Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, August 5, 2024

SÔNG THẠCH HÃN - NGUỒN GỐC ĐỊA DANH (Kỳ 1/3) - Yến Thọ

 


SÔNG THẠCH HÃN - NGUỒN GỐC ĐỊA DANH (1)

Yến Thọ 


(Trích từ tập sách KHẢO VỀ QUẢNG TRỊ XƯA, 

tác giả LÊ ĐỨC THỌ)

 

Sông Thạch Hãn là con sông lớn nhất của tỉnh Quảng Trị, có chiều dài tới 155km, có lưu lượng dòng chảy trung bình năm khoảng 130m3/s, có nhiều phụ lưu (37 phụ lưu) với lưu vực rộng lớn tới 2.600km2, chiếm tới hơn 50% diện tích của tỉnh (1)

Xét trên hình thế địa cuộc của tiểu vùng phía nam (thuộc huyện Triệu Phong - xưa là huyện Lợi Điều/Đăng Xương/Võ Xương/Thuận Xương và huyện Hải Lăng - xưa là huyện An Nhân) nói riêng và toàn địa hạt nói chung, sông Thạch Hãn được coi là long mạch chủ đi kèm với Non Mai/Mai Lĩnh sơn/núi Mai Lĩnh để trở thành cặp đôi sông núi biểu trưng văn hoá Quảng Trị: Non Mai - Sông Hãn. 

Sách “Đại Nam nhất thống chí” của triều Nguyễn mô tả: Sông Thạch Hãn “ở hai huyện Ðăng Xương và Hải Lăng, phát nguyên từ trong sách Man, chảy về tây bắc hơn 40 dặm đến bãi Ái Tử, lại chảy chừng 33 dặm, thì có nước nguồn Viên Kiệu chảy vào, rồi chảy sang phía đông nam chừng 10 dặm, qua cửa Ngưu Cước, tục gọi là nguồn Trang, lại 17 dặm qua bến Lương Mai, lại 14 dặm qua bến Trinh Thạch, lại 2 dặm thì có dòng khe phía nam qua phường Trà Trì mà chảy vào, lại chảy 17 dặm qua khe Trái, lại chảy 15 dặm qua phía đông chợ Như Lệ, lại chảy 16 dặm qua xã Thạch Hãn, ở đây có một thân đá nhô lên mặt nước, nằm ngang từ tả sang hữu, cốt đá chập chùng, lại chảy 10 dặm qua bến đường quan ở phía tây thành đạo Quảng Trị, lại ba dặm qua ngã ba Cổ Thành, đến địa phận 2 xã An Tiêm và Xuân An thì chia làm 2 nhánh: một nhánh chảy về phía đông nam vào sông Vĩnh Ðịnh; một nhánh chảy về phía đông bắc 11 dặm qua ngã ba Vĩnh Phúc tục gọi bến Quyết, lại chảy 9 dặm qua ngã ba Ðại Ðộ, tục gọi ngã ba sông Tương, lại 7 dặm qua ngã ba Giáo Liêm, lại 10 dặm mà ra cửa biển Việt Yên(2).

Sông Thạch Hãn vốn có tên dân gian là Nguồn Hàn. Sách “Phủ biên tạp lục” gọi nguồn này là nguồn Viên Kiều (hay Viên Kiệu), nguồn sông Hiếu là nguồn Cảo Cảo. Sông Thạch Hãn được hợp lưu bởi hai nguồn Viên Kiều và Cảo Cảo: “Huyện Võ Xương có Cửa Việt, sông từ hai nguồn Viên Kiều và Cảo Cảo đổ về(3). Đầu nguồn Viên Kiều thuộc huyện Hải Lăng, nằm trong các trang, sách của châu Thuận Bình. Đầu nguồn Cảo Cảo thuộc huyện Võ Xương, nằm trong các trang, sách của châu Sa Bôi. Hai châu này ngày nay thuộc huỵện Đakrông, Hướng Hoá (và cả một phần rất rộng lớn thuộc đất Lào, vốn là cửu châu ky mi thời Nguyễn).

Sông Thạch Hãn là sự nối dài của sông Đakrông, hay nói chính xác hơn là bắt nguồn từ sông Đakrông. Dòng dài lưu vực cũng chính là long mạch của Thạch Hãn đi qua về cơ bản là nằm trong địa hạt và cũng là không gian văn hoá của người Việt từ vùng Ba Lòng phía thượng nguồn về đến Cửa Việt phía hạ nguồn để đổ vào biển Đông. Sông Đakrông chảy theo hướng chính là tây bắc; sông Thạch Hãn chảy theo hướng chính là đông nam. 

