Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, January 16, 2019

QUẺ DỊCH CÁCH LẬP VÀ GIẢI ĐOÁN (tt) - Nguyên Lạc



                             Nhà thơ Nguyên Lạc


QUẺ DỊCH CÁCH LẬP VÀ GIẢI ĐOÁN (tt)
                               (Bài 2)

THUẬT NGỮ CẦN NHỚ

Tám quẻ nguyên thủy (bát quái ) gọi là đơn quái (quẻ đơn).
Sáu mươi bốn quẻ mới được tạo ra từ việc chồng bát quái gọi là trùng quái (quẻ trùng) để phân biệt với tám quẻ nguyên thủy, đơn quái (quẻ đơn).

Nội Quái và Ngọai Quái:

Mỗi quẻ trùng gồm hai quẻ đơn: Quẻ đơn ở dưới gọi là nội quái, quẻ đơn ở trên gọi là ngọai quái.
Ví dụ: Quẻ Thiên Phong Cấu:
䷫
Quẻ trên Thiên, tức Càn là ngọai quái,
Quẻ dưới Phong tức tốn là nội quái.
Ví dụ: Quẻ Địa Thiên Thái:
䷊
Quẻ trên là Khôn: Địa (Ngọai quái)
Quẻ dưới là Càn: Thiên (Nội quái)

Gọi là nội quái, ngọai quái vì sắp theo vòng tròn thì quẻ Càn ở trong (nội) gần trung tâm, còn quẻ Khôn chồng lên nó, ở ngòai (ngọai), xa trung tâm



           (hình 1:  64 quẻ - vòng tròn)
                               
Danh sách 64 quẻ trong Kinh Dịch

        
     (hình 2: Danh sách 64 quẻ trong Kinh Dịch)

Vì có việc chồng hào, chồng quẻ như vậy, nên khi tìm hiểu ý nghĩa và khi đóan quẻ,ta phải xét từ dưới lên trên. Nhưng khi gọi tên quẻ thì ta theo thứ tự ngược lại, nghĩa là từ trên xuống dưới.

Gọi tên quẻ

Khi gọi tên quẻ, ta phải theo thứ tự từ trên xuống.
Thí dụ: Quẻ Địa Thiên Thái   ䷊ ngọai quái (ở trên) là Địa, nội quái (ở dưới) là Thiên; còn chữ Thái ở sau trỏ nghĩa của quẻ: Thái là yên ổn (như thái bình thông thuận).

Một thí dụ nữa: Quẻ Thủy Hỏa Kí tế.
Đọc tên quẻ đó bạn phải hiểu ngay: ngọai quái (ở trên) là Khảm (thủy), nội quái (ở dưới) là Ly (hỏa), và vẽ ngay được hình dưới đây:  ䷾       
 ☵ Khảm (thủy)
 ☲ Li (lửa)
 Quẻ Thủy Hỏa Kí tế.

Còn Kí tế (ở sau)  là nghĩa của quẻ: đã thành đã xong, đã qua sông.

Hào của quẻ

Mỗi quẻ trùng gồm sáu hào, đánh số từ dưới lên: hào 1 gọi là sơ, hào 2 gọi là nhị, hào 3 gọi là tam, hào 4 gọi là tứ, hào 5 gọi là ngũ, hào trên cùng không gọi là lục mà gọi là thượng (bạn sẽ hiểu chữ lục trong các hào có nghĩa là âm, nên gọi hào này là thượng cho khỏi lầm*)

Thí dụ: Quẻ Thủy Hỏa Kí tế: ䷾

Hào sơ, hào tam, hào ngũ là dương, còn hào nhị, hào tứ, hào thượng là âm.
Xin nhắc lại: Vì có việc chồng hào, chồng quẻ nên khi tìm hiểu ý nghĩa và khi đóan quẻ, ta phải xét từ dưới lên, từ hào sơ lần lần lên tới hào thượng.

Hào cửu – Hào lục

Trong một trùng quái, hào dương (vạch liền ___ ) còn gọi là hào cửu, hào âm (vạch đứt _ _ )  còn gọi là hào lục.
Thí dụ: quẻ Thủy Hỏa Kí tế ䷾và quẻ Hỏa Thủy Vị tế  ䷿
__ __ Thượng lục                     _____ Thượng cửu
_____ Cửu ngũ                         __ __ Lục ngũ
__ __ Lục tứ                             _____ Cửu tứ
_____ Cửu tam                          __ __ Lục tam
__ __ Lục nhị                             _____ Cửu nhị
_____ Sơ cửu                             __ __ Sơ lục
Thủy Hỏa Kí tế                            Hỏa Thủy Vị tế


                        Thủy Hỏa Kí tế    


   
                         Hỏa Thủy Vị tế

Những chữ cửu và lục hai quẻ trong đó không có nghĩa là 9, 6 mà chỉ có nghĩa dương, âm.
Hào dưới của quẻ Kí Tế và quẻ Vị Tế (cũng như mọi quẻ khác) gọi là hào sơ (tức hào đầu tiên), nhưng bên Kí Tế, nó là hào dương, nên gọi là Sơ cửu (nghĩa là hào sơ mà là dương); còn bên Vị Tế, nó là hào âm, nên gọi là Sơ lục (nghĩa là hào sơ mà là âm).
Hào thứ nhì từ dưới lên, gọi là hào nhị, bên Kí Tế nó là âm cho nên gọi là Lục Nhị; còn bên Vị Tế nó là hào dương, nên gọi là Cửu nhị ...
Hào trên cùng, gọi là hào thượng, bên Kí Tế nó là hào âm, nên gọi là thượng lục; còn bên Vị Tế, nó là hào dương, nên gọi là thượng cửu.
Các hào khác cũng vậy, cứ gặp chữ cửu thì bạn đổi ngay là ra dương, gặp chữ lục thì đổi ngay ra là âm.
Do lẽ chữ lục trong các hào đã có nghĩa là âm rồi, nên hào trên cùng, tức hào thứ sáu không gọi là lục (sáu) nữa, mà gọi là thượng cho khỏi lầm*.

