Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, March 9, 2017

ÂN TÌNH KHÓ PHAI - Lâm Bích Thủy

         

Tác giả Lâm Bích Thủy



ÂN TÌNH KHÓ PHAI
Lâm Bích Thủy sưu tầm, biên soạn, giới thiệu
Danh cầm Nguyễn Xuân Vinh (Bảy Thiều)

Trong một bức thư gửi cho ba tôi-nhà thơ Yến Lan, nhà thơ Quách Tấn chân tình khuyên anh em Văn nghệ sĩ tỉnh nhà: “Bình Định có rất nhiều nhân vật có danh mà gần một thế kỷ qua bị bỏ quên, lẽ ra chúng ta phải làm sống dậy. Rất tiếc không có người có đủ tài, học, tâm chí để cùng nhau khai thác kho tàn Văn hóa của Bình Định. Tôi nhận thấy phần đông anh em làm văn nghệ vì danh vì lợi hơn là vì bổn phận thiêng liêng, chú và anh em làm văn nghệ sỹ Bình Định đừng phụ lòng cổ nhân...”

 Về vấn đề này cũng có người rất tâm huyết như Nhà văn Thu Hoài -Tổng biên tập Báo Văn nghệ Nghĩa Bình từng viết về cụ Đào Tấn-Sư Tổ môn hát bội ở Qui Nhơn; riêng  trường hợp về cổ nhạc Miền Trung, quê ở An Nhơn, ba tôi và ông Thu Hoài đã nhiều lần bàn để viết, song chưa thực hiện được, không hiểu vì lý do gì?!...

  Lúc còn tại thế, ba tôi hay nhắc đến một người tên là Bảy Thiều. Theo ông, vào những thập niên 40-50 của thế kỷ XX, người Bình Định thường tranh luận về ngón đàn tranh tài tình, làm lay động con tim bao người của danh tài Nguyễn Xuân Vinh (tức Bảy Thiều). Vậy mà hơn ½ thế kỷ qua không có ai nhắc đến!   

    Người ta bảo, mọi vật trên thế gian có duyên thì tụ lại. Vâng, có lẽ vậy; năm 2006, người con trai út của ông, nhạc sĩ La Nhiên (Nguyễn Liên) gọi điện đến nhà, tự giới thiệu là bạn vong niên của ba tôi. Đây là cách mà ba tôi đã gián tiếp kéo tôi đến quan hệ này chăng? Ba tôi từng dạy: “Sống ở đời hiểu hiện tại nhưng phải biết về quá khứ”. Thiết nghĩ, để tỏ lòng kính trọng dù muộn màn chúng ta cũng nên tìm hiểu về người nhạc sĩ tài danh này:

  Tôi đến thăm anh tại số nhà 315 -CC16/9 Trương Định, tìm hiểu về người đã làm cho ba tôi hao tâm bấy lâu. Thú vị và xúc động biết bao, nhà anh còn lưu nhiều tư liệu về mối thâm giao giữa ba tôi và ba anh. Anh tặng tôi những tư liệu quí đó.

     Khoảng năm 1934, vào dịp Tổng đốc tỉnh Bình Định tổ chức tiệc đãi ông Chánh sứ mãn hạn công vụ trở về Pháp. Tỉnh Trưởng yêu cầu “Ông Phòng thành” cho lính mời nhà danh cầm ở No. 92, Rue du Cửa Đông à Bình Định. Trát mời có nội dung “Tỉnh cần ông Xuân Vinh hầu đờn cho “dạ tiệc…” Chú lính mang Bản trát đến nhà với thái độ khiếm nhã. Đúng lúc có thi sĩ Xuân Khai (Yến Lan) đến thăm. Chứng kiến sự vô lễ của lính lệ đối với một người danh tiếng như Xuân Thiều; Xuân Khai bực lắm, nhìn thẳng vào mắt anh ta, hỏi “Chú có biết đây là ai không? Biết rồi sao chú mày vô lễ thế? Chú lính cúi đầu phân trần “Ông Phòng thành bảo tôi phải nói như vậy để người nhận “trát ” không dám bê trễ!...” Hôm đó, cụ Thiều nhã ý mời Xuân Khai cùng vào dinh.

  Sáng hôm sau, Xuân Khai đến thì vừa có chiếc xe kéo dừng trước nhà, một người đàn bà Pháp bệ vệ, sang trọng bước xuống, hỏi đích danh ông Bảy. Rồi, họ nhận ra là người quen từng tranh luận với nhau tại các Diễn đàn Văn nghệ ở Huế trước đây.

 Không biết khi còn sống; anh Nhiên và ba tôi thân thiết đến cỡ nào, song qua buổi tiếp xúc lần đầu, dù đã đi xa, nhưng tôi vẫn thấy bóng dáng cha mình trong anh. Anh nhắc về ông với một tình cảm trân trọng; sự ngưỡng mộ của anh đối với ông càng cũng cố cho tình cảm giữa ba con người - cha con anh và ba tôi bằng một ân tình khó phai. Đặc biệt những chuyện kể của anh về ông khiến tôi càng thấy tự hào. Anh không ngớt khen ngợi sự tinh tế của Yến Lan, hiền lành, nhưng cương trực, luôn bênh vực lẽ phải; và   ông đã cứu ba anh - một danh tài phẩm gía cao tránh được phiền toái vì một hành vi kém nhân cách do cậu ruột anh gây nên.

  Câu chuyện xảy ra ở thời gian anh và ông cậu học cùng với hoàng tử Shihanou tại trường Gaglin ở Nha Trang. Những tưởng cậu Nguyễn sĩ Quí là danh cầm Xuân Thiều, nên ngài thường biếu ông vài đồng Đông Dương để tiêu xài. Ông cậu cho thế là oai  mà không biết thằng cháu vô cùng xấu hổ thay cho cha. Xuân Khai tình cờ biết được. Thấy việc lạm dụng này sẽ hủy hoại thanh danh của ông bạn già đáng kính. Nhân được Xuân Thiều mời đi thăm con và viếng cảnh đẹp Miền Trung; Xuân Khai hân hạnh được trực kiến Shihanou. Lúc đến Đại Lãnh, bãi biển đẹp của Phú Yên, phút giao lưu với vị vua tương lai của Căm-pốt, Xuân Khai cố ý ca ngợi tài năng Xuân Thiều. Lúc đó, Shihanou mới hay, người bấy lâu ông tưởng là danh tài, chỉ là bạn học cùng lớp. Ngài tức vì bị lừa lâu như vậy, nhưng nể lời xin lỗi của Xuân Khai, Ngài bỏ qua, song từ đó shihanou không quan hệ với cậu của anh nữa. 
 
 Sau Cách mạng Tháng 8, một thời gian ngắn, người ta gọi Qui Nhơn là thành phố Tăng Bạt Hổ, còn huyện An Nhơn là Thống Can. Hồi ấy, người dân nơi đây, lần đầu tiên đã bầu Xuân Khai làm Chủ tịch Văn nghệ; nhưng ông từ chối vì thấy nhạc sĩ Xuân Thiều mới đủ khả năng, tài đức đảm đương việc này. Thái độ cư xử tinh tế và tế nhị đó khiến Xuân Thiều càng yêu quí và nể trọng chàng thi sĩ họ Lâm hơn...
 
