Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, December 10, 2018

NGÚT NGÀN GIỮA ĐẠI DƯƠNG BÁT NGÁT - Tâm Nhiên


            Thầy Tuệ Sĩ và cư sĩ Tâm Nhiên



NGÚT NGÀN GIỮA ĐẠI DƯƠNG BÁT NGÁT
                                                               Tâm Nhiên

“Năm tháng vẫn như nụ cười trong mộng” là một câu thơ của Thầy Tuệ Sỹ mà tôi cứ đọc đi đọc lại mãi trên những chuyến phiêu bạt, giang hồ khắp đó đây. Ngày đi, tháng đi, năm đi và đời mình cũng đang chuyển dịch đi qua. Đi trên nhịp bước sương lồng sông núi lặng: “Đi để nhớ những chiều pha tóc trắng. Mắt lưng chừng trông giọt máu phiêu lưu.”* Phiêu lưu, phiêu lãng ngàn phương, theo cách điệu tiêu dao du chơi giữa vô thường:

“Bước đi nghe cỏ động
Đi mãi thành tâm không
Hun hút rừng như mộng
Tồn sinh rụng cánh hồng”**

Bồng phiêu tựa cánh bèo trôi lênh đênh giữa muôn trùng cuộc lữ, như Thiện Tài lang thang qua 52 cảnh giới, như Tô Đông Pha Những Phương Trời Viễn Mộng chập chùng trong quá khứ tuyệt mù xa. Từ đó, nghe ra biết bao niềm giao cảm nên xin hòa âm trên cung bậc thi ca, đồng thanh tương ứng:

Những phương trời viễn mộng đi
Thi ca tư tưởng bước kỳ ảo qua
Đọa đày một thuở ta bà
Nỗi đau rực cháy thấy ra tột cùng

Ôi ! Giấc mơ Trường Sơn rung
Rúng hồn tim máu chợt bùng vỡ mơ
Kinh thiên động địa sững sờ
Đâu chân diện mục của Thơ với Thiền?

Mặc như lôi ngồi tịch nhiên
Nghe ban sơ vọng ngân huyền diệu âm
Những điệp khúc cho dương cầm
Từ vô tận ý vang thâm thiết niềm

Niềm chi mà thâm thiết vang âm, ý gì mà từ vô tận ngân dội về? Để cho: “Nơi đây, sa mạc cứ vẫn thiên thu cô tịch trong cơn gió bức bách của hư vô. Lẽ sống và lẽ chết cứ mãi bập bềnh trên hư ảo. Tâm hồn miệt mài nóng cháy nhưng không cháy tan hết những giấc mộng hãi hùng của hư vô và hủy diệt.” Tuệ Sỹ đã nói như thế trong Vô Môn Quan giữa một chiều xa xưa bữa nọ, mãi đến bây giờ, vẫn còn nghe đồng vọng lại, khi mình đang lang thang với Thầy, lội suối trèo non, leo lên trên tuyệt đỉnh cô phong, ngút ngàn ngoài ven trời vạn dặm giữa trùng khơi, hoang đảo sóng rạt rào:

Ngút tận mù khơi trời hoang đảo
Trèo lên tuyệt đỉnh núi lặng im
Im lặng lắng nghe mây ngàn hát
Vang vọng nghìn năm biết bao niềm

Nghìn năm sóng vỗ trào vô ngã
Rạt rào trên biển lớn mênh mông
Tứ đại phù du bèo bọt nổi
Sóng tan thành nước chảy theo dòng

Sóng nước tuy hai mà vốn một
Nên sinh hay diệt vắng lặng rồi
Cũng ngay ngũ uẩn thân mình đó
Phật tính nhiệm huyền hiện hữu thôi

Trùng trùng duyên khởi muôn vạn pháp
Đủ duyên thì hiện hết thì tan
Không có cái chi là tự ngã
Hòa chung vũ trụ trỗi cung đàn

Cung đàn vang dậy trỗi khúc bồng tênh, lênh láng trên lớp lớp sóng trào, ngoài viễn xứ xa xăm cùng hòa âm theo Những Điệp Khúc Cho Dương Cầm du dương, thánh thót. Một tập thơ mà Tuệ Sỹ hát ca quá mộng trong bóng tối u huyền, thoảng ngát trời sương trăng tịnh trầm thanh vắng lặng:

“Ta nhận chìm thời gian trong khóe mắt
Rồi thời gian ửng đỏ đêm thiêng
Đêm chợt thành mùa đông huyễn hoặc
Cánh chim bạt ngàn từ quãng Vô biên”***

Vô biên vô lượng tuy hoằng viễn thiên hà mà thực ra vẫn gần gũi quanh đây, ngay nơi đáy lòng bi mẫn, ngân dài khúc điệu vô ngôn. Vô ngôn một cách thâm thúy, diệu kỳ trong ý vị sâu xa. Vì lẽ: “Người thi sỹ xuất chúng, xuất thần, hay có phong thái khác thường đó. Họ nói rất ít mà nói rất nhiều. Họ nói rất nhiều mà chung quy hồ như chẳng thấy gì hết. Họ nói cho họ mà như nói hết cho mọi người. Nói cho mọi người mà cơ hồ chẳng bận tâm gì tới chuyện thiên hạ nghe hay là chẳng nghe.”****

Bùi Giáng nhận xét về Tuệ Sỹ như thế và thi nhân cũng lai rai hồi đáp lại: “Bởi vì, cách điệu của Thi ca vốn dĩ phiêu hốt, khơi vơi, lãng đãng, nên bờ biếc bích ngạn chiêu hoa như một nơi chốn thong dong thánh thót. Thảm kịch khốn cùng dù có đổ ào lên Thi ca đến mấy đi nữa, Thi ca vẫn như điềm nhiên, ngao du theo ngày tháng, trong ngày tháng ngao du.”** Ngao du trên phong vận tài hoa, nhập cuộc cùng buồn vui, mộng huyễn ta bà:

“Ta sống lại trên nỗi buồn ám khói
Vẫn yêu người từng khoảnh khắc chiêm bao
Từ nguyên sơ đã một lời không nói
Như trùng dương ngưng tụ ánh hoa đào
Nghe khúc điệu rộn ràng đôi cánh mỏi
Vì yêu người ta vói bắt ngàn sao”***

“Vì yêu người ta vói bắt ngàn sao” hay “ Vẫn yêu người từng khoảnh khắc chiêm bao” là điệp khúc Đại từ bi mà tôi nghe được từ cái nhìn sâu thẳm của Tuệ Sỹ, khi ngồi trên đỉnh núi ngàn cao, nhìn xuống chập chùng trùng khơi biển nước:

Ra vùng biển lớn trùng dương
Lướt trên bão tố vô thường cuồng phong
Rỗng rang tận đáy sâu lòng
Vất đi hết những ngày long đong nào

Trèo lên chót vót đỉnh cao
Ồ mây trắng lượn bay trào cuộn dâng
Quá cùng tuyệt hảo vô ngần
Hoát nhiên bừng ngộ lẽ Chân tánh này

Ngó nhìn xuống cõi đời say
Dưới kia nhỏ bé đang dày xéo nhau
Lô nhô lúc nhúc loạn nhầu
Cứ tranh giành giật cứ xâu xé hoài

Chạnh niềm thương kiếp trần ai
Mãi còn hỗn độn đêm dài vô minh
Sao chưa thức dậy vươn mình
Ca bài giải thoát điêu linh phận người?

