôi nhầm. Bà để đó tôi nhặt ra cho.

     - Nhà ít việc quá nên ông còn bày việc để làm sao?

     - Đậu đen tôi tính rang để nấu nước uống, ông làm sao được thì làm.

 

      Giận lên bà nói hùng hổ vậy thôi, qua một đêm ngủ là hết. Nhìn bà ngồi nhặt từng hạt tiêu với cặp mắt kiếng trễ xuống, chốc lát lại vỗ vỗ vào lưng, ông thấy mình thật có lỗi. Ngày còn ở quê, ông đi làm, đồng lương cũng không đủ cho cả nhà, lại còn tham gia chuyện làng chuyện xã, nên không có mấy thời gian phụ việc nhà. Bà với cái tiệm may nhỏ, kèm bán tạp hóa, nửa đêm còn làm kem, yaourt chưa được nghỉ ngơi. Một trận đau liệt giường tưởng không qua khỏi, căn bệnh đau lưng của bà cũng từ đó. Phải bớt việc, cuộc sống gia đình khó khăn hơn, đành phải bỏ quê lên Sài Gòn. 

 

    Thời gian đầu thật sự khó khăn, nhờ cái tánh cần cù, chịu thương chịu khó, và may mắn. Cuộc sống ngày một dễ thở, còn dành dụm được tiền mua nhà và nuôi con ăn học. Nghĩ lại, phải cảm ơn thành phố người đông này thật nhiều, coi vậy mà dễ sống. Chỉ cần chịu làm, biết tiết kiệm là có dư.

       Đến bên cạnh bà, ông xuống giọng:

       - Bà đưa đây tui nhặt cho.

       - Thôi, không mượn, làm một hồi đau lưng, rồi rên rỉ thêm bực mình.

       - Để tui làm cho, bà nói lạ à, đau thì phải rên nó mới bớt chớ.

      Vừa nói ông vừa giằng lấy cái mẹt trên tay bà. Cái mẹt bung vành đổ tung tóe xuống sàn nhà, tiêu với đậu đen lẫn lộn trên nền gạch men màu sậm, uổng phí công bà ngồi nhặt cả buổi.

       -Ôi! Cái mẹt của tui.

      Cái mẹt ông đem từ quê vô đã bung vành, sứt chỉ mấy lần ông nẹp lại. Đã có lần ông giận dữ khi bà và con muốn bỏ. Ông thương cái mẹt như thương hình ảnh mẹ khi chiều xuống, trên khoảng sân rộng, rộn ràng với đàn gia súc, gia cầm về chuồng, nắng xuống chân ngày dát mỏng cánh ve, những cánh diều của trẻ con trong xóm no gió vút cao trên bầu trời bình yên. Mẹ đứng trước sân, gần chái bếp, sàng sảy gạo nếp còn lẫn một ít thóc trấu sót lại, để sáng mai cả nhà có một nồi xôi thơm lừng mùi nếp mới dẻo ngọt, no bụng trước khi anh em ông đi học, cha mẹ ra đồng... Vợ con ông không hiểu được… Ông cầm lấy cái mẹt, không nói thêm câu nào lầm lũi bỏ lên sân thượng. Bà lầu bầu trong miệng như sợ ông nghe thấy: “Hư rồi thì bỏ đi, có sống đời với nó được đâu.”

 

      Bà thở khì ngao ngán, vội lấy chổi quét gọn mớ đậu cho vào cái rổ nhựa để qua một bên. Nhìn vẻ mặt như mất của, xót xa từ ông, cơn giận trong bà biến mất. Đúng là cái số khổ, thời kỳ đói cơm thiếu áo qua rồi, ông vẫn cái nết cũ. Bà sắm cho mấy bộ đồ mới để đi ra với người ta, ông cứ treo miết trong tủ để dành đám tiệc, đi đâu cũng mặc bộ đồ cũ rồi khoác cái áo đại cán bên ngoài là xong. Ăn uống có miếng gì ngon cũng để dành cho con cho cháu, thức ăn còn lại qua hôm sau ông chế thành món thập cẩm là xong bữa.Con cái cứ nhắc chừng bà “mẹ chăm cho ba mập lên xíu”.