  Sau lần đi thăm anh La Nhiên về, với tư liệu trong tay, tôi có thể tiếp tục việc bỏ dở của ba tôi và ông Thu Hoài. Tôi đã viết: “Nhớ tiếng đàn cậu Bảy Thiều”. Bài viết này sẽ giúp các bạn biết thêm về một danh tài về Đàn tranh của Trung Bộ mà bấy lâu bị lãng quên:

   Cách đây hơn hai mươi năm vào ngày 20-5-1988, cụ Tôn Thất Doãn–nhà sưu tầm tiểu sử các danh cầm nhạc Huế (Việt Kiều từ Bỉ, nay đã qua đời) gửi cho Ban Biên Tập Báo Long An một bức thư, trong đó có đoạn:
 “Điểm thắc mắc lớn nhất của tôi là tại sao đối với một “ngôi sao” rực rỡ như Bảy Thiều” mà chưa hề được một bài viết nào tương xứng trong giới sưu tầm nhạc cổ Trung phần ở Việt Nam (?!) Tôi hy vọng… nếu có thể được thì kính nhờ quí Báo chuyển dùm những lời hứa quan trọng sau đây đến các Bạn Văn Nghệ Nghĩa Bình: Chúng tôi xin cung cấp cho các bạn văn nghệ ấy một cuộn bande-Magnétophon có thu tiếng đàn tranh của Bảy Thiều tức Nguyễn Xuân Vinh. Chắc các bạn sẽ hài lòng vì chúng tôi sẽ xin phép Giới chức có thẩm quyền thuộc Nhà Bảo Tàng Phát Thanh và Truyền Hình Pháp để thu lại tiếng đàn mà các bạn đang cần làm “chứng liệu” hiện còn lưu giữ tại đây. Đó là một trong rất nhiều tư liệu hiện đang được bảo tàng qua kho tư liệu của đài Bá Âm – France-Asia. Đĩa nhạc thu tiếng đàn Bảy Thiều qua 2 bản - Tứ đại cảnh và Tứ đại oán hồn năm 1939 là loại đĩa nhựa 33,5 tours.

 - Xuân Thiều là người con thứ Bảy của ông Nguyễn Kỷ, sinh năm 1895 tại làng Mỹ Phú, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Cha ông làm quan hậu bổ (ngang quận trưởng) ở các tỉnh gần Cố Đô Huế. Ông nổi tiếng thanh liêm, hâm mộ nghệ thuật, ca nhạc. Mẹ là Phan thị Xuân. Tuy nhan sắc của bà không mặn mà nhưng rất giỏi các loại đàn. (Bà là chị ruột của quan Tuần vũ Đào Phan Duân, ở làng Biểu Chánh, huyện Tuy Phước. Ông bị buộc về hưu sớm vì dám chống Tây.) Bà là cháu ngoại của Phan Thị Y–người hầu thân tín nhất của hàng quí phi Từ Dũ. Bà Y là người phụ nữ độc nhất được cung đình chọn để đào tạo phục vụ lâu dài cho cung đình. Qua đó, tài năng của cậu Bảy có được là chịu ảnh hưởng từ bà ngoại và mẹ ông mà ta gọi là “con nhà nòi”

  Đây nữa, hai người anh của ông đều là những danh cầm nổi tiếng. Anh thứ Năm Nguyễn Phan Tần, sống bên ngoại ở Vĩnh Long. Ông chuyên viết, soạn sách giáo khoa. Ngoài ra ông còn nổi tiếng là nhạc sĩ đàn tay trái. Ông có công đưa các câu ca dao trữ tình vào các điệu lý của miền Tây Nam Bộ.

   Người anh thứ sáu Nguyễn Phan Trà lúc mới 5 tuổi đã bộc lộ tài năng hiếm có, chơi được nhiều loại kèn Tây (trompettr, clarinette). Năm 1931 ông này được nhận vào nhạc viện Nancy-Paris và tám năm sau Hoàng cung Thái Lan mời làm trợ lý chuyên môn cho nhạc trưởng – Ban nhạc Hoàng gia Xiêm.

  Nếu vào thế kỷ 19 người Bình Định hay nhắc tới giai thoại văn học của cha con cậu Tú Khuê ở làng Vân Sơn xã Nhân Hậu với những văn sĩ lừng danh như Nguyễn Bá Huân, Nguyễn Trọng Trì thì vào đầu thế kỷ 20 họ lại bàn về anh em họ Phạm là Phạm Văn Ký, Phạm Hổ, Phạm Thế Mỹ v.v…cuối cùng là giai thoại về tiếng đàn của cha con nhà Nguyễn Xuân Vinh 1895-1952)

  Nguyễn Xuân Vinh giỏi cả đàn Tranh lẫn đàn Nguyệt. Cuộc thi biểu diễn đàn dân tộc với qui mô lớn nhất nước vào năm 1930 tại kinh đô Huế. Ông đã đoạt giải quán quân về đàn tranh với số điểm tuyệt đối 20/20, so với giải nhì là ông Đội Trác chỉ chiếm 14,5 điểm. Thời bấy giờ các báo đã viết về tài xuất chúng của ông - thí sinh độc nhất không phải người Huế. Tờ Báo Paris Soir cũng phải thốt lên “Lần đầu tiên người Bình Định đàn Huế hay nhất Huế ”

   Không biết tự bao giờ những âm thanh kỳ ảo cung trầm, cung thương từ tiếng đàn ông Bảy thánh thoát nao chảy trong tôi dù chỉ qua âm hưởng của bài thơ:

Ngồi ở Dịch đình nghe đàn tranh
 (Kính tặng Nguyễn Xuân Vinh-Bảy Thiều- Nghệ sĩ tài hoa):

Đàn trôi êm êm qua đêm không sương
Nghe đàn trôi muôn lòng sôi yêu đương
Ôi mong lung ai rung giây tâm hồn
Đời cùng trôi cùng chơi vơi theo đàn

Trăng nương tường cong vin khóm lê
Hương ngưng lư đồng phong dáng nghê
Cánh vạc lạc đàn sa mái cuốn
Con đò lênh đênh quên bờ về
           
Xuyên qua vườn gòn lòn mây thu
Xuyên qua lầu đông thông vi vu
Đàn trôi, đàn trôi ngưng lưng trời
Tương tư tuông dòng chừng bao nguôi
            (Xuân Khai - Bình Định 1935)
(Lầu Dịch Đình-chỗ ấy nay là Nhà Văn Hóa thị xã An Nhơn)

Để khách quan hơn, tôi tìm hỏi thăm những người có tuổi như nhà nghiên cứu Văn học hiện đại - Đinh Tấn Dung, NSUT Khánh Cao cha của Nghệ sĩ nhân dân Trà Giang, nhà giáo Cao Kế, và anh chị em ở thị trấn An Nhơn về cụ Bảy.
  Khi cái tên Bảy Thiều được nhắc đến, ai cũng xuýt xoa “tiếng đàn của ông ấy là tiếng đàn “thoát tục”, tiếng đàn “ma quái”. Giữa đêm khuya thanh vắng, tại hiên nhà mình (số 92 Rue du Cửa Đông Bình Định), ông Bảy ngồi đàn. Tiếng đàn vừa rung lên âm thanh trầm bỗng, nhặt khoan trong không gian, thì không ai bảo ai, rất đông người, kể ca gia đình bề thế, hay người nước ngoài-Ấn độ, lặng lẽ đến ngồi cạnh nhau, chật cả ba bậc cấp Dịch Đình để thưởng thức.

    Nói về cụ Bảy Thiều, ông Tôn Thất Doãn thuật lại câu chuyện do ông Quách Tạo, nguyên là chánh án TAND LK5 cũng là nhà nghiên cứu văn nghệ thời bấy giờ, kể rằng:
  Xuân Thiều đàn tranh giỏi và nổi tiếng từ thời còn để chỏm nhờ có bố là danh cầm Xuân Kỷ-quê mẹ Tân An, quê nội Vĩnh Long, một vùng đất trù phú, chịu ảnh hưởng sâu sắc nếp sống phong lưu, tài tử. Bố của Xuân Thiều thường được các quan lớn vời về tư dinh hòa nhạc. Lúc bấy giờ có một vị Tổng đốc mới về nhậm chức, chơi đàn cũng kha khá nhưng bản tính tự cao, tự đại. Vị Tổng đốc ấy cao hứng mời hai cha con Bảy Thiều vào đọ tài, xem có đúng như lời khen của giới hâm mộ không. Trong cuộc thi tài, ông Tổng đốc chọn cây đàn tranh và mời mọi người hòa tấu một bản mở màn. Ngay từ lúc vừa khởi tấu vài câu dạo đầu “prélude” dành cho đàn tranh, Bảy Thiều vụt đứng dậy trước sự ngơ ngác của mọi người, lễ phép xin cáo biệt. Có một quan lớn trợn mắt quát, hỏi tại sao vô lễ thế, cậu bé chưa kịp trả lời, cha cậu nhanh nhẹn chạy đến bế xốc con và xin lỗi mọi người ra về. Về sau người ta mới biết lý do cậu bé vô lễ chỉ vì cậu không chịu được thái độ “kiêu kỳ” của tân Tổng đốc khi cậu nghe qua; thấy tiếng đàn của ông ta quá tồi.