Phận người điêu linh, trầm thống không phải mới ngày hôm nay mà xảy ra từ vô lượng kiếp rồi. “Nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước biển đại dương.” Đức Phật đã từng thấy như vậy. Kể làm sao cho hết nỗi ngậm ngùi, xiết bao khổ lụy. Khi mình nhận thấy sự thống khổ, đảo điên vô cùng tận thì mới phát khởi Đại bi tâm hay Bồ đề tâm : “Bồ đề tâm, đó là chí nguyện nóng bỏng của một chúng sinh tự thấy mình đang sống trong cảnh tối tăm giữa đọa đày khổ nhục, mong tìm một con đường sáng, không những để giải thoát bản thân khỏi những đe dọa, áp bức mà còn là để giải thoát cho tất cả những người cùng cảnh ngộ…”***** Tuệ Sỹ khơi mở cho chúng ta một sinh lộ hướng thượng, vượt lên trên thân phận trầm kha, đắm chìm trong mịt mùng u tối, rồi lặng lẽ đi về, lắng nghe giữa hun hút thẳm sâu lòng:

“Ta về một cõi tâm không
Vẫn nghe quá khứ ngập trong nắng tàn
Còn yêu một thuở đi hoang
Thu trong đáy mắt sao ngàn nửa khuya”**

Giữa khuya trầm giá lạnh mù sương, khúc cung cầm tâm cảm lại hòa âm theo từng bước chân của người thi sỹ dị thường: “Anh cúi xuống nghe núi rừng hợp tấu. Bản tình ca vô tận của Đông phương.”* Từ bản tình ca đó, tôi nghe rưng rưng dư vang kéo dài bất tận qua khắp rừng cao lũng thấp, trên mặt đất hư vô, khô cằn sa mạc, vang dội xuống tuyệt cùng hố thẳm tư tưởng, rồi vút bay theo cánh Đại bàng ra biển cả ngàn trùng, tung lượn trên sóng vỗ Tịch Không.

Không Tịch minh nhiên giữa biển ngàn hoang vắng, tịch liêu, chìm sâu trong nín thinh, tịnh khẩu. Bàng bạc dưới vầng trăng thiên thu, lắng nghe những lời vô thanh văng vẳng bên đồi, tôi mường tượng, bằng con mắt Hoa Nghiêm, Thầy nhìn thấy toàn thể cuộc đời trùng trùng duyên khởi, đầy ắp giọt lệ và nụ cười trộn lẫn viên dung, rúng động cả hồn vạn cổ, nên tâm từ rải xuống khắp thập loại chúng sinh:

Hải đảo hoang liêu ngồi cô tịch
Nắng mưa lộng gió thổi đồi non
Công án tử sinh bừng chiếu diệu
Giữa khuya tuệ giác sáng rực hồn

Ngời hiện thiên thu vầng trăng tỏa
Mông mênh trên biển núi lặng trầm
Con mắt Hoa Nghiêm im lặng thấy
Toàn thể cuộc đời giữa diệu tâm

Từ ái hoài rung nguồn xúc cảm
Khi chúng sinh đầy nước mắt rơi
Thiên lý độc hành từng chứng kiến
Máu lệ thế gian thấm tận lời

Lời thơ bi tráng còn âm vọng
Trong cõi tồn sinh khiến giật mình
Vô thanh mà động hồn vạn cổ
Thương kiếp người ta quá điêu linh

Một mình một bóng vào ra giữa thanh âm huyền ngôn, mật ngữ, nghe u hiển tiếng thơ bi tráng từ đáy thăm thẳm ngàn khơi vang vọng lên trên cung bậc Đại bi tâm trầm hậu. Đâu là chân diện mục của Thơ và Thiền? Đâu là vầng trăng Không Tịch chiếu nguyên sơ? Không biết nữa, chỉ biết rõ ràng: “Hương vị của Chánh pháp vẫn là hương vị cô liêu của sự sống.”** Hương vị cô liêu thoảng ngát chung quanh gành đá tảng, trên đồi cao Vô Trú Am, nằm cạnh một mé triền đồi nhô ra phía biển mênh mông. Tịnh yên, miên mật để cho thần trí nhập cảnh giới Thiền:

“Ngã cư không xứ nhất trùng thiên
Ngã giới hư vô chân cá thiền
Vô vật vô nhơn vô thậm sự
Tọa quan thiên nữ tán hoa miên”

(Ta ở tầng trời thứ nhất trong cõi không
Cảnh giới của ta thật là cõi thiền
Không vật không người không lắm chuyện
Ngồi xem thiên nữ rải thiên hoa)**

Thiền là ngộ. Ngộ là giải thoát. Mình chưa giải thoát, chưa ngộ thì nên im lặng, dù có nói thao thao bất tuyệt về Thiền cũng chỉ hý luận mà thôi. Cõi Thiền bất khả thuyết, bất khả tư nghì, Thiền sư cứ nhập định, đi sâu vào cảnh giới diệu tuyệt huyền hòa:
 
Một mình tịnh khẩu sâu xa
Trên đồi cô tịch căn nhà pháp không
Dựa lưng vào núi mây lồng
Trùng dương trước mặt ngắm mông mênh trời

Mỗi ngày một bữa cơm thôi
Đủ cho điệu thở nhẹ vời rỗng rang
Hoang vu hiu quạnh thanh nhàn
Trang kinh vô tự thành trang thơ này

Viết lên dòng nước biển mây
Lời chi vi diệu hiển bày nhất nguyên
Sáng bừng thực tại hiện tiền
Trực tâm thầm nhận ngồi yên lặng cười

“Cười với nắng một ngày sao chóng thế”* để nghe ra giây phút dội miên trường. Trước khi Thầy nhập thất 3 tháng trời, tôi với vài người bạn thân thiết cùng Thầy leo lên núi Ông Rồng, rồi núi Ma Thiên Lãnh dạo chơi. Với bàn chân nhanh nhẹn, khinh an, đỉnh núi rừng cao chất ngất, thoáng chốc cũng đã được chinh phục, chạm bước chân đến nơi liền.