Sông Ðakrông bắt nguồn từ vùng động A Pong, Côcava thuộc vùng thượng La Bút ở phía đông Trường Sơn gần biên giới Việt - Lào, dài 85km. Trên con đường đổ về đồng bằng, sông chảy theo hướng đông nam - tây bắc len lỏi uốn mình giữa các sườn núi cao, nhận thêm nhiều khe suối đổ đến và khi tới gần Khe Sanh thì tiếp nhận một phụ lưu từ phía bắc chảy xuống, đó là sông Rào Quán, phát xuất từ động Sá Mùi. Tới đây, do đụng phải chân đèo Ai Lao (còn gọi là đèo Lao Bảo) nên dòng sông chuyển hướng chảy về phía đông, mở rộng dòng chảy thành con sông lớn, chạy song song với Quốc lộ 9, dài chừng 10km cho đến Ca Lu, sau khi tiếp nhận nguồn Khe Soi ở phía tả ngạn. Nơi hợp lưu là thung lũng phường Mai Lĩnh (cũng chính là phường Mai Hoa). Tại đây, sông đụng phải đèo Sên (col des Sangsues) nên phải đổi hướng đông nam và chính thức mang tên sông Thạch Hãn. Sự phân định này từ trong các tài liệu và bản đồ xưa nay chưa được cụ thể và rõ ràng. Theo bản đồ địa lý hành chính của tỉnh Quảng Trị hiện nay thì đoạn sông chảy song song với đường Quốc lộ 9 cũng được gọi là sông Ba Lòng. Tuy nhiên, dân địa phương lại gọi là sông Đakrông.

Trên thực tế từ xưa nay, phía thượng nguồn, trong khu vực cư trú của đồng bào các tộc người Vân Kiều, Pa Cô, Pa Hy thì sông mang tên là Ðakrông; từ vùng thung lũng Ba Lòng xuôi về biển, sông mang tên là Thạch Hãn. 

Tên sông Đakrông trong ngôn ngữ Môn - Khơme có nghĩa là dòng nước trong (Đak: sông, dòng nước - Rông: trong xanh). Huyền tích về tên của dòng sông kể rằng: Ngày xưa ở một ngọn núi nọ, dưới chân núi có hai vợ chồng nông dân sinh hạ được mười người con trai và trên chóp núi cao mười cô con gái gọi cặp vợ chồng Diều hâu là bố mẹ. Cũng như sáu người anh em ở đầu bản, sáu cô chị trên núi luôn cậy mình là lớn, chỉ ham vui chơi và bắt bốn em của mình phải làm tất thảy mọi công việc nặng nhọc trong nhà. Thấm thoát, mười người con trai ở dưới bản đã đến tuổi lấy vợ. Họ kéo nhau lên núi xin hỏi mười cô gái. Hay tin, sáu cô chị vội vàng trang điểm nên được sáu người anh kén chọn. Bốn cô theo thứ tự lấy bốn người em trai. Người con trai út lấy cô con gái út có tên là Ðakrông. Sau khi về bản họ vẫn chung sống với nhau trong một nhà. Bốn cô em ngày càng xinh đẹp khiến cho sáu người anh mê mẩn và nảy ra ý muốn chiếm đoạt làm vợ. Không chịu được nổi khổ chia lìa, ba vợ chồng người em bỏ xứ ra đi. Riêng vợ chồng Ðakrông vì quá nặng tình với nương rẫy và bản làng quê hương nên phải ở lại. Từ đây bắt đầu một chuổi ngày khổ nhục, xót thương của đôi vợ chồng trẻ trước tâm địa xấu xa, bạo tàn của ông anh cả, sau khi sáu cô chị bị bố mẹ bắt về núi và năm người em trai đã bị hắn giết hại. Thế nhưng tình thương yêu nồng cháy, thủy chung cộng với lòng nhân hậu của Giàng Phăng tơ rô đã giúp họ vượt qua và chiến thắng tất cả. Bất lực, tức tối tên ác đuổi theo quyết giết chết cho bằng được đôi vợ chồng. Một dòng nước lớn đột nhiên xuất hiện đã kịp thời ngăn bước hắn. Hắn chạy đến đâu dòng nước dài ra đến đấy cho tới lúc hắn mệt nhoài kiệt sức và ngã xuống. Tên ác tắt thở, vợ chồng Ðakrông đưa nhau về bản, sống với nhau trong niềm hạnh phúc chứa chan, yêu nhau bằng một mối tình trong trắng không dứt như dòng nước sau khi họ đã dừng lại vẫn tiếp tục chảy theo chân núi, trong veo, không ngừng, mãi mãi bảo vệ cho cuộc sống của họ được yên lành. Dòng nước, dòng sông chảy qua các bản làng Tà Ôi, Vân Kiều và muôn đời giữ đẹp cuộc sống và tình yêu của con người ấy. Từ đó, nhân dân đã lấy tên hai vợ chồng để đặt tên cho dòng sông là sông Ðakrông.

