Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, March 14, 2019

ĐẠO MẪU VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ TAM PHỦ, TỨ PHỦ QUA TRẬT TỰ CÁC GIÁ HẦU – Đặng Xuân Xuyến


 

ĐẠO MẪU VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ TAM PHỦ, TỨ PHỦ QUA TRẬT TỰ CÁC GIÁ HẦU 


(Trích trong VÀO CHÙA LỄ PHẬT - NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT của Đặng Xuân Xuyến; xuất bản năm 2006)

Đạo thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian có từ lâu đời và rất thuần Việt. Nói đến Đạo Mẫu người ta có thể liên tưởng ngay đến việc tôn vinh những vị nữ thần tối cao mà người ta tôn là Thánh Mẫu hay Quốc Mẫu, tuy nhiên trong đạo thờ Mẫu, người ta không chỉ thờ riêng các vị Mẫu mà còn tôn thờ cả một hệ thống các vị thánh với một trật tự chặt chẽ (thể hiện trong các giá hầu đồng khi thỉnh các vị Thánh Mẫu, Chúa Bà, Quan Lớn, Chầu Bà, Quan Hoàng, Tiên Cô, Thánh Cậu...).
 Trong các đền phủ của Đạo Mẫu, luôn có rất nhiều ban thờ các vị thần thánh, nhất là NGỌC HOÀNG (thờ cúng với hai vị quan ở hai bên là Nam Tào và Bắc Đẩu), tuy nhiên khi thỉnh đồng người ta không thỉnh NGỌC HOÀNG mà người ta chỉ thỉnh các vị thánh sau:

A. TAM TÒA THÁNH MẪU:

Nếu không kể đến Ngọc Hoàng thì ba vị Thánh Mẫu là ba vị Thánh tối cao nhất của đạo Mẫu. Khi hầu đồng người ta phải thỉnh ba vị Thánh Mẫu trước tiên rồi mới đến các vị khác, tuy nhiên khi thỉnh Mẫu người hầu đồng không được mở khăn phủ diện mà chỉ đảo bóng rồi xa giá, đó là quy định không ai được làm trái, và sau giá Mẫu, từ hàng Trần Triều trở đi mới đựoc mở khăn hầu đồng. Theo tín ngưỡng cổ thì ba giá Mẫu hóa thân vào ba giá Chầu Bà từ Chầu Đệ Nhất đến Chầu Đệ Tam, nên coi như Ba giá Chầu Bà là hóa thân của Ba giá Mẫu.

Ba giá Mẫu trong Tứ Phủ gồm:

1. Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên: Cửu Trùng Thanh Vân Công Chúa hay chính là Công Chúa Liễu Hạnh. Đền thờ Mẫu Liễu có ở khắp mọi nơi nhưng quần thể di tích lớn nhất là Phủ Dày, Vụ Bản, Nam Định (Mở hội ngày 3/3 âm lịch), tương truyền là nơi Mẫu hạ trần với các đền phủ như Phủ Chính, Phủ Công Đồng, Phủ Bóng, ngoài ra còn có Đền Sòng ở Thanh Hoá, Phủ Tây Hồ ở Hà Nội.
2. Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn: Đông Cuông Công Chúa. Tương truyền là vị Thánh Mẫu cai quản Thượng Ngàn (rừng núi). Đền thờ chính Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn là Đền Đông Cuông, Tuần Quán thuộc tỉnh Yên Bái
3. Mẫu Đệ Tam Thoải Cung: Xích Lân Long Nữ. Tương truyền là vị Thánh Mẫu, con Vua Bát Hải Động Đình, cai quản các sông suối, biển, các mạch nước trên đất Nam Việt. Người ta thường lập đền thờ bà ở các cửa sông, cửa biển để cầu cho biển lặng sóng yên.

B. CHƯ VỊ TRẦN TRIỀU

Dân gian ta có câu
“Tháng tám hội Cha, tháng ba hội Mẹ”
Mẹ ở đây là Mẫu Liễu Hạnh, còn Cha là Đức Thánh Trần Hưng Đạo, cùng với một số giá gọi là hàng Trần Triều. Tuy nhiên theo tín ngưỡng dân gian thì bên Đạo Mẫu (Tam Tòa Thánh Mẫu) và bên Trần Triều rất kị nhau, vì thế phải là người đồng nào có căn mạng thì khi hầu đồng mới thỉnh và hầu về các giá Trần Triều sau giá Mẫu, còn không thì thông thường người ta không thỉnh về hàng Trần Triều.

Chư vị Trần Triều gồm:
1. Đức Thánh Ông Trần Triều: Hưng Đạo Đại Vương, được tín ngưỡng dân gian tôn làm Đức Thánh Trần, giúp dân sát quỷ trừ ma, trừ dịch bệnh, thế nên ở đâu có giặc dã dịch bệnh thì đều cầu đảo Ngài tất đựoc linh ứng. Khi hầu đồng về giá này, thanh đồng (người hầu đồng) mặc áo bào đỏ thêu rồng, tay cầm thanh đao, ngoài ra theo một tục cổ, khi hầu về giá Đức Thánh Trần Triều, người hầu đồng còn cầm dải lụa đỏ rồi mô phỏng động tác thắt cổ. Đền thờ Ngài cũng có ở rất nhiều nơi nhưng lớn nhất vẫn là đền Kiếp Bạc, Chí Linh, Hải Dương với hội mở ngày 20/8 âm lịch.
2. Đệ Nhất Vương Cô: Cô là con gái lớn của Hưng Đạo Đại Vương. Khi về đồng hay mặc áo đỏ thêu rồng, đội khăn đóng, vấn khăn đỏ phủ lên, tuy nhiên có ít người hầu giá này mà chỉ hay hầu về Đức Thánh Trần và Đệ Nhị Vương Cô.
3. Đệ Nhị Vương Cô: Cô là con gái thứ của Hưng Đạo Đại Vương. Khi về đồng hay mặc áo xanh thêu rồng, đội khăn đóng, vấn khăn xanh phủ lên, có kiếm cờ giắt sau lưng, hai tay cũng cầm kiếm và cờ, theo quan niệm, cô cũng là người có phép sát quỷ trừ tà, người hầu về giá này thường đốt một bó hương rồi cho vào miệng ngậm tắt lửa gọi là tiến lửa hay ăn lửa để tróc tà.

C. TAM VỊ CHÚA MƯỜNG

Trên Toà Sơn Lâm Sơn Trang có 18 Chúa Bói, 12 Chúa Chữa, nhưng khi hầu đồng, chỉ thỉnh ba vị tối thượng gọi là Tam Vị Chúa Mường, ba vị Chúa này là những người phụ nữ nhân đức, cả đời làm việc phúc giúp dân chúng và triều đình nên được người đời nhớ ơn và lập đền thờ.

Tam vị Chúa Mường gồm:
1. Chúa Đệ Nhất Thượng Thiên: Bà là người giúp vua trị quốc an dân, (Chúa Đệ Nhất Tây Thiên) hơn nữa theo quan niệm tín ngưỡng thì bà là người nắm giữ sổ Tam Tòa, trông coi mọi việc nên được tôn làm Chúa Thượng, ngoài ra thì những người có tài cúng lễ đều là do bà dạy và ban lộc nên đều phải do bà Chúa Thượng dạy đồng. Tuy nhiên Chúa Đệ Nhất rất ít khi ngự đồng. Thông thường, trong lễ khai đàn mở phủ mà có dâng đàn Chúa Bói thì người ta thường thỉnh bà về chứng tòa Chúa Đệ Nhất. Khi ngự đồng, chúa mặc áo đỏ (áo lụa thêu phượng hoặc áo gấm), cầm quạt khai quang. Chúa Tây Thiên không có đền thờ chính mà chỉ được thờ trên Đền Hùng thuộc tỉnh Phú Thọ và bà cũng được thờ cận bên Mẫu Tây Thiên ở Tam Dương, Tam Đảo, Vĩnh Phúc. Ngày hội chính của Chúa Đệ Nhất Tây Thiên là ngày 10 tháng 05 âm lịch (tương truyền là ngày Chúa giáng hạ trần phàm).
2. Chúa Đệ Nhị Nguyệt Hồ (Chúa Nguyệt Hồ): Bà là người có tài xem bói, tương truyền, mỗi khi đức vua ra trận đều nhờ người đến thỉnh bà bấm đốt tay xem xét. Trong Tam Vị Chúa Mường thì bà Chúa Nguyệt là bà Chúa Bói danh tiếng bậc nhất và rất hay ngự đồng. Thông thường, khi có mở đàn Chúa Bói mà không thỉnh được cả Tam Vị Chúa Mường về ngự thì người ta thường hay thỉnh bà về chứng cả ba tòa Chúa (màu đỏ, màu xanh và màu trắng) còn bình thường thì Chúa về chứng tòa Chúa Đệ Nhị. Khi ngự đồng, chúa mặc áo xanh, múa mồi. Đôi khi Chúa về ngự còn dùng lá trầu quả cau để xem bói, phán bảo trần gian. Chúa Nguyệt Hồ được thờ chính tại Đền Nguyệt Hồ ở gần ga Kép, chợ Bố Hạ, tỉnh Bắc Giang (tương truyền là nguyên quán của Bà Chúa Đệ Nhị Nguyệt Hồ). Ngày hội chính của Chúa Đệ Nhị Nguyệt Hồ là ngày 15 và 16 tháng 02 âm lịch.
3. Chúa Đệ Tam Lâm Thao: Dân gian thành kính gọi bà là Chúa Chữa, Chúa Ót: - Tương truyền, bà là công chúa, con gái ruột của Vua Hùng, từ bé đã bị hỏng một bên mắt. Tuy vậy bà vẫn một lòng giúp vua cha trị quốc, bà là người lo việc quân nhu quân lương trong các cuộc chiến trận, ngoài ra bà còn là người có tài bốc thuốc nam. Bà đi khắp vùng đem tài năng của mình để cứu giúp dân lành. Bà Chúa Đệ Tam Lâm Thao cũng là một người có lòng mộ đạo, thường xuyên ăn chay niệm phật để cầu cho quốc thái dân an. Như hai vị chúa trên, khi người ta dâng đàn Chúa Bói thì thường thỉnh Chúa về chứng tòa Chúa Đệ Tam. Khi về đồng bà thường mặc áo trắng, có nơi khi hầu bà thì múa mồi như Chúa Bà Đệ Nhị Nguyệt Hồ, nhưng có nơi hầu Chúa lại chỉ dùng quạt khai quang. Chúa Lâm Thao được thờ chính tại Đền Lâm Thao ở Cao Mại, Việt Trì, Phú Thọ (tương truyền là nơi khi xưa chúa lập kho quân nhu quân lương và bốc thuốc cứu dân). Ngày hội chính của Bà Chúa Đệ Tam Lâm Thao tương truyền là 25 tháng 12 âm lịch.