       Dọn dẹp đâu đó, bà đem rổ đậu ra nhặt tiếp, thở dài mệt mỏi với suy nghĩ “không biết chừng nào mới xong”. 

       Trời đã vào khuya, không khí nhẹ, ông đứng thẳng lưng vươn vai về phía trước, xa xa thành phố thật đẹp với những ánh đèn, ông thấy biết ơn cuộc sống hiện tại, biết ơn một Sài Gòn yêu thương đã cưu mang gia đình ông. Cái mẹt đã được ông nẹp lại chắc chắn. Tắt điện sân thượng, ông xuống nhà. Nhìn thấy bà đang ngủ gật trên sofa, trước mặt rổ đậu dang dở. Ông nhẹ nhàng lấy chiếc áo đại cán đắp ngang cho bà. Bưng hai cái rổ ngồi nhặt tẩn mẩn. “Sắp hết rồi, rán chút nữa” ông nhủ thầm.


     Bà lên mạng tìm xem có thứ gì cho ông uống để mập lên không? Bạn bè mách nước, bà mua sâm, mua sữa về ông quát lên:

      - Tôi khỏe, có bệnh đau gì mà bà làm thấy ớn, xài tiền hoang phí.

      - Ông coi lại ông đi, người như bộ xương biết đi, đợi lúc bệnh nằm xuống khổ vợ con chứ ai vào đây.

      - Tôi không mượn, bà mua thì bà uống đi.

      Bà đứng tròn mắt, há miệng, con giận bốc lên tới đầu, bà hét lên:

     - Ông vừa phải thôi! Chuyện gì cũng theo ý ông mới chịu. Tui trồng hoa trên sân thượng, ông kêu bỏ hết để ông trồng rau trái. Tui nấu cho ông tô hủ tíu, nói ông ăn cho nóng, ông lại đi ngâm cho nguội, ông còn dặn con có chuyến du lịch rẻ đừng nói tui biết, sợ tui đi tốn tiền. Ông chỉ muốn tui ở nhà chăm lo gia đình, tui chăm hết đời rồi ông còn chưa vừa ý. Bà vừa nói vừa thút thít tủi thân.

      - Bà coi tui có nói oan bà không? Từ ngày có cái điện thoại thông minh, bà nấu canh còn để khét, tối ngày facebook, chụp hình ảo.

      Ông chợt nín bặt, cảm giác mình đã chạm tới giới hạn khi nghe bà buồn hiu nói: 

     - Ông thấy tui tệ vậy thì trả tui về cho Cha- Má tui đi.

      Nói xong bà xách gói đồ mới mua đi thẳng lên lầu, để lại ông giữa âm vang không đẹp dội lại từ bốn bức tường phòng khách ngập tràn nắng quái.

 

      Ông vỗ vào cái miệng nói hớ, nghĩ thầm “Tuổi này còn đòi trả về cho Cha- Má” ông bà ngoại đã xấp xỉ chín mươi rồi. Từ ngày về với ông, dù cực khổ bao nhiêu chưa bao giờ bà than thở, hay muốn rời đi. Ông đã làm cho bà giận lắm, biết làm sao đây! Nghĩ lại, từ ngày lấy ông, bà chẳng màng đến bản thân, chỉ biết lo cho chồng con, gia đình nhà chồng lễ nghĩa, giỗ chạp, vì ông là con trai trưởng. Chẳng trâm cài lược giắt, cũng không quần là áo lượt, không có thời gian để soi gương nói gì tới chụp hình. Được mấy tấm hình cưới cũ kỹ bà coi như báu vật. Con gái mua cho cái điện thoại thông minh, bà chơi facebook kết nối bạn bè, thỉnh thoảng ngồi nhìn những tấm hình ảo cười tủm tỉm, chẳng qua cũng chỉ là vui thôi. Ông cảm thấy mình thật khắt khe, có lỗi. Bà đã phải hy sinh, chịu thiệt nhiều. Tuổi này rồi, ông nên tìm cơ hội cùng bà đi du lịch đó đây mới phải. 