Ồ ! Bỗng nhiên hiện ra một cảnh giới: “Lô Sơn hùng vĩ, phiêu bồng nhưng u ẩn. Lòng núi giấu kín những tâm sự nghìn năm không nói, lòng núi ủ kín những cuộc đời trầm mặc, những thân thể khô gầy như hạc như trúc, những tâm hồn nguội lạnh như tro tàn mùa đông. Núi âm thầm cho gió ngàn gào thét, cho mây trời vần vũ và những dòng thác từ trên tuyệt đỉnh cao mù đổ ào xuống. Lô Sơn đồng vọng một cõi thi ca bát ngát.”****** Đứng trên đỉnh Ông Rồng hay đỉnh Lô Sơn đó, có thể nhìn xuyên suốt mười phương, thấy toàn cảnh ba nghìn thế giới thấp thoáng trong sương khói bồng bềnh:

Lên Ông Rồng hay lên Lô Sơn đỉnh
Núi rừng ơi ! Chạm bóng mây trời
Cao xanh lồng lộng bừng nhật nguyệt
Mắt tuệ ngời tỏa chiếu nghìn nơi

Trên chót vót ngàn cao nhìn xuống
Đẹp vô lường hương sắc thanh lương
Ba nghìn thế giới đều hiện rõ
Giữa lòng không mà tuyệt mỹ dị thường

Hương Chánh pháp cảm từng mạch máu
Từng tế bào vi tế tỏa ra
Vô ngần thần diệu thầm nhận biết
Tuyệt hồn nghe và thấy chan hòa

Hương vị đó cô liêu cuộc sống
Thưởng thức từ núi biển phiêu nhiên
Sớm nay hít thở đầy buồng phổi
Đồi sơ nguyên bàng bạc khí u huyền

U huyền thanh khí hòa chan giữa thiên nhiên hùng vĩ, tuyệt hồn nghe biển rừng mênh mông đồng vọng tiếng gầm của Không Lộ thiền sư, từ đèo truông heo hút, muôn thuở xa xôi vọng về. Rồi bồi hồi quay mặt lại, thấy Thầy đang đứng trên đỉnh núi, viết lên bầu trời những vần thơ biếu tặng cho mây trắng, trùng dương, sương ngàn, nắng gió:

Xưa kia có lão thiền sư nọ
Phiêu hốt một ngày lên núi chơi
Tuyệt đỉnh cô phong gầm một tiếng
Lạnh cả không gian chấn động trời

Còn nay có bậc trượng phu ấy
Cũng bỏ lên rừng ngắm đồi hoang
Lấy mây khói quyện làm bút viết
Bài thơ biếu tặng nắng sương ngàn

Biếu tự do cho cây lá cỏ
Cho suối nguồn trôi tự tại kia
Tặng hết có không tam giới mộng
Không còn chi giữ chẳng chi lìa

Xuống núi lại qua cùng thế sự
Hòa cát bụi đời với tỉnh mê
Huyễn hóa mà thôi cười thương hết
Nên bước tùy duyên rất cận kề

Kề cận, thân mật, hoan hỷ, tùy duyên theo nhịp thở khơi vơi với từng ngọn cỏ, lá cây, với mỗi viên sỏi, cục đá lăn lóc dọc đường. Bước đi kỳ cùng cuộc lữ, Tuệ Sỹ thi nhân đã từng mở cuộc Thiên lý độc hành bằng hai bàn chân đi bộ và đi bộ như thi sỹ Rimbaud, dãi nắng dầm mưa suốt gần cả năm trời, băng qua khắp đỉnh đèo heo hút gió, bạt ngàn cát bụi, ruổi rong trên cao nguyên, rừng hoang rú rậm Lâm Đồng:

“Trên đỉnh đèo cao bát ngát trông
Rừng mây xanh ngất tạnh vô cùng
Từ ta trải áo đường mưa bụi
Tưởng thấy tiền thân trên bến không”**

Cuộc thiên lý độc hành ca ấy đang dừng chân ngoài hải đảo Lại Sơn, ngút ngàn sóng biển Kiên Giang. Thanh thản nụ cười mây trắng, an nhiên ánh mắt mưa xanh. Cơn mưa pháp vũ tuôn tràn xuống cõi bụi phù trần, rồi đọng lại thành những tác phẩm Huyền Thoại Duy Ma Cật, Thắng Man Giảng Luận, Tô Đông Pha Những Phương Trời Viễn Mộng, Tuệ Sỹ Văn Tuyển, Triết Học Về Tánh Không, Luận Thành Duy Thức, Du Già Bồ Tát Giới… gội mát vô lường, khơi mở cho đời xiết bao thông lộ yêu thương. Thưởng thức nguồn xanh thanh khí, tiêu dung năng lượng thanh cao, bổ dưỡng tâm hồn. Còn gì thi vị hơn, khi được ngồi đối diện, uống trà với Thầy trong liêu vắng bên ghềnh biển, như uống từng giọt trăng huyền nguyên trinh, tịch lặng:

Chén trà chứa cả đại dương
Ôi tình Thầy đó vô lường vô biên
Nâng ly sạch hết ưu phiền
Tan nghìn u tối bừng nguyên sơ này

Hương trà thoảng ngát đồi cây
Ấm lòng tỏa quyện hiển bày diệu tâm
Lời thơ trên mắt lặng trầm
Thầm nghe trực tiếp niềm thâm cảm nào

Tưởng chừng như lạc chiêm bao
Bàng hoàng ánh nguyệt chiếu vào sâu xa
Mới hay trong một chung trà
Hòa tâm diệu pháp reo ca giữa hồn

Chén trà Vi diệu tâm pháp từ bàn tay gầy của Thầy rót xuống giữa đêm trăng rằm hay sớm tinh sương kia bỗng hóa thành thơ, nhạc, rộn ràng qua từng nét chữ linh động, tài hoa:

“Sương mai lịm khói trà
Gió lạnh vút tờ hoa
Nhè nhẹ tay nâng bút
Nghe lòng rộn âm ba”*

Cũng rộn ràng như vậy, cây lá, hoa vàng, cát sỏi ven triền dốc đồi đá tảng hoang vu, nghiêng xuống biển trời hải đảo, vô cùng hân hoan, khi Thầy bất ngờ vân du đến chơi và dừng gót phiêu bồng lại trên đồi cao gió lộng, ngồi tịch nhiên bất động suốt ba tháng trời giữa đại hải bao la…

Rồi ba tháng an cư, nhập thất cũng vèo qua chớp thoáng. Sáng nay, Thầy ra thất, thần thái an lạc, sáng ngời với nụ cười thanh tịnh, thong dong trong ánh nắng bình minh. Rồi uống trà Tào Khê, rồi ngắm trăng Lăng Già và leo lên tận đỉnh núi Đề Thơ cao chớn chở, ngồi thưởng thức những cụm mây trời vạn cổ bay bềnh bồng trong gió nắng thiên nhiên.