   Người ta cho rằng “Tiếng đàn ông Bảy nếu những người rành về âm nhạc, đã một lần nghe thì không thể quên được.” Tình cờ tôi đọc được tờ “Nội san khảo cứu Văn hóa Phương Đông số 5-2003 (9) đã thú nhận: “Tôi là người may mắn còn sót lại cho đến hôm nay để kể lại đôi nét cảm nhận đặc biệt của mình đã hơn một lần được thưởng thức tiếng đàn tranh do nghệ sĩ Bảy Thiều biểu diễn… ” 

 Vào năm 1935, Triều đình Huế đã chọn một số nghệ sĩ đàn ưu tú nhất để tháp tùng Ban nhạc Cung đình đi thi nhạc Huế tại New York. Nguyễn Xuân Vinh là một trong số người được cử đi. Thật không may, đúng lúc ấy thì vợ ông qua đời. Nỗi buồn mất vợ, nỗi buồn không được tham gia dịp may hiếm có trong đời, khiến vết thương lòng ông rộng ra. Càng buồn ông đàn càng hay. Nỗi buồn như luồn vào từng cung thương, cung trầm của ông khiến người nghe tưởng mình đang nghe những lời nức nở từ thế giới bên kia vọng về. Tiếng đàn của ông được nhiều người ngưỡng mộ, đánh giá cao trong những thập niên 50-60 thế kỷ 20.

  Ngày tạ thế của danh cầm tài hoa này đã để lại cho giới âm nhạc và người hâm mộ một mất mát lớn. Ông nghè Đào Thuyên ở làng Biểu Chánh khóc tiễn bạn:
Bất tại nhân gian Thập lục Huyền
Xuân Thiều danh nhạc tứ hoa niên
Sổ văn trích trích như tinh lạc
Kim nhật do hồ tự lãng tiên

 Dù quê hương An Nhơn nói riêng, Bình Định nói chung có lỡ quên ông thì ở tận bên kia trái đất vẫn còn có người rất trân trọng đã gìn giữ những gì ông để lại, dù rất ít ỏi. Họ cho biết:
  “Mới đây nhóm nghệ sĩ gốc Việt ở Pháp cho biết họ đã tìm thấy trong kho lưu trữ Tư liệu nhạc cổ Đông Dương, bản nhạc của một nhạc sĩ quá cố - đồng hương với thi sĩ Lâm Thanh Lang (Yến Lan) mà theo họ nói đã gặp nhiều khó khăn gần 30 năm trong việc xác định tên của tác giả - đó là bản Cung Nam Oán (còn gọi là Sài Gòn Oán khúc) ký hiệu SGOK. Bà Denise Nguyễn - thành viên quan trọng nhất của nhóm sưu tầm cho biết: Nhờ nét “âm hưởng” trong bài thơ mang tên “Nghe đàn tranh bên thềm Dịch Đình” của nhà thơ Yến Lan mới nhận ra bản nhạc mê ly này là của ông Bảy Thiều

 Tài sản của nhà danh cầm để lại không thể cân đo đong đếm được, vì đến thì vô hình, đi không để lại dáng! Nhưng những gì người ta còn nhớ về ông là đức độ và sự lao động nghiêm túc.

  Thể hiện cái nhìn công tâm về lịch sử và biểu lộ tấm lòng của người hôm nay đối với bậc tiền bối. Hy vọng rằng các nhà nghiên cứu về danh nhân Bình Định, hãy thẩm tra, phát hiện để tôn vinh, bảo tồn những vốn quí của quê hương, tuy muộn còn hơn không. 

  Nhân đây cũng xin nói về anh La Nhiên–người con trai út của ông Bảy Thiều một chút. Tên thật anh là Nguyễn Liên. Trong 9 năm kháng chiến, anh làm công tác phụ trách thiếu nhi. Bạn bè anh hay gán ghép anh với cô Nha (cô có em gái tên là Trang vì quê ở Nha Trang). Sinh hoạt cùng nhóm, thấy cô vừa xinh vừa hiền lại thông minh nên anh đem lòng yêu cô. Song le, ba anh-nhà danh cầm nổi tiếng không thể chấp nhận, vì ba cô Nha chỉ là một ông thợ sửa xe đạp - không môn đăng hộ đối! Nhưng anh thường trốn cha mẹ rủ cô đi chơi Qui Nhơn, Đập Đá. Cha anh biết, tìm cách ly tán họ. Không  được gặp nhau, nỗi nhớ anh quặn cả tim, rồi cô mắc bệnh thất tình, rồi uống thuốc tím tự tử... Câu chuyện tình của anh và cô Nha được các văn nghệ sĩ Bình Định bấy giờ viết thành kịch bản, lấy tên là “Chuyện tình Liên-Nha” diễn ở thị trấn nhiều lần. Sau đó chuyện tình này được quay thành phim tại Thành phố Marseille của Pháp.

   Nghe anh kể vậy chứ tôi chưa có cơ hội được xem!  

                                                Lâm Bích Thủy




READ MORE - ÂN TÌNH KHÓ PHAI - Lâm Bích Thủy

NGÀY EM ĐI - thơ Phan Minh Châu


Tác giả Phan Minh Châu


NGÀY EM ĐI
(Viết tặng cho những phụ nữ bất hạnh nhân ngày 8/3 )

Ngày mai em nhập viện
Để cắt đi khối u
Đã hình thành từ bao năm trước
Căn bịnh ác làm sao ta biết được
Cứ ăn luồn vào trong thịt xương em
Anh tiễn em đi bằng một chuyến tàu đêm
Khi căn bịnh không còn nằm im nữa
Em đau đớn cả trong từng hơi thở
Trong bửa cơm mỗi ngày không nhắc nỗi bàn tay
Mỗi cú phone anh thấp thỏm từng giây
Cứ lo sợ những điều tệ nhất
Em nức nở qua làn hơi di động
Khi cơn đau năm tháng hiện nguyên hình
Mai con vào ắt em sẽ vui hơn
Chiều bịnh viện mây không còn xám nửa
Em sẽ có những buổi chiều bình minh qua cửa
Những buổi mai nồng hơi ấm mùa xuân
Sẽ có những đóa hồng mừng ngày tám tháng ba
Không phải là anh mà là con mang đến
Con sẽ thay anh bằng tình yêu hiển hiện
Và những cánh hồng đến tuổi sẽ rưng rưng
Anh ngoài này dẫu có cô đơn
Đêm nằm ngủ mơ bao điều mộng mị
Nhưng có một giấc mơ mà theo anh có lẽ
Suốt đời này ta không thể xa nhau
Thôi em đừng buồn vì những cơn đau
Những cơn sốt triền miên,những đêm dài lặng lẽ
Bên kia sông ngôi sao hôm vừa hé
Bên này sông Trăng sáng đã soi đường.

Phan Minh Châu
Nhà 44 đường 13 khu đô thị Lê hồng Phong 2, Nha Trang, Khánh Hoà.