D. NGŨ VỊ TÔN ÔNG - CÔNG ĐỒNG QUAN LỚN

Là các vị quan lớn trong Tứ Phủ, cai quan bốn phương và đều là các vị hoàng tử, danh tướng, có công với quốc gia. Gọi là Ngũ Vị Tôn Ông vì theo hàng chính là gồm 5 vị quan lớn, nhưng ở một số nơi khi hầu đồng người ta thỉnh 6 vị sau:

1. Quan Đệ Nhất: Tương truyền là Tôn Quan Đại Thần, sắc phong tước Công Hầu, ngôi Thượng Thiên. Khi ngự đồng mặc áo đỏ thêu rồng và chỉ làm lễ tế và chứng sớ điệp.
2. Quan Đệ Nhị: Quan Thanh Tra Giám Sát, sắc phong Thái Hoàng. Tương truyền là người cai quản sơn lâm thượng ngàn, thông tri thiên địa, có thể lệnh sai Hà Bá, Thủy Thần làm mưa làm gió. Khi ngự đồng mặc áo xanh thêu rồng. Đền thờ Quan Đệ Nhị là đền Quan Giám, Lạng Sơn. Chính hội là ngày 10 tháng 11 âm lịch.
3. Quan Đệ Tam: Quan Tam Phủ, Bơ Phủ Vương Quan, sắc phong Thái Tử Đệ Tam, con Vua Bát Hải Động Đình, là người nắm giữ kỉ cương nơi Long Cung, cai quản các con sông trên khắp nước Nam. Theo tương truyền thì ông giáng trần cứu dân, trở thành vị tướng thủy quân tài ba, trong một trận quyết chiến bên sông Lục Đầu, ông hy sinh, bị giặc chém mất đầu, chiếc đầu bay sang bờ bên kia con sông Lục Đầu, vì thế mới có hai đền thờ quan hai bên bờ sông Lục Đầu (Hưng Yên) là Đền Lảnh Giang - nơi thờ mình và Đền Xích Đằng - nơi thờ đầu. Chính hội là ngày 24 tháng 6 âm lịch. Khi ngự đồng mặc áo trắng thêu rồng, tay cầm song kiếm.
4. Quan Đệ Tứ: Là Quan Khâm Sai, sắc phong Thái Tử Thiên Cung, là người cai quản Tam Giới Tứ Phủ, mười phương trời đất, kiêm cả đạo phật thiền gia.
Khi ngự đồng mặc áo vàng thêu rồng, cũng chỉ làm lễ và chứng điệp sớ. Tuy nhiên, ít người hầu đồng về giá này.
5. Quan Đệ Ngũ: Là Quan Tuần Tranh, sắc phong Công Hầu, là vị tướng tài dưới thời Hùng Vương 18 cai quản miền duyên hải sông Tranh, giúp vua dẹp giặc Triệu Đà, tuy nhiên do bị oan khuất nên Ông bị đày về vùng Kì Cùng, Lạng Sơn. Tương truyền, quan Tuần Tranh là người cai quản thiên binh nhà trời, được nhân dân thờ phụng ở khắp các cửa sông mà hai ngôi đền lớn nhất là Đền Quan Lớn Tuần Tranh tại Ninh Giang, Hưng Yên (là nơi quê nhà) ở bên bờ sông Tranh và Đền Kì Cùng, Lạng Sơn (là nơi ông bị đày) bên bờ sông Kì Cùng có cây cầu Kì Lừa. Khi ngự đồng mặc áo lam thêu rồng cầm long đao để giúp dân tróc quỷ trừ tinh, tế độ sinh linh. Ngày mở hội là ngày 25 tháng 5 âm lịch, là ngày Ông bị đi đày.
6. Quan Điều Thất: Là hàng Quan thứ 7, giá Quan này chỉ một số nơi mới thỉnh về ngự đồng (như Hải Phòng, Hưng Yên, Bắc Ninh). Tương truyền, Ngài cũng là con vua Bát Hải Động Đình, giáng thế giúp dân. Khi ngự đồng mặc áo đỏ điều, thêu rồng.

E. TỨ PHỦ CHẦU BÀ

Các vị Chầu Bà trong Tứ Phủ là những phụ nữ nhân đức hay các nữ tướng có công với dân với nước nên khi từ trần được nhân dân thờ phụng và được tôn thành các vị Chầu Bà trong Tứ Phủ, được Vua Mẫu giao cho cai quản sông núi và mọi việc nhân gian.
Hàng Tứ Phủ Chầu Bà có 12 vị tuy nhiên cũng như ở một số nơi có sự khác nhau, thêm 2 vị nữa vào hàng thứ 3 và thứ 5.