Dụng cửu – Dụng lục

Riêng quẻ Thuần Càn, ngòai sáu hào, còn có hào (?) dụng cửu; và riêng quẻ Thuần Khôn, ngòai sáu hào, còn có hào (?) dụng lục

Ý NGHĨA CÁC HÀO

Trung ‐ Chính:
Như đã biết, dương là tốt đẹp, âm là xấu xa. Nhưng đó chỉ là xét chung! Ta còn phải xét vị trí của Hào nữa, mới thật sự định được là tốt hay xấu. Dù là hào dương mà vị trí không trung chính thì cũng xấu; dù là hào âm mà vị trí trung chính thì cũng tốt.

Thế nào là trung?
Nội quái có ba hào: 1 là sơ, 2 là trung, 3 là mạt. Ngọai quái cũng có ba hào: 4 là sơ, 5 là trung, 6 là mạt. Vậy trung là những hào ở giữa nội quái và ngọai quái, tức hào 2 và hào 5 (không cần biết bản thể của chúng là gì, dương hay âm thì cũng vậy).

Thế nào là chính?
Trong 6 hào, những hào số lẻ 1, 3, 5 có vị trí dương; những hào số chẵn 2, 4, 6 vị trí âm.
Một hào bản thể dương (nghĩa là một vạch liền) ở vào một vị trí dương thì là chính, còn nếu ở vào một vị trí âm thì là bất chính. Một hào bản thể âm (nghĩa là một vạch đứt) phải ở vào một vị trí âm thì mới gọi là chính, còn nếu ở vào vị trí dương thì là bất chính.
Thí dụ: quẻ Thuần Càn: ䷀ sáu hào đều là hào dương cả. Hào 2 và 5 đều là trung, nhưng hào 2 không chính vì hào 2 là dương mà ở vị trí âm (hào chẵn) , chỉ hào 5 mới được cả trung lẫn chính, vì hào 5 là hào dương ở vị trí dương (hào lẻ).
Bốn hào kia thì hào 1 vả 3 đắc chính mà không đắc trung; hào 4, 6 không đắc chính cũng không đắc trung.
Do đó hào 5 quẻ Càn là hào tốt nhất trong quẻ, mà danh từ "cửu ngũ" (cửu là dương, ngũ là thứ 5, cửu ngũ là hào thứ 5, dương) trỏ ngôi vua, ngôi chí tôn.

6 ______ không chính cũng không trung
5 ______ vừa trung vừa chính
4 ______ không chính cũng không trung
3 ______ chính mà không trung
2 ______ trung mà không chính
1 ______ chính mà không trung
Quẻ Thuần Càn

Một thí dụ nữa, quẻ Thủy hỏa Kí tế:  ䷾
6 ___ ___ chính mà không trung
5 ______ vừa trung vừa chính
4 ___ ___ chính mà không trung
3 ______ chính mà không trung
2 ___ ___ vừa trung vừa chính
1 ______ chính mà không trung.

Quan niệm trung chính là quan niệm căn bản của Dịch, cho nên Trương Kì Quân bảo:
"Dịch là gì? Chỉ là trung, chính mà thôi. Đạo lý trong thiên hạ chỉ là khiến cho việc không trung trở về chỗ trung, việc không chính trở về chỗ chính"