READ MORE - NGÀY EM ĐI - thơ Phan Minh Châu

DÒNG THƠ CÒN CHẢY BÊN ĐỜI - Phan Nam đọc thơ Nguyễn An Bình

Nhà thơ Nguyễn An Bình

DÒNG THƠ CÒN CHẢY BÊN ĐỜI
Phan Nam đọc thơ Nguyễn An Bình


Nguyễn An Bình, một tác giả quen thuộc trên thi đàn miền Nam trước năm 1975 vừa xuất bản tác phẩm mới “Mười năm bóng ngựa qua thềm cũ” (NXB Hội Nhà Văn 2016). Ra mắt tập thơ đầu tiên “Đường tim” vào năm 1970 khi ông mới 16 tuổi, mặc dầu có lúc mạch thơ tưởng chừng như đứt đoạn vì công cuộc mưu sinh cơm áo gạo tiền. Thế nhưng trong khoảng thời gian gần đây, dòng thơ của tác giả Nguyễn An Bình đang trỗi dậy mạnh mẽ với những vần thơ đầy trẻ trung yêu đời và tràn đầy đẹp đẽ thuở áo trắng tinh khôi. Phải chăng, những rung động xuyến xao một thời mơ mộng u hoài, của người thầy giáo già vẫn vẹn nguyên trên từng trang thơ ông viết, như đôi mắt ngây thơ của các cô cậu học trò nhỏ còn vương bụi phấn? “Tìm trong lá màu mắt em dịu ngọt/ Ẩn sau cành lấp lánh tiếng ve sôi/ Người đã xa theo mùa hè rực cháy/ Cánh phượng hồng thắm đỏ cả hồn tôi”, thơ ông lấp lánh một tình yêu đẹp, một mỹ cảm trọn vẹn với cái nhìn thân thương, quen thuộc gắn bó với biết bao thế hệ mỗi người đã từng đi qua một thời cắp sách đến trường. Chính tình yêu ấy đã thắp lửa trong tim, thắp lửa trong tâm hồn với những vần thơ nhẹ nhàng đong đầy tất cả nỗi nhớ, tất cả tin yêu mà tác giả đã gieo trọn cả cuộc đời mình. Đó là “một ngày tôi trở lại trường xưa/ thầy giáo cũ nhìn cái gì cũng lạ”, đó là “tôi đi tìm em, em lại tìm tôi/ đi hai hướng giữa hai bờ hạ trắng”, đó là “em xưa một đóa hồng xinh/ thả thơ theo gió thả tình theo sông”, đó là “con phố nhỏ chiều nay bừng sắc nhớ/ lại một mùa phượng tím trổ qua đây”... và nhiều, nhiều nữa những hình ảnh đẹp êm ả chảy trong thơ gợi trong lòng mỗi người một dòng sông huyển ảo, chảy hoài, chảy hoài chưa bao giờ ngừng lại. Ai đã từng đọc thơ Nguyễn An Bình mà không vương vấn, mà không nhớ nhung, mà không thổn thức, mà không hoài niệm... khi trang thơ thấm đẫm cái tình son sắt mà tác giả dày công vun đắp, để dòng thơ còn chảy mãi trong đời, làm thỏa lòng người yêu thơ. Chắc cũng bởi lý do ấy, thơ ông được nhiều người đọc và cảm nhận, được rất nhiều nhạc sĩ tìm đến phổ nhạc, có thể kể đến nhạc sĩ Hoài Yên, Nguyễn Trung Nguyên, Mộc Thiêng, Viết Hùng, Huy Thọ... Và thơ ông, âm vang trong lòng độc giả một cách rất tự nhiên như giọt tình thơ hòa quyện với những nốt nhạc trầm bổng khẽ khàng cất tiếng. Có thể nói qua 11 thi phẩm đã xuất bản, Nguyễn An Bình đã dành trọn cuộc đời mình với thi ca bằng tất cả những gì ông có, bằng tất cả niềm đam mê tận hiến cho đời, cho người, cho những nàng thơ còn vương vấn đâu đây.

Ta nợ nhau một cánh phượng hồng
Vương tà áo trắng thuở qua sông
Mưa bay trắng quá khung trời cũ
Nhìn cánh bèo xa chợt nhói lòng
(Ta còn nợ nhau)

Câu thơ ẩn chứa những gì tác giả muốn bày tỏ, muốn đi tìm,“ta còn nợ nhau” nên thơ viết mãi mà vẫn chưa dứt, bởi vì trần thế còn muôn ngàn vẻ đẹp khiến trái tim thi sĩ nhung nhớ, gửi gắm. Dòng thơ Nguyễn An Bình chảy qua thể thơ lục bát mượt mà, gói vào thể ngũ ngôn êm ả và đắm chìm trong những vẻ đẹp mong manh mơ hồ giữa cuộc đời. Đặc biệt nhất, trong thơ, người đọc luôn nhận ra nàng thơ hiện diện một cách bí ẩn và chan chứa một ánh nhìn vị tha, bao dung với cuộc sống. Nói như nhà thơ Trúc Linh Lan khi đọc tập thơ “mười năm bóng ngựa qua thềm cũ: “Mối tình học trò thường ít khi thành nợ phu thê, mà nó chỉ còn là kỷ niệm đẹp để ta giữ lại trong lòng, và nói như các nhà thơ, để ta làm thơ thương nhớ một thời, để nhận ra hiện thực cuộc đời không phải toàn là hoa hồng”. Có lẽ, những ký ức thuở xa xăm yêu người đã đi theo suốt năm tháng thi sĩ còn lưu trú trên trần thế, để rồi bung tỏa thành những đóa hoa xinh đẹp, một vẻ đẹp dịu êm và u buồn. Những người đọc thơ, làm thơ, yêu thơ hầu như đều dành tất cả những tình cảm tốt đẹp nhất đối với thơ Nguyễn An Bình. Đối với tôi cũng vậy, không hiểu sao thơ Nguyễn An Bình thoáng qua một cách rất nhẹ nhàng, tình cảm nhưng để lại trong lòng người nhiều cảm xúc đến vậy. Trong bối cảnh, người người nhà nhà tìm cách đổi mới thơ với sự ra đời của thơ tân hình thức, thơ hậu hiện đại nhưng đối với Nguyễn An Bình, ông vẫn giữ trọn cho mình tình yêu đặc biệt với thể thơ truyền thống, với những hình ảnh đẹp quen thuộc gắn bó trong tiềm thức mọi người. Nhưng có lẽ, ông cũng giữ cho riêng mình, những tâm tư vọng tưởng về ước muốn, khát khao chinh phục cái đẹp mà suốt đời ông cất bước đi tìm. Khi đọc thơ Nguyễn An Bình, nhà thơ Châu Thạch đã phải thốt lên: “Người đọc thơ Nguyễn An Bình như nghe tiếng gió bốn mùa, kể cả mùa đông, vẫn lướt nhẹ qua đồng cỏ xanh tươi và vẫn lướt nhẹ qua hầm sâu, hố thẳm. Khi thơ vui, niềm vui không ồn ào, như tiếng reo hò của con người điềm đạm, gợi trong lòng biết bao ấm áp, ngọt ngào. Khi thơ buồn, tiếng thơ buồn không chỉ ở trong lòng phát ra. Tiếng thơ buồn nghe như từ xa xôi vọng lại”. Và tôi cũng chắc chắn một điều, trong tất cả chúng ta khi đọc thơ ông, ai cũng đều có cảm nhận riêng cho mình, cảm nhận về quá khứ nồng nàn cháy bỏng của tuổi thanh xuân mà ai cũng phải có lần rung động, chảy bỏng với tình yêu đầu đời.