Các vị Chầu Bà gồm:
1. Chầu Đệ Nhất Thượng Thiên: Được coi là hóa thân của Mẫu Đệ Nhất khi thỉnh đồng. Là vị Chầu tối thượng, đứng đầu hàng Chầu, ngự tại Ngọc Điện, Thượng Giới. Tuy nhiên cũng ít người mở khăn phủ diện để hầu Chầu Đệ Nhất.
2. Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn: Được coi là hóa thân của Mẫu Đệ Nhị. Bà vốn là Công Chúa Thiên Thai, giáng hạ để cai quản thượng ngàn và tam thập lục châu. Khi ngự đồng Chầu mặc áo xanh thêu hoa, đầu vấn khăn xanh, cài trâm hoa, tay cầm mồi tượng trưng cho bó đuốc. Đặc biệt khi hầu về giá này còn có nghi thức Trình Trầu: Các đệ tử ai có căn mạng hoặc đã tôn nhang bản mệnh, vào ngày hầu đồng trong lễ Thượng Nguyên (đầu năm mới), ngồi phủ khăn đỏ, đầu đội mâm trầu cau để "trước trình Phật Thánh sau trình Vua Cha, trình lên Tứ Vị Vua Bà, trình đồng Tiên Thánh, trình tòa Sơn Trang, trình lên Thập Vị Quan Hoàng, Tiên Cô, Thánh Cậu chứng mâm trầu trình". Khi Trình Trầu người ngồi lễ phải đặt lên mâm trầu cau 12 tờ tiền đồng, tượng trưng  dâng lên 12 giá chính của hàng Chầu Bà là những vị giúp mình được đội trầu. Đền thờ Chầu Đệ Nhị là Đền Đông Cuông, Tuần Quán, Yên Bái.
3. Chầu Đệ Tam Thoải Cung: Được coi là hóa thân của Mẫu Đệ Tam, là Lân Nữ Công Chúa, Ngọc Hồ Thần Nữ, vốn là con vua Thủy Tề, ngự tại Thủy Phủ Thiên Thai chốn Thoải Cung, Tam Phủ. Bà được coi là người cai quản các sông suối biển hồ mạch nước trên đất Việt.
(Có nơi còn đưa Chúa Thác Bờ vào hàng Chầu Bà và người ta thỉnh Chúa Thác Bờ sau giá Chầu Đệ Tam hoặc không thỉnh Chầu Đệ Tam mà thỉnh luôn Chúa Thác Bờ. Tương truyền Chúa Thác Bờ vốn là tiên nữ giáng sinh tại nơi thắng tích, dạy người Mường biết trồng trọt, đánh bắt cá dưới sông Đà. Khi ngự đồng có lúc Chúa mặc áo trắng và khăn choàng trắng, có khi lại mặc váy đen áo trắng đai xanh, bên hông có xà tích bạc, túi dao quai, một tay cầm mồi, một tay cầm mái chèo. Đền thờ Chúa Thác Bờ là Đền Thác Bờ ở Kim Bôi, Hoà Bình.) 
4. Chầu Đệ Tứ Khâm Sai: Bà được phong danh là Chiêu Dung Công Chúa, giáng thế là Chầu Bà Khâm Sai giúp dân, có quyền tra sổ Thiên Đình để đổi số nhân sinh... Khi ngự đồng bà mặc áo vàng thêu rồng, một tay cầm kiếm, một tay cầm cờ để đi cứu dân. Đền thờ bà là Đền Khâm Sai hay Phủ Bà Đệ Tứ (đền Cây Thị) ở Quý Hương, An Thái, Vụ Bản, Nam Định.
5. Chầu Năm Suối Lân: Bà là vị Chầu trên Sơn Trang Thượng Ngàn, trấn cửa rừng Suối Lân dưới thời Lê Trung Hưng. Khi ngự đồng mặc áo xanh hoặc áo lam thêu hoa đỏ, đầu vấn khăn chàm tím. Đền Chầu là đền Suối Lân, ngay bên cầu Sông Hóa 2 ở Lạng Sơn, bên cạnh đền là suối Suối Lân.
(Chúa Bà Năm Phương thường đựoc hầu ở Hải Phòng và được thỉnh trước giá Chầu Năm Suối Lân. Tương truyền, Chúa vốn là Bạch Hoa Công Chúa, bị trích giáng vào nhà họ Vũ ở cửa Cấm Giang, được giao là người cai quản bản cảnh ngũ phương trong trời đất. Khi ngự đồng, có lúc mặc cả bộ trắng, có khi chỉ phủ chiếc khăn phủ diện đỏ làm khăn choàng... Người ta thường dâng Chúa bộ nón hài và đĩa hoa trắng, trong đàn mã mở phủ phải có một cỗ xe trắng dâng Chúa Bà. Đền Chúa bà là Đền Cấm, Phố Cấm, Lê Lợi, Hải Phòng.)
6. Chầu Lục Cung Nương: Bà là Lê Triều Lục Cung Công Chúa trên Thượng Ngàn, cũng như Chầu Năm, bà trấn cửa rừng Chín Tư. Tương truyền bà có phép hô thần chú làm cả núi rừng chuyển động, tà ma phách tán hồn xiêu, người trần gian ai không biết mà làm điều trái luân thường đạo lý, độc ác, sẽ bị Chầu hành cho điên dại. Khi ngự đồng Chầu thường mặc trang phục gần giống với Chầu Năm Suối Lân. Đền Chầu lập tại rừng Chín Tư, Hữu Lũng, Lạng Sơn, gọi là đền Lũng, ngày mở hội là 20 tháng 9 âm lịch.
7. Chầu Bảy Kim Giao: Tương truyền bà cũng là vị Chầu Bà của dân tộc “Mọi”, bà giúp tộc “Mọi” biết làm ăn buôn bán nên được nhân dân nhớ ơn lập đền thờ. Khi ngự đồng Chầu mặc áo gấm tím. Đền Chầu là Đền Kim Giao, Mỏ Bạch, Thái Nguyên.
8. Chầu Tám Bát Nàn: Bà tên thật là Vũ Thục Nương, quê ở Tiên La, Đông Hưng, Thái Bình. Bà là Nữ Tướng dưới thời Hai Bà Trưng, phất cờ khởi nghĩa tại quê nhà để trả thù cho tướng công là Phạm Hương và cứu dân thoát khỏi Bát Nạn (8 nạn) nên nhân dân suy tôn làm Bát Nàn Đại Tướng Quân (Bát Nàn là đọc chệch đi của từ Bát Nạn), sau này (năm 43 SCN) bà hy sinh tại thị trấn Đồng Mỏ, Lạng Sơn. Nhân dân thương tiếc và lập đền thờ bà ở 2 nơi là Đền Tiên La, Đông Hưng, Thái Bình và Đền Đồng Mỏ, Lạng Sơn. Khi ngự đồng Chầu Bà mặc áo vàng, đội khăn đóng, sau lưng giắt kiếm cờ, hai tay cũng cầm kiếm và cờ lệnh xông pha một mình phá mấy vòng vây. Ngày mở hội lễ bà là ngày 17 tháng 3 âm lịch.
9. Chầu Chín Cửu Tỉnh: Bà là Chầu Cửu (âm Hán: Cửu Tỉnh là Chín Giếng) cai quản giếng âm dương điều hòa định thái. Khi ngự đồng Chầu mặc áo hồng, cầm quạt khai quang. Đền Chầu ngự cũng là đền Sòng ở Bỉm Sơn, Thanh Hóa.
10. Chầu Mười Mỏ Ba: Bà là Nữ Tướng trấn giữ ải Chi Lăng, giúp vua Lê Thái Tổ giết được tướng giặc Liễu Thăng, sau lại giúp dân lập ấp lên vùng Mỏ Ba, được triều đình phong công, nhân dân nhớ ơn... Khi ngự đồng Chầu mặc áo vàng, đeo vòng bạc đai xanh mĩ miều, chân quấn xà cạp, tay cầm kiếm, tay cầm cờ hoặc mồi. Đền Chầu là Đền Mỏ Ba, lập ngay sát ải Chi Lăng, Lạng Sơn.
11. Chầu Bé Thượng Ngàn: Đây là tên gọi chung các vị Chầu Bà người Thổ Mường, hầu hàng thứ 11, được coi là các vị Chầu Bé đành hanh nhưng tài phép, cai quản Tòa Sơn Trang, có Thập Nhị Bộ Tiên Nàng hầu cận. Khi ngự đồng mặc quầy (váy) xám; áo (dân tộc thiểu số), đầu chít khăn thổ cẩm, chân quấn xà cạp, vai đeo gùi tay cầm mồi soi đường.
Có rất nhiều vị Chầu Bé ở các Đền khác nhau, nhưng người ta hay thỉnh nhất là các vị sau: Chầu Bé Bắc Lệ, Chầu Bé Đông Cuông, Chầu Bé Đồng Đăng và Chầu Bé Tam Cờ.
12. Chầu Bé Thoải Cung: Bà cũng là chầu Bé nhưng là ở dưới Thoải chứ không phải trên Thượng như các Chầu Bé ở hàng thứ 11 nên được thỉnh riêng đứng hàng thứ 12. Tuy nhiên cũng có rất ít người hầu về giá này.

G. TỨ PHỦ ÔNG HOÀNG

Cũng như hàng Quan Lớn, các Ông Hoàng cũng là những hoàng tử hay danh tướng có tài giúp dân giúp nước nên được nhân dân thờ phụng.

