Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, November 6, 2016

MỘT THỜI ĐỂ BIẾT - Hồi ký Lâm Bích Thủy


          
                        Tác giả Lâm Bích Thủy



           MỘT THỜI ĐỂ BIẾT

   Đêm nay lạnh, ngồi trong căn hộ của chung cư cao tầng mà gió vẫn táp vào mặt; những cơn gió như vừa chui ra từ những tảng băng; từng cơn, từng cơn thấm vào da thịt. Không sao ngủ được. Bao nhiêu ý nghĩ, bao nhiêu hình ảnh dập dờn xô đẩy nhau trong đầu óc. Khi thì quấn quýt ràng buộc lẫn nhau như một búi tơ vò. Khi thì nối đuôi nhau thành một chuổi dài như những năm tháng đã trôi qua. Những ý nghĩ đó, những hình ảnh đó có lúc dịu ngọt, thơm mát như được ướp bằng phấn hoa và mật ong. Nhưng có lúc như có trăm ngàn mảnh gương vụn vỡ, lấp lánh mà buốc đau, tàn nhẫn…
    Ai cũng có một thời để nhớ. Mà thời gian thì thật vô tư song cũng thật tàn nhẫn! Nó cứ trôi từ từ, đều đặn không phút giây dừng lại. Cuộc sống thì đổi thay theo tạo hóa lòng người. Bao nhiêu vun xới, bao nhiêu đắp bồi, bao nhiêu cay đắng ngậm ngùi luyến tiếc.

    Nhiều lúc tôi hình dung cuộc sống như miếng thạch cao. Thạch cao thì mềm mại còn thời gian là nhà điêu khắc. Mũi dao sắc lạnh nhưng đầy nghệ thuật của thời gian đã ghi lại tất cả, rất trung thành, rất chỉnh chu thương yêu nhưng cũng rất bạo tàn tất cả quá khứ mỗi người.
                 
Tốt nghiệp Phổ thông, với bao hy vọng, ước mơ mãnh liệt về một tương lai tươi sáng. Trong niềm phơi phới của tuổi trẻ; bạn thân rủ tôi nộp đơn vào Trường Đại học Ngoại Thương-Ngoại giao. Song le, bạn được nhận, vì cha là giám đốc một cơ quan của ngành. Còn tôi, con một thi sĩ, đã nhận giấy báo của Trường Đại học Nông nghiệp.

Cầm mảnh giấy nhỏ mà lòng tôi thì miên man nỗi buồn..! Nước mắt rưng trào! Tôi không hiểu tại sao ?! Xét về gia phả bốn đời, nhà tôi chưa ai làm nông; dáng dấp thì bé nhỏ, còi cọc, chỉ nặng có 35 cân. Đặt biệt, tôi là con cán bộ Miền Nam tập kết, thuộc diện ưu tiên số 1 chọn ngành, nghề hợp với sức khỏe, năng lực, nguyện vọng mà Bác, Đảng đã chủ trương để sau này về phục vụ cho quê hương miền Nam.
   Lúc bấy giờ, có câu “Nhất Y; nhì Dược; tạm được Bách khoa, Nông nghiệp bỏ qua, Nông lâm cút thẳng”. Tôi đâu biết những nơi Nhất, Nhì đó, làm sao có ch dành cho đôi chân bé nhỏ con của một nhà thơ thời nhân văn giai phẩm chen vào!!! 

 Đưa thư cho ba tôi xem. Ý mách để ông tìm cách giải thoát cho. Nào ngờ, xem xong, ông trầm tư, rồi khuyên: “Thôi con! được ngựa không nên mừng, mất ngựa không nên tiếc, biết đâu ở lĩnh vực này con sẽ là Nhà phát minh, hay Anh Hùng Lao Động thì sao?.” Tôi đâu biết  với ông sao giải thoát được cho tôi! Ông chỉ là một cán bộ bình thường, không chức sắc, họ hàng không ai làm lớn. Dẫu vậy, trong ông luôn tin, rằng các con cũng có một tương lai rạng rỡ để vươn tới!..

  Đến hẹn, tay xách chiếc va-li nặng trịch, to tướng lệch hẳn sang bên phải, tay trái cầm chiếc thau men Trung Quốc, lẻ loi trên con đường vào Trâu Quì (huyện Gia Lâm) để tựu trường. Chân tôi bước mà nước mắt chảy dài trên má. Vừa đi tôi vừa oán giận số phận, oán cha:giá cha có chút địa vị trong xã hội thì con đâu phải thế này!” Song triết lý “được ngựa không mừng, mất ngựa không tiếc” cứ lầm lủi đi vào trong tâm trí tôi. Nhưng càng dấn tới, tôi càng thấy như mình đang bước vào chiếc sừng trâu khổng lồ không có lối ra
 
 Và rồi, cuộc đời con của nhà thơ làm cô sinh viên Nông nghiệp bắt đầu từ đó! Tôi là một trong số 35 học sinh từ các Trường Đại học Dược, y Khoa, Xây dựng, Ngoại thương v.v.. thải ra để bù vào chỉ tiêu còn thiếu của Trường Đại học Nông Nghiệp I - khóa 10 (từ 1965->1969). Khi không còn em nào đến, Nhà trường tiếp tục đưa chúng tôi sơ tán lên một bản làng của dân tộc Mường, Nùng tên là Đổng Bán thuộc tỉnh Cao Bằng.
  Từ Đổng Bán, đi hơn 10km nữa là đến chTrùng Khánh - Trung Quốc.

  Tôi được phân vào Khoa Chăn nuôi - Thú y. Khoa có 2 lớp học chuyên ngành Chăn nuôi; 1 lớp chuyên ngành Thú Y.  Tôi học về Chăn nuôi. Lớp có 34 nam 13 nữ; chịu sự quản lý của 2 nam và 1 nđảng viên. Hai nam được cơ quan cử đi học; gọi là Chuyên tu. Anh Nguyễn Qúynh - lớp Trưởng, kiêm Bí thư Chi bộ; quê Thái Bình, người tầm thước, nước da xạm, mặt bự, sần sùi đầy mụn trứng cá. Anh và anh Nguyễn Văn Thịnh - lớp phó, phụ trách tư tưởng, đạo đức. Quê anh Thịnh ở Bắc Ninh nên hát quan họ nghe ngọt lịm. Anh sở hữu trên khuôn mặt chưa hẳn chữ điền là đôi mắt lác, đôi môi mỏng dính, cái miệng nhỏ xíu như con gái và chứa những chiếc răng cũng nhỏ xíu như răng chuột. Còn nữ đảng viên độc nhất của khoa là Phạm Hoài Thu - Bí thư Chi Đoàn; miệng rộng, đôi mắt ướt, đen - người Nghệ An. Chính đôi mắt đen ấy đã làm hại đời cô, khiến cô có bầu trong thời gian thực tập; bị kỷ luật; hai năm sau mới được nhận Bằng Tốt nghiệp cùng khóa 12 với đàn em. 
  Ngoài ra, còn hai lớp phó không Đảng, anh người Thanh Hóa (em đồng hao với nhà văn Mai Ngọc Thanh) - phụ trách về lao động. Và anh Đỗ Văn Ninh, người Hà Nội giáo viên cấp 2, chán nghề làm thầy, muốn làm kỹ sư Chăn nuôi nên tình nguyện nộp đơn vào trường này. Anh, phụ trách học tập của lớp

  Thời đó, Trưởng, P, Bí thư Chi Bộ lớp quyền hành lớn lắm. Còn học lực thì bị các em phổ thông chê Các bác chuyên tu vừa ngu vừa dốt”. Vì căm tức câu này mà hai vị rất ghét các em sinh viên tphổ thông lên.  Với tôi, không hiểu vì sao, suốt khóa học bốn năm rưỡi, dù ở nơi sơ tán hay ở trường, đều được lãnh đạo lớp, nhất là anh phó lác “chăm sóc đặt biệt từng lời ăn tiếng nói”. Có vẻ như anh không muốn rời xa tôi. Tôi làm gì cũng bị chụp mũ là mang tư tưởng giai cấp Tiểu Tư Sản, quan hệ cục bộ không quần chúng chỉ chơi với người thành thị và những bạn đẹp trai v.v…
Khổ ni, chính các bạn này khiến tôi bị hại. Này nhé, ngay trong giờ học họ ném thơ ca ngợi tôi. Ngày chủ nhật đi chợ Trùng Khánh tìm mua cho tôi nào túi xách, đèn pin, kim khâu, chỉ thêu, kẹo 4 màu v.v... Mặc dù những món quà này tôi đều chia sẻ với các bạn nữ nhưng vẫn bị chỉ trích.
   Lúc đầu mới lên, chúng tôi ở nhờ nhà dân. Vài tháng sau, tự lên rừng chặt cây, nứa, cắt tranh làm lán ở. Việc này các bạn hiểu và thông cảm tôi chân yếu tay mềm đã cán đáng dùm từ A đến Z. Vì vậy, dù không động tay tôi vẫn có thành quả và định mức chỉ tiêu lao động để nộp... Tất cả những chi tiết ấy luôn đập vào đôi mắt lác của anh Phó lớp.