 

      Ông thấy bà quần quật tối ngày, vừa thương vừa bực mình. Bây giờ có tuổi rồi làm gì cứ theo ý riêng, ông nói không nghe. Hết con rồi cháu, buổi sáng lo cơm cho gái lớn mang theo ra tiệm, rồi cơm treo sẵn trên xe cho gái nhỏ đi làm, đứa cháu lại khó ăn, nay món này mai món khác, thỉnh thoảng lại nấu cho thằng rề vài món cho đỡ nhớ nhà, ông thấy chóng cả mặt. Tối bà đã chuẩn bị, sáng dậy làm cơm sớm cho cả nhà, để còn đi thể dục với nhóm dưỡng sinh khu phố. Ông và con vô bếp không vừa ý bà, thế là bà ôm hết, đúng là số khổ. 

  

     Bà nằm quay mặt vô tường lặng yên. Buổi cơm chiều trước mặt con cháu bà làm như không có chuyện gì xảy ra. Thật ra trong lòng bà rất buồn. Người ta nói, già rồi đổi tính là như thế này sao? Hồi trẻ tâm đầu ý hợp, bây giờ già rồi trật nhịp, sai ý làm sao đây. Ông bà không buông được con cháu nên cực thân…Thật ra không phải vậy! Bà không thấy vất vả chút nào, bà cảm thấy con hy sinh tự do của mình, cho ông bà cơ hội sống trong bầu không khí ấm áp yêu thương của một gia đình. Con chỉ cần một nút nhấn là đóng tiền điện, nước được rồi, đâu cần bà phải chạy ra cửa hàng Viettel để đóng hàng tháng. Thực phẩm chỉ cần lên mạng người ta ship đến tận nhà, thuê giúp việc theo giờ là xong. Ông bà cực với con cháu, hay các con đang quan tâm ông bà từng ngày đây!?

 

      Ông ngồi xuống cạnh giường, vỗ nhẹ vào vai bà, ông biết bà chưa ngủ.

       - Bà ngủ chưa? Tôi nói với bà vài câu - Tôi đã sai rồi, tôi nói mà không nghĩ đến cảm nhận của bà, bà tha lỗi cho tôi nhé! Bà đừng giận nữa có hại cho sức khỏe, để tôi xoa lưng cho bà nhé!

 

      Nắng chiều cứ thế mà đổ hết cái nóng vào phòng khách nhà ông. Thế nhưng con bảo đổi nhà, ông lại lưu luyến không muốn rời ngôi nhà che mưa, che nắng, cho con ông từng ngày lớn lên, trưởng thành. Bao vất vả đã qua, ông bà bây giờ đã già, cũng lắm tật, nhiều điều không vừa ý nhau, thời gian đã khắc cốt ghi tâm, như vết nứt sần sùi trên tảng đá đi qua nắng mưa tạo hình, không thể xóa trong một thực thể tồn tại. Ngôi nhà của ông cũng có những nơi sứt mẻ, cũ xì, mòn đi, nhưng nó có linh hồn, mỗi thời khắc đi qua là một ký  ức đẹp, ấm áp của gia đình bên trong nó. Dẫu nắng quái có gay gắt vẫn đầy yêu thương như nắng mai trong suốt, ngọt lành./.


