Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, December 21, 2018

MỘNG MƠ - Thơ Trương Thị Thanh Tâm



        Nhà thơ Trương Thị Thanh Tâm



MỘNG MƠ

Mơ tôi giây phút tình cờ
Tuổi mười lăm tưởng thờ ơ với tình
Đâu rồi...sao mãi lặng thinh
Có ai hiểu được, hai mình...vu vơ

Mơ người một khoãng trời thơ
Nép bên bóng núi, thuyền chờ ra khơi
Trăng treo lơ lửng phía đồi
Buồn như cánh vạc cả đời bay đêm

Mơ tôi một ánh trăng rằm
Quên đi cái tuổi mười lăm học trò
Người xa để nhớ ngẩn ngơ
Bao năm chưa thấy thuyền thơ quay về

Người về xóm nhỏ ven đê
Bao năm quán trọ trăng thề ngủ quên
Một con thuyền mộc lênh đênh
Qua cây cầu nhỏ gập ghềnh chốn quê

Đời nghiêng giọt đắng nảo nề
Chiều nghiêng bóng xế, bờ tre cuối làng
Qua sông lỡ chuyến đò ngang
Thuyền không bến đổ đêm tàn mộng du

                       Trương Thị Thanh Tâm
                                   (Mytho)

READ MORE - MỘNG MƠ - Thơ Trương Thị Thanh Tâm

GIÁNG SINH YÊU THƯƠNG - Thơ Nhật Quang




GIÁNG SINH YÊU THƯƠNG

Binh boong…
Từng giọt chuông ngân
Giọt rơi thanh thót trong ngần đêm nay
No-el về
Hồn ngát say
Phố khuya sánh bước, vòng tay ân tình

Vì yêu thương
Chúa giáng sinh
Cho tim anh thắp lửa tình yêu em
Lung linh
Hang đá Be - lem
Đèn giăng lấp lánh bên thềm phố hoa

Dập dìu bước
Phố người qua
Thướt tha áo trắng lụa là mong manh
Thầm thì…
Em khẽ bên anh
Dâng câu ước nguyện, lòng thành cậy trông

Giáng sinh
Kết máng cỏ hồng…
Yêu thương dâng Chúa, đêm đông nồng nàn
Dẫu đời
Dâu bể - hèn sang
Nguyện ơn trên dệt mộng vàng sắt son.

                                          Nhật Quang

READ MORE - GIÁNG SINH YÊU THƯƠNG - Thơ Nhật Quang

CHỢT THẤY ĐỜI HƯ HAO - Thơ Quách Như Nguyệt


             Nhà thơ Quách Như Nguyệt


CHỢT THẤY ĐỜI HƯ HAO

         Đêm thở dài thao thức
Chợt thấy đời hư hao
Còn bao nhiêu năm nữa
Mới thoát khỏi cõi tình
Còn bao nhiêu ngày nữa
Mới thoáng thấy bình yên

*Giờ này anh đang ngủ
Lòng đất chắc lạnh lùn
Cũng đủ rồi anh nhỉ
Tình vài năm mà thôi

*Sao em còn tiếc nuối
Nhớ mãi mối tình h
Sao em khờ khạo thế
Còn nhớ đến bao giờ?

*Tình vài năm ngắn ngủi
Để lại buồn trăm năm
Tình đắm đuối si mê
Tình cuồng điên bão t
Rốt cuộc cũng ê chề

*Anh ngủ yên anh nhé
Đã trọn kiếp đa tình
Chẳng còn gì để tiếc
Chẳng còn gì luyến thương

*Chúc mừng anh yên nghỉ
Chấm dứt cõi bềnh bồng
Em còn trên cõi thế
Bồng bế tháng ngày qua

*Đêm nay không ngủ được
Day dứt chuyện hôm nào
Ồn ào lòng gợn sóng
Chợt thấy đời hư hao!

               Như Nguyệt



    

Trình bầy: Quỳnh Thi
Thơ: Quách Như Nguyệt
Nhạc: Ngô Bảo Quốc
PPS: Phan Anh Siêu


     


Trình bầy:  Tâm Thư
PPS:  Dĩ Vãng Buồn

READ MORE - CHỢT THẤY ĐỜI HƯ HAO - Thơ Quách Như Nguyệt

ĐÊM NOEL - Thơ Trần Mai Ngân


          Nhà thơ Trần Mai Ngân



ĐÊM NOEL

Đêm nay lại giống đêm nào
Dưới chân thánh giá ngọt ngào nụ hôn
Rồi tôi, rồi lại em buồn
Tình này ta mãi vùi chôn bên đời

Đêm nay sao sáng đầy trời
Đôi ta mỗi ngả mỗi nơi còn gì
Tình nhân của tuổi xuân thì
Uyên Ương gãy cánh nát nghì trái ngang

Đêm nay ngắm mảnh trăng tan
Nhân gian đón Chúa - lặng tàn trong tôi
Phố phường như lạ xa xôi
Lòng tôi băng giá Chúa trời thấu chăng ?