Hồi đó, tóc tôi dài quá đầu gối, tết thành hai đuôi sam. Biết tôi là con thi sĩ, nên tôi trở thành nàng thơ của lớpMái tóc dài buông trên vai tròn trắng/Như dệt thêu nên ánh nắng của tình yêu...”  Và khi đi thực tập xa, các bạn lo lắng sợ tôi khổ:

Em ơi dạ hương                                Lo em vất vả
Anh nhớ, anh thương                        Buồn trong sớm chiều
Đôi vai nho nhỏ                               Chẳng được gần em                                                                                          
Tóc dài say hương                            Trăng sáng làm chi
Nắng ơi sao gắt                                Không lời hò hẹn
Mưa ơi sao nhiều                             Gió đưa làm gì…

 Trong lớp bạn thì làm thơ, bạn thì viết truyện ngắn. Trong những câu chuyện ngắn ấy, tôi là nhân vật chính qua hình tượng của “Cô thiếu nữ Tờ-Ri-cô-za, hay Tô-nhi A”-  là những nhân vật trong các phim Liên Xô thập niên 60-70 thế kỷ XX

 Những ngày đầu năm học; Nhà trường phát động phong trào Ôn nghèo, kể khổ; Bình công, Báo công. Có lẽ đây là chỉ tiêu bắt buộc em nào cũng phải bình công báo công. Sinh viên nông thôn thì ối chuyện. Với tôi có gì để ôn nghèo; chỉ ngồi im nghe..” nên anh phó lác không tha cho tôi. Anh dằn từng tiếng: Cố mà nghĩ ra ít nhất một chuyện chứ. Qua chuyện cô sẽ nhận thức được tội ác của giai cấp địa chủ cường hào bóc lột gia đình cô, làm đời cô khổ v.v... Tôi cố lục lại trong ký ức ở tuổi thơ để tìm ra tội ác mà địa chủ đã bóc lột gia đình tôi. Nhưng ở thị trấn An Nhơn-Bình Định vừa nhỏ lại đìu hiu, tôi lại chưa nghe từ địa chủ bao giờ. Hình như quê tôi không có địa chủ thì phải! Tôi nhớ có chi tiết như thế này:
   Lúc còn ở miền Nam, gia đình tôi thuộc dân nghèo thành thị; trong bữa ăn, má tôi thường gắp cho chị em tôi, mỗi đứa một con tôm thẻ thật to, dặn phải ăn hết cả bữa chứ không được ăn vả. Nhưng có tôm to để ăn dù cả bữa chỉ được một con, liệu có phải là khổ không nhỉ?  Khi bạn cùng tổ lần lượt kể hết nỗi khổ do địa chủ gây ra cho gia đình, anh phó dướn đôi mắt lác nhìn xoáy vào tôi - “Còn cô, sao mãi không phát biểu. Tôi đành phân bua: “Anh ơi, thật tình là nhà em không bị bóc lột. Còn em ra đi từ nhà cha mẹ mà cha mẹ ai lại làm con khổ. Khi theo cha ra Bắc, em được Bác đưa vào trường Học Sinh miền Nam, sống và học ở Hải Phòng. Ở đó, Bác, Đảng nuôi, dạy em nên người và rồi bước thẳng vào trường Đại học này, thì làm gì có ai kịp làm đời em khổ! Vậy mà anh vẫn chưa buông tha. Tôi biết được việc này là do một bạn xem lén sổ ghi chép công tác hàng ngày của anh, thấy tên họ đầy đủ của tôi với dấu (?) và hai chữ “chú ý” tô đậm!...

 Lúc này, chúng tôi đang sống cùng đồng bào Mường và Nùng. Nghĩa là phải thận trọng trong mối quan hệ. Biết mình là đối tượng “được” quan tâm nên tôi luôn chú ý trong sinh hoạt, nhất là dân vận. Từ xa nhìn thấy bà con, tôi mỉm cười và cúi đầu (chào). Tôi ngoan ngoãn nhận bất cứ việc gì, đi bất cứ nơi đâu lãnh đạo phân: cấy, gặt, đắp đường, đào mương, lên rừng chặt củi giúp dân v.v...Và âm thầm chịu đựng dã tâm độc địa của anh phó. Cụ thể nhất là anh biết tôi hay nổi m đay phải kiên gió và nước. Nhưng anh lại chọn nơi nào có nước thì phân tôi làm, dù các bạn lớp phản ứng anh không mảy may động lòng.

   Thế rồi, kết thúc đợt sơ tán. Lớp tổ chức họp kiểm điểm rút kinh nghiệm. Hôm ấy, trước lớp, anh phó lác nhìn tôi, vẻ cay nghiệt: - Nhìn chung thời gian sống cùng đồng bào dân tộc, lớp ta làm tốt công tác dân vận, riêng cô Lâm, bà con phản ảnh với chúng tôi là rất khinh người, gặp dân không chào, mắt cứ ngước lên trời”. Nghe anh nói, tôi sửng sốt; bởi việc này  tôi luôn ý thức rõ nhất. Tôi uất ức mà không dám cãi lại. Nhưng đã có nhiều bạn nữ phản đối thay tôi: “Anh nói sao chứ nó bao giờ cũng chào bà con trước cả chúng em. Nó là con mau miệng nhất lớp ta mà anh.”
  Chính hôm đó, lần đầu tiên, tôi cảm nhận được sự bực tức của anh lên cực điểm; vì ý đồ bôi nhọ tôi không thành.

                    
                             Trong ảnh:
                             Phạm Hoài Thu ở bên trái hàng phía sau.
                             Bích Thủy bên trái ở hàng ngồi phía trước.

  Cuối 1966, chúng tôi sơ tán về huyện Khoái Châu-Ninh-Giang. Tại đây, sinh viên ở nhờ nhà dân. Mỗi nhà có 3 đến 4 em. Đời sống, sinh hoạt của lớp như một xã hội thu nhỏ. Anh phó lác lúc này càng cậy quyền, cậy thế, ức hiếp bọn trẻ chúng tôi. Ai làm anh giận, anh báo cô Chủ nhiệm Khoa. Mà Cô này thì vô cùng khắc nghiệt. Khắc nghiệt từ khuôn mặt xương xương, dài như hai quả ngô chắp lại; từ ánh mắt nhìn làm ai cũng sợ. Anh phó lác lại được cô tin dùng, khiến uy quyền của anh càng thêm mạnh. Các em không dám làm anh giận. Anh mà giận thì cô chủ nhiệm biết ngay, cái thân khó bề yên !
  
 Trong lớp, cậu tên Cỏn, người Thái Bình, lùn, mắt ti hí. Nhìn cậu người ta thấy thương thương. Cậu đang phấn đấu để được kết nạp Đảng. Áo cu mặc, cái nào ít nhất cũng vài miếng. Không biết sau miếng vá, áo có rách thật không? Bởi, áo còn mới, tệ lắm cũng chỉ giặt qua vài lần là cùng. Cậu mặc áo vá để chứng minh mình thuộc giai cấp bần hàn trong xã hội. Đi lao động qua đèo, lội suối, cậu chịu khó xách dép, vác túi, cuốc, xẻng cho lãnh đạo. Nhưng! dù cậu có chìu chuộng các anh cỡ nào cũng không đỡ nỗi thành phần Phú nông của gia đình. Ai dám kết nạp vào đảng người ở giai cấp chỉ đứng sau địa chủ một nấc. May cho cậu là được vào Đại học chứ hồi đó, con nhà địa chủ thì không có cửa đâu nhé!    