Có thể nói rằng, với truyền thuyết này, sông Ðakrông không chỉ là một bức tranh sinh động về cuộc sống, một khát vọng nồng cháy về đạo đức và công lý; nó còn là một bài thơ, một tiếng hát về con người, về đất nước quê hương.

Các nhà địa lý xưa coi sông Thạch Hãn là hệ sông riêng tách 

khỏi sông Đakrông. Sách “Đồng Khánh địa dư chí” chép về sông 

Đakrông  như sau: “Một dòng sông nhánh bắt nguồn từ động Cha 

Lãng chảy về phía đông, chuyển về phía nam đến địa phận 

tổng Viên Kiều, lại chuyển về phía đông chảy qua giang phận tuần

Chân Trâu (Ngưu Cước) ở núi Ðộng Phụ, xuôi xuống đổ vào sông 

Thạch Hãn(4)

 

 1. Sở Khoa học - CN & MT Quảng Trị. Địa chí Quảng Trị. Bản thảo. Quảng Trị, 1996, tr. 50.

 2. Quốc sử quán triều Nguyễn. Ðại Nam nhất thống chí. T1. Nxb Thuận Hóa, 1992, tr. 147 - 148.

 3. Lê Quý Đôn. Phủ biên tạp lục. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997, tr. 97 - 98.

 4. Quốc sử quán triều Nguyễn. Ðồng Khánh địa dư chí. Sđd, tr. 1397.

 

(Còn tiếp) 

  Yến Thọ

 leductho1964@gmail.com

READ MORE - SÔNG THẠCH HÃN - NGUỒN GỐC ĐỊA DANH (Kỳ 1/3) - Yến Thọ

Thursday, August 1, 2024

ĐÊM ĐEN TUYỆT TẬN – thơ Le Nguyen Thu


 C:\Users\hien\Pictures\Phan Niem watercolor on silk.jpg

 

ĐÊM ĐEN TUYỆT TẬN  

Le Nguyen Thu 


Cõi Người-ta

hồn thảo nguyên dạt ngàn

mênh mông thu mọng

chìm ngập trong những sợi nắng đan xuyên nguyên trinh trong vàng dát mỏng

ngậm nghe nghìn năm đọng lại

cời động

hồn ta muôn thuở mộng mây mưa

.

Một lần

là trầm tích trong hồn ta cơ hồ tận tuyệt thiên thu

em

ngồn ngộn

nõn nà

tiếu diện lạ thường lay lắt giấc liêu trai

ta

là loài thực vật tầm gửi

quang hợp

trong mùi em thơm ngọt con gái dậy thì

làm trường sinh xanh tươi ta suốt cuộc huy tà

.

Đêm nào...

chiều vừa khởi sự chìm dần

có cơn mưa nhỏ vườn sau

mang mùi thơm

của đất

của cây cỏ lá hoa

hay mùi em thơm ngọt con gái dậy thì

nơi nốt huyền rậm rật

bồng bềnh lẳng lơ trôi

trên ngực thơm vai ngần

em, 

một lần

một lần

rồi thôi

mà thiên thu hồn ta tồn tại

.

Ta sẽ còn tự mình thương tiếc mãi nghìn năm sau...

có phải có loài hồ ly liếc mắt đưa tình

và bàn tay 5 ngón ngó sen thon ngoan lạ

chậm

trườn lần theo bờ mông cong cớn

trắng hồng

mân mê

mắt liếc

gọi mời

ngập ngừng nơi rừng nguyên sinh

những sợi đen sợi dài

đang gian ngoa chờ dòng phún thạch trầm tích bao năm

phút chốc vỡ bờ

tràn vào khe nhỏ hồng hoang

em,

vừa qua mùa lúa thì ngậm vàng hạt sữa

.