                                      Trần Mai Ngân

READ MORE - ĐÊM NOEL - Thơ Trần Mai Ngân

TRỞ VỀ VỚI YÊU THƯƠNG -Truyện ngắn - Lưu Thị Phụng

Tác giả Lưu Thị Phụng

TRỞ VỀ VỚI YÊU THƯƠNG
Truyện ngắn
Lưu Thị Phụng

Khi tôi lớn lên, cha đã đi rất xa rồi, nhưng hồi ức về những cái bánh nếp và câu chuyện năm xưa mãi vẫn hằn sâu. Tôi vẫn nhớ như in về một thời cắp rổ lá dong đi rửa ngoài bến sông, mải đùa nghịch cùng lũ bạn, lá bánh trôi lềnh bềnh trên mặt nước trong xanh. Tôi chả kịp nghĩ tới cái rét tháng chạp đang cắt da cắt thịt, mải miết bơi đuổi theo vớt từng tàu lá… Lúc ngồi cạnh xem cha gói bánh, vừa rét vừa lo ngay ngáy vì rổ lá rửa xong chỉ còn già nửa...
Bao năm qua đi, tôi vẫn luôn mang trong lòng hình ảnh về người cha với những chiếc bánh chưng vuông vắn trong dịp Tết cổ truyền... Vậy mà, sau này có gia đình riêng, tôi cũng chỉ mua bánh chưng cho đỡ bận rộn. Nhưng lúc cả nhà ngồi quây quần bên mâm cơm tất niên, tôi lại nhớ da diết những kỷ niệm lúc còn có cha…  
Năm nay, tôi muốn cùng con cháu trở về với ký ức xưa. 27 tháng chạp tôi đã tranh thủ rửa lá rồi buộc lên cột cho dóc nước. Sáng 30 Tết, cả nhà đông đủ, không khí thật rộn ràng, náo nức vo gạo, đãi đỗ, ướp nhân bánh. Sang chiều, cô con dâu lau lá, sắp lá cho mẹ, đứa cháu nội tay lăm le cầm nắm lạt chờ sẵn, háo hức. Tôi ngồi nhắm mắt lại, hồi tưởng những thao tác của cha khi xưa và hăm hở... Cái bánh chưng đầu tiên khi tuổi sáu mươi nhăm đã ra đời trong sự trầm trồ của con cháu. Tôi thật sự sung sướng và ngỡ ngàng khi thấy những cái bánh chưng tôi gói cũng vuông thành sắc cạnh như cái bánh cha gói thưở nào. Tôi nhớ hình ảnh mấy chị em ngồi chầu rìa chờ đến khi còn lại ít gạo mỗi đứa sẽ được tự tay gói một cái bánh con… rồi cảm giác sung sướng khi được cha buộc thêm cho "đùm" bánh chưng ấy một cái quai xách, để khi vớt ra là có thể tự nhấc ngay ra mà nếm náp thành quả lao động đang nghi ngút hơi của chính mình, thấy ngon tuyệt. Tôi quay ra hỏi cháu nội: Con có muốn tự gói một cái bánh xinh xinh không? Con bé năm tuổi hét toáng lên sung sướng, rồi rúc rích, chụm đầu thì thào… nó nhờ bà nội hướng dẫn để lần đầu tiên được tự tay gói một cái bánh chưng be bé. Rồi cũng đòi buộc một cái lạt, nó xách cái “đùm” bánh đi đi lại lại, cặp mắt tròn vo sung sướng.
Cô con dâu người thành phố bần thần, ngạc nhiên hỏi: “Mẹ ơi! Sao chưa gói bánh chưng lần nào mà mẹ làm thành thạo thế ạ?” rồi ghì chặt lấy con bé khiến nó thét lên: “Mẹ! Bẹp hết bánh chưng của con là con bắt đền đấy”. Lần đầu tiên ngồi xem cha làm, tôi cũng bằng tuổi cháu nội bây giờ. Tôi nhớ như in hai bàn tay chai sần, nhớ những nút lạt xoắn dẻo dai mà chặt chẽ của cha trên những cái bánh chưng vuông vắn vẫn thường hiện về trong tôi mỗi năm Tết đến…
Tôi cẩn thận trải đều những mẩu đầu và cuống lá lên đáy soong rồi xếp từng cặp bánh vào, sau đó hai bà cháu đổ nước ngập những cái bánh đã được chèn chặt chẽ để luộc khi đèn đường phố đã bật sáng. Tôi nhớ, những năm xưa cha thường luộc bánh chưng vào chiều tối 30 Tết. Bánh được đun sôi và tiếp nước liên tục cho tới khi vớt ra là kịp cúng giao thừa. Trong khoảng thời gian chờ vớt bánh, cha thường kể cho bốn chị em nghe câu chuyện “Sự tích bánh chưng bánh dày” có người con hiếu thảo đã lên ngôi vua trị vì đất nước vào đời Hùng Vương thứ mười tám… chuyện năm nào cũng vậy, nó thấm dần, thấm dần…
Trước thềm xuân năm nay, khi bước sang tuổi sáu mươi nhăm, cảm giác lần đầu gói những cái bánh chưng đẹp đẽ này bằng sự trở về của những ký ức cứ rạo rực trong tôi!
L.T.P