Rồi, bỗng một hôm, tin Khoa cử cán bộ về điều tra anh phó lác với tội ức hiếp sinh viên. Hình như ai đó cả gan gặp thầy Hiệu trưởng phản ảnh việc này. Khoa cử cán bộ tuyên huấn xuống “nằm vùng” theo dõi. Nhưng, chú lại chọn “nằm” ngay nhà anh phó lác “nằm” để “điều tra”. Vì thế, trong cuộc họp kiểm điểm lần đầu, sinh viên nêu toàn ưu điểm cho anh. Chú cán bộ tuyên huấn về báo lại, thầy Hiệu trưởng không chấp nhận, bắt họp lại lần nữa.

   Lần này, lúc đầu, mọi người ngồi im thin thít. Gần 15 phút trôi qua, không có cánh tay nào dám giơ lên. Thấy vậy, anh lớp trưởng thiết tha yêu cầu “Các bạn Đoàn viên thanh niên đừng sợ bị trù dập, hãy thẳng thắn góp ý, phê bình để Lãnh đạo thấy được khuyết điểm, rút kinh nghiệm lãnh đạo lớp tốt hơn.
   Nghe lớp trưởng thành khẩn, anh em phấn khởi ra mặt; thi nhau bộc bạch nỗi bức xúc bị dồn nén bấy lâu. Dẫn đầu là lớp Phó lao động, anh nói:
- Nếu các đồng chí Lãnh đạo yêu cầu như thế, tôi xin góp ý một cách chân tình, trước hết
xin góp ý cho lớp phó Thịnh - anh Đảng viên, nhưng việc anh đã làm không xứng đáng là  đảng viênxứng đáng ở tù.- Xong anh dẫn chứng loạt tội đáng ở tù của anh phó lác qua hai năm học, từ Đổng Bán đến Khoái Châu...
- Thừa thắng xốc tới, như một loạt đạn súng trường tiếp vô. Hôm ấy, nhiều em góp ý cho anh phó một cách sôi nổi và rất chân thành. Lúc ấy, tôi liếc nhìn anh, thấy đôi mắt lác long lên vẻ hằn học. Các bạn sinh viên trẻ thì phấn khởi vô cùng, vì đã trút hết nỗi uất ức trong lòng .

  Nhưng, nào ngờ! Đó là buổi họp được chuẩn bị sẵn; bố trí người theo dõi, ghi chép tất cả ý kiến không trừ một ai. Hôm ấy, ai tỏ ra bạo dạn kểt tội anh phó bao nhiêu thì “cái mồm làm hại cái thân” bấy nhiêu! Sau buổi họp, không khí trong lớp nặng nề như có mây đen che phủ bầu trời. Tin lộ ra, lãnh đạo đã phân loại việc kiểm điểm như sau:
- Ai nêu toàn ưu điểm cho lãnh đạo thì ghi ở cột phe ta”. Ai phê có ưu, khuyết ở cột phe trung lập”, còn ai phê toàn khuyết điểm thì ở cột “phe địch. Tôi nhút nhát, sợ đủ thứ, cả nể, an phận, không dám phát biểu phật lòng ai; thế mà tôi lại bị đưa vào cột - phe địch!
Công việc tiếp theo của lãnh đạo hoán vị; nhà nào có nhiều người phe địch sẽ bị chuyển sang nhà phe ta. Phe ta theo dõi, ghi chép xem hàng ngày ai đến chơi nhà, nói nhng gì, thái đ như thế nào v.v...Ôi! thật đáng sợ; bạn này nhìn bạn kia xa lạ, không dám hỏi chuyện nhau như trước na. Cả lớp ai cũng tỏ vẻ bí mật như đang hoạt động trong ng địch.
 Rồi tin động trời từ trên Khoa đưa xuống. Anh phó lác thông báo Nhà trường chỉ thị cho các khoa cần phải gột sạch tư tưởng phản động của bọn “Nhân văn giai phẩm” sinh viên đang chịu  ảnh hưởng”. Đứng đầu danh sách được Khoa gột sạch là bạn Đỗ Hữu Th, kế là anh Lớp Phó phụ trách Lao động - Lê Xuân D (em đồng hao chú nhà văn Mai Ngọc Thanh), tiếp là Nguyễn T - bạn tôi - Với tội danh, làm thơ nhuốm màu “phản động do ảnh hưởng tư tưởng NVGP”. 
   Còn với tôi, lạ lắm! Mỗi lần lớp cử đến Đại hội hát “Chào mừng”; tôi hát toàn bài Cách Mạng như: Ngọn đèn đứng gác; Bài ca hy vọng, Tiếng đàn Ta lư v.v... Nhưng lần nào cũng thấy anh phó lác ghé tai cô Chủ nhiệm làm cô nghếch đôi mắt ánh thép lên nhìn tôi. Tôi nghe được nguyên vẹn câu hỏi :-“Đó là Lâm à?” Anh gật đầu, và kê miệng sát tai cô thì thầm tiếp điều gì nữa khiến đầu cô gật lia lịa...!
 Không biết họ nói gì về tôi và sẽ làm gì? Linh tính báo cho tôi rằng, đời sinh viên của tôi sẽ khó thoát khỏi vòng kìm kẹp của hai người - một với mắt thép, hai với đôi mắt lác rồi!!
 Năm thứ ba; vào một ngày đông giá lạnh; tôi ngồi bên bếp lửa nhà dân học bài. Anh Phó lác ngang qua, vào ngồi cạnh. Hình như hôm ấy, anh chủ tâm gặp để làm công tác tư tưởng cho tôi chứ không phải vô tình như anh nói. Ở thế hệ chúng tôi, việc tu dưởng để được đứng vào hàng ngũ của đảng là lý tưởng mà thanh niên nào cũng coi trọng, để khi ra trường thành cán bộ vừa hồng vừa chuyên phục vụ đất nước.
  Mấy năm học, qua nhiều thử thách; rất khó khăn, nhưng từng bước tôi nhích đến Cảm tình Đảng. Tôi chỉ dám nghĩ làm sao được công nhận Đối tượng đảng trước khi tốt nghiệp.  Nhân bữa đó, tôi thắc mắc:Anh, việc tu dưỡng của em còn thiếu sót gì mà Chi Bộ chưa chấp nhận. Qua các cuộc họp, lần nào em cũng được nhiều phiếu hơn bạn Vĩnh 10-15 phiếu, bạn ấy được, còn em thì không, vì sao?  Anh phó im lặng một lúc, dằn từng tiếng:
Cô muốn vào Đảng? Tôi có một yêu cầu; làm được cô mới nói đến chuyện vào Đảng, còn không thì đừng bao giờ nói tới. Nghe lời đe của anh tôi hẩng hụt, cảm thấy như mình đang bị đẩy lên mây. Tôi kìm nén sự khinh bỉ để bình tỉnh, nhỏ nhẹ hỏi lại anh:
-  Làm việc gì anh nói em thấy được hay không thì mới trả lời anh chứ. - tôi hỏi
- Tôi yêu cầu cô nộp quyển thơ cậu Th đã tặng. Nghĩ một tí, anh như ra lệnh
- Thực ra đây không phải là yêu cầu của cá nhân tôi mà chính là yêu cầu của Đảng. Cô nộp hay không tùy cô.
Tôi bàng hoàng về lời yêu cầu mà anh bảo là của Đảng giao cho tôi!
Thực tình, Th không tặng, chỉ đưa xem những bài thơ viết thời còn học Phổ thông và một vài bài làm ở lớp. Đọc thơ Th, thấy sự ngây thơ của tuổi học trò và cái hay cái đẹp của làng quan họ Bắc Ninh quê cậu chứ có nói xấu ai đâu mà Chi Bộ Đảng quan tâm đến vậy!.
  Anh phó lác đã đưa tôi vào thế kẹt!... Tôi ức lắm. Giả thử Th có tặng thơ cho tôi đi nữa, thì chắc chắn tôi không làm cái việc thất đức là tiếp tay anh để hại bạn mình. Ác nỗi, Th là đồng hương của anh vì theo phe địch; phê phán anh kịch liệt, nên anh quyết không tha. Nếu tôi nộp thơ của Th cho anh, tức là tôi đạp lên xác bạn mà đi lên. Không đời nào. Cha tôi từng dạy:Đừng bao giờ làm đau bạn hữu”. Thế nên, việc vào Đảng của tôi không bao giờ thành,
  Đến năm thứ tư, sinh viên về các HTX để làm đề tài báo cáo tốt nghiệp.
  - Đoàn lên Cao Bằng có cô Bí thư Chi Đoàn, vì tội chửa hoang do anh chàng người Hải phòng mặt rổ, quá mê đôi mắt ướt của cô nàng gây ra.
- Đoàn về Thanh Hóa xa xôi, gần tuyến đầu Tổ quốc, có anh Lớp Phó-người đã phê anh tội “Không xứng đáng là đảng viên, chỉ xứng đáng ở tù ..”
- Còn tôi, về Ngô Thôn Thạch Bàn, cách Hà Nội 7 cây, cách Trường  chỉ 2-3 cây thôi.
  Nghe tên HTX mình sẽ thực tập tôi không vui, trái lại rất buồn. Có bạn cho rằng anh phó lác ưu tiên để tôi không phải đi xa. Không phải như vậy đâu! Đó là cái bẫy mà anh phó lác muốn tôi sập vào. Này nhé, trước khi lên đường, cô Chủ nhiệm phổ biến nội qui xong anh còn bổ sung thêm một điều:
  - “Trong thời gian thực tập, người ở HTX này không được qua chơi ở HTX kia, ai vi phạm nội qui sẽ bị trật tốt nghiệp”.  Anh tuyên bố: Thực tập không ai được qua lại thăm nhau, nhưng anh lại bố trí tôi và bạn trai ở hai hợp tác xã chỉ cách nhau một bức tường gạch. 
Ngồi hàng ghế đầu, thấy cô Chủ nhiệm và anh cứ nhìn tôi thì thầm. Tôi đọc được trong ánh mắt của anh vẻ đắc chí khi đưa ra nội qui này. Nước mắt tôi dàn dụa, tôi khóc vì nghĩ  “suốt bốn năm mình không ngóc đầu lên được, giờ chỉ trông cậy vào những ngày thực tập cuối cùng mà cũng không thoát khỏi sự kìm hãm của anh”. Thấy tôi lau nước mắt, anh đi từ trên xuống, không phải để an ủi mà là ghép thêm tội :
- Đi thực tập mà khóc cái nỗi gì để Chủ nhiệm cho là cô chọn lựa nơi dễ để đến”.
   Với tôi qua bốn năm học, trong hoàn cảnh mà bạn thấy; làm sao tôi dám đòi hỏi gì ở đây? Anh ta ghép ti tôi rồi đổ cho cô Chủ nhiệm
   Tôi đọc được ác ý của anh. Anh thật độc địa. Chỉ còn nửa năm nữa là chia tay; vậy mà anh không tha cho tôi. Anh hiểm độc, cố tình làm cái bẫy hòng hại tôi. Anh luôn cho người theo dõi tình bạn của tôi và T, vì trong sổ anh ghi: (Lâm + T = tình bạn hơi quá mà tình yêu chưa thấy gì? cần theo dõi.) Ý anh ở đây là muốn tôi vác cái bụng bầu như bí thư chi đoàn Phạm Hoài Thu!
 Nhưng, “vỏ quýt dày đã có móng tay nhọn”. Biết ý đồ của anh, tôi quyết không sập bẫy anh giăng sẵn. Dù thương và ở gần trong tấc gang, nhưng tôi và T kiên quyết không thăm nhau. Cả hai đềchấp hành nội qui quỷ quái đó một cách nghiêm túc không thể nào nghiêm túc hơn.