Em như con nước xuôi về biển
Để lại sông buồn trắng cỏ lau
Anh suốt đời thành chim bói cá
Treo tình sầu đá nhọn vực sâu.
(Rong rêu phận người)

Đến khi nỗi buồn dâng cao chất ngất, tiếng thơ sẽ nâng lên thành tiếng lòng, sự sáng tạo sẽ được người thi sĩ cởi áo, mang đến cho người đọc cảm xúc sâu lắng, khắc khoải. Sự thay thế của xúc cảm khi “con nước xuôi về biển”, nhưng thực ra người thi sĩ đang đắm chìm trong nỗi “buồn trắng cỏ lau”, treo ngược tâm hồn trên “đá nhọn vực sâu”. Thêm nữa, thơ Nguyễn An Bình còn được in vết trong mỗi vùng đất, mỗi địa danh mà thi sĩ đi qua, đi để cảm nhận và đi để tìm cảm xúc làm nên những viên ngọc lấp lánh trong cuộc đời. Để rồi, trong mỗi phút mỗi giây, thi sĩ tiếp tục viết nên “Đêm Bạc Liêu nghe đờn ca tài tử/ theo ai về hò hẹn đất phương Nam”, “Sài Gòn Sài Gòn cà phê/ hương thơm quyện mùi đặc sánh”, “Chợ Mới cù lao mùa gió thổi/ em về có qua bắc An Hòa”, “Lòng anh... ai bảo không vương vấn/ Đôi mắt Đà Lạt thật dễ thương”... Có thể nói, dòng thơ Nguyễn An Bình sẽ còn chảy mãi trong dòng đời, không chỉ trong hơn 150 trang viết đầy đặn trong tập thơ “mười năm bóng ngựa qua thềm cũ”. Khi những mốc thời gian dần trôi qua, chỉ còn dòng thơ ở lại bên đời.

Đà Nẵng, những ngày xuân 2017
PHAN NAM




-------------------------------------------------------
Tác giả: Phan Văn Nam, bút danh: Phan Nam.
Phone: 01686 642 109
Địa chỉ: Tổ 29, thôn Thanh Bôi, xã Tiên Châu, huyện Tiên Phước, Quảng Nam



READ MORE - DÒNG THƠ CÒN CHẢY BÊN ĐỜI - Phan Nam đọc thơ Nguyễn An Bình

QUÀ TẶNG NGÀY 8 THÁNG 3 - thơ Trúc Thanh Tâm




QUÀ TẶNG NGÀY 8 THÁNG 3

1. VẪN CÒN

 Vẫn còn riêng tám tháng ba
 Vẫn còn riêng nửa của ta dính mình
 Vẫn còn riêng đóm lửa tình
 Vẫn còn riêng nửa đến nghìn năm sau!


2. CỨ LÀ CỦA NHAU

 Mỗi năm Quốc Tế một ngày
 Những ngày còn lại trời đày đọa ta
 Vườn tình mơn mởn lá hoa
 Cứ yêu và sống, mình là của nhau!

TRÚC THANH TÂM
( Châu Đốc )
READ MORE - QUÀ TẶNG NGÀY 8 THÁNG 3 - thơ Trúc Thanh Tâm

THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ ĐIỂN VÀ ĐIỂN CỐ (PHẦN 9) - Nguyễn Ngọc Kiên


            


           THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ ĐIỂN 
                             VÀ ĐIỂN CỐ (PHẦN 9) 

(19) Thiên hô vạn hoán
Đây là thành ngữ khoa trương trong tiếng Trung Quốc. Thành ngữ này có xuất xứ từ bài thơ “ Tì bà hành” của Bạch Cự Dị đời Đường. Theo tác giả kể lại thì: “Năm Nguyên Hoà thứ 10, ta về giữ chức Tư Mã ở quận Cửu giang. Qua mùa thu năm sau, đêm ra tiễn khách bên bến sông Bồn, chợt nghe thuyền ai có tiếng đàn Tỳ Bà vọng lại. Nghe trong tiếng đàn thánh thót, âm vang điệu nhạc ở kinh đô. Bèn hỏi gốc gác. Người đàn trả lời rằng: “Tôi vốn là con hát, quê ở Trường An, học đàn Tỳ Bà với hai danh sư Mục và Tào. Nay tuổi đã cao, nhan sắc tàn tạ, lấy chồng làm con buôn [thường theo thuyền buôn đi đây đi đó]”. Nghe vậy, cho dọn rượu ra đãi, xin nàng đàn lại cho nghe. Ðàn xong cảm xúc vô vàn, nàng bèn kể lại cuộc đời mình từ lúc còn trẻ, vui sướng, cho tới lúc lưu lạc giang hồ khổ nhọc. Ta về đây làm quan đã được hai năm, thanh thản, yên ổn. Hôm nay nghe nàng nầy nói chuyện, cảm thương cho số phận lưu đày! Bèn làm một bài thơ dài tặng nàng ta, gồm 616 lời, gọi là Tỳ Bà Hành.”
Bài thơ có đoạn:
千呼萬喚始出來
猶抱琵琶半遮面
轉軸撥絃三兩聲
未成曲調先有情
Nhà thơ Phan Huy Vịnh cả đời làm thơ, nhưng có lẽ người đời nhớ đến ông qua bản dịch “Tì bà hành” của Bạch Cư Dị. Đoạn thơ trên được Phan Huy Vịnh dịch như sau:
  Mời mọc mãi thấy ngườ.i bỡ ngỡ,
 Tay ôm đàn che nửa mặt hoa
Vặn đàn vài tiếng dạo qua,
Tuy chưa trọn khúc, tình đà thoảng hay.
千呼萬喚 thiên hô vạn hoán chính là nguồn gốc của thành ngữ.

(20) 画蛇添足 [họa xà thiêm túc] Vẽ rắn thêm chân
Thành ngữ tiếng Hán này có xuất xứ từ câu chuyện như sau:
Thời xưa nước Sở có một quý tộc, sau khi cúng lễ tổ tiên, liền thưởng cho các môn khách đến giúp việc một ấm rượu. Các môn khách bàn với nhau: "Một ấm rượu chia cho mọi người cùng uống thì không đủ, một người uống thì có thừa. Vậy thì chúng ta cùng thi vẽ một con rắn trên mặt đất, ai vẽ xong trước, thì người đó được uống ấm rượu này."

Có một người vẽ xong trước nhất. Anh ta cầm ấm rượu định uống, nhưng lại đắc chí lấy tay trái cầm ấm rượu, tay phải tiếp tục vẽ rắn, miệng nói: "Các người xem, ta còn có thời gian để vẽ thêm mấy chiếc chân cho rắn đây."

Thế nhưng không đợi anh ta vẽ xong chân rắn, một người khác đã vẽ xong rắn. Người đó giằng lấy ấm rượu vừa cười vừa nói: " Thật rởm! Rắn làm gì có chân, anh vẽ thêm chân cho rắn làm gì", nói xong liền uống rượu trong ấm. Người vẽ thêm chân cho rắn đã để mất ấm rượu đáng lẽ thuộc về anh.
                                          (Theo Chiến quốc sách)
Chuyện ngụ ngôn này nói với mọi người, nếu làm một việc, cần phải có yêu cầu cụ thể và mục tiêu rõ ràng, phải theo đuổi nó, hoàn thành nó với ý chí tỉnh táo kiên định, không nên bị thắng lợi làm mê muội đầu óc, dẫn đến thất bại.