Lưu Thị Phụng, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
luuphung1955@gmail.com
READ MORE - TRỞ VỀ VỚI YÊU THƯƠNG -Truyện ngắn - Lưu Thị Phụng

ĐẾN VỚI MẪU SƠN KỲ THÚ - Ghi chép của Nguyễn Đại Duẫn


Ảnh từ trang Blog của Phạm Hoài Nhân


Đến với Mẫu Sơn kỳ thú

Ghi chép của Nguyễn Đại Duẫn

Từ Quảng Binh, xe vượt qua hàng trăm cây số đưa tôi đến thăm quê bạn ở Thành phố Lạng Sơn. Ngồi trên xe, say mê ngắm nhìn những dãy núi đá vôi điệp trùng, dựng đứng như bức trường thành. Nơi đây có ải Chi Lăng, một địa danh đặc biệt gắn với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của cha ông,  nơi cha anh ta đã làm cho giặc phương Bắc nhiều phen khiếp vía.  Thả hồn vào những sợi khói lam đang bảng lảng trong sương chiều, trào dâng cảm xúc với câu ca: “Đường lên xứ Lạng quanh quanh / non xanh nước biếc như tranh họa đồ”. Thật vậy. Xe đưa chúng tôi bon bon trên con đường nhựa phẳng lì, đang quanh quanh trên sườn núi, trập trùng. Thành phố Lạng Sơn dần hiện ra trong khung cảnh rộn ràng, sầm uất.
                
Được bạn giới thiệu, chúng tôi cùng chuẩn bị hành lí “du hành” chinh phục Mẫu Sơn. Từ TP. Lạng Sơn, xe chúng tôi vượt qua những đoạn đèo quanh co, khúc khuỷu mới lên tới đỉnh Mẫu Sơn. Hai bên đường, thỉnh thoảng hiện ra những khu ruộng bậc thang nằm rải rác, xen lẫn giữa những ngôi nhà đơn sơ của đồng bào người Dao, Nùng, Tày…Lúa đang chín rộ ngả một màu vàng hươm như ráng chiều nơi vùng quê yên tỉnh. Thỉnh thoảng gặp vài thửa đã gặt, mùi thơm rạ  nếp ùa vào xe, như gợi nhớ mùa cốm ở quê tôi. Bản làng lưa thưa thấp thoáng dưới rừng thông trong sương sớm. Bạn tôi cho biết, nơi đây xưa là rừng trọc. Từ khi chuyển giao đất rừng cho người dân quản lí, rừng thông được hình thành từ đó. Những cây thông cao vút khoảng độ 12 năm tuổi, đang khai thác, trên mình chằng chịt vết thẹo, đang cất lên bản nhạc vi vu. Thoáng nhìn, người ta cứ tưởng đây là xứ sở Đà Lạt thứ hai.

Ảnh từ internet.

Xe chúng tôi chạy chậm lại để có thể ngắm nhìn những bông hoa dại li ti, vàng rực bên đường và tận hưởng không khí trong lành của núi rừng ban tặng. Càng lên cao, không khí mát lạnh, sương giăng giăng,  như đưa bước chúng lên với tầng mây. Gần đến đỉnh Mẫu Sơn, bạn tôi chỉ tay sang phía bên đường giới thiệu, đó là những ngôi biệt thự cổ phủ lớp rêu phong, nằm chơ vơ giữa đất trời. Những ngôi biệt thự kiểu Pháp. Vừa đi, tôi vừa hình dung về một thế kỷ trước, khi những nhà thám hiểm Pháp lần đầu tiên đặt chân đến đây du thám một Mẫu Sơn rừng thiêng nước độc. Được biết, thời đó người Pháp đã cho xây hơn 40 căn biệt thự bằng đá. Chúng không cao lớn, sừng sững nhưng vững chãi, nguy nga như viên ngọc quý giữa rừng già. Một thế kỷ thăng trầm đã trôi đi, trước mắt chúng tôi bây giờ chỉ còn lại những ngôi nhà cổ phủ kín rêu, cũ kỹ màu thời gian, bỏ hoang  và đang trở thành “phế tích”. Tuy không còn được sử dụng, nhưng những ngôi biệt thự này vẫn thu hút sự chú ý của chúng tôi và nhiều du khách. Đó cũng được coi là một “nét duyên” tô điểm cho vẻ hoang sơ, có chút kiêu hãnh của núi rừng Mẫu Sơn.

Qua một chặng đường dài hơn 30km, xe của chúng tôi cũng đến  nơi.  Đứng trên đỉnh Mẫu Sơn nhìn ra là vẻ đẹp hùng vĩ của núi đồi nhấp nhô, mây trắng bồng bềnh, những nếp nhà thấp thoáng giữa rừng xanh tạo nên quang cảnh tựa chốn Bồng Lai. Dãy này xếp dãy kia, trập trùng. Mây sà thấp la đà như cánh chuồn đang bò trên vạt áo, như cánh bướm bò trên vai chúng tôi.

Rồi bạn chỉ tay sang bên phải,  nơi có nhiều dòng suối chảy từ đỉnh núi xuống để đợi nhau cùng chảy vào sông Kỳ Cùng. Thứ nước trong trẻo ấy không chỉ là nguồn sống của hàng trăm hộ dân, mà còn là thứ “nước thiêng” làm nên thương hiệu rượu Mẫu Sơn và chè San Tuyết nổi tiếng từ lâu.