Hàng Ông Hoàng gồm:
1. Ông Hoàng Cả: Vốn là con Đức Vua Cha, giáng trần mang vẻ lịch sự tươi tốt, độ cho dân chúng ấm no, hạnh phúc. Khi ngự đồng ông mặc áo đỏ thêu rồng kết thành hình chữ thọ, đầu đội khăn xếp, có phủ vỉ lép màu đỏ.
2. Ông Hoàng Đôi: Còn gọi là Quan Triệu Tường. Ông là danh tướng họ Nguyễn, thời phù Lê dẹp Mạc, có công lớn với nhà Lê. Khi ngự đồng mặc áo xanh thêu rồng kết thành hình chữ thọ, đầu đội khăn xếp, có phủ vỉ lép xanh, tay cầm lá cờ lệnh to may bằng vải ngũ sắc. Đền thờ ông là Đền Quan Triệu ở Thanh Hóa.
3. Ông Hoàng Bơ: Vốn là con vua Bát Hải Động Đình, thường phù trợ cho người làm ăn buôn bán và những ngư dân đánh cá...
Khi ngự đồng ông mặc áo trắng thêu rồng kết thành hình chữ thọ, đai vàng, đầu đội khăn xếp có phủ vỉ lép trắng, tay cầm đôi hèo hoa, cũng có khi một tay cầm quạt, một tay cầm mái chèo. Đền thờ ông thường được lập ở các cửa sông.
4. Ông Hoàng Bơ Bắc Quốc: Ông vốn là thương gia bên Trung Quốc, từ nước Đại Yên sang Nam Việt bán buôn và cứu giúp người nghèo khổ lên được suy tôn làm Ông Bơ nhưng là Ông Bơ Bắc Quốc để phân biệt với Ông Hoàng Bơ Thoải của Việt Nam. Khi ngự đồng ông mặc áo tàu đội mũ ô sa. Đền thờ ông là Đền Quan trên Bắc Giang.
5. Ông Hoàng Bảy Bảo Hà: Ông vốn là con vua Thượng Đế Ngọc Hoàng, giáng vào nhà họ Nguyễn, người Tày Nùng làm người con thứ 7. Ông là người có công giúp vua Lê dẹp giặc trên vùng biên giới và giúp dân chúng khai hoang lập ấp, nên sau khi ông hy sinh trôi dạt vào nơi bên phà Trái Hút, người dân lập đền thờ ông. Khi ngự đồng ông mặc áo lam thêu rồng kết thành hình chữ thọ, đầu đội khăn xếp phủ vỉ lép xanh lam, tay cầm đôi hèo hoa phi ngựa đi chấm đồng, nếu người nào được ông ném cây hèo vào người thì coi như người đó đã được chấm đồng và phải ra hầu Tứ Phủ, khi ông ngồi ngự có điệu hát dâng trà, rồi cả điệu hát miểu tả khi thanh nhàn ông ngồi đánh tổ tôm, tam cúc. Đền thờ ông là Đền Bảo Hà, bên bến phà Trái Hút, thị xã Lào Cai.
6. Ông Hoàng Mười Nghệ An: Còn gọi là Ông Mười Củi, vốn là thần tiên trong chốn Đào Nguyên, giáng trần trở thành vị tướng tài dưới thời nhà Lê. Không chỉ giỏi cầm quân ông còn là người có tài năng về văn chương thơ phú ... Khi ngự đồng ông mặc áo vàng thêu rồng kết thành hình chữ thọ, đầu đội khăn xếp có vỉ lép vàng trên đầu, các đệ tử thường lấy tờ tiền cài vào que hương tượng trưng cho việc dâng ông lá cờ. Những người muốn xuất ngoại, làm ăn buôn bán hoặc học hành thành công đều đến cửa ông để xin lộc. Đền ông là Đền Chợ Củi, qua cầu Bến Thủy, bên dòng sông Lam, Nghệ An.

H. TỨ PHỦ TIÊN CÔ

Tứ Phủ Tiên Cô là một hàng gồm các cô tiên nàng theo hầu cận các Thánh Mẫu, Chúa Mường, Chầu Bà. Các Tiên Cô là những cô gái đoan trang, liệt nữ, có công với giang sơn xã tắc nên được nhân dân lập đền thờ phụng.

Tứ Phủ Tiên Cô gồm:
1. Cô Nhất Thượng Thiên: Cô là Tiên Nữ trên Ngọc Điện, hầu Vua Mẫu, thường giúp trần gian có lời kêu cầu tấu thỉnh với các Tòa các giá trong Tứ Phủ. Có khi cô giáng trần làm phép hóa ra thuốc trị bách bệnh, cũng có Cô Nhất rong chơi khắp chốn từ Hà Nội, Hải Phòng đến Quảng Bình, Quảng Trị .... Khi ngự đồng cô mặc áo lụa đỏ thêu hoa phượng, đội khăn đóng phủ vỉ lép đỏ, cài hoa, tay cầm đôi quạt ngà như để quạt mát cho thế gian. Đền Cô Nhất thuộc tỉnh Nam Định.
2. Cô Đôi Thượng Ngàn: Cô là Công Chúa Sơn Tinh, là vị Tiên Cô hầu Vua Mẫu ba tòa. Cô đại tài, tiếng tăm lừng lẫy được Vua Bà yêu thương. Cô có rất nhiều đệ tử. Khi ngự đồng cô mặc áo lá xanh, đầu vấn khăn kết thành hình hoa, có vấn vỉ lép xanh, tay cầm mồi. Đền Cô nằm gần Đền Đông Cuông, trước cửa Đền Cô có giếng nước quanh năm trong vắt.
(Có nơi thờ Cô Đôi Cam Đường thay Cô Đôi Thượng Ngàn với truyền thuyết: Cô là tiên nữ xinh đẹp, giáng sinh ở đất Đình Bảng, Bắc Ninh, gia đình nối đời buôn bán vải tơ. Cô bán vải từ đường Quan Lộ, Chợ Dầu, Đình Bảng với đủ các loại tơ lụa, vải sồi, lĩnh tía, chàm xanh, nâu non. Khi ngự đồng cô mặc áo tứ thân xanh, chít khăn mỏ quạ, đội nón quai thao (nón ba tầm), trên vai là chiếc đòn gánh cong với hai đầu là đôi túi đẫy đựng vải. Tuy cô quê ở Bắc Ninh nhưng lại hiển thánh tại thị xã Cam Đường, Lào Cai nên nhân dân nhớ ơn đã lập đến cô là Đền Cô Đôi Cam Đường.)
3. Cô Bơ Hàn Sơn: Còn gọi là Cô Bơ Bông. Cô là con Vua Thủy Tề hầu trong Cung Quảng Hàn,rất xinh đẹp, lại đàn hát cũng hay nên được Đức Vương Mẫu phong là Công  Chúa Ba Bông hay Công Chúa Thủy Cung, cùng quan sứ giả chọn ngày lành để giáng hiện thần tôn thành cô thiếu nữ đất Hàn Sơn. Khi cô ngự đồng mặc áo trắng pha màu tuyết, đầu đội khăn đóng, vấn khăn ngang ba màu, tay cầm đôi mái chèo để vân du khắp nơi, cũng có khi cô cầm dải lụa để đi đo đất đo mây.
Đền thờ cô là Đền Cô Ba Bông ở Hà Trung, Thanh Hóa, ngay cửa sông. Mở hội vào ngày 12 tháng 6 âm lịch.
4. Cô Tư Ỷ La: Theo tài liệu cổ thì cô Tư là Tiên Nữ theo hầu Mẫu Thượng. Cô xinh đẹp dịu dàng, được Mẫu hết mực yêu quý. Khi thanh nhàn cô thường dạo chơi cảnh Tây Hồ với chiếc áo lụa vàng tha thướt thêu hoa lá. Cô được thờ trên đền Ỷ La (Tuyên Quang).
5. Cô Năm Suối Lân: Cô là Tiên Nàng người dân tộc theo hầu Chầu Năm Suối Lân. Cô ở Thượng Ngàn, là người cai quản con suối Suối Lân. Khi ngự đồng cô mặc áo xanh hoặc áo lam, đầu vấn khăn hình củ ấu và tay cầm đôi mồi lửa. Đền cô là ngôi đền nhỏ cạnh đền Chầu Năm, bên bờ sông Hóa ở Lạng Sơn.
6. Cô Sáu Sơn Trang: Cô là Tiên Nàng hầu cận Mẫu Thượng Trang Châu, cũng có nơi nói cô là người kề cận Chầu Lục Cung Nương và gọi cô là Cô Sáu Lục Cung, nhưng các tài liệu đều thống nhất cô Sáu là người có tài bốc thuốc cứu người, cô rất ghét người ăn nói quanh co, điêu ngoa. Khi giáng đồng cô mặc áo lam ngắn vạt, dài tay, chít khăn xanh, trâm cài, lược dắt, tay cầm bó mồi.
7. Cô Bảy Kim Giao: Cô theo hầu Chầu Bảy Kim Giao trên đất Thanh Liên, Mỏ Bạch, Thái Nguyên, cũng là người dân tộc “Mọi”. Cô hiển ứng, đêm đêm mắc võng đào cùng các bạn tiên ngồi ca hát. Khi về đồng cô mặc áo lụa tím.
8. Cô Tám Đồi Chè: Cô là thiếu nữ hái chè đất Hà Trung, cũng một lòng giúp vua, tuy chưa được đền đáp nhưng cô được dân lập đền thờ là đền Phong Mục, Hà Trung, Thanh Hóa, cách đền Cô Bơ Bông một con sông. Khi ngự đồng cô mặc áo xanh váy xanh, đầu kết khăn xanh, cô múa mồi rồi múa dáng điệu hái chè.
9. Cô Chín Sòng Sơn: Còn gọi là cô Chín Giếng, Chín Rồng, Chín Suối, theo hầu Mẫu Sòng, có tài xem bói và có phép thần thông quảng đại…. Nhân dân cầu đảo linh ứng liền lập đền thờ là Đền Cô Chín ở Thanh Hóa, cách đền Sòng Sơn khoảng 30km. Khi ngự đồng cô mặc áo hồng phớt màu đào phai, có khi cô múa quạt tiến Mẫu, múa cờ tiến Vua, cũng có khi cô thêu hoa dệt lụa, rồi lại múa cánh tiên. Lễ vật dâng cô: Nón đỏ hài hoa vòng hồng...
(Có nơi thờ cô Chín Tít Mù thay cô Chín Giếng nhưng khác ở điểm: Cô Chín Tít Mù ở trên Thượng Ngàn, có tài trị bệnh bằng nước suối, tuy nhiên cũng rất ít người hầu về giá này. Đền cô Chín Tít Mù lập ở đường lên Chầu Mười Mỏ Ba, ngôi miếu nhỏ có suối nước thiêng, ai kêu cầu cô thì dâng cô nón đỏ hoặc nón xanh để xin thuốc chữa bách bệnh.)
10. Cô Mười Mỏ Ba: Cô theo hầu Chầu Mười Mỏ Ba, giúp vua đánh giặc Ngô. Khi ngự đồng cô mặc áo vàng cầm cung kiếm, cưỡi trên mình ngựa theo Chầu Bà xông pha trận mạc. Cô cũng được thờ tại đền Chầu Mười.
11. Cô Bé Thượng Ngàn: Cũng như Chầu Bé, các vị cô bé đều là những bộ nàng trên Tòa Sơn Trang, hầu Mẫu Thượng Ngàn. Có rất nhiều cô bé trên khắp các cửa rừng lớn nhỏ. Các cô về mặc quần áo thổ cẩm, chân quấn xà cạp, đeo kiềng bạc, tay cầm ô, vai đeo gùi. Các cô bé gồm: Cô Bé Thượng Ngàn (Thị Xã Lạng Sơn), Cô Bé Suối Ngang (Hữu Lũng), Cô Bé Đèo Kẻng (Thất Khê), Cô Bé Đông Cuông (Yên Bái), Cô Bé Tân An(Lào Cai), Cô Bé Cây Xanh (Bắc Giang), Cô Bé Nguyệt Hồ (Bắc Giang), Cô Bé Minh Lương (Tuyên Quang), Cô Bé Cây Xanh (Tuyên Quang) và Cô Bé Thác Bờ (Hòa Bình)
12.Cô Bé Thoải Phủ: Cô Bé ngự dưới tòa Thoải Phủ, chỉ tráng bóng chứ không mở khăn, đứng hàng 12 trong các cô.