Người Việt mượn thành ngữ này dịch sang tiếng Việt là “vẽ rắn thêm chân” để chỉ những việc làm thừa, vô ích, không đem lại hiệu quả gì, thậm chí phản tác dụng. Cùng với vẽ rắn thêm chân thì vẽ rồng thêm mắt cũng có nghĩa tương tự. Để diễn đạt ý này, người Việt còn  dùng “thừa giấy vẽ voi”.
Bấm “vẽ rắn thêm chân” vào google trong 0,45 giây có ngay 180000 kết quả.   
Cách nay mấy năm, Báo Phụ nữ online đã có bài báo giật tít “Vẽ rắn thêm chân” và đưa tin:
“Sáng 19/8, báo mạng đưa tin ông Phó giám đốc Sở Văn hóa-Thể thao-Du lịch (VH-TT-DL) Hà Nội cho hay: kế hoạch kỷ niệm, tôn vinh Hai Bà Trưng sẽ được hoãn lại và tổ chức vào dịp 1.975 năm khởi nghĩa Hai Bà Trưng, tức là sang năm, sau Tết âm lịch. 
Lý do dừng tổ chức là thành phố có việc đột xuất! Vậy, sang năm, có thể người ta vẫn làm chứ không phải dừng, dù dư luận có ý kiến này nọ. Bây giờ dùng đuốc mà soi, đố ai tìm ra trong sử sách dòng nào đảm bảo tính chân thật lịch sử, có cứ liệu chính xác về hai bà. Sách giáo khoa là sách công cụ mang tính pháp quy của quốc gia, nhưng ở cả ba cấp, học sinh không biết hai bà sinh năm nào, mất năm nào, có thật là hai chị em không... chỉ thấy nói chung chung.
Giáo sư Nguyễn Quang Ngọc, Phó chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam phải thốt lên rằng: tổ chức sinh nhật Hai Bà Trưng là chuyện nực cười, bởi không ai làm chuyện đó cả khi mọi sự là huyền sử, không biết được ngày sinh thì sao làm sinh nhật? Tư liệu dân gian có lúc nói hai bà sinh ngày 1/8, rồi 13/8 âm lịch. Những sách về hai bà do giáo sư biên soạn đều không đưa vào chi tiết này, bởi không có cơ sở nào cả.”
Ở đây tác giả ví chuyện thành phố Hà Nội tổ chức sinh nhật cho Hai Bà Trưng là chuyện “vẽ rắn thêm chân”!
Thật khôi hài chuyện VẼ RẮN THÊM CHÂN ở xứ ta!

                                                                     Nguyễn Ngọc Kiên

READ MORE - THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ ĐIỂN VÀ ĐIỂN CỐ (PHẦN 9) - Nguyễn Ngọc Kiên

MÙA XUÂN ĐI QUA - thơ Trương Thị Thanh Tâm

Ảnh tác giả


MÙA XUÂN ĐI QUA 

Đã qua rồi những ngày xuân 
Cành mai còn lại mấy bông muộn màng 
Ngoài sân héo nụ cúc vàng 
Vẫn còn con bướm chập chờn bên hoa 

Một năm xuôi ngược bôn ba 
Mấy ngày xuân với lụa là áo xiêm 
Đón nàng xuân bước qua thềm 
Áo hoa em mặc, môi mềm dấu son 

Tháng giêng lễ hội vẫn còn 
Vào chùa hái lộc, lên non viếng đền 
Hương xuân chờ bước chân đêm 
Má em đỏ thắm dịu êm dấu hài 

Vẫn còn màu nắng ban mai 
Đu đưa cánh lá vờn bay áo hồng 
Mây trôi lụa mỏng bềnh bồng 
Hương yêu còn ấm,trọn vòng tay yêu.
                  Trương Thị Thanh Tâm 
                                Mỹ Tho


READ MORE - MÙA XUÂN ĐI QUA - thơ Trương Thị Thanh Tâm

HOA VƯỜN NHÀ - Chu Vương Miện



 



 



 



 



 

READ MORE - HOA VƯỜN NHÀ - Chu Vương Miện

VỀ ĐI EM - Thơ Đặng Xuân Xuyến





VỀ ĐI EM
Thương tặng T.T.Q.T 

Về đi em! Về ngắm trăng buông
Câu mái đẩy lèn sâu ký ức
Dựa vai anh ngắm đời rất thực
Cổ tích trầu cau đã hết nhựa rồi.

Em cứ về! Ừ! Một lần thôi
Dẫu nắng bên sông không còn chấp chới
Câu lý ngày xưa dẫu thôi diệu vợi
Ta tựa vai nhau nối lại câu hò.

Em cứ về! Đừng mải đắn đo
Về một lần thôi nằm nghe sông hát
Về một lần thôi rộn đêm gió mát
Nghe tiếng lòng khủa nước đêm trăng

Em cứ về! Ừ! Một đêm trăng...

Hà Nội, đêm 30 tháng 07/2016
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - VỀ ĐI EM - Thơ Đặng Xuân Xuyến

Như Khói Đông Phai - Thơ Hồng Thúy với nhac nền tiếng kèn Saxo Một cõi Đi Về của nhac sĩ TCS

READ MORE - Như Khói Đông Phai - Thơ Hồng Thúy với nhac nền tiếng kèn Saxo Một cõi Đi Về của nhac sĩ TCS

"TA XA HÀ NỘI", NỖI BUỒN TÊ TÁI CỦA MỘT NGƯỜI HÀ NỘI - Phạm Đức Nhì





TA XA HÀ NỘI

Ngày nghỉ lễ
thôi, ta xa Hà Nội
về Nhà Quê nghỉ dưỡng thỏa tâm hồn
xa để "thoát" lấn chen, xô đẩy
tìm nơi "buồn" yên tĩnh, dịụ dàng hơn...

Ôi Hà Nội,
đi xa cho bớt "sợ" 
đường cây xanh bị "đốn" nắng vỡ đầu
xe ùn tắc, kinh bọn len cướp giật
"Người Tràng An thanh lịch" ở đâu đâu?

Ôi Hà Nội,
phố phường xây chắp vá ,
cầu Long Biên để "rỉ" đến bao giờ?
đường gốm sứ bụi bám hoen mưa nắng
gái quần đùi đến bẹn phóng xe đua...

Ôi Hà Nội,
còn mấy Nàng thỏ thẻ?
mở miệng  ra là "đ. mẹ" chửi thề
dân tứ xứ vào Kiếm Tiền, chụp giựt...
còn góc nào thanh thản
uống Cafe'?

Ôi Hà Nội,
có điều gì không ổn?
như trên mây
trên gió "cấp điều hành"?
mong sớm có một Tràng An thanh lịch
để ta về
soi bóng xuống Hồ Gươm. 
            -----
Viết tại Gia Lộc- Hải Dương 28-4-2015
        NGUYỄN KHÔI
       (Nhà văn Hà Nội)


TA XA HÀ NỘI
NỖI BUỒN TÊ TÁI CỦA MỘT NGƯỜI HÀ NỘI

  
              Tác giả Phạm Đức Nhì


Tứ Thơ: Do không có ẩn dụ nên tứ cũng là ý – tác giả hễ có cơ hội là muốn xa Hà Nội để khỏi phải thấy, phải nghe những điều tệ hại của Thủ Đô, và ông thốt ra một điều ước mà có lẽ ngay lúc đó cũng nhận ra là mơ ước viển vông.

Cấu Trúc

Bài thơ gồm 5 đoạn, ngoại trừ đoạn kết, mỗi đoạn nói về một (hoặc vài) điều tệ hại của đất ngàn năm văn vật.

1/
Ngày nghỉ lễ
thôi, ta xa Hà Nội
về Nhà Quê nghỉ dưỡng thỏa tâm hồn
xa để "thoát" lấn chen, xô đẩy
tìm nơi "buồn" yên tĩnh, dịụ dàng hơn...

Xa Hà Nội để “thoát” lấn chen, xô đẩy

2/
Ôi Hà Nội,
đi xa cho bớt "sợ" 
đường cây xanh bị "đốn" nắng vỡ đầu
xe ùn tắc, kinh bọn len cướp giật
"Người Tràng An thanh lịch" ở đâu đâu?

Xa Hà Nội để tránh xe ùn tắc, cướp giật và nắng vỡ đầu vì cây xanh bị đốn

3/
Ôi Hà Nội,
phố phường xây chắp vá ,
cầu Long Biên để "rỉ" đến bao giờ ?
đường gốm sứ bụi bám hoen mưa nắng
gái quần đùi đến bẹn phóng xe đua...

Xa Hà Nội để khỏi phải nhìn cầu cống rỉ sét, đường xá, phố phường xây chắp vá, gái tân thời nhố nhăng.