  Và, khi kết thúc đợt thực tập, thầy giáo hướng dẫn làm Đề tài từng nghe anh báo cáo về tôi, đã đến tận nhà tôi ở để thẩm tra - là nhà của bà Phó Chủ Nhiệm HTX: Không ngờ thầy chỉ nghe bà ca ngợi tinh thần làm việc, dân vận của tôi và kết luận một câu khiến thầy không ngờ đến:
     Tôi quí cô ấy như một nén hương.   
  Cuối cùng, anh phó lác đành chấp nhận trước khi chia tay tôi mãi mãi bng câu nhn xét:
     “Cô Lâm tuổi đời nhỏ nhưng tuổi xã hội thì cao” ./.

                                                                             Lâm Bích Thủy 

READ MORE - MỘT THỜI ĐỂ BIẾT - Hồi ký Lâm Bích Thủy

Saturday, November 5, 2016

TÌNH ANH VÀ EM - Thơ Nguyễn Ngọc Kiên





TÌNH ANH VÀ EM
(Tặng nhà văn Lê Mai)

Tình anh như một đường tròn
Yêu em chỉ biết có còn một tâm.

Khi mãnh liệt, lúc âm thầm
Một, và chỉ có một tâm đã nhiều!

Tình em nắng sớm mưa chiều
Tâm em còn có bao nhiêu đường tròn!


                           Hà Nội, 11/2016
                         Nguyễn Ngọc Kiên


READ MORE - TÌNH ANH VÀ EM - Thơ Nguyễn Ngọc Kiên

TRONG MẮT EM MÙA THU CÓ SẴN - Thơ Châu Thạch

     
                 Nhà thơ Châu Thạch


TRONG MẮT EM MÙA THU CÓ SẴN
(Cảm tác “Tiễn Thu” thơ Trần Mai Ngân)

Trong mắt em mùa thu có sẵn
Nên đừng buồn khi tiễn thu đi
Trăng bàng bạc trong lòng màu trắng
Xanh da trời con ngươi vần thi.

Trong mắt em mùa thu có sẵn
Nên đừng buồn khi tiễn thu đi
Cả hồn em rừng thu yên lặng
Và lời em thu gió yêu vì.

Anh không có mùa thu tâm khảm
Nên nhìn em hiển hiện trời thu
Khi em bước mùa thu trải thảm
Và hồn anh xóa sạch sương mù.

Anh không có mùa thu để tiễn
Vì hồn anh mộ lá lâu rồi
Anh đã mất mùa thu vĩnh viễn
Còn một trời con mắt thu thôi ./.

                         Châu Thạch

READ MORE - TRONG MẮT EM MÙA THU CÓ SẴN - Thơ Châu Thạch

Friday, November 4, 2016

CHUYẾN ĐÒ CHIỀU - Truyện ngắn của Thủy Điền

       
                 Tác giả Thủy Điền



     CHUYẾN ĐÒ CHIỀU  
         
    Thấm thoát chỉ còn mấy ngày nữa là tôi đã ba mươi tuổi đời. Giờ là cô giáo cấp 2 của một trường tỉnh, có gia đình, hai con đứa lên năm và đứa lên ba. Mỗi ngày trước khi vào lớp dạy, tôi đưa chúng sang lớp mẫu giáo và trường cơ sở gần bên. Nhìn chúng được mẹ hay cha mỗi ngày đèo trên chiếc Hon- da đi và về, tôi vui mừng cho chúng và thương cho cuộc đời tôi ngày xưa sao mà vất cả vô vàn. Sáng nào cũng phải quá giang mấy đò hàng xóm đi bán hàng, chiều phải đợi chuyến đò cuối mới được sang sông và về đến nhà. Thế mà bây giờ còn làm được cô giáo. Và, chúng nay mai có lẻ sẽ được hơn tôi gấp bội lần.
  
     Năm 11 tuổi tôi thi đổ vào một trường công ở quận cách nhà tôi một con sông khá lớn, năm đầu học lớp sáu, cha tôi còn khỏe, khi nghe tôi được vào trường công ông vui mừng và thương tôi lắm, ngày nào ông cũng đưa và đón tôi đi học một cách đều đặn mà không hề một lời than giản và ông dự định sẽ đưa tôi suốt cuộc hành trình mãi đến khi nào tôi qua bậc trung học thì thôi. Nhưng không may, đến năm lớp bảy cha tôi ngã bệnh, cơn bệnh tai biến đã làm cho cơ thể ông bị tê liệt nhiều bộ phận nên ông không thể tiếp tục cuộc hành trình đưa đón nữa. Sau cơn ấy tưởng như sự nghiệp học tập của tôi coi như chấm hết. Mẹ tôi tuy còn khỏe, nhưng bà còn phải bận rộn nhiều việc nhà lắm hơn nữa bà không thể chèo đò hàng ngày như cha tôi được. Nằm trên giường bệnh mỗi ngày nhìn tôi đi qua, đi lại mà nước mắt ông cứ mãi lưng tròng. Tôi tuy còn nhỏ, nhưng chấp nhận số phận của mình và không thể nào làm khác hơn được. Trong hoàn cảnh ấy, tôi phải đành ở nhà và ngưng học hết một năm và có lẻ suốt cả đời nầy.
  