Loài chồn tinh ma mị

ta,

gã thư sinh ngu ngơ

vào cuộc vui chí dị

bỏ quên tín hiệu ngăn cách nghìn trùng

vào cuộc mây mưa lạ kỳ

qua ảo hình tín hiệu mà phân thân qua hai ngã đôi nơi

hai đầu bến bờ đại lục

mang hồn bên hồn hoan lạc...

bên ngoài vườn sau

có cơn mưa nhỏ vẫn đang rơi xuống đâu đây

thầm thì dài

theo một đêm đen

tuyệt tận

💖

Stanton July 30th, 2024 (1:13 khuya)

lenguyenthu111977@gmail.com

READ MORE - ĐÊM ĐEN TUYỆT TẬN – thơ Le Nguyen Thu

NHỮNG TƯ LIỆU QUÝ ĐỂ TÌM HIỂU VỀ QUẢNG TRỊ, nhân đọc KHẢO VỀ QUẢNG TRỊ XƯA của LÊ ĐỨC THỌ - Võ Văn Cẩm

 



Tôi được nhiều tác giả biên khảo về vùng đất nghèo khó Quảng Trị gởi tặng. Hôm nay thầy giáo Lê Văn Hiếu gọi báo gởi cho tôi một quyển sách Biên khảo về Quảng Trị do tác giả Lê Đức Thọ, bạn anh.

Đặc biệt vì "Thương bạn mến tôi" mà mua biếu. Một việc làm tuy nhỏ nhưng vô cùng sâu sắc.

Hiếu không có thời gian nên nhờ Shipper mang đến. Cầm quyển sách trên tay mà lòng đầy cảm xúc. Tôi cho đây là tập sách khá đẹp, phối trí màu chuẩn, kích cỡ gọn, chữ in dễ đọc. Quyến sách mà tôi vừa ý nhất.

Tôi mở ra đọc, ngay trang đầu mấy dòng biếu tặng không phải của Hiếu viết mà Hiếu nhờ tác giả ký tặng. 

Một việc làm tuy nhỏ nhưng vô cùng tế nhị và vô cùng ý nghĩa. Tôi quý sách gấp đôi. Tôi đọc sơ qua và viết đôi lời cảm ơn Hiếu cùng tác giả.

I) Khảo về QUẢNG TRỊ XƯA (của Lê Đức Thọ).

Sách do nhà xuất bản Dân Trí, in rất đẹp, bìa cứng chữ nỗi.

Gồm có 912 trang trên giấy mỏng, màu vàng nhạt. Khổ 16x21cm.

Với lời bạt của TS Trần Đức Anh Sơn.

Sách gồm 4 phần:

*PHẦN I): ĐỊA CUỘC: Gồm 4 chương:

1) Non Mai.

2) Sông Thạch Hãn.

3) Sông Hiếu.

4) Núi Linh sông Hiền Lương.

*PHẦN II) THEO DÒNG LỊCH SỬ: Gồm 13 chương:

1) Địa lý và hành chính Quảng Trị.

2) khảo cổ khu di tích Tân Lâm.

3) Sông thiêng của người Champa.

4) Các đơn vị hành chính thời Lê.

5) Xác nhận lại 3 dinh của Triều Nguyễn.

6) Tuyến thương mại Triều Nguyễn.

7) Thuơng cảng Cửa Việt.

😎Chợ Phiên Cam Lộ.

9) Lỵ sở Trung tâm hành chính QT từ 1801 đển 1809.

10) Lỵ sở QT 1809 đến 1945.

11) Tân Sở ngày nay.

12) Sự hình thành các làng, xã ven sông.

13) Di tích lịch sử ở Ái Tử.

*PHẦN III) MẠCH NGUỒN VÀ DÒNG CHẢY VĂN HÓA: Gồm 19 chương:

1) Di tích Văn hóa Champa.

2) Giếng Champa.

3) Dấu ấn Phật giáo Hampa.

4) Trung Tâm Thánh Mẫu La Vang (Vương cung Thánh đường La vang)

5) Cỗ tự.

6) Đình Làng.

7) Linh Quang Tự.

😎Nghĩa Trủng Đàn.

9) Sông Thạch Hãn và giai thoại.

10) Đạo Mẫu.

11) Thành hoàng làng Phương Sơn.

12) Gia phả dòng họ.

13) Truyền thống ngôi làng mộ cỗ.

14) Lăng mộ Trần Đình.

15) Nguyễn Hữu Thận.

16) Hội xuân

17) Lễ hội cầu ngư làng Phó Hội

18) Lê hội thống nhất non sông.

19) Làng hầm Vĩnh Linh (Địa Đạo Vĩnh Mốc)

*PHẦN IV). KHƠI DẬY TIỀM NĂNG: Gồm 6 chương:

1) Địa thế QT trên đường hội nhập.