Hiển lộ bày ra cái chi vi diệu trên từng ngón tay gầy sáng tạo, trên ánh mắt thần lực rực ngời, trong giọng nói tiếng cười thân thiện, truyền cảm, tự nhiên gây sự chú tâm. Chú tâm mới nghe ra trong tiếng cười, giọng nói kia, bỗng dội rền lên một tiếng gầm sấm sét:

Lên đỉnh Đề Thơ nhìn mây trắng
Lặng ngát đồi sương khói dị thường
Bỗng nghe tiếng hét gầm tịch mịch
Dậy sấm sét rền khắp muôn phương

Vang vọng truông ngàn khe thung lũng
Bừng lên sinh khí hạo nhiên tràn
Tiếng sư tử rống làm rúng động
Khiếp vía kinh hồn cáo chồn hoang

Tháo chốt nhổ đinh rời tù ngục
Mở dây ràng buộc trói cột mình
Bước tiêu dao dạo vô sở trú
Đùa chơi hý lộng với tử sinh

Sinh tử có không như huyễn mộng
Sống chơi chết cũng vậy chơi thôi
Chơi không dính mắc vào đâu hết
Nên tự do đi cảm hóa đời

Tự do, tự tại, vô quái ngại là phong thái của Thiền sư đi về mặt đất, trần gian này. Chỉ cần ngồi thư thả, lắng nghe Thiền sư nói thôi là cũng đủ hiểu ra lẽ thật của bao nghĩa đời, lý đạo cao siêu… Đạo đời song hành, tương ứng trên cung bậc Bất nhị, tân kỳ hy hữu theo nhịp bước vô úy, đại hoan hỷ rong chơi. Chơi trong cuộc lữ mấy màu thi ca, xanh rất xanh trên ánh mắt thẩm thấu, sâu thẳm suốt dung hòa. Một đôi mắt lặng trầm, thẳm sâu hun hút mà thần quang sáng rực tỏa chiếu ngời: “Đôi mắt Thầy lúc nào cũng sáng rực. Sáng rực được bên ngoài vì đã sáng rực bên trong, đã sáng rực bên trong vì đã sáng rực không ở trong cũng chẳng ở ngoài. Rực sáng như ngàn mặt trời…Tôi gọi Thầy Tuệ Sỹ là Long Tượng, một bậc Đại sỹ.”

Phạm Công Thiện đã hùng hồn tuyên bố như thế, khi phát biểu trong buổi giới thiệu tác phẩm Huyền Thoại Duy Ma Cật của Thầy bên Hoa Kỳ và tôi cũng thấy như vậy, nên tiếp tục mần thơ, kính tặng Đại Thiền Sư Thi Sỹ:

Như Long Tượng mắt mở trừng sáng rực
Một hôm gầm sấm dậy khắp nhân gian
Làm chấn động cả sơn hà đại địa
Rền ngân vang tận rú thẳm non ngàn

Đôi mắt ấy cháy ngời xanh ánh lửa
Thiêu rụi tàn ngàn bóng tối u minh
Vô lượng quang sáng bừng lên trí tuệ
Đại bi tâm hàm dung chứa bao tình

Đôi mắt đó trầm sâu màu đáy biển
Hòa chan nhau máu lệ nỗi đau đời
Từ nhãn thị chúng sinh đầy thương cảm
Mà đọa đày trong cuộc lữ chao ơi !

Ôi đôi mắt lặng nhìn xuyên tam thế
Cõi tồn lưu huyễn mộng khói sương lồng
Lòng trăng hiện giữa đêm dài sinh tử
Thõng tay vào phố chợ bước dung thông

                                                           Tâm Nhiên
                                                 (Vô Trú Am 28. 8. 2018)

Chú thích:

* Giấc Mơ Trường Sơn. Thơ Tuệ Sỹ. An Tiêm xuất bản, Paris 2002
** Tuệ Sỹ Văn Tuyển (tập III). Hạnh Viên sưu tập. Phương Đông xuất bản, Sài Gòn 2015
*** Những Điệp Khúc Cho Dương Cầm. Thơ Tuệ Sỹ. Phương Đông xuất bản, Sài Gòn 2009
**** Đi Vào Cõi Thơ. Bùi Giáng. Ca Dao xuất bản, Sài Gòn 1972
***** Thắng Man Giảng Luận. Tuệ Sỹ. Phương Đông xuất bản, Sài Gòn 2012
****** Tô Đông Pha Những Phương Trời Viễn Mộng. Văn Tuệ Sỹ. Ca Dao xuất bản, Sài Gòn 1973

READ MORE - NGÚT NGÀN GIỮA ĐẠI DƯƠNG BÁT NGÁT - Tâm Nhiên

Sunday, December 9, 2018

MỘT NGÀY ĐỊNH MỆNH - Thơ Phan Quỳ



            Tác giả Phan Quỳ


MỘT NGÀY ĐỊNH MỆNH

Tôi thương Em dù người quen hay lạ,
Bởi cơ trời nên vĩnh biệt từ đây,
Em ra đi tóc hãy còn xanh lắm,
Các con thơ đôi dòng lệ vơi đầy.

Tôi thương Em một mảnh đời lận đận,
Con nước nào xô dạt xuống lòng sâu,
Rồi chiều hôm các con chờ trước ngõ,
Dáng mẹ hiền bằn bặn tận nơi nao

Tôi thương Em chiếu chăn giờ quạnh quẽ,
Hơi ấm nào cho con trẻ đêm thâu,
Vành khăn sô ai quấn vội trên đầu
Con ngơ ngác trong khói hương nhìn mẹ.

Tôi thương Em vội vàng đi như thế,
Chốn trần gian khổ ải tự bao ngày,
Tôi viết vội với đôi dòng dư lệ,
Lòng xót đau tan nát một hình hài.

Chúa nhân từ hãy dang rộng vòng tay,
Phật từ bi xin một lần cứu rỗi,
Thế nhân buồn bao linh hồn tội lỗi
Gieo oan khiên lên những kiếp phong trần.

Ban phúc lành để người biết thương tâm,
Ban giáo huấn để quay về bờ giác ,
Bao ngang trái thôi xin đừng tiếp tục
Để con thơ còn mãi như ban đầu,
Có mẹ cha thường bồng ẵm nâng niu,
Có gia đình đầm ấm với thương yêu....