K. TỨ PHỦ THÁNH CẬU

Là các vị cậu chết trẻ, tinh nghịch, thường phù hộ cho các gia đình buôn bán cũng như những người muốn cầu học hành.
Tứ Phủ Thánh Cậu gồm:
1. Cậu Hoàng Cả
2. Cậu Hoàng Đôi
3. Cậu Hoàng Bơ
4. Cậu Bé
   a, Cậu Bé Đồi Ngang (Cậu Hoàng Quận)
   b, Cậu Bé Đồi Non
Ngoài ra ở mỗi bản đền lại có một cậu bé coi giữ gọi là cậu bé bản đền, trong đó thường hay ngự đồng như: Cậu Bé Phủ Bóng, Cậu Bé Đông Cuông....
Các cậu về (ngự đồng) thường mặc áo cánh các màu ứng với mỗi giá, đầu vấn khăn, hai bên tay thường có hoa cài, chân quấn xà cạp, đi giày thêu. Các cậu về thường làm lễ tấu rồi đi hèo hoặc múa lân.

Mời tham khảo:

http://dangxuanxuyen.blogspot.com/2015/09/ao-mau-va-tin-nguong-tho-tam-phu-tu-phu.html

(Trích trong VÀO CHÙA LỄ PHẬT - NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT của Đặng Xuân Xuyến; xuất bản năm 2006)

READ MORE - ĐẠO MẪU VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ TAM PHỦ, TỨ PHỦ QUA TRẬT TỰ CÁC GIÁ HẦU – Đặng Xuân Xuyến

TUYỆT TÌNH CỐC - Thơ Vũ Hùng




TUYỆT TÌNH CỐC

Tuyệt Tình Cốc ghé trưa nay,
Nắng Xuân rừng rực, khoả khuây cơn Nồm
Rừng keo mơn mởn núi ôm,
Suối khô mấy vũng dợn chòm mây bay.

Toạ thiền thả lỏng đôi tay,
Bỏ buông bao chuyện dở hay trò đời.
Vào đây đầu óc thảnh thơi,
Cho tâm ý sáng liệu lời thanh hơn.

Thôi nha xí xóa giận hờn,
Đưa tay đây nắm dốc trơn dễ nhào.
Nghiêng nghiêng lối thấp núi cao,
Bàn tay thon thả nôn nao cả lòng.

Trái Tim Hồ đá xanh rong,
Đôi con bướm trắng lượn vòng chơi vơi!
Mênh mang sắc nước in trời,
Ngẫm trang kiếm hiệp chuyện đời long đong.

Tuyệt tình nào chẳng ai mong,
Cốc đâu lác đác chòi mòng hoang sơ?
Uống đi rượu nhạt bây giờ,
Uống đi quên hẳn vần thơ tuyệt tình!

Quy Nhơn,10.03.2019
Vũ Hùng


READ MORE - TUYỆT TÌNH CỐC - Thơ Vũ Hùng

Chùm ảnh HOA PHONG LAN - Chu Vương Miện














READ MORE - Chùm ảnh HOA PHONG LAN - Chu Vương Miện

TẢN MẠN VỀ MỘT MỸ THO XƯA - Kha Tiệm Ly

Hình từ trang Nam Kỳ Lục Tỉnh.


Tản Mạn Về Một Mỹ Tho Xưa
Kha Tiệm Ly

Theo đà phát triển của đất nước, TP Mỹ Tho cũng từng bước đi lên, vì thế bộ mặt bên ngoài cũng do đó mà thay đổi rất nhiều. Và như một qui luật, những gì cũ kĩ cũng phải bị đào thải qua thời gian…

Tuy nhiên, về một “Mỹ Tho xưa”, có lẽ vẫn còn là một hình bóng êm đẹp với nhiều người lớn tuổi mà họ thường nhắc nó với niềm thân thương trong những buổi trà dư tửu hậu.

Chúng tôi nói “xưa”, là lấy mốc thời gian chừng sáu bảy chục năm trở lại đây; những gì xưa hơn, khoảng hai ba thế kỉ trước (như Mỹ Tho Đại Phố chẳng hạn), thì xin hẹn dịp khác.

Điều làm bộ mặt Mỹ Tho thay đổi rõ ràng là lượng xe cộ quá đông và đường phố khang trang rộng rãi, hàng quán rộ lên rất nhiều so với trước kia

Hình từ trang Nam Kỳ Lục Tỉnh.

Mỹ Tho hồi ấy ít xe lắm, mà đa số là xe đạp, công chức, thầy cô giáo cũng không mấy người có xe gắn máy, còn học sinh thì trăm phần trăm đi xe đạp. Đến năm 66, dù xe honda đã vào nước ta nhưng đường phố cũng chẳng sung túc bao nhiêu. Chỉ có những giờ cao điểm là lúc tan trường, tan sở thì ngoài đường khá nhộn nhịp đôi chút, nhưng chỉ tập trung ở ngã tư Lê Lợi - Đinh Bộ Lĩnh. Ngã tư nầy có biệt danh là “chim bay cò bay”, cụm từ nầy mô tả thủ hiệu của chú cảnh sát đứng trên “lồng cu” làm nhiệm vụ điều khiển lượng xe qua lại.

Xe gắn máy ít nên cả thành phố chỉ có mấy cây xăng. Đó là cây xăng Hồng Vũ tại bến đò Hồng Vũ, cây xăng Năm Nồi tại khu vực Năm Nồi, một cây xăng ở trên chợ Vòng Nhỏ và một cây xăng tại bùng binh chợ Thạnh Trị cũ. Cây xăng nầy dẹp trước năm 60, nhưng địa danh “Ngã tư Cây Xăng” vẫn tồn tại đến năm 75, và cho đến nay vẫn còn người nhắc đến. Sau đó có cây xăng tại Ty Cấp Thoát Nước (giờ cây xăng nầy cũng không còn)

Hình từ trang Nam Kỳ Lục Tỉnh.

Đường xá thì chỉ có Đại Lộ Hùng Vương và đường Gia Long (nay là 30-4) là rộng rãi và sạch sẽ nhất, còn hầu hết thì loang lổ, long chong

Hai bên đường đa số được trồng cây me chua, nhất là đại lộ Hùng Vương và đại lộ Lê Lợi (xưa dùng từ đại lộ). Khoảng đường từ “chim bay có bay” đến đường Gia Long có lẽ là đoạn đường đẹp nhất, thơ mộng và êm ả nhất, nhờ hai hàng me cổ thụ hai bên phủ bóng mát rượi, lại ít xe cộ nên yên tịnh, và nhất là rất sạch, vì khu nầy là nơi tập trung của các cơ quan, nhà ở của công chức nên không có rác sinh hoạt tràn ra đường.