2) Bảo tồn giếng cỗ Champa.

3) Dinh phủ Chúa Nguyễn quy hoạch.

4) Phương án bảo tồn nhà cũ.

5) Huớng du lịch Tâm linh.

6) Cõi thiêng Thành Cỗ.

Khi cầm quyển sách này trên tay tôi khâm phục một tác giả trẻ. Anh là một sinh viên khoa sử, anh làm việc đúng ngành mình học, ngay trên quê hương mình sinh ra.

Rất tiếc tên sách quá ngắn gọn không diễn tả hết các chương của tập sách.

" Khảo về QUẢNG TRỊ XƯA". mà 1/3 sách về chuyện "NAY" (Sao không thể "Khảo về Quảng Trị xưa nay"?.

Về nội dung các vấn đề tôi chưa đọc kỹ nên chưa góp ý.

Theo tôi "Văn Chương thì dễ ". Nhưng lịch sử dùng từ phải tuyệt đối chính xác. Phải có tầm nhìn hết sức khách quan phải tham cứu nhiều sách. Viết về một tỉnh thì không khó, nhiều sách tham khảo. "Nếu NAY" có nhiều chứng nhân sống. Một tư liệu để lại cho đời mà có ngôn từ, địa danh, câu chuyện mà thiếu, sai một chút là không được?.

Xin cảm ơn một nhà nghiên cứu trẻ đã đem hết tâm huyết, tài năng trí tuệ công sức nghiên cứu, khảo cổ Biên soạn tập sách quý giá này. Vì là sách lịch sử nên phải chính xác, phải biết lắng nghe ý kiến của bất cứ ai. Đây là tư liệu lịch sử.

Một lần nữa xin cảm ơn tác giả, cảm ơn Lê Văn Hiếu một người thương quý tôi mà mua sách tặng.

Trong tay tôi có 2 tập sách tôi nghĩ là có giá trị mà tác giả cần tham khảo để đối chiếu.

1) GIANG SƠN VIỆT NAM.

ĐÂY Non Nước QUẢNG TRỊ của NGUYỄN ĐÌNH TƯ.

2) Địa Danh QUẢNG TRỊ XƯA VÀ NAY Của NGUYỄN VĂN ÁI

Còn một quyễn không có trong tủ sách của tôi do một GS TS viết hình như danh nhân người Quảng Trị?.

 





READ MORE - NHỮNG TƯ LIỆU QUÝ ĐỂ TÌM HIỂU VỀ QUẢNG TRỊ, nhân đọc KHẢO VỀ QUẢNG TRỊ XƯA của LÊ ĐỨC THỌ - Võ Văn Cẩm

Wednesday, July 31, 2024

Thơ: Khaly Chàm - MÙA THU CHẦM CHẬM ĐANG VỀ

 


khaly chàm

mùa thu chầm chậm đang về

.tặng mùa hè thầm lặng ra đi


tảng sáng, họa tiết ngày bị ánh sáng câu lưu

tội thản nhiên tung tẩy xem thường quy luật nhất định

lũ chim  trừng mắt nhìn tinh tế

mỏ của chúng rỉa lông dường như tự róc thịt mình 

mặt trời đang tự do hay là tự tử


cái bóng ta trốn vào đâu đó

mùi lạnh tát khẽ da mặt bong tróc từng mảng

có thể, phải nhăn nhở với người đời

hãy nhìn ta đẻ non bài thơ đẫm nhờn nhợt máu 

chẳng biết bầy đàn thi sĩ có dám nhìn? 


sáng nay, ảo hình em lung linh

luyến ái nào mà không động cỡn

ta không là pho tượng dành cho tình yêu

biết chứ, em luôn khỏa thân trong yếu tố đồ họa khôi hài


tháng tám, nắng màu lửa đã tắt lịm chưa 

vạt cỏ trong ô vuông vỉa hè chứa gốc cây sần sùi

khát thèm môtip trang điểm sự thất thần kinh điển

cảm thức ta, mùa thu chầm chậm đang về


tpsaigon 7/2024

 khalycham1954@gmail.com



READ MORE - Thơ: Khaly Chàm - MÙA THU CHẦM CHẬM ĐANG VỀ

MƯA THU - Thơ: Nhật Quang

 

Nhà thơ Nhật Quang


MƯA THU

 

Thềm khuya lạnh 

rủ trăng gầy

Vọng trong sương 

vạc gọi bầy chơi vơi

Giật mình… tiếng lá vàng rơi

Nghiêng  đêm sao lệch 

lưng trời đổ mưa


Nằm nghe 

từng giọt ngâu thưa

Hững hờ …

chăn gối chưa vừa ấm nhau

Trăm năm mấy cuộc bể dâu? 