 Chúng tôi cùng nhau chụp hình, tuy sương sớm giăng giăng nhưng hình ảnh cũng được các “phó nháy” lưu lại thật hồn nhiên. Nhìn trên đầu, những hạt sương bám đầy như đang thấy mình đã già đi vài tuổi cũng ngồ ngộ.  Ngồi xuống một phiến đá ven đường, tôi căng lồng ngực hít một hơi thật dài, thật sâu để luồng không khí mát lạnh, còn ngây ngây mùi sương, mùi gió lan tỏa vào từng tế bào.  Càng về trưa, trời hững nắng, từng đám mây trôi bồng bềnh trên đầu, rừng núi lan tỏa một màu xanh thắm. Đâu đó thấp thoáng những tốp nam thanh, nữ tú cưởi xe máy đang tiến về chinh phục đỉnh Mẫu Sơn. Đoàn người càng ngày càng đông, tạo nên cảnh vui nhộn, râm ran.

Chúng tôi được anh xế đưa  đến “Linh địa cổ Mẫu Sơn”. Được bạn giới thiệu, Khu linh địa cổ Mẫu Sơn nằm ở độ cao 1.190m so với mặt nước biển, phân bố trên sườn núi dốc trên dãy Mẫu Sơn. Đền được xây dựng để thờ vị thần trấn núi Mẫu Sơn có tên gọi là “Đức Tôn Thần Công Tịnh Quang Mậu, Hùng Trấn Đại Vương, Thượng Đẳng Phúc Thần”. Khu đền cổ và mộ đá trên khu linh địa cổ hiện tồn tại với đầy đủ ý nghĩa của di tích tín ngưỡng, tôn giáo, vừa là nơi thờ tự thần núi Mẫu Sơn, vừa là nơi có di tích mộ đá lớn, còn là biểu tượng của sức mạnh văn hóa thể hiện đời sống tinh thần phong phú người Tày cổ ở khu vực này. Bạn tôi cho biết,  ngoài du cảnh đỉnh Mẫu Sơn, Linh địa cổ Mẫu Sơn còn du cảnh Suối Long Đầu, Núi Phặt Chi và một số địa danh khác, nhưng do thời gian một ngày không cho phép chúng tôi thưởng thức hết những nét đẹp huyền bí của dãy Mẫu Sơn. Qua giới thiệu của bạn tôi được biết, Suối Long Đầu là một trong những thắng cảnh và điểm du lịch sinh thái được nhiều người biết đến của tỉnh Lạng Sơn. Suối Long Đầu mang những nét rất đặc trưng của thắng cảnh vùng núi Mẫu Sơn. Lòng suối ngổn ngang đá núi nhẵn phẳng như có bàn tay sắp đặt tài tình của tạo hóa. Rồi Núi Phặt Chỉ được che phủ bởi thảm cỏ xanh uốn lượn giữa các sườn đồi, xen kẽ những cánh rừng nguyên sinh có hệ động thực vật phong phú, nhiều loài hoa, có cây cổ thụ hàng nghìn năm tuổi…tạo nên vẻ đẹp hoang sơ, thoáng đãng và thơ mộng.

Trời dần về chiều, nhiều sương mù và lạnh hơn. Chúng tôi tìm đến quán ăn bên đường để nghỉ ngơi, thư giản. Được ông chủ quán giới thiệu cho chúng tôi những món ăn đặc biệt có ở Mẫu Sơn. Đó là món gà nướng mật ong, ếch hương, lợn sữa quay, cá hồi Mẫu Sơn, rượu Mẫu Sơn, gà đồi 6 ngón... Nhưng đó là nghe giới thiệu thôi, còn thời điểm hiện tại chủ quán cho chúng tôi thưởng thức món gà đồi chân 6 ngón.  Thịt gà đồi 6 ngón chắc, ngọt và thơm chứ không nhão và dai. Ngon nhất là món lẩu thịt gà với rau trồng ở các vùng Mẫu Sơn, nước lẩu gà có thể dùng nấu mì chũ hoặc chan cùng với bún cũng rất tuyệt vời…Ông chủ còn giới thiệu rượu men lá, một sản phẩm du lịch không thể thiếu, đã góp phần tạo nên niềm tự hào của người dân Mẫu Sơn. Từ đôi tay và  sự khéo léo thuần thục khi họ cất những chum rượu men lá ấm nồng, thơm phức,  với hương vị không nơi nào có được.