4/
Ôi Hà Nội,
còn mấy Nàng thỏ thẻ?
mở miệng  ra là "đ. mẹ" chửi thề
dân tứ xứ vào Kiếm Tiền, chụp giựt...
còn góc nào thanh thản
uống Cafe'?

Xa Hà Nội để khỏi phải nghe ngôn ngữ lưu manh, chửi thề tục tĩu của dân tứ xứ

5/
Ôi Hà Nội,
có điều gì không ổn ?
như trên mây
trên gió "cấp điều hành "?
mong, sớm có một Tràng An thanh lịch
để ta về
soi bóng xuống Hồ Gươm.

Buồn bã thốt ra một lời ước nhưng - với con người ngày càng trở nên vô cảm, với cách lèo lái đất nước vô trách nhiệm, với xã hội nhiễu nhương, thối nát- lời ước ấy cũng chỉ thoảng bay theo gió.

Ưu Điểm
Trước hết, Nguyễn Khôi là nhà thơ lão thành, sự nhuần nhuyễn trong kỹ thuật thi ca đã thể hiện rõ nét trong bài thơ. Chữ nghĩa bình thường nhưng vẫn sang trọng và gợi cảm.

Ông chọn lối gieo vần gián cách (1/3, 2/4), nhưng tìm cách “lách” vần 1/3 mà chỉ gieo vần 2/4 (hồn hơn. đầu đâu, giờ đua, thề phê, hành gươm) cho nên cả đoạn 4 câu chỉ có một lần gieo vần. Do đó hội chứng nhàm chán vần đã giảm ít nhất 95%, món chè Tôi Xa Hà Nội chỉ còn hơi ngọt một chút nhưng không đáng kể. Cảm xúc ở tầng một, do thành công của việc sử dụng chữ nghĩa, đã dâng lên rất cao.

Những “tệ hại” của Hà Nội được nhắc đến tùy hứng, tiện đâu nói đó, không theo một trình tự nhất định. Cách diễn đạt này tuy không được ngăn nắp, lớp lang (sản phẩm của lý trí) nhưng chính nhờ thế tứ thơ chuyển động tự nhiên, không gò bó, gượng ép, và người đọc – không có gì ngần ngại - cảm nhận rất dễ dàng.

Tứ thơ hay, tâm tình chân thật, nỗi buồn tưởng đâu chỉ của riêng người Hà Nội, đã lan tỏa đến người Việt yêu quê hương ở mọi miền đất nước và cả ở hải ngoại. Rồi còn cộng thêm lời ước vu vơ rất khéo của nhà thơ khiến nỗi buồn truyền đến người đọc càng da diết, sâu lắng.


Khuyết Điểm:

1/ Trong câu “để ta về soi bóng xuống Hồ Gươm” cụm từ “soi bóng xuống Hồ Gươm” làm câu thơ hơi sượng.
2/ Thể thơ
Đây là thể thơ mới trường thiên (từng đoạn 4 câu). Tứ thơ được chia thành nhiều “tứ nhỏ”, ý nhỏ. Mỗi ý nhỏ được diễn tả, gói ghém trong một đoạn 4 câu. Cái tiện lợi của thể thơ này là thi sĩ có thể thích ý nào, đoạn nào thì viết ngay ý đó, đoạn đó; sau cùng, nếu muốn, có thể thay đổi vị trí của các đoạn để có một bài thơ suôn sẻ, mạch lạc. Thể thơ này có 3 khuyết điểm chính:
          a/ Hội chứng nhàm chán vần: Đây là khuyết điểm chung của thơ mới; dù nhất khí, liền mạch hay phân mảnh, đứt đoan, nếu thi sĩ không khéo, và bài thơ hơi dài một tý, đọc lên sẽ ầu ơ, gây cảm giác … chán ngán.
          b/ Tứ thơ phân tán: Chọn thể thơ này thi sĩ bắt buộc phải chia cắt tứ thơ chính và giải quyết từng phân mảnh một. Sẽ không có sợi chỉ xuyên suốt để nối các ý nhỏ với nhau. Bài thơ sẽ như một ngôi nhà tiền chế được xe kéo từng phần đến khu đất rồi lắp ghép lại. Sẽ không có dòng sông thơ mà chỉ có những vũng thơ, những ao thơ nằm cạnh nhau.
          c/ Cảm xúc, hồn thơ không được tự do tăng tiến: Cứ hết một đoạn 4 câu lại ngừng để nhảy qua một ý khác nên có gom nhặt được tý cảm xúc nào ở ý này thi khi tạm quên nó để nhảy qua ý khác, nó cũng nhạt, cũng nguội hẳn đi. 

Như đã nói ở trên, đoàn quân chữ nghĩa trong Ta Xa Hà Nội được chia làm 5 đơn vị nhỏ, Đơn vị nào cũng tinh nhuệ nhưng không biết hợp đồng tác chiến vì không có sự chỉ huy thống nhất. Nói thế để thấy thế trận chữ nghĩa của bài thơ lỏng lẻo, tứ thơ phân tán, đoạn nào lo phần vụ của đoạn ấy nên cảm xúc ở tầng 2 không đáng kể.

NK đã kín đáo bày tỏ sự buồn giận, thất vọng đối với thành đô ngàn năm văn vật bằng những dẫn chứng điển hình, chính xác, mang cả tính thời sự. Nhưng tại sao ông không đẩy nỗi buồn giận, thất vọng rất chính đáng của mình đi xa hơn nữa, mạnh hơn nữa để tăng giá trị nghệ thuật của bài thơ?
Có lẽ một phần do tuổi tác cao làm cho người ta điềm đạm, chừng mực hơn, không “máu” như đám trẻ, “đã chơi thì chơi tới bến”. Nhưng phần khác do thể thơ không liền mạch, nhất khí nên không có liên tục sóng sau dồn sóng trước để đến cuối bài cảm xúc sẽ như dòng thác đổ ập xuống hồn người đọc. Vì thế cảm xúc ở tầng 3 (hồn thơ) không có.

Một nhà “tình dục học” khi viết về những bí quyết để hâm nóng tình yêu, gìn giữ hạnh phúc gia đình đã có lời khuyên:
 “Nếu hai người có ý định ‘tò tí’ thì - không phải chờ lúc lên giường mà ngay khi bước vào phòng ngủ – hãy chốt cửa, rút phích khỏi ổ cắm điện thoại bàn và vứt điện thoại tay vào thùng rác.”
Tôi hiểu là nhờ thế sẽ không có tiếng chuông điện thoại làm gián đoạn tiến trình “cùng trèo lên đỉnh Vu Sơn” của hai kẻ yêu nhau. Thi sĩ, nếu đã có tay nghề vững vàng lại biết áp dụng lời khuyên ấy – không phải trên giường ngủ mà trên trang thơ của mình – thì rất dễ sáng tác được những bài thơ “tới bến”.

Kết Luận

Với tôi, Ta Xa Hà Nội là một bài thơ hay. Như rất nhiều bài thơ cùng loại khác của Nguyễn Khôi, ngôn ngữ sang trọng mà bình dị nên dễ hiểu, dễ cảm, đề tài không cao xa, viển vông mà rất gần gũi, có khi hiển hiện ngay trước mắt mọi người. Tôi không cảm thấy ngạc nhiên khi biết rằng thơ ông được rất nhiều người đọc, từ trí thức thị thành cho đến giới “bình dân học vụ” ở nông thôn.
Tôi rất có cảm tình với nhà thơ lão thành Nguyễn Khôi. Tôi đọc thơ ông khá nhiều từ Văn Đàn Việt và Văn Nghệ Quảng Trị. Một khả năng sử dụng chữ nghĩa điêu luyện như thế, một hồn thơ nhạy cảm, tươi mát, thấm đẫm tình người như thế, nếu tạo được thể thơ nhất khí, liền mạch, tôi tin rằng chúng ta sẽ được đọc những vần thơ còn hay hơn nữa.