Tôi khóc Em trong lặng lẽ mưa chiều
Rơi xối xả như lòng người uất hận
Thôi hãy yên Em ơi một số phận,
Kiếp lai sinh Em sẽ được vui nhiều…

                                       Phan Quỳ

READ MORE - MỘT NGÀY ĐỊNH MỆNH - Thơ Phan Quỳ

VÀI LỜI VỀ DỊ NHÂN VĂN THÙY - Nguyễn Bàng



                Tác giả Nguyễn Bàng


VÀI LỜI VỀ DỊ NHÂN VĂN THÙY

Có vô số bài viết về Văn Thùy dị nhân, Lục bát Văn Thùy… Mà hầu hết các bài viết đó đã phong cấp bậc cho nhà thơ này cùng lục bát của ông ấy; rất hiếm thấy tác giả nào có đôi dòng viết về cái dở trong lục bát Văn Thùy. Chính vì vậy, đọc bài viết của tác giả Đặng Xuân Xuyến, tuy rất kiệm lời nhưng đã có cách đánh giá công bằng và tỉnh táo, nhất là ở mấy câu cuối bài:
“Trong gia tài thơ ca của ông, có nhiều câu thơ đặc sắc, thể hiện nét tài hoa đặc biệt của ông, nhưng thật tiếc, sự lặp lại về tứ, về ý đến gần như sao y bản chính của không ít câu thơ: “Ngón tay ngọng mấy đốt rồi / Kể là chín vía chột mười cũng xong.” - “Ngón tay ngọng mấy đốt rồi / Kể là chín ngón hỏng mười cũng xong.”, hay: “Con xuôi ngược nửa kiếp người / Vẫn quanh lọn tóc rã rời mái gianh.” - “Con đi dọc nửa kiếp người / Vẫn quanh lọn tóc rối thời mái gianh”..., thậm chí sự tương đối giống nhau của cả những bài thơ (Xin Em - Xin Em Đừng Mặc Áo Dày) đã làm thơ ông xuất hiện sự nhàm chán, nhạt đi và bớt duyên, khiến những người yêu thơ, yêu sự sáng tạo, chỉn chu sẽ khó chịu, cho rằng ông lười sáng tạo nên mới xào sáo, làm giảm sức hấp dẫn với chính thơ của mình.” (01)
Nhưng công bằng mà nói, nhà thơ Nguyễn Khôi đã viết khá thật và khá rõ từ năm 2013 về Văn Thùy dị nhân và thơ của ông ta, khi tác giả gọi đó là Thơ bụi quê mùa thấp hơn hẳn thơ Bùi Giáng:
“Văn Thùy (1941) quê gốc Hà Nội, vốn là người có học, chữ đẹp, tài hoa, thông minh tinh tướng, sau hậu chiến, do hoàn cảnh "X"... anh ôm cô vợ đẹp phú lỉnh xuống Thị trấn Ân Thi (Hưng Yên) mở Hiệu ảnh; nhưng rồi cơm chẳng lành -canh chẳng ngọt: cô vợ bỏ anh "bay" vào thanh phố Hồ Chí Minh ở với con (chồng trước), rồi với cái xe máy cà tàng anh bỏ phố, bỏ làng "đi hoang" - bụi .. tuy ở cái tuổi "hàng lão", anh đốc chứng truyền bệnh "nghiện vần lục bát" cho các cô - bà nàng mê thơ (gặp thời phong trào thơ các Câu Lạc Bộ thơ phường xã phát triển như nấm gặp mưa rào - thời mở cửa - kinh tế thị trường tự do...). Đó là những vần lục bát khá tinh luyện - hiện đại (định làm Bùi Giáng khinh đời "đ..."- nhưng thấp hơn ở mức quê mùa). Thơ Văn Thùy nổi trội là lối là thơ "tán gái nịnh đầm" rất tương tri với loại gái nạ dòng "phá rào" mới xuất hiện ở các vùng đang đô thị hóa... với "hồn Rơm" - tình vùi giữa đống rơm: em phô chuyện chán tìm chồng / xóm giềng mách: có đàn ông trong nhà / Sau hơn chục cuộc điều tra / đứa trong nhà ấy té ra là...mình”. (02)
Một người nữa không rõ tên nhưng là một thành viên đã từng học lớp Chuyên Toán Hải Hưng, cấp 3 Hưng Yên 1972-1975 thì nhận xét về thư pháp của Văn Thùy khá chính xác:
“Nhưng tôi muốn bình cái cách viết cái gọi là "thư pháp" của ông Văn Thùy. Và nói chung, không riêng gì ông Thùy mà nhiều người khác cũng có kiểu vẽ viết nghuệch ngoạc mà vỗ ngực là "thư pháp". Cái ảnh thứ nhất, vẽ rồng vẽ phượng, viết chữ loằng ngoằng gớm chết. Tôi không hiểu mỹ cảm của người khen kiểu viết kia mà gọi là đẹp thì đó là thứ mỹ cảm gì? Lạ lùng là trong Tết, Ngày Thơ ở Văn Miếu, cũng có ông viết chữ giun dế, bóp chữ để gọi là "thư pháp" mà cũng bán được tiền. Có lẽ các nhà báo cũng có khá nhiều người mù mịt, không biết mình ca ngợi cái gì. Hiện nay, một hiện tượng lệch chuẩn rất phổ biến và đáng báo động. Ví dụ, một tảng đá viết nhăng cuội bùa chú đặt ngay tại đền Hùng, mà nguyên nhân từ những ông vỗ ngực là Tiến sĩ, đại tá, đến khi truy nguyên ra, dư luận mới biết là sự nhố nhăng. Những thứ liên quan đến quốc thể, quốc thống còn thế, thì chuyện vẽ vớ vẩn lòe thiên hạ là thường. Tôi cho rằng, những anh viết chữ loằng ngoằng tự vỗ ngực là "thư pháp" cũng là nhố nhăng,bắt chước thư pháp Tàu một cách vô lối. Các nhà báo không biết rằng, chân lý không thể theo đám đông, không thể mang ra bỏ phiếu. Không thể nói rằng, có nhiều người mua cái tờ thư pháp như của ông Thùy mà bảo rằng nó đẹp hay là nghệ thuật (NXH)”
Tôi, Nguyễn Bàng thì nghĩ, những ai yêu thích kiểu viết thư pháp Quốc ngữ này mà khuyên con cháu mình học theo, chắc khi các cháu làm bài tập, chỉ cần múa vài chữ vào trong bài thôi, chắc sẽ bị các thày cô cho điểm kém và mắng là chữ gà bới.
Đúng là ông Văn Thùy có biệt tài về làm một kiểu thơ lục bát và có nhiều dị tính khác người. Nhưng ở Việt Nam ta ngày nay, không chỉ có Văn Thùy dị nhân mà còn có rất nhiều kiểu dị nhân trứ danh nữa, nào là: Dị nhân nói chuyện được với cụ rùa Hồ Gươm, dị nhân cứ hát là trời đổ mưa, dị nhân biết hô mưa hoán vũ; thậm chí có cả dị nhân dị nhân 30 năm không cắt móng tay, dị nhân tóc búi hình rồng, rắn…
Và điều đáng nói là trong dân chúng nhiều đám đông cứ thấy dị nhân là hè nhau xem nghe và cổ vũ cho họ làm mất đi tính trung thực về người, về việc làm và về tài năng thực của họ. Chẳng hạn như câu lục bát Văn Thùy này:

“Có gì mạnh đến lạ thường
Yêu suông đã bốn chân giường còn hai”…

Đã không hay lại còn sai về logic chứ đâu được như câu lục bát ca dao:

Một rằng thương hai rằng thương
Có bốn chân giường gẫy một còn ba

Hay như câu này, sao lại gọi là tâm trạng e ngại, kìm nén những xúc cảm yêu đương:
Yêu chay nên chỉ dám sờ áo thôi
Nếu thế thì không e ngại, không kìm nén những xúc cảm yêu thương, không yêu chay mà “yêu mặn” thì sẽ sờ cái gì?
Việt Nam có nhiều nhà thơ tài lục bát, không kể các vị đã khuất như Nguyễn Bính, Bùi Giáng, Đồng Đức Bốn, một nhà thơ còn đang sống cùng chúng ta là Nguyễn Duy, tất cả họ đều nổi danh lục bát với một phong cách riêng, một bản sắc riêng chứ họ đâu cần phải phong tước dị nhân?