Chúng tôi quây quần bên nồi lẩu lai rai chút rượu, thưởng thức món gà đồi Mẫu Sơn rồi nghe chủ quán trò chuyện. Ông cho biết, nếu du lịch Mẫu Sơn vào tháng 12 đến tháng 2 thì có thể ngắm cảnh tuyết rơi. Tuyết như những bông hoa trắng  bay lất phất trong gió Đông thật thích mắt. Hàng năm, nơi đây có 2 lễ Hội chính: Liên hoan du lịch Mẫu Sơn mùa hè, và Ngày hội du lịch Mẫu Sơn mùa đông. Với các chương trình văn hóa đặc sắc như: hát dao duyên, múa khèn, nghi lễ cấp sắc của người Dao... Tổ chức hội trại thanh niên, các trò chơi dân gian. Tổ chức các hoạt động về ẩm thực, trình diễn mô hình nấu rượu....Không để cho chủ quán nói hết, bạn tôi chen ngang tán thưởng, dỉnh Mẫu Sơn mang một vẻ đẹp không thể cưỡng lại. Dù là vào bất cứ mùa nào trong năm bạn cũng đều có thể cảm nhận được cái đẹp mà tạo hóa ban tặng cho thiên nhiên và con người nơi đây. Mùa xuân đỏ rực với những bông đào nở rộ, mùa hạ dãy núi mộng mơ ẩn hiện dưới lớp sương mù, mùa đông trắng xóa một trời băng tuyết, ngay cả trong những ngày thường Mẫu Sơn cũng đã đẹp một cách hùng vĩ và tráng lệ. Điều này đã làm nên nét đẹp độc đáo và sự hấp dẫn riêng của nơi đây.
                
Chia tay bạn ra về, tôi thầm cảm ơn bạn đã cho tôi một chuyến du cảnh Mẫu Sơn đầy thú vị.  Mẫu Sơn được biết đến là khu nghỉ dưỡng từ thời Pháp thuộc với hàng chục ngôi nhà cổ được xây dựng, bây giờ bị bỏ hoang. So với  Sa Pa, khu du lịch Bà Nà( Đà Nẵng), Đà Lạt tôi cảm giác rằng, trong khi các điểm du lịch khác được đầu tư và thu hút đông du khách thì Mẫu Sơn lại hầu như  “buồn tẻ” hơn, vì thế mà nhiều người đến du lịch ví Mẫu Sơn như “nàng công chúa” ngủ trong rừng. Nhìn từ khía cạnh Du lịch thì Mẫu Sơn hiện chưa thu hút được khách bởi cơ sở hạ tầng  chưa được chú ý đầu tư. Khách đến với Mẫu Sơn chỉ thưởng thức vẽ đẹp hoang sơ của thiên nhiên. Thiết nghĩ, các nhà Đầu tư, các nhà kinh doanh, Sở Du lịch Lạng Sơn cần quan tâm đến việc xây dựng khu du lịch, khu nghỉ dưỡng, khu vui chơi giải trí Mẫu Sơn. Đất Trời đã ban tặng  vẽ đẹp của thiên nhiên được gắn kết với vẽ đẹp của nhân tạo sẽ làm nên một sự hài hòa trong vẽ đẹp tuyệt vời của Mẫu Sơn. Mong rằng, một thời gian gần đây, được trở lại Mẫu Sơn sẽ là điểm đến Du lịch đầy hứa hẹn, một Mẫu Sơn tráng lệ,  sầm uất và nhộn nhịp, mang đến sự hài long cho du khách. Tạo được thế mạnh Du lịch Mẫu Sơn sẽ góp phần tăng trưởng kinh tế, gặt hái nhiều thành quả từ những mùa màng bội thu,  sánh vai với các khu du lịch trong nước.

Lạng Sơn, tháng 11 năm 2018

Nguyễn Đại Duẫn
Hội viên Hội VHNT Trường Sơn
Tiểu khu 5, thị trấn Quán Hàu, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình

READ MORE - ĐẾN VỚI MẪU SƠN KỲ THÚ - Ghi chép của Nguyễn Đại Duẫn

TÌNH TRĂNG - Thơ Mặc Phương Tử






TÌNH TRĂNG


Từ lúc trăng non vừa nhú mộng
Có vầng mây sáng cuối trời xa
Thầm gieo ý tưởng trên muôn lá
Thanh sắc đêm tàn chưa phôi pha.


Thời khắc đã chia màu dĩ vãng
Trăng già mỗi lúc theo đường mây
Lên khơi cũng muốn soi lòng biển
Sợ ánh vàng nghiêng chở mộng gầy.


Hương sắc dẫu chưa lần giả biệt
Mà sao non nước lạnh mơ màng!
Chao ôi,
Bờ bến còn chăng nhỉ?
Hay chỉ còn ta với ánh trăng!


                                   MẶC PHƯƠNG TỬ

READ MORE - TÌNH TRĂNG - Thơ Mặc Phương Tử

Thursday, December 20, 2018

ĐỌC “UỐNG RƯỢU GẠO NHỚ TRƯƠNG PHI”, THƠ THẾ LỘC - Châu Thạch

   
             Nhà bình thơ Châu Thạch


ĐỌC “UỐNG RƯỢU GẠO NHỚ TRƯƠNG PHI”, THƠ THẾ LỘC
                                                                Châu Thạch