Sài Gòn 2024

Lê Yên

leyen01203028253@gmail.com


READ MORE - NẮNG QUÁI - Truyện ngắn Lê Yên

QUA KHUNG CỬA HẸP – Thơ Le Nguyen Thu



Le Nguyen Thu 

QUA KHUNG CỬA HẸP


Khung cửa hẹp khép những ngày mưa nhẹ
của bóng mây nên chiều ấy dở dang
ngỡ tiền kiếp em mắt môi mông mọng
mãi chiều nay còn rung động toàn thân

đêm thèm mưa đêm trở mình lạnh buốt
ta thèm yêu khao khát một vòng ngoan
và tầng cổ dậy thơm mùi con gái
dòng thời gian đang trôi nhẹ đâu đây

ngày tháng mới đi qua ngày tháng cũ
ngàn năm sau sỏi đá lại nguyên sinh
cuối trăm năm vàng thu hồn cô quạnh
có bao giờ em toan tính yêu anh 

đêm không ngủ đêm trở mình mộng mị 

ta tương tư thuở ấy đã mù sa 

khung cửa hẹp khép dần ngày tháng mới 

của vòng đời buông ngã bước ung dung 

chờ tàn canh xem giọt tinh sương đọng

và ngộ ra lòng còn vương tội nghiệp

nên sáng mai ra phố sẽ ngu ngơ (11:52 khuya)

stanton california, sept. 2019 – June 17th, 2025


Le Nguyen Thu

lenguyenthu94@gmail.com


READ MORE - QUA KHUNG CỬA HẸP – Thơ Le Nguyen Thu

CHA YÊU / PHƯỢNG HỒNG - Thơ Lê Thi

 


CHA YÊU

 

Nâng ly rượu nhạt trên tay

Nhìn lên di ảnh lệ cay nhớ Người

 

Vầng trán mái tóc nụ cười

Khoan thai độ lượng vui tươi với đời

 

87 tuổi Cha nghỉ ngơi

Về miền mây trắng chân trời vãng sanh

 

Ruộng đời để lại thiện lành

Tấm gương con cháu học hành nghĩa nhân

 

Tiếng thơm lan tỏa xa gần

Say thơ thi họa kiếp trần thanh cao

 

Chợ đời một thoáng lao xao

Ơn Người biển cả tạc vào ngàn thu

 

Ầu ơ cánh võng tiếng ru

Nhìn về phía ấy mịt mù khơi xa

 

Nước non  sông núi giao thoa

Mờ trong sương khói bóng Cha giữa trời

 

Ngày Cha con tạ mấy lời

Đại dương ngăn cách xa vời quê hương!

 

Lời cha trăm nhớ ngàn thương

Dắt con đi khắp nẻo đường trần gian!

 

Newyork 0625

 

 


PHƯỢNG HỒNG

 

Mùa hạ về Phượng thắm thắp bừng lên

Ve vào hội khúc giao mùa rộn rã

Tà áo nghiêng bay em hồng đôi má

Lệ ngân dài xao xuyến trước mùa thi

 

Lưu bút chuyền tay ta biết viết gì

Bao nhung nhớ thẹn thùng không dám tỏ

Tim thổn thức nhịp đập nghe rất rõ

Ngẩn ngơ chiều ghế đá đợi người thương!

 

Rồi mai đây mỗi đứa mỗi con đường

Ngày gặp lại chắc gì  đâu đã dễ

Bao cay nghiệt nợ duyên tình dâu bể

Nhớ một thời áo trắng mộng trinh nguyên!

 

SN0525

Lê Thi

<thivanle1569@gmail.com>

 

READ MORE - CHA YÊU / PHƯỢNG HỒNG - Thơ Lê Thi

LÀM QUEN VỚI NGƯỜI NỔI TIẾNG - Đặng Xuân Xuyến


 

Đặng Xuân Xuyến

LÀM QUEN VỚI NGƯỜI NỔI TIẾNG  

 

Ngạn ngữ có câu: “Thấy người sang bắt quàng làm họ”, ở chừng mực nào đó tôi tán đồng với việc “bắt quàng người sang làm họ” với mình, nhất là trong doanh nghiệp việc “bắt quàng người sang làm họ” này sẽ rút ngắn đoạn đường đi tới thành công, loại bỏ bớt những cản trở, những khó khăn trên đường chạy đua tới đích.