Trồng me hai bên đường có nhiều cái lợi. Thứ nhất là rễ me ăm sâu xuống đất nên chống chọi được bão giông, thứ hai là có nguồn thu nhập cho nhà nước, và kế nữa, theo chúng tôi, là được… lượm me chín để ăn, và cho mẹ nấu canh chua!

Mùa me chín bắt đầu từ gần tết cho tới gần sa mưa. Cứ sau một cơn gió là me rụng lộp bộp trên đường. Me nhiều, nhưng “đoàn quân…hái lượm” cũng không ít, vả lại đâu phải lúc náo cũng có gió mạnh, nên mỗi đứa lượm cũng chẳng được bao nhiêu. Để chủ động, chúng tôi đem theo một khúc củi (lúc đó chưa xài gas), hoặc ná thun; coi chùm nào ưng ý thì phang hay bắn lên. Chiến thuật nầy hiệu quả vô song, nhưng không may tổ trát, gặp mấy chú cảnh sát thì “vũ khí” sẽ bị tịch thu, có khi bị xách lỗ tay dọa đem về bót, hay nặng hơn là bị mấy cái bốp tay nháng lửa!

Đại lộ Lê Lợi là khu vực chợ nên có lượng xe nhiều nhất , kế đó là Đinh Bộ Lĩnh nối liền với Thủ Khoa Huân, vì lượng xe từ hướng Gò Công đi lên, và từ mọi miền đổ xuống đều phải qua ngõ duy nhất là Cầu Quây.

Dù ở trung tâm thành phố nhưng những con đường như Huỳnh Tịnh Của, Huyện Toại, Trương Định, và khúc đường Alexandre de Rhodes (giờ là Nguyễn Tri Phương), từ Đài Chiến Sĩ (vị trí ngay đầu cầu Hùng Vương) chạy dài cho đến trại Nguyễn Văn Mua (nay là Cục Thuế TP) lại vắng hoe, có người ở Mỹ Tho từ nhỏ nhưng cả … 20 năm cũng không có dịp đến những con đường nầy!

Đường Trần Hoàng Quân (giờ là Tết Mậu Thân), đường Yersin nằm dọc theo hai bên giếng nước có người “cả đời không đi tới” bởi ai cũng ngại sự lầy lội, dơ bẩn của nó.

“Đất Thánh Tây” là khu vực từ đường Vòng Nhỏ (nay là Trẩn Hưng Đạo) chạy dài đến Cầu Dầu lại càng thưa thớt, lên xa hơn nữa là chợ Đồng Xanh rồi đến Quan Âm Tu Viện thì hai bên cỏ mọc um tùm, còn mang dáng dấp miệt vườn.

Câu hỏi lí thú: Có dường Vòng Nhỏ, tất phải có đường Vòng Lớn, vậy nó nằm ở đâu? Xin thưa, đó là con đường từ chợ Cầu Cống đến đầu cầu Rạch Miễu, con đường nầy có tên là lộ Vòng Lớn, sau đổi là lộ Bờ Dừa, và nay là QL 60 (người ở Mỹ Tho “hàng tám, hàng chín” mới biết điều nầy!)

Tịnh xá Ngọc Tường hồi mới thành lập nó nằm giữa ruộng, xung quanh không hề có nhà cư dân. Từ đó trở lên Cầu Sắt, đến năm 62, 63 hai bên đường còn là đồng lúa xen kẻ với những rặng trâm bầu và lau sậy, cỏ dại um tùm. Ban đêm ếch nhái ểnh ương cùng hòa lên khúc nhạc ma quái não nùng!. Mãi cho tới mấy năm sau 1975, con đường nầy vẫn còn tối thui như thuở trước, nó có biệt danh là “Xa lộ không đèn”. Người “yếu bóng vía” phải lạnh giò khi có dịp buộc phải đi qua..

Đường Trưng Trắc từ Cầu Quay đến cây xăng Hồng Vũ là đoạn đường sầm uất nhất của thành phố, bởi đó là khu của chợ cá, chợ rau, chợ gà vịt, chợ miệt vườn; lại là nơi tập trung nhiều đại lý bánh kẹo, tạp hóa,… cho các vùng xa. Nhưng đến 18, 19 giờ thị lại vắng tanh theo qui luật “chợ về chiều”; bù lại, đoạn đường từ Cầu Quay kéo dài đến Vườn Hoa Lạc Hồng (nay là CV Thủ Khoa Huân) vào thời điểm nầy lại vô cùng náo nhiệt nhờ một dãy bar nằm cặp bờ sông bán đủ loại thức ăn, thức uống. Nổi tiếng nhất là A Lục (hủ tiếu), Việt Hải, Xừng Ký (cơm), Hương Duyên, Duyên Thắm (kem). Đến năm 65, 66, để đáp ứng nhu cầu cho quân viễn chinh, khu vực nầy lại mọc thêm những “sờ nách” bar ở cuối dãy với những tiếp viên ăn mặc thật ‘nghèo” (thiếu vải), môi mồng đỏ choét, uống bia như rồng hút nước và nói tiếng Anh… bồi như gió!

Có những con đường, hay những địa danh nổi tiếng mà đến nay người ta vẫn còn dùng hay vẫn nằm sâu trong tiềm thức, dù những chỗ ấy giờ không còn một tàn tích nào của một thời vang bóng. Đó là Bót Số Tám ( vị trí ngay Y Tế Dự Phòng); Đoạn đường Trần Hoàng Quân (nay là Tết Mậu Thân) từ khu vực Thư Viên Tỉnh cho đến gần Sân Bay (Hồ Tắm bây giờ) là đoạn đường có những cây còng cổ thụ vì thế nên đoạn đường nầy có biệt danh là Đường Hàng Còng, hay Xóm Hàng Còng. Đó là Ngã Tư Quốc Tế, giao lộ của Đinh Bộ Lĩnh – Trịnh Hoài Đức. Đó là Năm Nồi, (khu Năm nồi bây giờ). Ba địa danh nầy nổi tiếng là tụ điểm bát nháo của giới “chị em ta”.

Ngoài ra còn có Bến Tắm Ngựa, Ngã Ba Sở Rác, (giao lộ Ta Thu Thâu – Đinh Bộ Lĩnh), “Chim Bay Cò Bay”, Cây Xăng (như đã dẫn trên). Đó là Trại Giam, từ để chỉ Trung Tâm Cải Huấn cũ, nằm ngay vị trí nhà hàng Sông Tiền bây giờ. Đó là Hãng Xáng, chỉ địa điểm cuối đường Tết Mậu Thân hướng bờ sông ngày nay. Đó là Quân Tiếp Vụ, để chỉ khu vực Cây Xăng số 9…

TP Mỹ Tho thời trước có ba rạp hát đó là Hí viện Vĩnh Lợi chuyên chiếu phim Ấn Độ; tiền thân của rạp nầy là rạp cải lương của Thầy Năm Tú, rạp hát cải lương đầu tiên của miền nam. Sau 75, Hí viện Vĩnh Lợi được cãi tên là Tiền Giang. Rạp Định Tường, chuyên chiếu phim Tây, và Viễn Trường, không chuyên loại phim nào.

Hình từ trang Nam Kỳ Lục Tỉnh.

Tiền thân của rạp Viễn Trường, là rạp cải lương Huỳnh Kỳ của Bạch Công Tử. Sau tên Viễn Trường là Tân Viễn Trường. Năm 1980 lại đổi là Mỹ Tho (nhưng không ai gọi hai tên sau nầy). Sau một thời gian bị bỏ hoang, rạp Viễn Trường lại bị phá bỏ để xây dựng siêu thị Thành Nghĩa.

Than ôi! Rạp hát cũng như người nghệ sĩ đều phải trải qua những khúc đoạn trường!

Rạp Vĩnh Lợi và Viễn Trường có lợi thế là chứa được nhiều khán giả nên cũng là nơi mà các đoàn cải lương hay đại nhạc hội ghé thăm, cũng là nơi tụ tập của hàng mấy chục sòng bầu cua cá cọp trải dài trước rạp vào những ngày tết, đã làm cho không gian hai khu vực nầy càng thêm bát nháo, ồn ào.

Rạp Định Tường dù nhỏ, nhưng có lẽ lượng người coi đông nhất, và phần đông là dân “trí thức”, bởi phim luôn “phụ đề việt ngữ”, chứ không được “chuyển âm tại phim trường Mỹ Phương” như rạp Vĩnh Lợi, nên khán giả bình dân khó theo dõi được.

Vào những ngày chiếu phim hay như Benhur, OSS 117…thì rạp chỉ bán mỗi người hai vé (sợ mua nhiều mà tuồn ra chợ đen!). Hàng chục bàn tay luồn vào cái lỗ bán vé nhỏ xúi; khi cầm được vé, rút tay cũng trầy vi tróc… da tay! (sic). Ngày nay, lượng khán giả hai rạp nầy thật thê thảm!