Đa số người Việt ta, dầu có chữ hay không có chữ, chẳng mấy ai không biết Trương Phi. Bởi Trương phi là một trong những danh tướng nhà Thục Hán thời Tam Quốc bên Tàu, được truyền tụng và được yêu mến, có ảnh hưởng sâu đậm trong dân gian. Trong tiêu thuyết Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung, nhân vật Trương Phi cùng Lưu Bị và Quan Vũ kết nghĩa huynh đệ, bái trời đất tại vườn đào. Trương Phi là em út trong ba người.
Đọc bài thơ “Uống Rượu Gạo Nhớ Trương Phi” của Thế Lộc không ai không biết nhà thơ mượn nhân vật Trương phi để gởi tâm sự của mình vào đó. Cái chữ “rượu gạo” cũng đã mang một hàm ý sâu xa rồi.
Ngày xưa Trương Phi uống rượu gì ta không biết, thế nhưng cũng dễ đoán được. Vì một người uống rượu như lưu linh, lại là một võ tướng ngoài sa trường thì không có mỹ tửu đâu đủ để uống cho say túy lúy, trừ ra là rượu gạo. “Rượu gạo” cũng mang tính dân tộc. Những anh hùng trong lịch sử nước ta, như Quang Trung chẳng hạn, cũng xuất thân từ giai cấp nông dân, mặc áo vãi, uống rượu gạo mà phất ngọn cờ đào làm nên lich sử vẽ vang cho đất nước.
Ngày nay, Thế Lộc dùng hai chữ “rượu gạo” trong thơ, một phần tỏ cái hào khí của mình cũng giống như người xưa vậy, một phần tỏ cái thân phận thường dân của mình trong cuộc sống thời nay, là cái thời mà bậc quyền thế, giới giàu sang chỉ uống toàn rượu ngoại đắt tiền.
Vào đề nhà thơ đã dựng lại một bức tranh thật hào hùng của người mãnh tướng năm xưa:

Vác xà mâu đứng giữa cầu

Hét to một tiếng mắt râu trợn trừng

Truyện xưa viết rằng: Trương Phi là người khẳng khái, bộc trực, rất nóng nảy. Trương Phi có võ nghệ siêu phàm, vô cùng dũng cảm. Trương Phi xử dụng vũ khí là một cây bát xà mâu dài 1,8 trượng, cưởi tuấn mã màu đen chân trắng. Ông thật sự là nỗi khiếp đảm của quân thù. Một lần, trên cầu Trường Bản, Trương phi đã quát mấy tiếng khiến Tào Tháo hoảng sợ mà lui binh. Khi ấy Trương Phi chỉ có vài mươi kỵ sĩ, còn Tào Tháo thì có trăm vạn hùng binh. Trong trận ấy Hạ Hầu Kiệt, một viên quan hầu Tào Tháo phải vỡ mật, chết đi vì hoảng sợ khi nghe tiếng hét của Trương Phi.
Nhà thơ Thế Lộc nhắc lại chuyện nầy để làm gì? Tác giả muốn dựng lại hình ảnh của chính mình đã có một thời như thế. Tất nhiên, để anh hùng như Trương Phi thì ngàn năm mới có một người. Thế nhưng, bất cứ người lính chiến nào, ở trong thời đại nào,  ở trong quân ngũ nào, nếu không là kẻ khiếp nhược thì cái tinh thân Trương Phi vẫn có luôn trong dòng máu nóng. Thế Lộc dựng hình ảnh Trương Phi đứng trên cầu Trương Bản năm xưa để tưởng nhớ lại chính mình, còn tưởng nhớ đến một lớp người đã khoác áo chiến binh, mang một bầu máu nóng, thẳng thắng, bộc trực, gan dạ và oai hùng trong thời binh lửa.
Thế rồi tiếp bốn câu thơ sau, Thế Lộc đem mình ra so sánh với Trương Phi:

Mấy mươi năm ông lẩy lừng
Chỉ trong gan tấc ông thành thiên thu
Tôi từ binh lửa mịt mù
Cũng  giống ông chỉ ở tù mấy năm

Như trên đã nói, Trương Phi là người rất nóng nảy. Cũng bởi tính nóng nảy đó, ông đã chuốc họa vào thân. Do nôn nóng việc báo thù cho Quan Vũ, người anh kết nghĩa vườn đào của Trương Phi bị Đông Ngô hại chết mà ông đánh đập quân sĩ, làm cho khiếp đảm những người dưới trướng. Một đêm, uống rượu ngủ say, Trương Phi bị  Trương Đạt và Phạm Cương, vì lo sợ Trương Phi sẽ chém đầu bởi không làm tròn phận sự mà Trương Phi giao phó, đã âm thầm sát hại, dùng dao đâm ông chết. Cái chết của Trương Phi thật là bi đát, bởi không chết trên sa trường, không da ngựa bọc thây, là điều hảnh diện của võ tướng, của mọi người chiến binh gan dạ.
Khi nhà thơ Thế Lộc nói “Cũng như ông” tức là tác giả tự cho mình tuy không chết, tuy chỉ ở tù mấy năm nhưng nỗi đau có khi, còn nhiều hơn Trương Phi thuở xưa nữa, vì không chết trên sa trường, không poncho bọc thây, không thỏa lòng chỉ vì xuôi tay theo định mệnh an bài. Thật thế, làm thân trai mang bầu máu nóng, kẻ ra đi vì lý tưởng non sông, người ra đi vì lý tưởng của riêng mình, chẳng một ai muốn mình buông vũ khi để vào tù. Thà chết quách như Trương Phi, không chịu khổ lụy tiếp theo, để “huy hoàng rồi vụt tắt / Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”. Thế Lộc đã nhấn mạnh điều đó trong hai câu thơ sau, hai câu thơ tuy không nói rõ, nhưng như có một chút gì ganh tỵ với Trương Phi,  như cho rằng Trương Phi đã thỏa lòng vì đã ngàn năm yên giấc:

Còn ông thì đã yên nằm
Cỏ xanh mộ chí trăm năm vĩnh hằng

Thế rồi khi rượu đã say, nhà thơ không nói mình rơi lệ, nhưng ta biết lòng nhà thơ rơi lệ:

Tôi với ông chưa hề quen
Nhưng khi uống rượu không ngăn nỗi lòng
Cuộc cờ hưng phế, suy vong
Kiếm cung bỏ dở tấm lòng mang theo

Cuộc cờ thì có hưng có phế có suy vong là lẽ thường tình, nhưng thương cho người “kiếm cung bỏ dở” phải chịu bao điều đắng cay.
Từ sự cảm kích một danh tướng thưở xa xưa, nhà thơ đã chạnh lòng khi nhớ đến mình cũng đã từng mang ít hay nhiều hào khí như hào khí của Trương Phi. Bốn câu thơ cho ta tưởng tượng một cuộc đổi dời như nương dâu hóa biển và biết bao thân phận như bọt bèo trôi theo dòng lũ. Bốn câu thơ cũng gợi cho ta những tâm sự buồn thê thiết khi ai đó phải nhìn tận vào lòng mình để thấy “Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”.
Thế rồi bằng một sự so sánh, Thế Lộc đã đánh giá sự chết của Trương Phi và sự sống của mình rất khác nhau:


Tử như ông, thân nhẹ hều
Sống như tôi, thân tựa bèo trôi sông

Vâng đúng thế, chết đi thì “nhẹ  hều” còn sống thì phải mang nặng bao điều của cuộc sống. Điều đó là sự thật, và là sự thật đau lòng cho hàng triệu chiến binh đã buông tay súng vì bất đắc dĩ trước đây. Không cần phải kể lể, không càn phải thống kê, ai cũng biết rằng những người chiến binh đó khó mà vươn lên giữa đời như một thân cây  tươi tốt vì được bón hoa màu. Họ dầu ở đâu, thân cũng chỉ như “cánh bèo trôi” trên dòng sông đầy gềnh đầy thác!
Cuối cùng nhà thơ tỉnh người trong cơn say rượu gạo. Tỉnh người để thấy bão bùng nổi lên bốn phương, để nhớ người mẹ thân yêu mà mình hằng xa cách:

Nhìn trời chớp bể mưa đông
Chạnh thương cho mẹ chữ tòng theo cha.

“Lòng mẹ bao la như biển thái bình”. Đối với tác giả, cha là cuôc sống hiện tại, mẹ là của cái thời thanh xuân, còn trai trẻ. Mấy ai mà quên được thời trai trẻ của mình, nhất là cái thời ấy, anh ta được vẩy vùng như hình ảnh của danh tướng Trương Phi. Hai câu thơ cuối như một lời nhắn gởi thân yêu về qua khứ, cũng như một lời từ biệt quá khứ không hẹn ngày tái ngộ.
Ngày mẹ lấy chồng. phải từ bỏ một thời con gái, lìa bỏ cha mẹ anh em để tòng phu. Sự phân cách đó, không chỉ buồn một lúc cho người ra đi, mà ngược lại nó tồn tại hòai trong ký ức mỗi khi tưởng lại giây phút chia lìa. Thế Lộc dùng hình ảnh người mẹ ra đi, như một ẩn dụ để gián tiếp bày tỏ nỗi niềm sâu kín trong tận con tim. Tiếng kêu ấy như dòng nước mắt nuốt vào, hóa thành nỗi đau tinh thần, trở thành nan y trong suốt cả cuộc đời còn lại.
“Uống Rượu Gạo Nhớ Trương Phi” là một bài thơ bi hùng. Đọc bài thơ đó ta thấy hùng khí hiển hiện trong thơ, qua hình ảnh Trương Phi. Cũng qua hình ảnh Trương Phi tác giả phát họa được hình ảnh của chính mình một thời trai trẻ. Bài thơ có sự than thở tưởng như bi nhưng sự bi đó cũng nằm trong sự hào hùng, kể cả khi “kiếm cung bỏ dở” trong cuộc “hưng phế, suy vong”.

Đọc thơ, dầu người lớn tuổi đã trải qua chinh chiến hay người nhỏ tuổi ở thế hệ hòa bình, vẫn thấy cái tinh thần quật cường trong tâm hồn người chiến sĩ, dẫu họ thành hay bại trong cuộc cờ thế sự. Tuy họ sống âm thâm, nỗi lòng của họ mang theo cùng sự lãng mạn với chất Người hảo hán mà cha ông họ, thời đại họ đã giáo dục họ không bao giờ thay đổi.