     Nhìn con ham học, cứ lấy những quyển vở cũ ra nhồi đi, nhồi lại đến thuộc lòng, mẹ tôi chịu không nỗi phải đành lâng la vài ba nhà hàng xóm xin cho tôi quá giang qua sông vào lúc sáng sớm và chiều phải đợi đò về. Vì đò ở quê tôi khởi hành sang sông rất trễ và mỗi ngày chỉ hai lần mà thôi. May quá, sau những lần nhờ vả họ đều ưng thuận. Thế là tôi được đi học trở lại. Những ngày tháng ấy tôi xem việc học rất quí, một phần vì ham học, một phần vì thấy hoàn cảnh đi lại rất khó khăn nên buộc tôi phải cố gắng và cố gắng hết mình. Nhưng cái gì cũng qua đi và tôi đã đậu tú tài toàn phần rồi bước vào ngưởng cửa trường Sư Phạm và trở thành Cô giáo. Mộng ước của tôi là được trở về quê nhà dạy dỗ, truyền bá kiến thức lại cho những đàn em, cháu sau nầy để chúng khỏi phải vất vả như tôi trong những ngày xa xưa ấy. Nhưng mộng ước cao vời đã tan vỡ và người ta đã phân công tôi đi tận mút phương trời.
  
    Ngày qua ngày đi dạy, có gia đình, sanh con đẻ cái, nhìn xã hội càng ngày càng phát triển, thôn quê đã có cầu qua sông, thành phố có xe Bus, tư nhân có Hon-da thậm chí những nhà giàu có họ đưa con đi học bằng xe hơi lòng tôi thấy mừng vô hạn, không như tôi ngày xưa phải vất vả vô cùng và luôn cầu mong cho những đứa trẻ nầy sớm học thành tài đồng thời là những người có ích cho xã hội mai sau.
                                                                                     Thủy Điền
                                                                                    02-11-2016

READ MORE - CHUYẾN ĐÒ CHIỀU - Truyện ngắn của Thủy Điền

CHÙM THƠ THÁNG 11 CỦA HUY UYÊN


  
            Ảnh tác giả


KÝ-ỨC MÙA ĐÔNG

Em giữ trong tay mắt lá
Để nắng hanh vàng cuối thu
Để tim ai tan vở
Rớt tình theo cơn mưa chiều .

Nỗi buồn bò dài
Ngủ mê trên từng sợi tóc
Bỏ lại bên bờ
Nhớ ai rồi đứng khóc.

Giá như em đừng đi từ đó
Tôi về đóng cửa một mình
Suốt đời hoài mắc nợ
Ngọt đắng môi hôn.

Còn lại em và đám mây trời
Xoay quanh từng cơn bảo lửa
Nước mắt hoen mi
Nặng lòng mối tình đã cũ.

Đường người lối về đầy dốc
Tiếng hát tràn quán rượu buồn
Cạn thôi chén ly-bôi ngày trước
Chia tay ngậm ngùi để tang.

Em u-hoài từng đoạn "silent night"
Bên ngoài bụi dã-quỳ vàng rực
Nữa đêm về chia hai
Dưới chân đám rêu cỏ mọc.

Tình em rồi một ngày xa khuất
Đâu đây còn vẳng tiếng gọi người
Nửa đời tình đem bỏ
Con tim ngủ chết trôi.

Hình như mùa đông đã về !!!

                     Huy Uyên
                (Đông 11-2016)


THƠ CHO NGƯỜI TRƯỚC KHI ĐẾN MĨ

Biết em ở phương nào bên đó
Để tôi hoài mãi đi tìm
Tình giờ đem chia khắp phố
Tim người giờ có rưng rưng.

Bao năm qua nỗi nhớ vô-cùng
Mắt em xưa còn hồ-điệp
Bây giờ còn có buồn không ?
Còn ửng hồng hai má ?

Thư cho em bạc lòng năm tháng
Xa cách chi riêng giữ chút tình
Quên chăng nơi người hò hẹn
Ngày hai ta chia đời bên sông.

"Em có mơ chăng một ngày về !"
Hồng xưa đã tàn phai quanh phố
Hoang liêu bóng em cùng chiều
Trên đồi vạt nắng đan từng sợi nhỏ.

Chia tay rồi có nhớ ?
Đà-Nẵng-Pennsyl một thuở tìm nhau
Gởi qua em lời ru của gió
Đưa nhau tới bến bờ sầu.

Tôi phố người lạc lỏng đêm đông
Hai hàng cây đường phủ tuyết
Giá giờ nay tôi và em
Nói chi cho nhau biết.
(Ở Mĩ và em, thôi vĩnh-biệt).

                     Huy Uyên
                    (11-2016)

READ MORE - CHÙM THƠ THÁNG 11 CỦA HUY UYÊN

NƯỚC TRÔI QUA CẦU - Truyện ngắn của Ngô Hương Thủy



                            Tác giả Ngô Hương Thủy



               NƯỚC TRÔI QUA CẦU 
                                                         Ngô Hương Thủy 

“Những lời yêu ấy nay đà quá xa… “
(Cho người tình lỡ -Nhạc Hoàng Nguyên)
 