Điều đặc biệt là TP mỹ Tho trước có nhiều trường tư thục từ sơ cấp đến trung học cấp 2, 3. Sơ cấp thì có Lễ Nghi Học Hiệu (gần trường Hoa văn Quảng Triệu) của bà Đốc Tiền , trường nầy nổi tiếng về kỉ luật và lễ phép, đặc biệt trường dạy cả “tiếng Tây” với những câu chào hỏi thông thường; và trường Quang Trung (ngã tư Chợ Cũ cũ). Trung học thì có Thiên Hộ Dương (phía sau Trường Nữ Tiểu Học, giờ là trường Tiểu Học Thủ Khoa Huân), trường Văn Hiến (đối diện Nữ Tiểu Học), Trường Chân Phúc Liêm (Gần cổng trước Khu Bảo Tàng Tỉnh bây giờ), Trường Hùng Vương (cuối Đại Lộ Hùng Vương), trường Phụ Huynh Học Sinh chỉ dạy từ 19 giờ mỗi ngày (đặt ngay trường Nữ Tiểu Học). Đặc biệt là trường tiểu học Trương Công Định, là một trường được xây dựng bằng gỗ tọa lạc tại khu vực Trung Tâm Văn Hóa Tỉnh bây giờ. Vào năm 60, trường nầy được đổi tên là trường trung h ọc Bán Công Trương Công Định . Đến năm 62, trường Bán Công Trương Công Định được dời về ngã tư Lý Thường Kiệt – Vòng Nhỏ (nay là Trần Hưng Đạo) và được đổi tên là trường Bán Công Mỹ Tho, là tiền thân của trường Trần Hưng Đạo ngày nay.

Về “trường Tàu” thì có hai trường: Một là trường Quãng Triệu , sau đổi là Việt Tú, hai là trường Đức Hạnh ở đường Phan Thanh Giản. Hai trường nầy giờ là trường tiểu học Nguyễn Trải và Trung Tâm Giáo Dục Thường xuyên

Đến bây giờ mà nếu nói ‘Nhà tôi ở Chợ Cũ” thì cũng nên nói thêm là Chợ Cũ cũ, hay Chợ Cũ… mới để người nghe khỏi thắc mắc, vì Chợ Cũ trước kia nó nằm từ ngã tư Đinh Bộ Lĩnh –Nguyễn Huỳnh Đức kéo dài khỏi miễu Kim Liên ( bây giờ gọi là chùa Kim Liên). Nhưng nếu nói “ngã tư Chợ Cũ”, phần đông người ta hiểu đó là ngã tư Chợ Cũ cũ!

Chợ Vòng Nhỏ cũng tương tự như vây, nó nằm ngay giao lộ Vòng Nhỏ - Ngô Tùng Châu (giờ là Lê Thị Hồng Gấm). Tên “Chợ Vòng Nhỏ cũ” chỉ được khai sanh khi Chợ Vòng Nhỏ mới ra đời.

Cầu Bắc cũ nằm cuối đường Nguyễn Trung Long (nay là Nam Kì Khởi Nghĩa) cũng chịu số phận ấy.

Về chợ búa thì hầu như bớt đi về số lượng, nhưng sự sung túc thì hơn hẳn trước kia.
Chợ Hàng Bông một thời náo nhiệt, phải bị giải tỏa đi để xây Trung Tâm Thương Mại, thường gọi là “siêu thị lớn” với sức mua èo uột đáng thương!

Chợ Đồng Xanh vốn là “chợ không người nhóm”, đã bị phá đi để làm Cầu Bắc Mới

Nối liền hai bờ đông tây của sông Bảo Định chỉ có Cầu Quây đã có từ hơn trăm năm trước (1895). Vào thập niên 60, nhóm tư nhân người Hoa mới lập thêm một Cầu Sắt nối liền từ Hoàng Hoa Thám đến bến đò Hồng Vũ. Sau 75, không biết lí do gì, cầu bị dở bỏ, để ít lâu sau, cầu Nguyễn Trải được thành lâp.
Trước kia phía bắc đại lộ Hùng Vương được kết thúc bằng Đài Chiến Sĩ, và phía kia bờ Bảo Định là vườn tược sum suê. Năm 2005, cầu Hùng Vương được thành lập để nối hai bờ.

Lớp trẻ ngày nay đâu ai ngờ rằng tại thành phố mình từ năm 1885 đã có xe lửa chạy ngày hai chuyền Saigon – Mỹ Tho mà nhà ga ngay tượng đài Thủ Khoa Huân hiên tại, cho mãi đến năm 1958 mới hết sử dụng; và một Hãng Xáng qui mô nhất Đông Nam Á chiếm một diện tích rộng lớn bao gồm các đường Tết Mậu Thân, qua Lý Thường Kiệt, qua Nam Kì Khởi Nghĩa, và cạnh kia là sông Tiền.

Thành phố Mỹ tho ngày trước có ba công viên: Công viên Cầu Tàu nằm ngay vị trí Chợ Đêm bây giờ - chỗ Nhà Hàng nổi; công viên Dân Chủ, ngay vị trí Cung Thiếu Nhi (mặt đường Hùng Vương), Nhưng lớn nhất vẫn là Vườn Hoa Lạc Hồng, nay là công viên Thủ Khoa Huân.

Chợ hoa ngày trước tập trung tại công viên Dân Chủ và tại xóm Hàng Còng, với số lượng hoa khiêm tốn hơn ngày nay rất nhiều.

Cũng nên nhắc lại, từ năm 1900 có một lò gạch của ông Bang chủ người Phúc Kiến, mà nghệ sĩ Phùng Há đã từng là nhân công cho lò gạch nầy. Đến năm 1958, nhà nước cho giải tỏa đền bù để thành lập Bến Xe Mỹ Tho. Vị trí lò gạch nầy là chơ Thạnh Trị ngày nay.

Nói về Mỹ Tho xưa mà không nói về những di tích kiến trúc cổ thì e thiếu sót. Nằm trên đầu đường 30 tháng 4 có một Bungalow , đó là một loại nhà hàng khách sạn dành cho người Pháp, nay là nhà sách Tổng Hợp; kế đó là dinh Tỉnh Trưởng cùng Tòa Hành Chánh chế độ cũ, nay đã bị phá bỏ thay vào đó là UBND Tỉnh. Sát bờ sông có Câu Lạc Bộ Người Pháp. Sở dĩ có từ “Người Pháp” là để phân biệt với Câu Lạc Bộ Ngưới An Nam (Cerle Anamite).Trước 75, CLB Người Pháp được dùng làm căn cứ hải quân; sau 75, được chuyển thành hệ thống nhà hàng khách sạn Chương Dương. Còn CLB An Nam đã bị đập bỏ để xây dựng Công Đoàn Tỉnh.

Tháp Nước bằng sắt tại Ty Cấp Thoát Nước nằm gần Cầu Bắc cũ có tuổi đời độ 120 năm, về sau vì nhu cầu, người Pháp lại xây thêm một tháp nước bằng Pê tông cốt sắt kế bên. Đây có lẽ là công trình cao nhất thời bấy giờ. Nhà máy nước được dời đi như kế hoạch: Chúng cũng bị khai tử như số phận những di tích xưa!

Trên đường Lê Thị Hồng Gấm có biệt thự của Đốc Phủ Lượng, là một tòa nhà lớn, có lầu, chiếm một không gian rộng lớn, hồi nhỏ chúng tôi gọi là “biệt thự kinh hoàng” vì nằm trên một khu đất hoang vắng (cách nay 6, 7 chục năm), cộng vào nét cổ kính nên nó nên nhuộm đầy màu sắc Liêu Trai! Tiếc thay nay đã bị phá bỏ để xây dựng Đài PT và Truyền Hình.

Trên đường Đinh Bộ Lĩnh có nhà của Bạch Công Tử nằm cạnh rạp Hát Viễn Trường (nay vẫn còn).

Trên đường Lê Lợi thì có Ủy Ban Hành Chánh Xã Điều Hòa, nghe nói đây cũng là nhà của Bạch Công Tử trước kia (?), ngôi nhà nầy cũng bị phá bỏ để xây Trung Tâm Thương Mại, thường gọi là “Siêu Thị Lớn”

Gần góc đường Nguyễn Trải, có biệt thự của Lê Văn Đức (quốc tịch Pháp), sau bán lại cho Đốc PhủTiên. Tiên lại nhường lại cho con rể là Bác sĩ Nguyễn Kiểng Bá, sau Bá lại nhường cho con rể là Bác sĩ Trần Quang Minh. Thời Nguyễn Kiểng Bá, khu vực biệt thự nầy biến thành một bệnh viện tư, thường gọi là “Bệnh viện Ông Bá”. Sau năm 1975, ngôi biệt thự nầy lại được phá bỏ để làm Nhà Văn Hóa Thành Phố

Tới chút nữa, tại góc đường Phan Hiển Đạo lại có ngôi biệt thự của Đốc Phủ Lộc, thường gọi là Bá Hộ Lộc (nay vẫn còn).