Sài Gòn, 28/12/2016
NGUYỄN BÀNG
Địa chỉ: Thành phố Sài Gòn
Email: bnguyen37@gmail.com

READ MORE - VÀI LỜI VỀ DỊ NHÂN VĂN THÙY - Nguyễn Bàng

GẶP HOÀNG THẠCH TÚ Ở ĐÀ NẴNG - Võ Cẩm



     Hoàng Thạch Tú và Võ Cẩm 


GẶP HOÀNG THẠCH TÚ Ở ĐÀ NẴNG

Tú cùng xã Triệu long với tôi. Thường gặp nhau trên đường đi học Nguyễn Hoàng thời thơ dại.
Tốt nghiệp Đại học Sư phạm, Tú dạy học ở Đà Nẵng. Gặp Tú năm 1972 rồi xa biền biệt.
Cách đây 5 tháng về Đà Nẵng, Quỳnh Thủy cho điện thoại, rất tiếc Tú đi xa nên không gặp, hẹn lại lần sau.
Lần này khi trên xe đến Đà Nẵng tôi gọi điện thoại ngay. Phía đằu dây bên kia, Tú bảo:
- Mình sẽ trốn trại gặp bạn.
- Tú nói gì mình không hiểu?
- Mình trốn bệnh viện đó mà.
- Gần 50 năm chưa gặp nhau, lần trước lỡ hẹn.
- Mình vào bệnh viện lãnh thuốc, khoảng 2 rưỡi đến 3 giờ mình có mặt tại nhà cậu.
Tôi ngồi nhà bà chị ruột chờ từ 11giờ 30.
Tranh thủ tôi gọi Song, một cậu em kết nghĩa cũng cách nay 50 năm, lúc tôi làm lính đóng quân ở Sịa.
Hai cái hẹn gần nhau, vì thời gian quá ít.
Tôi đinh ninh Song đến trước.
Song nói, khoảng 10 phút em đến vì nhà Song gần chỗ nhà chị tôi.
Hai cái hẹn cùng lúc mà cả hai người tôi không nhớ mặt.
Tú tôi có thể nhận ra vì thời còn bé cùng chung đường đến trường, đôi lần gặp nhau trên Facebook. Còn Song thì xem như người lạ.
Trước giờ Tú hẹn, đồng hồ chỉ 2 giờ chiều.
Sau 10 phút Song hẹn thì Tú đến, tôi cứ nghĩ là Song.
Tôi mời vào nhà, đợi Tú.
Tuổi già lấp lem, ngồi trên bộ xalon.
Tôi nói: Song ngồi đợi bạn anh một tí.
Tôi tiếp: Sao Song có khuôn mặt giống bạn anh quá. Anh có người bạn tên Tú. Hoàng thạch Tú dạy ở trường Trần quý Cáp Hội an.
Tú ngẩn người thấy lạ. Sao thêm một Hoàng thạch Tú cũng dạy Trần quý Cáp, Hội An mà Tú không biết.
Nhìn kỹ tôi nhận ra Tú.
Tôi thấy hố, ôm Tú cười ngắt nghẽo. Tôi nhận biết mình già, 77 tuổi rồi còn gì.
Tôi xin lỗi Tú: Tau lầm.
Vài phút sau Song đến, Song còn trẻ lắm chỉ tuổi 63.
Tôi kể cho Song nghe câu chuyện vừa rồi và nhắc chuyện ngày quen biết nhau cách đây hơn 50 năm, rồi đem nhau đi uống cafe. Té ra Song và Tú đã gặp nhau nhiều lần ở cơ quan Song mà em rễ Tú làm Giám đốc. Đúng là quả đất tròn.
Tú đưa tôi về nhà lấy xe, hai đứa về nhà Tú.
Chúc mừng bạn có nơi ở khá khang trang trong con hẻm đường Trần Cao Vân. Căn nhà mà vợ chồng Tú và đứa con gái đang dạy Đại học Duy Tân ở.
Lần đầu tiên gặp vợ Tú xinh đẹp, cởi mở, lịch thiệp và quý khách.
Tuổi trên thất thập mà còn gặp nhau là hạnh phúc.
Tú vào phòng lấy 2 hủ yến sào và bịch bánh dành cho người "Tiểu đường " để mời bạn. Ngồi tâm sự một chặp, Tú nói: đi chơi tiếp.
Hai đứa dẫn xe ra, vợ Tú nói: Anh nhớ đưa bạn anh đi ăn phở hay gì nghe. Sao mà nghe tình nghĩa và đậm tình đồng môn, đồng hương của đôi bạn già sau nhiều năm xa cách.
Ra một đoạn đường, Tú dừng xe nói: Hôm nay tôi mời bạn đi ăn thứ gì bạn thích. Tú dẫn tôi đến một tiệm bánh xèo quá đông khách "Bánh xèo tôm nhảy". Một món ăn đặc biệt của Đà Nẵng.
Một bữa ăn đáng đồng tiền bát gạo. Đầy ắp tình nghĩa.
Chia tay, xin cảm ơn bạn hiền, xin cám ơn chị Tú cho tôi biết thế nào là tình ban thâm giao. Hẹn Tú lần tới ở Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế hay Quảng Trị quê hương yêu dấu của mình.

                                                  Đà Nẵng 12/10/2018
                                                            Võ Cẩm

READ MORE - GẶP HOÀNG THẠCH TÚ Ở ĐÀ NẴNG - Võ Cẩm

NGƯỜI DƯNG NHƯNG ĐÂU PHẢI NGƯỜI XA LẠ! - Nguyễn Bàng



                Tác giả Nguyễn Bàng



NGƯỜI DƯNG NHƯNG ĐÂU PHẢI NGƯỜI XA LẠ!

Trong không khí của một quần thể con người hỗn loạn, hoang mang, hung bạo đang tràn ngập trong mùa lễ hội ở nhiều nơi trên miền Bắc, mà người ta đi dự lễ hội, đi đến các chùa chiền, đền thờ để vụ lợi với hy vọng đến đấy sẽ được buôn may, bán đắt, sẽ được thăng quan tiến chức, trở nên giàu có..., bỗng nghe trong gió từ đâu đưa lại một hơi thở dài buồn trách:      

Hội làng thì đã lưng chừng
Người dưng ơi hỡi...
Người dưng
Chả về

Phải là hội làng với đúng nghĩa là sinh hoạt văn hoá dân gian của cư dân địa phương ở một quy mô nhỏ vào tháng Giêng đến hội, người dân nô nức tham dự nhưng rất đẹp chữ lễ chứ không phải là lễ hội với những cảnh chen lấn, giành giật, giẫm đạp lên nhau có cả máu người và máu các con vật như trâu bị treo cổ cho đến chết, lợn bị chém giữa sân đình…, ta mới có thể nghe được hơi thở nhẹ buồn trách đó.