Mắt  khuya khoắt  

giấu lệ sầu 

xanh xao


Đêm gầy guộc 

giấc chiêm bao…

Gối bờ ảo mộng…

chênh chao bóng mình

Còn âm khuya lẳng lặng thinh

Mưa Thu đọng lại giọt tình vội tan.

                             Nhật Quang



READ MORE - MƯA THU - Thơ: Nhật Quang

Tuesday, July 30, 2024

NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (9) _ Trương Ngọc Bỉnh

  


NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC 

VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG  (9)

Trương Ngọc Bỉnh, Cựu học sinh Trường Trung học Hải Lăng, Khóa 5, 1964 -1968.

               

Phần  9

Một nữ giáo sư giảng dạy môn Vạn vật và Anh văn bậc Trung học Đệ nhất cấp. Cô có "body" cao ráo, cân đối  và thật đẹp.  Khuôn mặt Cô trắng sáng, căng như trứng gà bóc ... và càng ửng hồng, bừng lên mỗi khi Cô nổi cơn thịnh nộ, cùng lúc giương đôi mày lên cao... Qua cơn sóng gió, vẻ mặt Cô trở lại tươi sáng, phơn phớt nhạt hồng, hiền như "Ma Soeur ", cuốn hút học sinh vào lời giảng. Thế mà trong tiết dạy của Cô, đã có "Ngựa chứng..." tung cát bụi!

   Một thời đã xa, không biết có còn đọng lại một vài ký ức trong Cô vào những năm đầu chân ướt chân ráo vào nghề dạy học? Cô bây giờ đang ở bên kia "thiên đường tự do ", xa tít nữa vòng trái đất, thời gian vụt qua hơn nữa thế kỷ rồi!  Cô Phan Thị Lan, dạy  môn Vạn vật, lớp Đệ lục chúng tôi năm học 1965 - 1966.

     Có ai trong lớp mình (lớp Đệ tứ, Khóa 5) còn  nhớ chuyện bây giờ mới kể, xin bật mí lại rằng:

     Hồi đó, Cô Lan đang giảng bài “Con nhện” (Phần đời sống và tập tính), Cô dừng lại, đưa ra câu hỏi cho cả lớp: -"Vì sao nhện mẹ ôm bọc trứng dưới ngực và bụng của nó " Dưới lớp im re, không một tiếng động! Thuở ấy, tôi có vóc hình thấp và nhỏ con nên ngồi bàn trên cùng, đối diện với bàn giáo viên. Tôi cúi đầu hơi thấp xuống gầm bàn, hớn hở nhìn lui mấy bạn nữ ở bàn sau: Gái, Thể, Mỹ, Thị Bình, Diên... và cả lớp. Chẳng có mống tay nào đưa  lên xin trả lời! Theo ý tôi đoán biết, nghĩ thầm : Nhện mẹ thao tác như vậy để bọc trứng của nó nhận lấy thân nhiệt từ nhện mẹ mà nở ra theo chu kỳ, tựa như con gà mái ấp ổ trứng. Tôi vội vàng nói nhỏ với các bạn  nữ ở bàn sau: - "Ê! Bây đừng cười nghe , để tau trả lời." Tôi đưa tay và được phép trả lời: - "Thưa Cô, do cái chôống hắn rứa!" Cả lớp phá lên cười, xé tan sự im lặng trong mấy giây lát vừa qua, (chôống = giống, giống nòi, thuộc về phương ngữ ...như rựa= rạ, đầu gối= trốôc cúi, rỗ = đúa v.v...). Cô im lặng, đỏ mặt, nhìn trân tráo vào tôi, tỏ vẻ tức giận nhưng không có phản ứng lộ vẻ ra ngoài! Giây phút căng thẳng của lớp qua mau. Cô lấy lại bình tĩnh, giải thích đúng như điều tôi suy nghĩ và thêm ý: để bảo vệ, tránh các kẻ thù (thiên  địch) tấn công bọc trứng làm mồi! Tiết dạy rồi cũng nhẹ nhàng, từ từ trôi qua như những áng mây trắng mùa Hạ bên khung cửa sổ, tan nhanh vào bầu trời cao trong xanh vời vợi ...