Đường Hùng Vương thì nào là Nhà Thương Lớn (bệnh viện Đa Khoa bây giờ), bệnh viện Sản khoa, BCH Quân Sự Tỉnh, Nào là trường Nguyễn Đình Chiểu với những dãy phòng học cũ kĩ và nhà của đốc học cổ kính đã được xây dựng từ năm 1879. Nào là Viện Dưỡng Lão (vị trí ở tại trường mầm non Lê Thị Hồng Gấm)…

Những kiến trúc về nhà ở, kĩ sư Pháp xây dựng theo lối “kiến trúc thuộc địa” (style colonial), tường luôn xây bốn mươi, có nhiều nóc, có mái vòm. Quanh năm đều ấm áp. Tiếc thay những công trình kiến trúc cổ kính, vừa có giá trị thẫm mĩ, vừa có giá trị lịch sử như vậy, phần lớn lại bị phá bỏ hay cắt xén thật thảm thương!

Thay lời kết: TP Mỹ Tho xưa rất còn nhiều điều cần phải nói thêm, nhưng khuôn khổ báo có hạn nên đành hẹn một dịp khác chúng tôi sẽ trình bày chi tiết hơn. Bài nầy, đa phần là viết theo lời của những bậc trưởng bồi kể lại, cộng vào một chút ít tư liêu, nhưng chủ yếu là viết theo kí ức và sự hiểu biết hạn hẹp của mình, vì thế chúng tôi không khỏi vấp nhiều sơ sót. Nhưng với tấm lòng yêu nơi đã nuôi mình khôn lớn, và để mừng ngày TP được tròn 333 tuổi, chúng tôi đành mạo muội góp phần. Kính mong các đấng cao niên, các bậc trí giả vui lòng lượng thứ những khiếm khuyết ngoài ý muốn, cũng như vui lòng chỉ bảo thêm. Đó là nguyện vọng của chúng tôi.

KHA TIỆM LY
Nguồn: Hai Bờ Giấy - haibogiay.net

READ MORE - TẢN MẠN VỀ MỘT MỸ THO XƯA - Kha Tiệm Ly

Wednesday, March 13, 2019

CHÂN TÌNH - Thơ Lê Kim Thượng



              Nhà thơ Lê Kim Thượng


CHÂN TÌNH

Ước gì… trở lại ngày xưa...
Thuở còn son rỗi… em chưa có chồng…

***

Để tôi… hóa chiếc hài hồng
Cho em… nhẹ gót phiêu bồng rong chơi
Để tôi, hóa cánh hoa rơi
Cho em ép vở,  nhớ thời yêu nhau
Để tôi, hóa sóng bạc đầu
Cho em ru mãi một câu hẹn thề
Để tôi, hóa buổi chợ quê
Cho em rao bán câu thề thuở xưa
Để tôi, hóa gió đong đưa
Cho em nghe tiếng yêu thừa rụng rơi            
Để tôi, hóa tiếng đàn lơi
Cho em gõ nhịp, trong hơi rượu nồng
Để tôi, hóa biển hóa sông
Cho em bến đợi,  bờ mong u hoài
Để tôi, hóa chiếc lá khoai
Cho em đổ nước ra ngoài… buồn không ?
Để tôi, hóa “… Sáo sang sông… ”
Cho em mở cửa, sổ lồng bay cao
Để tôi, hóa giấc chiêm ba
Cho em lỡ bước, đi vào trong nhau
Để tôi, hóa cuộc biển dâu
Cho em thề thốt một câu vĩnh hằn
Để tôi, hóa một vầng trăng
Cho em xẻ nửa… sao băng trắng ngần…

***           

Cho tôi… Cát Bụi... hóa thân...
Để em  “Lộng ảo thành chân…” cuộc tình…

                       Nha Trang, tháng 03. 2019
                            LÊ KIM THƯỢNG

“...” Ca dao

READ MORE - CHÂN TÌNH - Thơ Lê Kim Thượng

QUÊ NỘI TÔI ƠI - Thơ Hiệp Kim Áo Tím



                Nhà thơ Hiệp Kim Áo tím


QUÊ NỘI TÔI ƠI

Con về quê nội một ngày
Đồng xanh bát ngát cò bay từng đàn
Trong lòng cảm xúc mênh mang
Bàn thờ nội tổ khói nhang hương trầm

Sân nhà con đứng trầm ngâm
Nơi này nội đã vài lần về thăm
Bây giờ cô bác xa gần
Người còn người mất sao ngăn nỗi buồn

Không mưa sao mắt lệ tuôn
Người đi xa khuất cội nguồn còn đây
Ước mong sẽ có một ngày
Bà con nội ngoại về đây sum vầy

Chuyện xưa nghe kể mê say
Dòng sông nước chảy tràn đầy yêu thương
Chia tay bao nỗi vấn vương
Rời xa quê nội con đường buồn tênh

Đến rồi về làm sao quên
Ngôi nhà năm cũ làm nên cuộc đời
Thương lắm quê nội tôi ơi
Phú Yên - Bình Định một trời nhớ mong

                                  Hiệp Kim Áo Tím
                                  Đà Lạt, 14/3/2019

READ MORE - QUÊ NỘI TÔI ƠI - Thơ Hiệp Kim Áo Tím

BÊN KIA LÀ CUỘC ĐỜI - Thơ Châu Thanh Thủy


          Tác giả Châu Thanh Thủy


BÊN KIA LÀ CUỘC ĐỜI

Ta vẫn như ta giữa cuộc đời
Vui, buồn, yêu, ghét...giấc mơ thôi
Bay trên sàn diễn cong tay múa
Sân khấu phải đâu những cuộc vui...

Hóa thân trong ánh đèn xanh đỏ
Son phấn, phục trang chẳng giống mình
Ai còn ta đó, bên ta đó,
Có gượng vui trong những cười xinh ?

Bước qua ánh sáng sang đời thực
Ta vẫn riêng ta một chữ tình
Má hồng nhợt nhạt sau đêm thức
Đời không là vở diễn lung linh !

                      Châu Thanh Thủy

READ MORE - BÊN KIA LÀ CUỘC ĐỜI - Thơ Châu Thanh Thủy

TRÁI NÀO BẰNG TRÁI TÌNH YÊU - Thơ Lệ Hoa Trần






TRÁI NÀO BẰNG TRÁI TÌNH YÊU

Vải tơ, chăn chiếu, nệm hồng
Chỉ là tạm bợ cho lòng bớt... câm
Sao bằng hơi ấm tình chàng
Sao bằng da thịt người thân ôm choàng
Rượu nào sưởi trọn tim non
Bằng đôi mắt tỏ, cười giòn bên nhau
Lời nào xóa sạch tim đau
Bằng đôi môi thắm trót trao đêm sầu
Tình nào mới biết tình sâu
Từng đêm âu yếm gối đầ̀u sẻ chia.

                                  Lệ Hoa Trần
                                  10-03-2019

READ MORE - TRÁI NÀO BẰNG TRÁI TÌNH YÊU - Thơ Lệ Hoa Trần

ĐÊM LẠI TRONG TÔI, MAI TÔI VỀ - Thơ Thủy Điền





ĐÊM LẠI TRONG TÔI

Một nỗi buồn vô tận
Kỷ niệm đầu đời
Có lẽ
Đến trăm năm

Một màu tang
Một vết nhát bầm
Trái tim thủng
Khi vừa mới lớn

Đêm để lại trong tôi
Những gì nghe ghê rợn
Từ đáy lòng
Của hai tiếng yêu đương

Ngỡ như Trăng
Sao sáng soi đường
Như mật ngọt
Thoát từ con Ong nhỏ

Có dè đâu
Tình đầu phi như gió
Qua đêm tàn
Mới rõ mặt Chinh  nhân.

                  Thủy Điền
                 11-03-2019


MAI TÔI VỀ

Mai tôi về thăm vườn hoa Cúc
Đã bao mùa bút mực trôi qua
Áo thư sinh thay áo xanh hoa
Làm người lính trấn xa biên ải

Mai tôi về thăm mùa hoa Cải
Nơi tôi từng hò hẹn sớm trưa
Thuở tóc dài, tóc ngắn đón đưa
Thuở hai đứa hồn nhiên thơ dại

Mai tôi về thăm nàng con gái
Chiều tan trường đứng đợi... hàng me
Hay thì thầm em khẽ, anh nghe
Ta nguyện ước trăm năm anh nhỉ

Mai tôi về qua từng tre lũy
Sẽ đón em ta dạo mùa xuân
Nhìn Cúc hoa, vàng Cải tưng bừng
Đang nao nức đón chào ngày mới.

                                    Thủy Điền
                                   10-03-2019

READ MORE - ĐÊM LẠI TRONG TÔI, MAI TÔI VỀ - Thơ Thủy Điền