Phạm Đức Nhì
nhidpham@gmail.com
phamnhibinhtho.blogspot.com

READ MORE - "TA XA HÀ NỘI", NỖI BUỒN TÊ TÁI CỦA MỘT NGƯỜI HÀ NỘI - Phạm Đức Nhì

THƠ BÌNH THANH CỦA LÊ VĂN THANH





NGÀN KHƠI BỒNG BỀNH

Ta nương theo dòng xuôi
Bồng bềnh ra ngàn khơi
Em mây ngàn rong chơi
Ngao du trong bầu trời

Ta cùng em xa xôi
Là dòng sông - mây trôi
Lên non và ra khơi
Thương nhau đành xa vời

Trời sinh ta cùng em
Trùng phùng theo thời gian
Chan hòa nuôi muôn loài
Sinh sôi muôn màu tươi

Thời gian trôi mây trôi
Làm mưa tuôn nơi nơi
Chung lòng tay trong tay
Song hành cùng vui chơi

             Lê Văn Thanh
                    2015 


LÒNG LÊN CHƠI VƠI
Sương Nương Theo Trăng Ngưng Lưng Trời 
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi
      (Nhị Hồ - thơ Xuân Diệu)
Sương loang mây giăng trăng sao mờ
Nương hồn ngao du cung đàn thơ
Theo dòng thời gian tìm duyên hờ
Trăng treo đàn trời hòa dây tơ
Ngưng thôi mây ơi, ta mong chờ
Lưng tôi hương nồng, em còn mơ
Trời  xanh đêm thanh gieo men đời
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi

                            Lê Văn Thanh

READ MORE - THƠ BÌNH THANH CỦA LÊ VĂN THANH

DỪNG CHÂN ĐỨNG LẠI - Phiếm đàm của Chu Vương Miện

                 
                  Nhà thơ Chu Vương Miện



                       DỪNG CHÂN ĐỨNG LẠI 
             (Nói chuyện với nhà văn Lang Trương)

Xin bỏ qua hết, chỉ dám xin lạm bàn về hai từ Dừng và Đứng mà thôi, nhưng xin phép chỉ lung khởi, chứ trực khởi thì không ai rõ là mình đang nói cái gì ? Năm tôi học lớp đệ ngũ trường Nguyễn Hoàng, niên khóa 1956-1957,  giờ Việt Văn của Thầy Phạm Lộc, bài giảng văn về cổ văn Kim Vân Kiều, có câu :
"Một nền đồng tước khóa xuân hai Kiều"
Thầy kêu một bạn nam đứng lên trả lời, nhưng không nói được gì! Thầy mớm cho: "có phải Đồng Tước là chức tước bằng Đồng không?”
Anh bạn bèn phấn khởi nói tiếp : "thời phong kiến có khi dùng ngà voi làm chức tước, như quan phủ, quan huyện, các quan ở các Bộ như Thị Lang, Lang Trung, Thượng Thư đều đeo Bài Ngà ở trước Ngực, sau năm 1954 thì chuyển qua Đồng Tước là chức Tước bằng Đồng, từ Chuẩn Úy, Thiếu Úy, Trung Úy, Đại Úy đều đeo lon Hoa Mai Vàng bằng Đồng trên cổ hay vai áo, nêu cấp Tá thì là Bạc Tước, lon Hoa Mai Bạc.
Thầy Phạm Lộc nói : "đó là sự suy luận của kẻ không học bài, thuộc bài, chỉ căn cứ vào mặt chữ mà nói bừa! Thế là cho anh bạn ngồi xuống nhận hai con zero.

Về Hán Văn thì người Hán hiểu khác và người Việt hiểu khác ,  dù rằng xuất xứ Từ và Chữ cũng từ Tàu chuyển qua, chẳng hạn: "Hiền Nhân Quân Tử" không có câu đối, chỉ có Đại Nhân là Ông Quan đối với Tiểu Nhân là Dân Thường, Tiểu Nhân theo nghĩa của người Tàu không có gì là xấu cả, qua Việt Văn khi không Quân Tử đối với Tiểu Nhân, cái nghĩa đâm ra nặng nề hơn. Từ “Chu tầm Chu, Mã tầm Mã” có nghĩa là Thuyền tìm Thuyền, những thuyền chuyên chở Muối thì nhập vào Diêm  Bang, và thuyền chở Người thì nhập vào Tào Bang, như là một Tổ Hợp sinh hoạt dưới Nước, còn trên cạn thì Mã là những người Mã Phu sống bằng nghề Đánh Xe Ngựa chuyên chở Hàng Hóa thì gia nhập vào Xa Bang". Đây chỉ nói về Nghề Nghiệp chuyển qua tiếng Việt thì nghĩa lại xấu "Ngưu tầm Ngưu, Mã tầm Mã” (Trâu tìm trâu, Ngựa tìm Ngựa)
* 
Về các con Sông, nói Hoàng Hà, Ngân Hà, Ấn Hà, Hằng Hà, có người hiểu, nhưng có người không hiểu, mà phải nói Sông Hoàng Hà, Sông Ngân Hà, sông Ấn Hà, sông Hằng Hà, đã Hà còn thêm Sông.
Ngoài ra có khi chỉ gọi một trong hai thứ :
Lô Giang, Hắc Giang, hoặc Sông Lô, Sông Hắc, nhưng có khi chỉ đọc theo tên Việt, như Sống Đuống, sông Luộc, sông Chẩy, ngay như sông Hồng, tức sông Nhĩ Hà "giống cái Tai người ta, chảy giữa thủ đô Hà Nội và vùng Đông Anh Phúc Yên" nơi có thành Cổ Loa, gọi Hồng Hà hay Nhĩ Hà không ai biết là cái gì, y như  Bạc Hà phải thêm chữ Kẹo Bạc Hà, sông Hồng Hà, sông Nhĩ Hà" đã Hà còn thêm Sông".
Trên đỉnh Hoành Sơn Quan của tỉnh Quảng Bình có Ải Hoành Sơn, " Hoành Sơn Nhất Đái, vạn đại dung thân", và trên đỉnh Đèo Hải Vân, biên giới của Châu Ô Châu Lý mà Chăm Pa dâng cho Đại Việt làm quà sính lễ để cưới  Công Chúa Huyền Trân từ đây trở ra là Hóa Châu và Quảng Trị, trở vào là Thuận Châu và Quảng Nghĩa, chúng tôi chưa đến Hoành Sơn Quan ở Quảng Bình Đồng Hới bao giờ, nhưng giả dụ cũng theo chiều Bắc Nam thì giữa đèo Hải Vân trục lộ chính theo chiều Bắc Nam, nhưng ngay giữa đèo thì lại có hai con đường nhỏ, theo chiều Đông Tây, đường phía Tây dài chừng 200 m qua các quán ăn uống và khách sạn thì dẫn tới một vùng đất rộng thoáng mát, nhìn những con đường chạy vòng vèo qua chân núi đến đỉnh đèo, còn con đường về phía Đông chừng 100 m là dẫn tới Ải Vân Quan, là cửa ải phía Nam của Việt Nam với Chăm Pa, ngừng ngay tại đó nhìn xuống Biển Nam Hải coi sóng vỗ vào ghềnh Đá
Chúng ta có thể hiểu tàm tạm là du khách, xuống xe, chiều nào cũng được, Dừng chân chút đỉnh, sau đó sẽ chọn đi về phía Đông hay phía Tây. Khi đó sẽ Đứng lại, chữ nghĩa rõ ràng như thế, có gì mà cần phải Ngoảnh lại, Chữ Ngoảnh nghĩa lại hoàn toàn khác với chữ Đứng, vì đứng Mỏi Chân thì có thể Ngồi, hoặc Nằm, đa dạng hơn, chứ chỉ Ngoảnh thôi, thì đôi lúc Mỏi Cổ chết!
Sẽ xin viết tiếp vào bài tới.
                                                                  Chu Vương Miện

READ MORE - DỪNG CHÂN ĐỨNG LẠI - Phiếm đàm của Chu Vương Miện