Ấy là hơi thở nhẹ của một cô gái quê trong bài thơ NGƯỜI DƯNG của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến. Và nghe xong tiếng thở ấy, ta như nhìn thấy cô gái đang trong đám hội nhưng không đứng trong đám đông dân làng mà đứng lẻ ra mé ngoài, ngóng mắt về phía đường xa mong đợi và mong đợi đến độ:

Đã mòn con mắt lá răm

Một cô gái quê xinh đẹp đúng như ca dao từng ca tụng: “Đàn bà con mắt lá răm/ Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền” mà thời nay dẫu có đốt cả trăm bó đuốc soi vào cả ngàn tiệm spa làm đẹp cho phụ nữ cũng không dễ gì tìm được một người.

Đôi mắt đẹp quý hiếm ấy “đã mòn” vì sao? Chỉ là vì: 

Lời yêu còn ở ngã năm chửa về

Thật tội nghiệp! Bởi lẽ, thói thường, khi gặp ngã ba đường người ta đã phải phân vân tìm cách nên lựa chọn ngả nào? Vậy mà lời yêu con mắt lá răm ngóng đợi lại đang ở ngã năm, chỗ con đường đi ra năm ngả; có thể ngã năm ấy không còn xa hội làng lắm nhưng biết đi ngả nào cho đúng hướng đây? Chính vì thế, đâu chỉ mình cái lời yêu đó phải phân vân tìm lối mà cả cô gái quê cũng đang bồn chồn lo lắng, liệu lời yêu có chọn đúng ngã rẽ để về hay sẽ đi lạc lối để uổng phí một hội làng, phí hoài một ngày xuân tươi đẹp. Vì thế con mắt lá răm không chỉ đã mòn vì mong đợi mà còn:

Sập sùi sũng ướt triền đê

Người đời thường dùng từ hạt lệ để nói về nước mắt. Thiên tài Nguyễn Du trong Truyện Kiều thì tài hoa phong phú hơn nhiều: hạt châu, giọt ngọc, giọt tương, giọt riêng, mạch tương.

Và để diễn tả mức độ khóc, người đời thường ví von khóc như mưa:

Nhớ ai em những khóc thầm
Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa
Hay ví cụ thể hơn “như mưa tháng mười”:
Anh về em chẳng dám đưa,
Hai hàng nước mắt như mưa tháng mười.
Cũng có khi nói “khóc đỏ lòm con ngươi”:
Phù sa nước đục khó dòm,
Nhớ anh em khóc đỏ lòm con ngươi

Làn thu thủy của nàng Kiều “nghiêng nước nghiêng thành” đã đẹp lại đẹp hơn lên khi khóc bởi những từ ngữ như đầm đầm châu sa, châu sa vắn dài, giọt ngọc như chan:

Lòng đâu sẵn nỗi thương tâm
Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa.
Lại cùng ủ dột nét hoa
Sầu tuôn dứt nối châu sa vắn dài"
Nàng càng giọt ngọc như chan,
Nỗi lòng luống những bàn hoàn niềm tây"

Trong NGƯỜI DƯNG của Đặng Xuân Xuyến thì nước mắt của con mắt lá răm được diễn tả mộc mạc như ta đã thấy:

Sập sùi sũng ướt triền đê

Một hình ảnh rất sáng tạo của nhà thơ hiện đại nhưng vẫn giữ được chất quê mùa bình dị rất gần gũi với người dân đồng ruộng mà không kém phần sâu sắc.
Triền đê là dải đất thoai thoải của con đê ở hai bên bờ sông. Khi mưa, nước thường từ trên trời rơi xuống mặt đê rồi trôi theo triền đê xuống tràn vào bờ bãi hay chảy hòa vào nước dòng sông cùng tuôn ra biển cả. Triền đê đâu phải là chỗ trũng để nước mưa dễ bề đọng lại. Vậy mà nước mắt của cô gái ướt sũng triền đê chứng tỏ triền đê đã bị thấm nhiều quá, lâu quá bởi những dòng lệ của con mắt lá răm.
Vậy vì sao con mắt lá răm, con mắt biết nói, biết cười mà ai trót nhìn vào sẽ đắm say, quyến luyến chẳng muốn rờì ấy đã mòn vì ngóng đợi lại khóc đến ướt sũng cả triền đê? Đây là câu thơ cắt nghĩa nguyên do nông nỗi ấy:   

Khạo khờ mãi nhuộm câu thề người dưng

Chỉ là một câu thề của một người dưng nhưng cô gái đã khạo khờ nhuộm nó vào lòng và thời gian đã trôi qua nhưng không hề phai nhạt.
Người dưng hay người dưng nước lã, chỉ người không có máu mủ ruột rà thân tộc nội ngoại gì với mình mà nó tự nhiên như nước mưa, nước giếng. Nhưng sao cái người dưng kia lại nhuộm được câu thề trong lòng cô gái? Chỉ có thể nói đó là một người dưng quá đặc biệt, nếu không nói là người đã biết nhau từ kiếp trước thì ít nhất cũng là người đã biết nhau từ hội làng năm cũ. Cái người dưng quá đặc biệt ấy đã lọt vào “con mắt lá răm”, đã cho cô gái lời yêu, mách bảo trái tim cô gái một điều gì đó rất linh diệu khiến nỗi lòng cô hằng nhớ và đời sống tâm hồn tình cảm của cô đã bị xao động:  

Cơm ăn nửa chén lưng lưng
Dạ sao dạ nhớ người dưng thế này?

Và vì thế, hội làng năm nay, cô mới phải hoài công ngóng đợi lời yêu và cái người dưng kia.
Qúy con mắt lá răm đáng trăm quan tiền của cô gái quê trong thơ Đặng xuân Xuyến, tôi bỗng nhớ tới cô gái trong khung cửi nổi tiếng từ hơn 80 năm trước trong thơ Nguyễn Bính. Cũng hội chèo làng Đặng ở thôn Đoài. Một cô gái nông thôn trẻ trung xinh đẹp đội mưa bụi đi hội nhưng không phải để xem mà chính là để tìm gặp người yêu:

Thôn Ðoài vào đám hát thâu đêm
Em mải tìm anh chả thiết xem …

Và cũng thật tội nghiệp cho cô, tìm anh suốt một đêm thâu để rồi:

Chờ mãi anh sang anh chả sang
Thế mà hôm nọ hát bên làng
Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn
Ðể cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng!