Hai đứa ở cùng xóm, chung một ngõ, biết nhau từ thuở còn thơ. Thời Ni học lớp Một, mỗi chiều tan trường, chính Cu Tí - tên móc nôi của Hoàng - phải cầm que xua hai con ngỗng chặn đường trước vẻ mặt xanh xám của Ni.
Nhà Ni ở cuối ngõ. Căn nhà lợp ngói âm dương cổ kính với hàng chè tàu bao bọc chung quanh. Mùi hoa dạ lý thơm nức trong vườn. Ba Ni dạy trường Trung học Hàm Nghi, ngày hai buổi đi chiếc Honda Dame màu xanh qua Thành Nội. Nhà Hoàng ở đầu ngõ. Cha mất sớm, mạ tần tảo gánh bún bò nuôi ba anh em. Biết thân phận nghèo khổ của gia đình, Hoàng chăm chú học hành và nổi tiếng học giỏi toàn xóm. Cuối bậc Tiểu học, Hoàng ngồi trên chiếc xích lô của chú Tư với chồng phần thưởng Danh dự toàn trường ngập mặt trong tiếng xuýt xoa của ba Ni “Thằng này sau chắc khá!”
Ni thi vào đệ thất. Ba qua nhà xin với mạ Hoàng “cho Cu Tí qua kèm cặp em Ni”. Năm đó, Hoàng mới học đệ ngũ trường Quốc Học. Cứ ba giờ chiều, Hoàng ôm cuốn “300 bài Toán khó “của Trần Tiếu đi vào nhà dạy Ni. Mỗi lần giảng lâu mà Ni cứ giương mắt không hiểu, Hoàng lại lấy cái thước kẻ khẻ vào tay mặc kệ nước mắt Ni rươm rướm. Có lẽ nhờ sự nghiêm khắc của Hoàng, Ni thi đậu vào trường Đồng Khánh với thứ hạng khá cao. Phần thưởng ba Ni dành cho Hoàng là chiếc xe đạp Peugeot với điều kiện “ngày hai buổi chở em Ni đến trường, coi sóc nó cho Bác”. Mạ Hoàng cảm động, không nói thành lời.
Từ đó trên yên sau chiếc xe đạp của Hoàng là Ni. Ni mặc áo đầm trắng, thắt nơ đỏ xinh xắn. Hoàng bắt Ni gọi mình là “anh Hoàng”, không được nhắc tên Cu Tí trước mặt bè bạn. Ni ngoan ngoãn vâng theo. Đoạn đường từ Nguyệt Biều thẳng xuống Lê Lợi không xa lắm. Hai anh em chuyện trò ríu ran suốt cả con đường Huyền Trân Công chúa. Hai trường cách nhau một con đường nhỏ. Đồng Khánh tan trước Quốc Học 15 phút. Ni ôm cặp đợi Hoàng ở nhà mụ Cai. Đám bạn Hoàng cứ khen “Mi có một đứa em thiệt là ngoan”.
Một lần, xe bị xẹp lốp ở ngay Cầu Lòn, hai đứa phải dắt đi bộ. Có một thằng nhóc mất dạy cứ chạy theo tốc áo đầm của Ni lên. Ni xấu hổ đến phát khóc. Nạt ba lần không được, Hoàng chống xe xuống đập nhau với thằng nhóc. Hậu quả là chiếc áo trắng đã cũ của Hoàng rách một vệt dài ở nách. Hai đứa bàn nhau giấu ba mạ. Buổi trưa Ni trốn ngủ ra sau vườn may lại áo . Những mũi kim vụng dại nhăn nhúm.
Mi lớn dần lên và bắt đầu biết “dị”. Năm lên lớp đệ ngũ, Ni đã mặc áo dài và đỏ mặt xấu hổ trước sự cắp đôi của mấy đứa trong xóm. Nhất là những lời trêu chọc độc ác của Luyến, đứa con gái không đẹp lắm ở gần nhà Hoàng. Luyến học đến lớp 5 thì nghỉ ở nhà theo mẹ bán buôn. Mỗi lần thấy Hoàng chở Ni đi ngang, cái miệng của Luyến lại rống lên “Con gái chơi với con trai. Về sau cái vú bằng hai quả dừa”. Mặt Ni tía tai . Hoàng càu nhàu “Kệ nó. Đồ con gái vô duyên thúi.”
Lên đệ tứ thì Ni nhất quyết không ngồi sau yên xe Hoàng nữa. Bây giờ tụi trong lớp cũng biết Ni với Hoàng không phải là anh em. Mặc kệ lời phân trần của Ni, tụi nó trêu “Chắc hai đứa bây đã có chi với nhau”. Chiều Ni, ba mua cho con gái một chiếc mini màu trắng xinh xắn. Bây chừ thì hai chiếc xe đạp đi song song hàng ngày trên con đường Công chúa Huyền Trân.
Ni dự định chọn ban C khi lên đệ nhị cấp. Ni nói với Hoàng “Em sợ Toán lắm. Mai sau em sẽ thi vào Đại học Sư Phạm và làm cô giáo dạy Văn”. Hoàng nói “Còn anh sẽ thi vào trường Phú Thọ. Anh muốn làm kỹ sư. Mà kỹ sư thì phải giỏi Toán”.
Một bữa Hoàng rủ Ni lên chùa Thiên Mụ cầu cho anh thi đậu Tú tài I. Lo cho Hoàng, Ni đồng ý, lại còn đem theo một thẻ nhang. Hai đứa leo lên những bậc tầng cấp rồi nhìn ra dòng sông Hương lộng gió. Nước sông xanh ngắt. Hoàng đọc cho Ni nghe bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử rồi nói “Ông Hàn Mặc Tử là Thi Thánh. Ni có thấy đúng là “ dòng nước buồn thiu “ không?”.Ni ngạc nhiên dân ban B như anh Hoàng mà tâm hồn cũng lãng mạn rứa a?
Đến dưới chân tháp Phước Duyên, Hoàng thắp nhang rồi lầm thầm khấn. Ni hỏi “Anh khấn thi đỗ hạng ưu à?” Hoàng cười “Bí mật”. Hai đứa ăn bánh bèo Kim Long rồi đi về.
Một bữa Ni chạy qua nhà Hoàng nhờ bày cho cách làm một bài Essay. Muốn vô ban C Anh văn phải thiệt giỏi. Hoàng đang ngủ. Chắc đêm qua anh thức khuya quá. Ni lục bàn học của Hoàng tìm cuốn tự điển. Thấy một quyển sổ đèm đẹp, Ni cầm và lật ra xem.Trên nền giấy trắng, có hàng chục dòng chữ cả Anh lẫn Pháp: I love you , Je t’aime…Chu cha. Anh Hoàng có bồ. Ni nghe tưng tức trong bụng. Cô mô đây?. Ni lật qua trang thứ hai. Hàng trăm chữ Hoàng Ni nối tiếp nhau. Trống ngực Ni đánh thình thịch. Ni chạy về nhà, vào phòng nằm trên giường tim vẫn còn run.
Sáng hôm sau, bé Na kêu “ Chị Ni nhanh lên, anh Hoàng chờ hơn mười phút rồi”. Ni dắt xe đạp ra. Trên quảng đường dài, hai đứa không nói với nhau câu nào.
Hôm nay được nghỉ hai tiết cuối , Ni định về trước nhưng không hiểu sao lại đứng chờ Hoàng ở bức bình phong long mã trước trường Quốc Học. Sông Hương mùa này nước đục, báo động mùa lũ sắp đến. Ni nhớ ngày còn nhỏ, hai đứa đi lội nước lụt, xem người ta rớ cá thật vui. Ni lại nhớ những dòng chữ trên cuốn tập ngày qua, lòng xôn xao…Hoàng đứng sau lưng Ni từ lúc nào. Anh trao cho Ni cuốn sách bọc giấy màu xanh da trời. “Anh tặng Ni nè”. Đó là cuốn “Lá tương tư ” của nhà văn Mường Mán, cuốn truyện đang làm xôn xao nữ sinh Đồng Khánh. Trên trang cuối cùng, Hoàng đề ba chữ nhỏ xíu bằng bút chì “Anh thương Ni”.
Chuyện của hai đứa bắt đầu như rứa đó. Ba mạ không cấm, chỉ khuyên hai đứa cứ như anh em xưa nay, khi nào lớn hẵng hay. Mạ Hoàng xuýt xoa “Thằng Hoàng thiệt có phước. Được gia đình ông Giáo thương”. Bác Tám sửa xe dưới gốc đa đầu xóm kêu “Hai đứa bây như Lục Vân Tiên với Kiều Nguyệt Nga”. Rồi bác ngâm nga “ Vân Tiên ngơ mặt chẳng nhìn. Nguyệt Nga ngó thấy càng thìn nết na” .
Hoàng thi tú tài I đậu hạng Bình. Ba thưởng tờ hai trăm kêu đi ăn bù lại thời kì sôi kinh nấu sử. Hai đứa chẳng biết ăn chi ngoài bánh bột lọc học trò của mụ Đỏ bên Chi Lăng. Hoàng rủ Ni lên chùa Thiên Mụ tạ ơn. Ni hỏi có phải anh tạ ơn thi đậu? Hoàng cười “Không, hôm nớ anh cầu cho Ni thương anh”. Ni lo lắng “Người ta nói thương nhau mà lên chùa Thiên Mụ là xui lắm”.Hoàng cả quyết “Có sông Hương làm chứng cho anh”.
Hoàng lên đệ nhất, Ni đệ tam. Hai đứa quyết tâm học thật giỏi. Hoàng sẽ là kỹ sư, Ni sẽ là cô giáo. Bao nhiêu là ước mơ…
Vậy mà đùng một cái. Biến cố 75. Cái xóm nhỏ của hai đứa thay đổi như bom B52 nổ. Ba của Luyến không chết mà ông ta tập kết ra Bắc bây chừ trở về trên chiếc xe Com măng ca màu xanh bộ đội, nghe nói làm chức gì to lắm. Căn nhà ba tầng của Thiếu tá Huyền Trung đoàn 54 bị trưng thu thành Cửa hàng Thương nghiệp. Cô Luyến đứng vênh váo sau quầy trong chiếc áo mậu dịch viên, quyền hành to như giám đốc.
Bất ngờ hơn, ba Ni bị Công an khu vực đưa giấy gọi đi “cải tạo” vì có hai năm là Trung úy biệt phái. Mặc dù ba cố giải thích đây là chức vụ quân sự dự bị của ngành giáo dục, thực sự ba chưa cầm súng ngày nào. Nhưng ông Công an lạnh lùng nói “Nguyên tắc thiếu úy là đã phải đi học tập. Huống gì ông lại là Trung úy. Trung úy biệt phái có nghĩa là ông được phái qua giáo dục làm nhiêm vụ gì đó rất đặc biệt”. Mạ nước mắt lưng tròng chuẩn bị áo quần cho ba lên trại Cải tạo Bình Điền. Chị em Ni khóc rấm rứt. Xóm nhỏ ngậm ngùi thương cho ông giáo hiền lành chuyên làm việc phúc đức.
Hoàng chở Ni đi thăm ba. Con đường ngót hơn 20 cây số về phía Tây thành phố. Qua lăng Minh Mạng, qua buôn Tà Rầu lại thêm một con dốc cao vút mà người thăm nuôi phải lè lưỡi kêu “Mạ ơi!”. Lâu dần thành cái tên “Dốc Mạ ơi!”. Lên đỉnh dốc, hai đứa ngồi nghỉ ở một bụi tre.Thấy Ni buồn Hoàng nói “Bữa ni nhà có việc chi nặng cứ kêu anh”. Ba cũng dặn dò “Nhà còn có ba mẹ con. Đêm hôm có chuyện chi cứ nhờ anh Hoàng”. 