Thời
Vị trí của mỗi hào còn cho ta biết thời của mỗi hào nữa. Vì như trên chúng ta đã biết: Hào 1 là sơ thời, hào 3 là mạt thời của nội quái và hào 4 là sơ thời, hào 6 là mạt thời của ngọai quái (cũng là mạt thời của trùng quái).
Xét về phương diện tĩnh thì là vị trí chính hay không chính, xét về phương diện động thì là cập thời hay không cập thời.
Ví dụ Quẻ Càn: - hào 1 (hào sơ) dương ở dương vị, là đức chính. Nhưng vì là hào sơ nên chỉ mới có đức thôi, chưa có tiếng tăm, tài đức cũng chưa cao, nên còn phải ở ẩn. Nếu hấp tấp vội xuất đầu lộ diện thì là bất cập thời, bất hợp thời!
Lên hào 2, mới nên xuất hiện (nhưng chưa nên làm gì), như vậy là cập thời, hợp thời.
Lên hào 5, vừa trung vừa chính, tài đức đã trau giồi lâu rồi, là lúc làm nên sự nghiệp, làm là cập thời, không làm là bỏ lỡ thời cơ.
Tới hào 6, hào cuối cùng, thịnh cực rồi tất phải suy, không biết kịp thời rút lui, thì sẽ bị họa.
Vì vậy quan niệm thời còn quan trọng hơn quan niệm trung chính nữa.
Trung chính là quan niệm căn bản của Dịch: muốn đoán tính cách cát hung của một hào, Dịch xét trước hết xem hào đó có chính, trung không, có được ứng viện không và hào ứng viện nó có chính trung hay không.
Chính không phải chỉ có nghĩa là ngay thẳng, mà còn có nghĩa là hợp chính nghĩa, hợp đạo
Nhưng Dịch cho rằng chính không quí bằng Trung, vì hễ trung thì cũng là chính, mà chính chưa
chắc đã là trung.
Dịch theo luật âm dương trong thiên nhiên, thấy cái gì thái quá thì gây phản ứng, nên khuyên phải trung, phải quân bình để tránh phản ứng, tránh hoạ.
Trung tức là có chừng mực: ”Trời đất có chừng mực nên mới thành bốn mùa” (Thoán truyện quẻ Tiết) nhờ đó vạn vật mới phát triển được. Chừng mực cũng là luật quân bình, nắng không nắng quá, mưa không mưa quá, nắng mưa, ấm lạnh phải thay nhau để điều hòa khí hậu. Cái gì thịnh quá thì phải suy, suy quá thì sẽ thịnh.
Tuy nhiên trung không có nghĩa là lưng chừng như nhiều người hiểu lầm: Trung, như Văn ngôn truyện nói, là biết lúc nào nên tiến, lúc nào nên lui, biết vận trời (hoàn cảnh) lúc nào còn lúc nào mất mà xử sự cho hợp thời, nhưng vẫn giữ được chính đạo, nghĩa là biết tùy trời cho hợp đạo.

Chính, Trung lại gồm trong chữ Thời.
Dịch là biến dịch, có biến hoá mới thích hợp (duy biến sở thích – Hệ từ hạ, Ch.8), cho nên trọng cái thời. Vì biến đến cực thì trở lại, cho nên trọng đức trung. Trung với thời, do đó mà liên quan mật thiết với nhau.
Thời gồm trung, vì phải hợp thời mới gọi là trung. Ở cảnh giàu sang mà sống bủn xỉn, ở cảnh nghèo hèn mà sống xa hoa, thì không hợp thời, không phải là trung.
Thời gồm chính nữa vì chính mà không hợp thời thì cũng xấu. Cương cường là đạo người quân tử mà ở cuối quẻ Càn, không hợp thời, cho nên có hối hận.
Vậy Dịch là chính trung, mà thực ra chỉ là hợp thời. “Cái nghĩa tùy thời lớn thật” (Tùy thời chi nghĩa đại hĩ tai! – Quẻ Tùy).

QUI TẮC CẦN NHỚ

Ý nghĩa và tương quan của nội, ngọai quái:

Mỗi trùng quái tuy gồm hai đơn quái chồng lên nhau, nhưng chỉ diễn tả một tình trạng, một sự việc, một biến cố hay một hiện tượng; vì vậy nội quái và ngọai quái có tương quan mật thiết với nhau. Tương quan đó là sự diễn tiến tuần tự về thời gian: hào sơ là bứơc đầu, hào thượng là bước cuối, các hào ở giữa là các giai đoạn trung gian.

Tương quan giữa các hào

Những hào ứng nhau:
Xét về vị trí, mỗi hào trong nội quái ứng với một hào trong ngọai quái:
Hào 1 ứng với hào 4: hào lẻ ứng với hào chẳn.
Hào 2 ứng với hào 5: hào chẳn ứng với hào lẻ.
Hào 3 ứng với hào 6: hào lẻ ứng với hào chẳn.
Vậy dương vị ứng với âm vị, và ngược lại .

Đó chỉ mới là một điều kiện. Còn phải một điều kiện nữa thì mới gọi là tốt: hai hào phải khác nhau về bản thể, một là dương, một là âm thì mới “có tình” với nhau, mới “tương cầu”, tương trợ nhau như hào 1 và 4 quẻ Tụng :  ䷅
Nếu hai hào vị tuy khác nhau (một chẳn một lẻ) mà thể giống nhau (cùng dương cả hoặc cùng âm cả) thì có khi kỵ nhau chứ không giúp nhau được gì, như hào 2 và 5 quẻ Tụng. Trong ba cặp tương ứng 1‐4, 2-5, 3-6 thì:
‐ Cặp 2‐5 quan trọng nhất, hai hào đều đắc trung cả mà hào 5 lại ở vào địa vị cao nhất.
Nếu hào 5 là âm (nhu), hào 2 là dương (cương) thì tốt: vì hào 5 là người trên (vua, cha, chồng) mà nhu, biết khiêm tốn, tín nhiệm người dưới (như Tề Hòan Công chịu nghe lời Quản Trọng); còn hào 2 là người dưới (bề tôi, con, vợ) cương trực nhưng lễ độ, biết giúp đỡ, khuyên răn người trên. Đó là trường hợp các quẻ 4, 7, 11, 14, 18..
Nếu ngược lại hào 5 là dương (cương), hào 2 là âm (nhu) thì kém tốt, vì người trên tự tín quá, mà người dưới nhu thuận quá, không dám khuyên can người trên. Đó là trường hợp quẻ 39
(Thủy Sơn Kiển) ䷦ và quẻ 63 (Thủy hỏa kí tế)   ䷾