   Cả lớp nghỉ chuyển tiết tại chỗ. Tôi quay lại nói với các bạn nữ: - "Lần sau, tau dám chắc bị truy bài cũ rồi bây ơi! " Tôi về nhà "gạo bài" tiết vừa học thật trôi chảy, vì nghĩ rằng tiết tới của Cô, mình như một tội phạm, sẽ đứng trước "vành móng ngựa!"

   Thời gian như lao nhanh hơn, giờ dạy của Cô với lớp rồi cũng sẽ đến. Sau thủ tục chào đón Cô vào lớp , Cô Lan đảo quanh nhìn một vòng bao quát lớp và chắc chắn kiểm tra sự hiện diện của tôi - học sinh có "sự cố" tiết trước, hôm nay có nghỉ học? Cô đến bên bàn giáo viên, đặt cái túi xách bằng da lên bàn, bắt đầu tiết dạy. Tên tôi có chữ cái B, chỉ xếp sau hai bạn Hoàng Thanh Bình và Lê Thị Bình. Xin mở ngoặc, tản mạn đôi dòng với những người bạn đã để lại ấn tượng khó phai của những ngày đầu bước vào đầu cấp học. Năm học lớp Đệ thất có bạn Phạm Hữu Ân, được xếp tên đầu sổ gọi tên và ghi điểm (theo Alphabet ), nhưng khoảng chừng một -hai tháng, bạn Ân cùng các bạn Lý  Ái Dung, Lê Đình Do, Nguyễn Thanh Sơn (cùng có gia đình ở Thị xã Quảng Trị ), lần lượt, lác đác chuyển về Trường Nguyễn Hoàng, Thị xã Q.Trị; còn bạn Nguyễn Ngọc Giàu (ở Tp Huế) chuyển về Huế - tất nhiên là vào Trường công lập! Hiện nay, bạn Ái Dung, Đình Do  đã định cư ở đất nước "Cờ hoa", còn các bạn Ân, Sơn và Giàu thì mịt mù "cà cưỡng". Sau khi "bẻ càng cua", các bạn ấy cũng thật "chịu thương , chịu khó" từ Thị xã Q.Trị vào - ra Hải  Lăng bằng xe đò, trong chiến tranh, đường sá bom mìn ... Trong số các bạn ở Thị xã Q.Trị , có bạn Sơn nói tiếng Bắc đặc ròng! Bạn thường mang theo cơm trưa, thức ăn của Sơn "trội hơn "  -món lạp xưởng! Chúng tôi thường ngồi ăn cơm nắm buổi trưa trên bàn học sinh và cùng trao đổi thức ăn với nhau bằng những đôi đũa  yếu ớt  của cành dương liễu vừa bóc sạch vỏ tươi từ phía sau trường. Các bạn Ân, Do và Dung thì không  thấy bóng dáng ăn cơm trưa tại lớp học. Bạn Giàu trọ học, ăn cơm tháng, nhà của Nguyễn Ngọc Dũng , cựu học sinh Khóa 6, ở Phe Nhất , xã Hải Thọ. Kể ra năm người bạn của lớp tôi vừa nói, cũng thật dũng cảm: trường nhà không "chọi" mà  chọi  trường xa? Các bạn lặng lẽ ra đi mà không một lời giã từ bè bạn! Có ai đó đem lòng quay quắt mà níu kéo đóa hồng Ái Dung, nổi trội, ấn tượng... họa may ở lại cho hết năm học... hết cấp không ? Buổi sáng, chúng tôi vào lớp , nhìn thấy chỗ ngồi lần lượt trống vắng từng bạn được nhắc tên ở trên... cho đến lúc không còn ai đi thêm nữa! Các bạn  đến và đi  như một hiện tượng đặc biệt, đã để lại trong lớp những dấu hỏi  và lưu luyến khó phai!

   Trở lại tiết dạy của Cô Lan, tôi được ưu tiên  đánh dấu vào sổ điểm và lên trả bài cũ! Các Cụ đã từng dạy: " Tri kỷ, tri bỉ - bách chiến, bách thắng ". Tôi đã đoán trước , có sự chuẩn bị, phòng thủ nên tôi đã tự tin và mạnh dạn mang vở bộ môn lên và trao cho Cô để chuẩn bị  trả lời. Cô "xoáy" hai câu hỏi. Tôi trả lời được nhưng chưa hoàn hảo mấy! Dưới lớp, lúc đó cũng hồi hộp theo dõi tôi ... và tôi cũng đọc được ý nghĩ của lớp: Tiết trước, trả lời hài hước, làm Cô giận, nay bị Cô truy bài. Cuối cùng,  Cô "phán" ngắn gọn và khô khốc "13 điểm" (nay = 6.5 điểm). Tôi nhận lại vở, cám ơn Cô và về chỗ ngồi ...