Thương con mắt lá răm đã khóc ướt sũng triền đê, tôi lại nhớ đến người thiếu phụ mòn mỏi chờ bóng tình quân bài thơ Mòn Mỏi của Thanh Tịnh ngang thời Nguyễn Bính. Bài thơ được phóng tác theo truyện "Barbe bleue" của nhà văn Pháp Charles Perrault chìm ngập nỗi buồn. Người thiếu phụ xinh đẹp ngồi bên trong bức rèm, dệt vải. Còn em gái nàng thì ngồi ở gian ngoài, ngóng ra ngoài đường, chờ đợi. Ngôi nhà bé nhỏ nằm dưới thung lũng cũng cô đơn lặng lẽ như hai chị em họ. Sau bao lần tưởng như trông thấy tình quân với con ngựa hồng đang đến gần cùng với tiếng gọi của chàng trong tiếng ngựa hí, tiếng nhạc ngựa vang reo, người thiếu phụ nhờ em gái nhẹ cuốn bức rèm tơ lên xem có phải đúng thế không để rồi chỉ nhận được những câu trả lời cuả em gái: khi thì "Chị ơi em thấy một cây liễu buồn", khi thì: “Bên rừng ngọn gió rung cây”, khi  thì “Sóng chiều đùa chiếc thuyền nan” và "Chị ơi con nhạn lạc bầy kêu sương" hay "Chị ơi con sáo gọi ngàn bên sông".

Nhưng khi bất chợt nghe em gái nói như reo lên:

Ô kìa! Bên cõi trời đông
Ngựa ai còn ruổi dặm hồng xa xa
Thì nàng thiếu phụ bỗng lo lắng bảo em gái:
Nhẹ nhàng em sẽ buông rèm xuống,
Chị sợ trong sương bóng ngựa chìm.

Và rồi kết cục:

Ngựa hồng đã đến bên hiên
Chị ơi, trên ngựa chiếc yên vắng người

Sự bất ngờ của hình ảnh chiếc yên ngựa vắng người đã khiến bao người yêu thơ muốn vỡ tim vì buồn thảm

Tôi vô cùng yêu thích hai bài thơ diễm tình: MƯA XUÂN của Nguyễn Bính và MÒN MỎI của Thanh Tịnh, rất quý mến tấm tình của cô gái trong khung cửi tìm người yêu, rất cảm thương người thiếu phụ xinh đẹp đã mòn mỏi mong đợi tình quân từng giây từng phút để rồi tan nát cõi lòng trong tuyệt vọng. Nhưng tôi không muốn cô gái có con mắt lá răm trong thơ Đặng Xuân Xuyến phải cam phận như hai số phận ấy. Theo kinh nghiệm người đời: Người có đôi mắt lá răm thường sắc sảo đa tình và rất thủy chung nhưng cũng luôn nhuốm chút u buồn, sâu lắng. Nhưng tôi không muốn con mắt lá răm ấy trong thơ Đặng Xuân Xuyến sẽ phải buồn tủi tê tái như cô gái trong khung cửi  “Để cả mùa Xuân cũng nhỡ nhàng”, lại càng không muốn con mắt lá răm ấy phải vận vào người nỗi mòn mỏi tuyệt vọng như người thiếu phụ trong thơ Thanh Tịnh.

Bài thơ NGƯỜI DƯNG của Đặng Xuân Xuyến rất ngắn, hai khổ nhưng cả thảy chỉ có 6 câu mà trong đó có tới 5 câu thơ buồn. Chỉ còn lại một câu:

Hội làng thì đã lưng chừng

Câu thơ tả thời gian, nhưng cũng diễn tả tâm trạng “sốt ruột”, đã xuất hiện sự “buồn nản” trong chờ đợi “người dưng” của “con mắt lá dăm”. Tuy không buồn như 5 câu thơ kia, nhưng câu thơ cũng gieo vào lòng người tâm trạng se buồn.
Hội làng thì đã lưng chừng, là khoảng thời gian đã đi qua những màn diễn chính của lễ hội và đang nhích dần về nửa sau, về những màn cuối, để khép lại hội làng, nghĩa là vẫn còn thì giờ để ngóng đợi “người dưng” nhưng hy vọng đã không còn nhiều, ngày một thu hẹp, rút ngắn.
Bài thơ khép lại với tiếng thở dài, tê tái:

Người dưng ơi hỡi...
Người dưng
Chả về.

Tôi không muốn cô gái có con mắt lá răm trong thơ Đặng Xuân Xuyến phải cam phận như vậy. Vì thế, nghĩ cho cô gái, tôi nghe như trong gió từ hội làng tiếng ai đó đang hát:

Bèo dạt mây trôi, chốn xa xôi,
Anh ơi, em vẫn đợi…

Cô gái con mắt lá răm ơi, cô có nghe thấy tiếng hát đó không?
Nếu nghe được thì xin cô hãy cùng tôi tin rằng, sau tiếng hát ấy, lời yêu của cô ở ngã năm sẽ tìm ra lối rẽ đúng và kịp về với cô, người dưng chưa về sẽ kịp đến bên cô. Hãy vững tin đi, “con mắt lá răm” xinh đẹp đa tình nhưng chung thủy nhé! Bởi gọi cái người gọi là người dưng đó đâu phải là người xa lạ, nếu không nói là đã gặp nhau trong tiền kiếp thì cũng đã biết mặt nhau, đã nghe lời yêu của nhau, đã nhận câu thề với nhau và đã nhuộm câu thề đó trong trái tim từ buổi còn khạo khờ. Nhất định người dưng ấy sẽ về hội làng để “lên ngôi” thành người nghĩa, người tình của cô và sẽ cùng cô “đơm hoa kết trái” thành hạnh phúc lứa đôi!

VĨ THANH:

Khép lại bài thơ Người Dưng, không hiểu sao tôi lại có cảm giác, hơi thở dài của cô gái mắt lá răm cũng chính là hơi thở dài của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến. Hình như nhà thơ cũng đang trong Hội làng và cũng đang để trái tim se buồn, bâng khuâng ngóng đợi một lời yêu của một người dưng nhưng cũng không phải là một người xa lạ mà là một người đặc biệt như đã cùng nhà thơ biết nhau trong tiền kiếp. Nếu đúng vậy, tôi chúc nhà thơ sẽ mau chóng đón nhận lời yêu ấy, có thể không phải là đang ở ngã năm mà ở một ngã bẩy sẽ về.


Sài Gòn, ngày 18/02/2017
NGUYỄN BÀNG

Địa chỉ: Thành phố Sài Gòn

*



NGƯỜI DƯNG

Đã mòn con mắt lá răm
Lời yêu còn ở ngã năm chửa về
Sập sùi sũng ướt triền đê
Khạo khờ mãi nhuộm câu thề người dưn

Hội làng thì đã lưng chừng
Người dưng ơi hỡi...
Người dưng
Chả về.
Hà Nội, ngày 09 tháng 02.2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - NGƯỜI DƯNG NHƯNG ĐÂU PHẢI NGƯỜI XA LẠ! - Nguyễn Bàng