Xét chung thì như vậy, nhưng tốt hay xấu còn phải tùy ý nghĩa của tòan quẻ mà đóan:
‐ Cặp 1‐4 không quan trọng mấy, nhưng vẫn thường được xét. Nếu hào 4 là âm, hào 1 là dương thì ý nghĩa khá tốt: lý do cũng như trường hợp hào 5 là âm, hào 2 là dương. Ngược lại, nếu 4 là dương, 1 là âm thì kém: cả hai đều bất chính.
‐ Cặp 3‐6 rất ít khi được xét tới. Vì lẽ hào 6 đã tới thời suy, cần phải rút lui, không cần người dưới giúp nữa. Mà ngưới hào 3 ở vào một địa vị mập mờ, không chính đáng (cuối quẻ nội mà chưa lên được quẻ ngọai), muốn giúp hào 6 thì phải qua mặt hào 5 (đương cầm quyền trongquẻ ) như vậy sợ bị tội.
Trong quẻ nào có một hào làm chủ cả quẻ thì không xét những cặp ứng nhau theo những qui tắc kể trên, mà chỉ theo ý nghĩa tòan quẻ thôi.

Hào làm chủ:
Có một qui tắc nữa nên nhớ: “chúng dĩ quả vi chủ, đa dĩ thiểu vi tôn”. Nghĩa là cái gì nhiều thì bỏ đi mà lấy cái ít. Theo qui tắc đó, quẻ nào nhiều dương thì lấy âm làm chủ, ngược lại quẻ nhiều âm thì lấy dương làm chủ.
Như trong tám quẻ đơn, không kể hai quẻ Càn, Khôn ba hào đều dương hoặc đều âm, còn lại 6 quẻ kia thì 3 quẻ: Chấn, Khảm, Cấn mỗi quẻ đều có 2 âm 1 dương, cho nên lấy dương làm chủ, và coi những quẻ đó là dương. 3 quẻ :Ly, Tốn, Đóai mỗi quẻ đều có 2 dương 1 âm, cho nên lấy âm làm chủ, và coi những quẻ đó là âm.
Chúng ta nhận thấy những quẻ dương số nét đều lẻ, những quẻ âm số nét đều chẳn.
(Một vạch đứt __ __ âm kể làm hai nét).
Trong những quẻ trùng, cũng vậy.
Thí dụ: quẻ Lôi Địa Dự   ䷏ có năm hào âm,một hào dương (hào thứ tư) thì lấy hào dương đó làm chủ cả quẻ (hào chủ động trong quẻ) ý nghĩa tòan quẻ tùy vào nó cả. Hào đó là vị cận thần có tài đức, cương cường (dương) ở bên cạnh ông vua nhu nhược (hào 5 là âm), hào 4 khống chế được các hào âm (kẻ tiểu nhân, kém đức) ở dưới, giúp được vua, khiến cho xã hội được vui vẻ (Dự có ngĩa là vui vẻ sung sướng).
Một thí dụ nữa: quẻ Trạch Thiên Quải   ䷪ có năm hào dương, một hào âm, thì lấy hào âm (hào 6) làm chủ. Nghĩa là khi xét ý nghĩa của tòan quẻ thì nhắm vào hào âm đó: Năm hào dương là một bầy quân tử cùng nhau cương quyết trừ khử một hào âm (kẻ tiểu nhân); cho nên quẻ có ý nghĩa là cương quyết (Quải là cương quyết, quyết liệt), và gặp hào đó thì đóan là sau cùng kẻ tiểu nhân tất phải chết.
Tóm lại, một hào tốt (hào 4 trong quẻ Lôi địa Dự) làm chủ cả quả và một hào xấu (hào 6 trong quẻ Trạch thiên Quải) cũng có thể làm chủ cả quẻ. Làm chủ vì nó là số ít trong một đám số nhiều, chứ không phải vì tốt hay xấu.
Vậy thì qui tắc “chúng dĩ quả vi chủ” trong Dịch không có nghĩa là đa số phải phục tùng thiểu số (trái với chế độ dân chủ) mà cỉ có ngĩa là khi xét ý nghĩa của quẻ thì tìm cái nét đặc biệt của quẻ. Nét độc nhất, đặc biệt đó là một hào dương giữa năm hào âm, hoặc một hào âm giữa năm hào dương, không cần để ý tới hào đó có cao qúi , tốt hay xấu hay không!
Nhưng ta cũng nhận thấy rằng nếu hào đặc biệt là hào thứ năm, đã trung mà lại chính thì hầu hết là tốt. Nếu lại hợp thời nữa thì chắc chắn là trất tốt.

Thoán từ, Hào từ
Thoán từ (cũng gọi là Quái từ) là lời giải nghĩa, lời đoán cho toàn quẻ
Hào từ là lời giải nghĩa, lời đoán cho mỗi hào.
Trong khi bị giam ở ngục Dữu Lý, có thể Văn Vương đã làm việc trùng quái, và chắc chắn ông đã đặt tên và tìm nghĩa cho 64 quẻ, rồi viết Thoán từ (cũng gọi là Quái từ) để giải nghĩa cho mỗi quẻ. Văn Vương mới chỉ đặt ra Thóan Từ để giải nghĩa toàn quẻ. Chu Công đặt them Hào từ cho mỗi hào của mỗi quẻ (64 x 6 = 384 hào), để giải nghĩa từng hào một.
Chẳng hạn quẻ Càn, dưới hào sơ (hào 1), Chu Công viết: “Tiềm long vật dụng”, nghĩa là: rồng, còn ẩn náu, không dùng được. Dưới hào 2, ông viết: “Hiện long tại điền, lợi kiến đại nhân”
Nghĩa là: rồng đã hiện lên cánh đồng, ra mắt kẻ đại nhân thì lợi. Dưới hào 3:” quân tử chung nhật càn càn, tịch dịch nhược, lệ, vô cữu” Nghĩa là: người quân tử suốt ngày hăng hái tự cường, đến tối vẫn còn thận trọng như lo sợ, nguy hiểm, không tội lỗi v.v..
Tới đây Chu Dịch mới thành một cuốn sách có văn từ, nghĩa lý, đời sau gọi là Kinh và chia làm 2 thiên: thượng cho 30 quẻ đầu, hạ cho 34 quẻ sau.