 

Sống bên cạnh những người nổi tiếng, hoặc có điều kiện để làm thân với người nổi tiếng mà bạn lại thờ ơ thì thật là sai lầm của bạn. Sự hiện diện của họ trong mối quan hệ xã hội của bạn phải được coi như là lá bùa để giúp bạn tranh thủ sự ủng hộ của mọi người, giảm bớt những hao tổn, những vất vả mà lẽ ra bạn phải gánh chịu. Ví dụ, đến một nơi nào đó khi mà mọi người chưa hề biết bạn là ai, chỉ cần một lá thư tay của người nổi tiếng hoặc một câu tự giới thiệu của bạn: “Tôi là em, là bạn của ông A, ông B…” thì chắc chắn bạn sẽ gặp may rất nhiều. Nếu không có những cái đó, có thể bạn khó mà gặp “hên” được. Trong trường hợp ấy bạn sẽ cám ơn ai trước?

 

Làm quen với người nổi tiếng bạn chỉ “được” chứ không có “mất”. Họ như một cây cao bóng cả, toả bóng che mát cho bạn gặt hái những thành công, để bạn dần dần vươn lên, có một ngày bạn sẽ được như họ.

 

Bất luận người nổi tiếng đó thành đạt ở lĩnh vực nào, có trực tiếp giúp bạn được hay không, nếu biết tận dụng “khai thác” thì bạn đều có thể “lợi dụng” sự nổi tiếng của họ mà gặt hái thành công cho mình.

 

Nên nhớ rằng: Vĩ nhân cũng chỉ là con người, họ không phải thần thánh do vậy họ không thể là cao siêu, không thể là thoát tục so với mọi người. Không sống với họ thì bạn cảm thấy ngưỡng mộ, kính phục họ những khi “chơi” với họ rồi bạn mới thấy họ cũng chỉ bình thường, thậm chí còn lập dị, gàn dở... Nhưng có điều mà bạn có thể chưa biết: Chơi với người nổi tiếng, bạn sẽ thấy cuộc đời còn có nhiều điều phải “bận tâm”, phải cố gắng, tự cảm thấy phải phấn đấu vươn lên, phải đạt được những điều mà trước đó chưa hề nghĩ tới hoặc có nghĩ tới nhưng chỉ thoáng qua vì khả năng thực hiện lúc bấy giờ chưa có.

 

Bất luận người đó nổi tiếng ở lĩnh vực nào? mức độ nổi tiếng ra sao? thì bạn đều có thể tự học ở họ những nghị lực, những kỹ năng phát triển tài năng, những bí quyết thành công để bạn phấn đấu vươn lên, để một ngày bạn sẽ thành danh với đời.

 

Bạn có làm được điều đó không? Tôi tin rằng khi “tiếp cận” với những người nổi tiếng, nếu bạn là người có “trí” và có “chí” thì sau đó tự bạn sẽ đặt ra những chí hướng mới để đạt được những thành công mà trước kia bạn chưa hoặc không dám nghĩ tới. Muốn làm được điều đó, hơn ai hết bạn phải có ý thức tuyệt đối khi giao tiếp với họ: Học tập và tận dụng triệt để những ảnh hưởng của người nổi tiếng. Chỉ có làm như vậy bạn mới là người sớm hay muộn sẽ “cào cấu vào hành tinh này một vài vết xước” để ghi nhận một thời có một người là bạn đã sống!

 

Hãy tiếp cận với người nổi tiếng! Vâng! Đó là lời khuyên của tôi với bạn!

 ***

  (Trích từ: MƯU LƯỢC GIÀNH CHIẾN THẮNG của Đặng Xuân Xuyến, Nhà xuất bản Thanh Niên 2000)

 

.

READ MORE - LÀM QUEN VỚI NGƯỜI NỔI TIẾNG - Đặng Xuân Xuyến