   Chuyện kể về bài học thứ hai, gần 60 năm trước, cũng môn Vạn vật với Cô Lan - lớp Đệ ngũ (nay lớp 8) vào năm học 1966 - 1967 như sau:

   Trong bài giảng : "Bắp thịt nhị phúc"  có hai tiết, tiết 1 đã qua , tôi chuẩn bị bài thật kỹ, kể cả phần hình vẽ theo nội dung đã học, nắm vững các vị trí có bắp thịt nhị phúc trên cơ thể con  người, mà Cô đã dẫn chứng bài trước. Do tính hiếu kỳ, muốn tìm hiểu để nắm thêm kiến thức bài thực tế hơn, tôi đã xin phép Cô đặt câu hỏi: -"Thưa Cô , ngoài các vị trí bắp thịt nhị phúc trên cơ thể người mà Cô đã dẫn chứng , vậy còn chỗ nào khác có bắp thịt nhị phúc nữa không? " Lúc này, Cô đứng nhìn cả lớp, có ý đưa ra câu hỏi, hỏi đố để nhờ cả lớp trả lời, để rồi Cô bổ sung, điều chĩnh! Chẳng có cánh tay nào đưa lên xin trả lời! Sau đặt câu hỏi, tôi vẫn  lớ ngớ đứng tại chỗ vì Cô chưa cho phép ngồi! Cô quay sang hỏi tiếp tôi: - "Vậy thì theo em, em có biết  nơi nào còn lại  ...có bắp thịt nhị phúc? " Lúc này,  cả lớp cũng lo cho tôi , có suy đoán là tôi thách thức Cô hoặc câu trả lời của tôi là một dẫn chứng hàm ý không trong sáng , có tính khôi hài, chọc cười cho cả lớp ... Tôi đáp lại câu hỏi của Cô với sự tự tin và trong sáng, không như các bạn suy đoán nghi ngờ từ một phía và có thể không tích cực của Cô! Tôi dẫn  chứng : Bắp thịt ở cằm và gót chân ... Vậy mà sau đó, bản thân tôi cũng áy náy, ví như làm phật lòng Cô giáo. Tôi quay lại bàn sau nói với các bạn nữ những ý nghĩ  như tôi đã kể về bài Con nhện đã học ở lớp Đệ lục, với Cô Lan. Quả đúng, tiết sau tôi đã bị truy bài cũ! Tôi nhận được con điểm 9 (=4.5 điểm bây giờ!) Bài mới , cả lớp im re, ngồi ngậm tăm, buồn như đám ma , chẳng ai khua mép... mà cố gắng,  "say sưa " nuốt những lời Cô truyền thụ ...

   Vậy là hai năm học được thọ giáo  với Cô Lan, Cô và trò như những người  có "oan gia trái chủ". Bên trời đất nước "Cờ hoa", mong Cô bao dung và nhận nơi đây tấm lòng xin thứ lỗi muộn màng của học trò cũ ngày xưa ...

                        (Còn tiếp )

READ MORE - NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (9) _ Trương Ngọc Bỉnh

Monday, July 29, 2024

ĐÂU TÌM – Thơ Trần Mai Ngân


  

 
ĐÂU TÌM
 
Ghế bàn im thin thít
Khi chúng ta ngồi cạnh nhau
Khoảng cách chênh chao - là mùa hè hay thu
Khoảng cách là mưa hay sương mù…
 
Em chợt nhận ra, anh cũng chợt nhận ra
Những điều không nói không hò hẹn
Nên chẳng bao giờ bị phản bội hay chia xa
Tất cả còn nguyên trong trái tim ta nóng hổi
 
Cũng có lúc em muốn mình nông nỗi
Ôm chặt anh ngã vào bờ vai rộng
Rồi hôn anh cho tan hết thương nhớ trong lòng
Niềm nhớ thật dài trôi chảy một dòng sông
 
Nhưng
Chúng mình vẫn ngồi giữa mênh mông
Im lặng đến rõ từng giọt mưa thánh thót
Có tiếng chim “trong bụi mận gai” hót
Chỉ một lần rồi vĩnh viễn lặng im…
Đâu tìm!
 
                                        Trần Mai Ngân

READ MORE - ĐÂU TÌM – Thơ Trần Mai Ngân