Thập dực (Thập truyện)
Nhưng Thoán từ và Hào từ quá đơn giản, ít ai hiểu, nên người đời sau phải chú thích thêm, tổng hợp thành bản Thập dực (Thập là mười, dực là cánh con chim) Nó có ý bảo Thóan từ của Văn Vương, Hào từ của Chu Công đặt ở dưới mỗi quẻ, mỗi hào, là đủ hình con chim rồi, bây giờ thêm Thập Dực, là thêm lông cho con chim. Thập dực được gọi là Thập truyện (truyện là
giải thích). Đại truyện giải thích Thoán từ, Tiểu truyện giải thích Hào từ.

Nguyên tắc vật cực tất phản:
Sự vật phát triển tới đỉnh điểm sẽ phản ngược lại: "Dương cực biến âm, âm cực biến dương".Dương: cũng gọi là hào thực. Âm: cũng gọi là hao hư.
Trong Kinh Dịch còn có nhiều điều khó hiểu nữa, chúng ta đành phải chấp nhận thôi.
Thí dụ: 5 và 4 có trị số là 3, 9 và 8 có trị số là 2 .v.v...

(còn tiếp)

Nguyên Lạc                                                                         
..................

Tham Khảo: 
Nguyễn Hiến Lê, Ngô Tất Tố, Wu Wei, Richard Wilhelm, Kiều Xuân Dũng,
Đông A Sáng, Internet, Facebook...

READ MORE - QUẺ DỊCH CÁCH LẬP VÀ GIẢI ĐOÁN (tt) - Nguyên Lạc

TRANG THƠ TÔI, MỘT PHẦN ĐỜI; TỪ NGÀY EM ĐẾN - Thơ Tịnh Đàm



                    Nhà thơ Tịnh Đàm



TRANG THƠ TÔI - MỘT PHẦN ĐỜI

Trang thơ tôi,
Chút tự tình
Mở ra
Cùng nỗi riêng mình chưa quên !
Hồn như cánh sóng không tên,
Hát Ru một cõi sầu...
Bên mộng người !

Trang thơ tôi,
Một phần đời
Gởi vào đây...
Với những lời yêu thương.
Trần gian
Là chốn vô thường
Phải duyên gặp gỡ...
Vấn vương ý tình.


TỪ NGÀY EM ĐẾN

Sóng lòng tôi,
Bỗng xôn xao
Từ ngày em đến...
Ghé vào mộng tôi.

Tình ơi...
Lời ngọt bờ môi
Như mâyvin cánh gió...
Bồi hồi bay.

Sóng tình tôi,
Phút giây này
Cõi mơ nào tưởng...
Còn say với người.

Đừng lay tôi nhé...
Cuộc đời

      TỊNH ĐÀM
(Hóc Môn, TP. HCM)

READ MORE - TRANG THƠ TÔI, MỘT PHẦN ĐỜI; TỪ NGÀY EM ĐẾN - Thơ Tịnh Đàm

CẢ MÙA XUÂN HƯƠNG - Thơ Mặc Phương Tử


CẢ MÙA XUÂN HƯƠNG


Như một dòng sông lặng lẽ trôi
Bốn mùa như thế... chuyện đầy vơi.
Non xanh mây nổi hình vân cẩu
Ráng đỏ chiều nghiêng giấc mộng đời
Dâu bể, hay chăng thời gió loạn,
Luân thường, sao để cuộc rong chơi!
Câu thơ còn ướm tình muôn dặm
Là cả màu xuân của đất trời.


Xuân của đất trời, xuân của ta
Riêng đâu sắc cỏ với ngàn hoa!
Hiếu-Trung - cho vẹn đời son sắc
Nhân-Nghĩa - nào say chốn tháp ngà.
Lòng phẳng để lối về  được phẳng
Lời ngoa nên mộng dệt thêm ngoa.
Giữa dòng áo luỵ - xuân muôn bến,
Là cả mùa hương khắp mọi nhà.