***
Đời sống ngày càng khó khăn. Đói xanh mặt. Đói vàng mắt. Khẩu phần mỗi người một tháng chỉ được mua 3kg gạo, còn toàn là bo bo, sắn lát. Ni đi mua gạo theo phân phối. Luyến cầm sổ gạo vất cái chạch, miệng mỉa mai “Hoàng thị Ni Ni. Cái tên nghe sặc mùi đế quốc”. Gạo vàng khè, ẩm mốc. Mạ phải ngồi sàng từng con mọt. Sang nhà Hoàng, mạ Hoàng khoe “Bác mua được gạo trắng tinh. Con Luyến ngó rứa mà tốt”.
Một đêm mạ buồn buồn bảo Ni “Ba đi học tập không biết khi nào về. Mạ ốm yếu không làm chi được. Thôi con nghỉ học, tìm cái ngành nghề chi giúp mạ, giúp em qua ngày”.
Ni ứa nước mắt. Thôi rồi ước mơ. Đành vậy thôi. Ni bỏ trường, bỏ lớp, xếp mấy cái áo dài trắng vào tủ đi học thêu ren ở Hợp tác xã Vĩnh Ninh. Giá một bức tranh thêu được hai đồng bạc Bắc. Hoàng an ủi “Thôi để anh học gấp đôi, bù cho Ni”.
Lần thăm nuôi thứ hai, Hoàng đưa cho Ni một gói đường cát. Ni hỏi ở đâu ra. Hoàng nói cửa hàng nhờ làm sổ sách, cô Luyến tạ ơn. Ni mừng húm. Gói đường giúp ba có thêm calory sau những buổi lao động mệt nhọc. Lần này Ni đi một mình. Mấy tháng nay Hoàng cũng phải kiếm việc làm thêm. Mạ Hoàng cũng phải giải nghệ gánh bún bò. Thời buổi không ai có tiền để ăn thứ hàng xa xỉ này. Lên con dốc “Mạ ơi!”, Ni ngồi nghỉ đúng chỗ hai đứa ngồi hôm trước. Ba gầy và xanh hơn. Ba an ủi Ni “Chắc Ba học tập cũng nhanh thôi. Ba đâu có làm gì hại dân hại nước”.
***
Bé Na kêu “Ui chị Ni, em thấy anh Hoàng chở bà Luyến”. Ni gạt phắt “Đừng nói tào lao. Công việc đó em”.Thâm tâm Ni cũng nghĩ bé Na nói bậy. Ni tự tin nhớ lời Hoàng “Con gái con lứa ăn nói cục mịch, cười ha hả. Vô duyên”.
Dạo này Ni thêu đẹp, chăm chút từng đường kim mủi chỉ cố tăng thêm thu nhập. Chị tổ trưởng khen “Bé Ni có năng khiếu”. Ni cười buồn “Gặp thời thế thế thời phải thế!”. Ni nhớ tuổi thơ năm nào vụng về may cái áo rách cho Hoàng. Mai sau mình sẽ vá áo cho anh ấy thật đẹp.
Ni lên Cửa hàng Thương nghiệp Thành phố xin duyệt cái giấy giới thiệu mua chỉ màu cho tổ hợp thêu. Lâu rồi Ni không đi đâu, chỉ biết cắm mặt vào cái khung thêu. Con đường Lê Lợi thênh thang với hàng cây long não xanh ngắt trên đầu. Ni nghe lòng chùng lại khi đi qua trường cũ. Ngay cả ngôi trường cũng đã thay tên. Ni tò mò đưa mắt nhìn vào. Môt đám học sinh vừa nam vừa nữ đang quét dọn trong sân. Ngôi trường cũng không còn độc quyền giành cho đàn bướm trắng của Huế. Ni nhớ cái phòng học tôi tối của lớp Tam C ; nhớ giờ Anh văn của thầy Hạnh; nhớ cây thước của cô giám thị Hạnh Phước; nhớ giờ ra chơi chạy xuống mua yaourt với mục đích chỉ để ngắm khuôn mặt duyên dáng của chị Minh Đức rồi bàn tán chị nào đẹp nhất trường mình. Chị Tiểu Kiều hay Mộng Vân,Tường Vy…Tất cả bây chừ như một thế giới mơ hồ xa lắc.
Chực chờ cả hai tiếng đồng hồ, bà chủ nhiệm mới duyệt cho Ni với một chữ ký loằng ngoằng không rõ nét. Ni thở phào nhẹ nhõm bước ra. Chiều đã về trên thành phố. Những đám mây trắng lang thang trên bầu trời. Ni yêu Huế, một xứ Huế cơ cực nhưng duyên dáng, những con người hiền lành với những mối tình dài lâu như ba mạ, như Ni với Hoàng. Ni tự nhắc mình nhớ nhờ Hoàng qua sửa cái công tắc điện nhà bếp tối nay.
Ni ngồi ở chỗ sửa xe của bác Tám chờ Hoàng. Mạ Hoàng nói anh đang quyết toán sổ sách cuối quý cho cửa hàng. Ni ngại khi phải chạm mặt Luyến. Bao giờ mặt cô ta cũng đăm đăm khi thấy Ni. Bác Tám hỏi thăm tình hình của ba Ni rồi thở dài.
Chờ lâu lắm rồi Hoàng cũng bước ra, sau lưng là Luyến. Luyến nhảy lên sau yên chiếc xe đạp rồi vòng tay ôm lấy lưng Hoàng. Trên giỏ xe đầy ắp thuốc lá, đường, sữa…Hoàng cong lưng nhấn cái bàn đạp. Anh ngó lơ khi nhìn thấy Ni. Nụ cười của Luyến vang vọng khanh khách. Ni cúi mặt nghe lòng chênh chao. Bác Tám lầm bầm “Đồ ngựa Thượng Tứ !”.
Ni đi thăm ba. Dĩ nhiên là không còn Hoàng. Cái giỏ xách nhẹ mà lòng Ni nặng trĩu. Đẩy chiếc xe đạp lên dốc “Mạ ơi!” tưởng không muốn nổi nhưng Ni không dừng lại nghỉ, không ngó đến nơi hai người đã từng ngồi. Câu nói hôm nào đau thắt trong ngực Ni “Có sông Hương làm chứng cho anh”.
Ba hỏi thăm tình hình mấy mạ con ở nhà và rồi “Thằng Hoàng mô? Răng con đi một mình?” Ni giả đò như không nghe ba hỏi. Ba bóp nhẹ tay Ni không nói gì. Bàn tay quen cầm phấn của ba nay đã chai sần, nổi u nổi cục.
Lượt về, đứng trên dốc nhìn xuống. Nếu không có ba mạ, bé Na, chắc Ni sẽ cho xe lao xuống và buông hai tay…
***
Ni cúi mặt trên khung thêu. Cái tin Hoàng cưới cô Luyến rồi đi học Đại Học Thương nghiệp tận ngoài Hà Nội mấy hôm nay xôn xao xóm nhỏ. Nhà Hoàng được quét vôi sạch sẽ. Ông bố Luyến còn cho người tới tô xi măng cái sân. Mạ Hoàng nói với người trong xóm “Tui tội con Ni nhưng lấy con Luyến thằng Hoàng mới có tương lai”. Chú Tám sửa xe lại nói lối “Xin đừng tham đó bỏ đăng. Chơi lê quên lựu chơi trăng quên đèn”. Mỗi lần bắt buộc phải đi ngang nhà, Ni che nón cúi mặt bước nhanh như chạy trốn.
Chị Tổ trưởng xếp lại mấy cái khăn thêu nói bâng quơ “Ở xứ ni con gái bao giờ cũng thiệt thòi vì cái tình nặng quá. Con trai rủ một cái nhẹ tênh”. Cây kim đâm vào ngón tay Ni. Một giọt máu rơi xuống bức tranh thêu. Mắt Ni long lanh. Chỉ tại chiều hôm nay trời nhiều gió…
*
Ni mở cái hộp gỗ cẩn xà cừ mạ cho hôm sinh nhật mười sáu tuổi. Mùi hương trầm thoang thoảng bay lên. Tất cả gồm ba mươi hai tờ giấy perlure màu xanh, màu hồng được buộc lại bằng một sợi ruy băng đỏ. Niềm tin của Ni đó. Tình yêu của Ni đó.
Ni châm ngọn nến trắng. Tay run run cầm những tờ thư. Này là hai câu thơ của Nguyễn Công Trứ trong bài Tương Tư: ”Trăng soi trước mặt ngờ chân bước.Gió thổi bên tai ngỡ miệng chào”. Này là thơ Xuân Diệu: “Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất. Anh trao em cùng với một phong thư ”. Này là đóa tường vi được ép khô hôm hai đứa đi vô Đại Nội. Này là cây viết Pilot màu tím có khắc hai chữ Hoàng Ni…
Một tấm ảnh rơi ra. Ảnh của Hoàng hôm thi đậu Tú tài Bán được thầy Hiệu trưởng Quốc Học Phan Khắc Tuân trao phần thưởng. Nụ cười Hoàng trong sáng rạng rỡ. Ni thẫn thờ đưa bức ảnh vào lửa. Gương mặt Hoàng méo mó, nhăn nhúm, cong queo.
Ni mở to mắt nhìn trừng trừng đống tro tàn. Đầu xóm tiếng pháo đón dâu nổ ran…