                                                               Châu Thạch



                               Nhà thơ Thế Lộc


UỐNG RƯỢU GẠO NHỚ TRƯƠNG PHI

Vác xà mâu đứng giữa cầu
Hét to một tiếng mắt râu trợn trừng
Mấy mươi năm ông lẫy lừng
Chỉ trong gan tấc ông thành thiên thu

Tôi từ binh lửa mịt mù
Cũng giống ông chỉ ở tù mấy năm
Còn ông thì đã yên nằm
Cỏ xanh mộ chí trăm năm vĩnh hằng
Tôi với ông chưa hề quen
Nhưng khi uống rượu không ngăn nỗi lòng
Cuộc cờ hưng phế, suy vong
Kiếm cung bỏ dở tấm lòng mang theo

Tử như ông, thân nhẹ hều
Sống như tôi, thân tựa bèo trôi sông
Nhìn trời chớp bể mưa đông
Chạnh thương cho mẹ chữ tòng theo cha.

                                                Thế Lộc
                                            24. 04.2013

READ MORE - ĐỌC “UỐNG RƯỢU GẠO NHỚ TRƯƠNG PHI”, THƠ THẾ LỘC - Châu Thạch

QUẢNG TRỊ MỘT TÌNH YÊU - Thơ: Trương Hằng Nga - Nhạc: Đào Bá Hoàng Anh và Trương Hằng Nga - Biểu diễn: Ngọc Bích

READ MORE - QUẢNG TRỊ MỘT TÌNH YÊU - Thơ: Trương Hằng Nga - Nhạc: Đào Bá Hoàng Anh và Trương Hằng Nga - Biểu diễn: Ngọc Bích

MÙA GIÁNG SINH... NHỚ THƯƠNG - Thơ Hiệp Kim Áo Tím


                    Nhà thơ Hiệp Kim Áo Tím


MÙA GIÁNG SINH... NHỚ THƯƠNG

Chia tay... anh hứa sẽ về
Mùa đông phố núi hẹn thề trăm năm
Thế rồi đã mấy trăng rằm
Người đi... đi mãi âm thầm mình em

Năm xưa... buổi tối nô en
Mình cùng sánh bước đi xem nhà thờ
Bên người... em quá ngây thơ
Thích xem sính lễ mộng mơ thật nhiều

Ngân vang thánh thót chuông chiều
Bên ai em chỉ biết yêu... thôi mà
Thế mà ta phải chia xa
Anh đi để lại trong ta nỗi buồn

Giáng sinh lất phất mưa phùn
Người buồn có lẽ trời tuôn giọt sầu
Vắng anh thức trọn canh thâu
Giáng sinh ta lại nhớ nhau ơi... người!

Anh bảo thích tiếng em cười
Thích nghe em nói lại lười môi cong
Mùa đông sao má em hồng
Sưởi cho anh ấm tấc lòng đơn côi

Anh đi về chốn xa xôi
Đếm bao lá rụng để rồi ngóng trông
Bao mùa chờ đợi nhớ mong
Giáng sinh thương nhớ... người không trở về...

                                         Hiệp Kim Áo Tím
                                       Đà Lạt, 21/12 /2018

READ MORE - MÙA GIÁNG SINH... NHỚ THƯƠNG - Thơ Hiệp Kim Áo Tím

NIỆM KHÚC THU 1 - Thơ Châu Thanh Thủy





NIỆM KHÚC THU 1
(Tặng Người đàn ông của tôi!)

Qua thềm bóng nắng sẽ rơi
Qua sông gió sẽ hát lời tương tư
Yêu nhau buổi ấy mùa thu
Lá vàng rơi khẽ như ru lòng buồn
Hãy đừng để giọt lệ tuôn
Hãy chôn nước mắt vào hồn li tan
Người đi buổi ấy trăng ngàn
Mây xa níu lại, cỏ giàn bước chân.
Đừng quay lại, đừng phân vân
Có là li biệt cũng lần ấy thôi...

Ta trong dằng dặc cuộc đời
Dù tan - hợp, cũng là lời tình yêu !

                        Châu Thanh Thủy

READ MORE - NIỆM KHÚC THU 1 - Thơ Châu Thanh Thủy

TIẾNG LÒNG, ĐỢI, CHIỀU - Thơ Tịnh Đàm



                    Nhà thơ Tịnh Đàm


TIẾNG LÒNG
(Tặng Tâm Châu)

Vỗ đàn
Theo giọng thơ ngâm
Nhịp đưa trầm lắng
Dư âm... tiếng lòng.

Vui say
Cho trọn đêm mong
Người về
Bỗng nhớ người...
Trong bồi hồi.


ĐỢI

Mỗi ngày
Tôi vẫn đợi mong
Một niềm vui nhỏ
Đến trong cuộc đời.

Để hồn như bướm
Chơi vơi
Về theo cánh gió
Mộng...
Trời yêu thương.


CHIỀU 

Chiều rơi
Như những giot lòng
Buồn vương bao nỗi
Nhớ mong
Bên đời.

Mắt nhìn
Về phía xa khơi
Một phương người đó
Tím...
Trời hoàng hôn !

       TỊNH ĐÀM
(Hóc Môn, TP. HCM)

READ MORE - TIẾNG LÒNG, ĐỢI, CHIỀU - Thơ Tịnh Đàm