                                                  South Dakota, 15.01.2019.
                                                   MẶC PHƯƠNG TỬ
                                                                                         tongminh2016@yahoo.com

READ MORE - CẢ MÙA XUÂN HƯƠNG - Thơ Mặc Phương Tử

XUÂN ĐÃ VỀ - Thơ Nguyễn Đại Duẫn

Tác giả Nguyễn Đại Duẫn



              XUÂN ĐÃ VỀ
                              
Xuân đã về đậu trên lá chuối, lá dong
Làm nên bánh Dày, bánh Chưng
tượng hình cho Trời Đất
Để đêm nay dài thêm trang cổ tích
Quanh nồi bánh vui thức cùng bếp lửa hồng


Xuân đã về quyện bên bình vôi nồng
Để ai khéo têm nên trầu cánh phượng
Trên bàn thờ tổ tiên trong Ba ngày Tết đến
Cô Tấm hiện về mâm cỗ cứ đầy thêm


Bên nồi mứt Xuân như đến chao nghiêng
Thưởng thức vị hương cho môi ai tha thít
Tinh đường ngọt quyện gừng nồng quấn quít
Cho bõ những ngày muối mặn gừng cay


Xuân về đung đưa trên những bàn tay
Nón quai thao cùng ai  lên đình làng trẩy hội
Tà áo dài bay bay như giục Xuân đến vội
Để cùng liền anh liền chị đêm nay


Xuân về đậu trên những cành cây
Để bừng sáng nay muôn hoa khoe sắc
Xua đông lạnh bao đêm daì thao thức
Áo mới trên mình đủ sắc du xuân


Ôi! Mùa xuân đang đến rất gần
Vui tung tăng trên mọi miền Tổ quốc
Rộn ràng bước vui dưới cờ sao đỏ rực
Hân hoan lòng người  hòa nhịp bước xuân sang


Nguyễn Đại Duẫn
Hội viên Hội VHNT Trường Sơn

READ MORE - XUÂN ĐÃ VỀ - Thơ Nguyễn Đại Duẫn

MỘT CÕI XA NGƯỜI - Thơ Hoàng Long Hải

Tác giả Hoàng Long hải


Một cõi xa người
                        Hoàng Long Hải 


Em đi mang nỗi buồn thiên cổ
Ta đứng nơi nầy ngọn lửa than
Buồn trôi theo gió đi biền biệt
Lửa ngấm thời gian cũng lạnh tràn
Một thân nơi ấy, em nhìn lại
Tự thấy hồn em khóc biệt ly?
Hỡi ơi mây trắng trôi về núi
Còn lại trong ta chút ngậm ngùi
Ngàn năm với một ngàn năm nữa
Đá nát phai vàng cõi tử sinh
Nghe như nhân thế còn hơi thở
Ai vẫn trông ai mắt mỏi nhìn
Ở đây thăm thẳm đời mưa gió
Gió gọi em về ta đợi đây
Ngoảnh lại quê làng tre quạnh quẽ
Con sông thơ ấu nước vơi đầy
Nửa đêm chợt tỉnh hồn phiêu lãng
Một nửa đời ta lỗi hẹn người
Vẫn cứ tiếc hoài sao lỗi hẹn
Đời như con nước chẳng buồn trôi
Mai mốt giong buồm ra biển rộng
Chân mây ai đứng gọi hồn ta
Có phải ngàn năm em đứng đó
Ôm nàng Tô Thị ngó trăng tà
Về đâu? Ta sẽ về đâu nhỉ
Có đứng cùng em bạc mái đầu
Bao lâu trời đất còn dâu bể
Vọng hồn cố quốc tiếng thương đau
Khóc chi? Ta vẫn còn khóc mãi
Dòng lệ tuôn ngoài chốn viễn khơi
Đời vẫn trôi xa ngàn dặm thẳm
Mượn “be” Phạm Thái để quên đời
Ta vẫn cố quên, mà quên được?
Làm “con ngựa đá lội qua sông”
Tiếc một đời trai sông đã cạn
Bao nhiêu xương máu đã khơi dòng
Ừ nhỉ! Ta mê đời vọng ngữ
Một cõi hư huyền tiếc mãi chi
Ta lại nhìn ta lòng chợt tỉnh
Trăm năm “thân thế lỡ qua thì!”
Năm thứ ba
Chuẩn bị ngày giỗ Thu Hường
Tháng 2 năm Kỷ Hợi

HLH

 rosalee1941@yahoo.com

READ MORE - MỘT CÕI XA NGƯỜI - Thơ Hoàng Long Hải

NGÔI MIẾU TRÊN VỆ ĐƯỜNG - Thơ Phạm Ngọc Thái

Tác giả Phạm Ngọc Thái

NGÔI MIẾU TRÊN VỆ ĐƯỜNG

Con chim tình đã bay đi
Không còn kêu xé trời, xé đất
Khắp không gian bỗng trở nên tươi mát
Tâm hồn ta thanh thoát lại. Điềm nhiên ...

Không cần ái tình nữa, hỡi thế nhân !
Hãy chôn hình hài em nơi nấm mồ dĩ vãng
Cho lòng say với non xanh, biển nắng
Cùng mây mưa, giông bão ngập tim ta

Một ngày mai giữa thế giới bao la
Ta về bên các thi nhân của nước non, xứ sở
Làm ngôi miếu, trên vệ đường vắng vẻ
Người qua còn tưởng nhớ ghé vào thăm

Kẻ thương tình thắp cho mấy nén nhang
Thế cũng đủ sưởi ấm lòng côi lạnh
Cõi trần ai suốt đời trong hiu quạnh
Không tình, không cả bóng tri âm

Viết vài lời để lại thế gian
Rồi sau đây khuất kiếp người cát bụi
Ta không tiếc, không cần sám hối
Sống một đời... cũng đã thỏa chữ NHÂN!