                                                                     Ngô Hương Thủy

READ MORE - NƯỚC TRÔI QUA CẦU - Truyện ngắn của Ngô Hương Thủy

NGÀY THÁNG TỰ TÌNH / thơ Trúc Thanh Tâm


Nhớ em một thời áo trắng
Đường về nón lá nghiêng che!
(Thơ Trúc Thanh Tâm)


Trúc Thanh Tâm 

 NGÀY THÁNG TỰ TÌNH
  
 1. NGÀY THÁNG CẠN
 Yêu nhau dẫu ngày tháng cạn
 Vẫn chưa hết những nồng nàn
 Vét đau thương còn sót lại
 Chôn vào đáy mộ trần gian!

2. ĐIÊN ĐIỂN VÀNG
Điên điển trổ vàng mùa nước nổi
Nhớ màu mắt cũ áo em xưa
Nhưng em chẳng thấy về quê nữa
Ta đếm đời mình hay đếm mưa!

3. TÌNH YÊU RẤT LẠ
Em có nghe dòng đời đang luân chuyển
Cho bây giờ và mãi mãi tương lai
Để em thấy tình yêu luôn rất lạ
Sương trên cành lóng lánh buổi ban mai!

4. NỖI ĐAU YÊU DẤU
Cám ơn tình yêu không tuổi
Ngại ngùng cứ gọi bằng tên
Cám ơn nỗi đau yêu dấu
Xa rồi cứ gọi bằng quên! 

5. XA RỒI ĐẤT BẮC
Em bên ta nụ hôn nào tha thiết
Mai xa rồi đất Bắc nhớ khôn nguôi
Gởi Cửu Long phù sa chia chín nhánh
Về Hồng Hà yêu dấu của ta ơi!

6. NHƯ GIÓ CHIỀU QUÊ
Giữ trong đời cái chân chất yêu thương
Như gió chiều quê ôm lời ru mát rượi
Mẹ ta đó bộn bề trăm nỗi
Áo sờn vai nuôi ta lớn nên người!

7. XAO XUYẾN ÁO BAY
Em có nghe tiếng chim đang ríu rít
Cho mùa xưa xanh ngát giấc mơ đầy
Trong đắm đuối xin thời gian chậm lại
Ngược gió chiều xao xuyến áo ai bay!

8. ĐẸP MÃI NGÀY XƯA
Thôi cứ cất tình nhau vào ánh mắt
Cho thời gian còn đậu bến mong chờ
Cho ngày đó, bây giờ và sau nữa
Em vẫn còn đẹp mãi nét ngây thơ!

9. NÉT THẬT TRÁI TIM
Bạn bè, ly rượu tứ phương
Ở quán cóc, góc vỉa hè tận hưởng
Là sự thật, là tận cùng ham muốn
Là trái tim còn nét thật con người!

10. NẮNG CUỐI NĂM
Em áo mỏng phập phồng mùa xuân lạ
Anh mở lòng cho hương ngụ trái tim
Xin cám ơn những chiêm bao chợt đến
Nắng cuối năm và gió bấc qua thềm!

11. NẮNG HOA VÀNG
Xuân đầy ắp mắt nai ngoan mơ mộng
Hẹn hò ơi, xanh mãi lá sân trường
Có con bướm bay vô vườn hút mật
Nắng hoa vàng trên lối cỏ yêu thương!

12. NẮNG TÌNH YÊU
Nắng tình yêu trôi bồng bềnh trên tóc
Hơi thở em nhè nhẹ gió thanh xuân
Ta hôn nhau cho thời gian chết đuối
Cho đất trời mầu nhiệm cũng bâng khuâng!

13. CÒN
Còn đôi tai nghe những điều phải trái
Còn con tim, khối óc nhận ra người
Còn nước mắt để một lần được khóc
Còn nhìn đời bằng đôi mắt tinh khôi.

14. NÓN LÁ
Không gian chừng như nhỏ lại
Tiếng chim hót phía vòm me
Nhớ em một thời áo trắng
Đường về nón lá nghiêng che!

15. MƯA XƯA
Mộng phù du gởi sầu viễn xứ
Mắt biếc ngày xưa mắt lệ nhòa
Mưa cũng vỡ òa mưa bong bóng
Một thời hoa mộng áo hoàng hoa!

16. ĐÁP SỐ
Mọi tính toán đều cho đáp số
Khi tình người gần lại yêu thương
Sống tự do chan hòa hạnh phúc
Trên thế gian hơn cả thiên đường!

17. NGẬM NGÙI
Phải chi hôm ấy không hò hẹn
Bây giờ đâu có chuyện nhớ nhau
Phải chi hôm ấy mưa đừng đến
Bây giờ có lẽ đã quên nhau!

18. NỢ TÌNH
Sông trôi ra biển bên bồi lở
Nên nợ tình còn mãi vấn vương
Nếu biết duyên nhau là định số
Đến kiếp nào trả hết yêu đương!

19. MAI KIA
Đời nầy ta sống là tạm trú
Em ơi, gói ghém để yêu nhau
Mai kia mốt nọ mình thường trú
Chắc gì còn dịp ở bên nhau!

 20. THẾ GIAN
Mộng mơ chi đến kiếp sau
Kiếp nầy gian dối đủ đau lắm rồi
Chữ tâm từ cuộc làm người
Thế gian còn lắm trò đời trái ngang!

TRÚC THANH TÂM

( Châu Đốc )  
READ MORE - NGÀY THÁNG TỰ TÌNH / thơ Trúc Thanh Tâm

CHỊ NGỒI GIẶT ÁO - Thơ Nguyễn Lâm Cẩn


          
                                  Nhà thơ Nguyễn Lâm Cẩn



CHỊ NGỒI GIẶT ÁO

Chị ngồi giặt áo cầu ao
Sóng dìm nghẹt thở ngôi sao trên trới
Tay quờ
Chiếc bóng
Vỡ đôi
Vớt lên
Tuột xuống
Từ hồi
Tiễn đưa

Chị ngồi giặt áo sông mơ
Trăng treo ngày ấy
Bây giờ
Vẫn đây?
Vừng trăng
Tròn
Khuyết
Hao gầy
Chỉ còn sợi tóc theo mây trắng trời!

Chị ngồi giặt cái kiếp người
Hai tay vò nốt nụ cười còn trinh
Vò chi mãi trái tim mình
Phơi khô cháy cả kiếp tình
Chị ơi!

Sông đời dòng lặng lờ trôi
Đổ bao nhiêu máu, mồ hôi... cho đầy?
Chị ngồi hong
Dưới bóng cây
Cây xanh
Tròn tán
Chim bầy
Có đôi
Áo khô như chị
Lâu rồi
Hồn không xỏ ống từ hồi người đi.

                             Hà Nội, 2008.
                          Nguyễn Lâm Cẩn

READ MORE - CHỊ NGỒI GIẶT ÁO - Thơ Nguyễn Lâm Cẩn