Phạm Ngọc Thái
READ MORE - NGÔI MIẾU TRÊN VỆ ĐƯỜNG - Thơ Phạm Ngọc Thái

NỒI SÚP ĐÊM BA MƯƠI TẾT - Truyện ngắn - Nguyễn Đại Duẫn

Tác giả Nguyễn Đại Duẫn


NỒI SÚP ĐÊM BA MƯƠI TẾT                                 
Truyện ngắn
Nguyễn Đại Duẫn

Ba chúng tôi là lính kho. Không phải kho súng đạn, kho lương mà là kho…xi măng. Đơn vị chúng tôi thuộc binh chủng công binh, làm cầu trên đất nước bạn Lào. Công việc của chúng tôi là xuất nhập kho và gác bảo vệ kho.
Chúng tôi sinh cùng năm, vào lính cùng ngày, cùng về làm thủ kho, tuy mỗi đứa mỗi quê nhưng quí nhau lắm. Ngoài việc giữ kho chúng tôi còn tăng gia cải thiện bếp ăn. Nào trồng rau, trồng sắn, nuôi gà… Đất vùng này tốt nên rau, sắn lên nhanh lắm. Gà cũng chóng lớn, cơ man nào là mối, giun chúng ăn không xuể. Cứ chiều thứ bảy, cậu Thắng vào bản kiếm xị “cay” về làm một con gà nhậu chơi. Đêm đến, ba cái đầu chụm trên bao gạo miên man trò chuyện. Thắng nói:
- Xong nghĩa vụ mình sẽ thi vào Đại học Bách khoa, rồi nghiên cứu cái máy phát điện, không cần cắm dây, có hệ tự động làm bóng sáng. Không như chúng mình ở đây, chỉ có điện ở Tiểu đoàn bộ chứ nơi mình tối om.
Cậu Quảng mơ ước:
- Sau này mình sẽ thi Đại học Y, làm Bác sĩ để chữa bệnh cho mẹ kẻo mẹ đau dạ dày thấy thương lắm.
 Còn tôi, tôi sẽ thi vào Sư phạm. Bố tôi bảo làm nghề dạy học nghèo nhưng thanh cao, được cái đức, cái tâm. Rồi một lúc, cả ba đứa “phì phò” như bệ lò rèn bên đống bát chén chưa dọn.
Vậy mà đã sắp tết. Đơn vị cho anh em về quê ăn tết gần một nửa quân sô. Lính kho chúng tôi không  được về. Mùa này là mùa khô, thuận lợi cho việc thi công nên kho đầy ắp xi măng, sắt thép.
          Hằng, cô bạn gái của Quảng cũng  được về quê ăn tết trong dịp này. Tội cho Quảng, mấy hôm nay cứ thẩn thơ. Hỏi ra mới biết, cậu ta muốn mua món quà làm kỷ niệm cho Hằng mà không có tiền. Chúng tôi đóng quân ở Lào, đơn vị lo cái ăn, cái mặc không phát phụ cấp. Phụ cấp chiến sĩ được Tài vụ Sư đoàn gửi tiết kiệm trên đất Việt, khi ra quân mới được nhận nên muốn mua thứ gì cũng khó khăn. Tôi gợi ý với Quảng:
- Hay là ta vào bản bán hai con gà trống, mua tấm vải váy Lào làm quà cho Hằng!
Nghe thế  Quảng thích lắm, nhưng vẫn lưỡng lự:
-  Cậu Thắng không đồng ý thì sao? Cậu ấy cứ chọn mãi hai con gà trống này để chuẩn bị cho đêm ba mươi tết đấy!
Tôi trấn an:
- Không sao đâu, mọi việc để tớ lo!
Tôi và Quảng đưa hai con gà vào bản. Đến một cửa hàng nhỏ bên đường, tôi nói:
- Phò (bố) ơi! Mua giúp cho chúng con hai con cầy phụ (gà trống) này!
Ông cụ nhìn chúng tôi và nói:
- Đồng bào không mua bán, đổi chác với bộ đội mô! Nghe vậy chúng tôi thất vọng quá, nhưng phò nói tiếp:  - Cán bộ “hắn” nói, đồng bào với bộ đội là anh em nên chỉ giúp nhau thôi. Bộ đội giúp đồng bào cái con gà thì đồng bào giúp lại bộ đội cái vải này!
Thế là có tấm vải, hai đứa mừng lắm.  Chúng tôi về doanh trại của Hằng để Quảng có dịp tặng quà. Tôi giả vờ đi có việc, còn lại Quảng và Hằng…
Chia tay Hằng ra về, chúng tôi không quên gửi lời chúc tết gia đình. Nhìn sắc thái, tôi biết Quảng đang vui lắm, vừa đi vừa huýt sáo rất kêu.
Đêm thượng tuần, trời mờ đục. Ba đứa kê tấm ván bên gốc cây ngồi uống nước. Chuyện về những kỉ niệm tết quê, chuyện về mẹ đang cấy vội mấy sào ruộng khoán cho kịp tết, bố đang chuẩn bị gói bánh chưng…Đang chuyện trò say sưa, bỗng Thắng hỏi:
 - Hôm nay tớ không thấy hai con gà trống đâu, hay chồn nó bắt mất rồi? Tớ mới về Sư đoàn một ngày ở nhà các cậu làm thịt rồi chắc? Chết với tớ đấy! Để tớ xuống chuồng xem sao?
Quang chột dạ, tôi chen vào:
- Cậu không cần xuống chuồng đâu! Gà, tớ đã om rồi. Ông nội tớ bảo, gà tết phải nuôi om mới tốt.
          Rồi tết cũng đã đến. Tối 30, chúng tôi chuẩn bị mâm cỗ đón giao thừa. Mâm cỗ đơn sơ nhưng cũng tươm tất. Nào thịt lợn, giò nạc, cá hộp, bánh kẹo đơn vị mới cấp, chỉ thiếu dưa hành và phong pháo. Mâm cỗ được bày lên, tôi bảo Thắng về đơn vị lấy tiêu chuẩn rượu, trà, thuốc còn tôi với Quảng làm thịt gà.
Thắng đi rồi, chúng tôi ra suối, không phải làm thịt gà mà làm thịt nhái, nhái hai đứa bắt sẵn mấy hôm trước. Hai đứa làm xong cho ít sắn đã nạo nhỏ, ít mỡ và gia vị vào nấu súp.
Đêm giao thừa, mâm cỗ được soạn lên. Chúng tôi cùng ngồi cầu nguyện  năm mới đến những điều tốt lành. Nhìn mâm cỗ, Thắng hỏi: 
 - Sao không thấy thịt gà đâu?
Tôi nháy mắt với Quảng và nói:
- Chúng tớ đổi món gà luộc thành gà súp rồi. Chốc nữa thưởng thức thì biết. Món mới học lỏm được từ các nọng (em) trong bản đó!
Cả ba chúng tôi ăn uống vui vẻ. Món súp “gà” thế mà ngon đáo để. Cậu Thắng múc đến bát thứ ba mà còn thấy thèm. Đến bát thứ tư, cậu ta ăn phải cái xương. Đưa cái xương ra xem, cậu ta nói:
- Không phải xương gà! Xương gì đây? 
Rồi hốt hoảng hét lên:  
- Ôi! xương nhái.
 Thế là nó bỏ bát đũa, nôn ọe. Vào bếp múc nước súc miệng, nhổ nước bọt liên tục. Nhưng than ôi! Tất cả đã vào dạ dày rồi làm sao mà nhái chạy ra được. Thế là nó ọe khan. Rồi nó nổi đóa lên. Nó là đứa “dị ứng” với thịt nhái. Đó là do một buổi đi công tác dân vận về việc an toàn kho cho bộ đội khi đồng bào đốt rẫy. Chúng tôi được dân bản chiêu đãi một món ăn địa phương là nhái ôm măng. Từng con nhái sống thả vào nồi măng chua, nóng quá chúng chui vào ống măng. Con nào không chui được thì ôm lấy khúc măng, mắt trợn trừng trong gớm giếc. Nhưng chỉ khách đặc biệt mới được mời đó. Lúc đầu chúng tôi thấy sợ  không dám ăn, sau đói quá, có tý rượu vào rồi ăn cũng thấy ngon. Chỉ có Thắng là không thể nào ăn được. Nó nhìn bát canh rồi chạy ra vườn nôn thốc nôn tháo. Về nhà hai ngày sau mới ăn cơm được. Từ đó hễ thấy nhái là nó “dị ứng”.
Chúng tôi dọn “chiến trường”. Quảng sợ Thắng biết chuyện  nên cứ lấm la lấm lét. Chờ cho Thắng đỡ cơn “dị ứng”, tôi đến nói sự thật mọi chuyện với nó, nghe ra nó mới chịu im lặng và thông cảm.
 Sáng mồng một tết. Mới tinh mơ, Thắng dậy sớm gọi chúng tôi, rồi nói to:
- Chà! Hôm qua nhờ nồi súp mà mình đỡ say rượu thì phải! Mọi hôm liên hoan,  nếu uống chừng ấy thì say mèm. Thế mà hay.  Nghĩ lại, tớ thấy món súp “gà - nhái” thế mà ngon. Lâu nay mình dị ứng nên không biết chế biến… Giá như bây giờ có một bát mà ăn!
 Tôi với Quảng cùng bật cười:
 - Mồng một tết mà ăn súp nhái thì ăn cả năm. Ai mà chịu thấu! Thôi đi ông bạn! Chuẩn bị mặc áo quần chỉnh tề về Tiểu đoàn bộ đón năm mới.
          Ra tết, Hằng đến thăm chúng tôi, mang theo bao nhiêu là quà tết. Nhưng thấy Hằng buồn buồn. Tôi đánh bạo hỏi. Hằng phàn nàn với chúng tôi về việc bán gà tết mua quà tặng. Hằng buồn vì lẻ đó. Tôi xin lỗi, do tôi chủ mưu chứ không phải Quảng. Rồi chúng tôi bày quà tết cùng ăn. Hằng vui trở lại huyên thuyên chuyện tết quê nhà.
Trời tối dần, Quảng và Hằng dắt nhau ra bờ suối tâm sự. Còn tôi và Thắng ngồi dưới gốc cây uống trà, đếm sao, nói chuyện ước mơ sau này xuất ngũ. Ngoài bìa rừng, từng đợt gió ùa về lao xao cành lá, tiếng con suối rì rào như bản nhạc du dương đang xen vào những cảm xúc mùa xuân

Nguyễn Đại Duẫn
Hội viên Hội VHNT Trường Sơn
Tiểu khu 5, Thị trấn Quán Hàu, H: Quảng Ninh, T: Quảng Bình.
                                               




READ MORE - NỒI SÚP ĐÊM BA MƯƠI TẾT - Truyện ngắn - Nguyễn Đại Duẫn