Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, May 16, 2016

TRĂNG MUỘN - Cảm nhận của Nguyễn Đình Nguộc về bài thơ “Hẹn cùng trăng”





                TRĂNG MUỘN
                                 Cảm nhận bài thơ “Hẹn cùng trăng”

“Hẹn cùng trăng” là một bài thơ tình viết theo thể tự do trong tập thơ “Con mắt lá” của nhà thơ Trần Thanh Xuân. Những câu thơ đầy tâm trạng đọc lên ta cảm thấy nỗi buồn man mát ở phần đầu nhưng cuối bài, cung bậc tình cảm bỗng thay đổi, niền vui đến bất ngờ. Bài thơ đa chiều, nhiều hình ảnh đẹp, có tính triết lý sâu sa, kén người đọc nên có thể một số bạn thơ cảm thấy không dễ hiểu.
Trong cuộc sống có những lúc ta cảm thấy nỗi buồn cô đơn chưa biết tỏ cùng ai, mong gặp được tri kỷ:
“Trốn nỗi buồn cô đơn/ Hẹn trăng đợi bên hồ/ Hẹn mây, hẹn gió đến làm thơ”
Rất may, những người có tâm hồn thi sĩ còn có điểm tựa là nàng thơ để trải lòng mình vơi đi nỗi buồn đơn lẻ. Trong cảnh đẹp bên hồ: liễu rủ, trăng thanh, gió mát, mây nước hữu tình tạo cảm hứng để thi nhân có những vần thơ ưng ý. Người ta thường gọi trăng là chị Hằng, là Hằng Nga... Tôi có cảm giác trăng sẽ là nhân vật chính của cuộc hẹn này vì vắng trăng sao ngắm được gió, mây? Và, phải chăng người thơ đang hẹn hò một bạn tâm tình để lòng bớt “cô đơn”? Nhưng:
“Gió, mây đúng hẹn, trăng không đến/ Chú Cuội ghen tuông /Phá rối cuộc đợi chờ!”
Như vậy, gió mây chỉ là ngoại cảnh làm nền cho cuộc hẹn hò; trăng mới là nhân vật chính! Vì vậy, khi trăng không đến người hẹn hò chẳng thể nào vui. Và bắt đầu suy diễn, trách cứ về sự “ghen tuông” của chú Cuội đã “phárối cuộc đợi chờ!”. Tác giả đưa nhân vật chú Cuội cũng có thể là chú Cuội chăn trâu trên mặt trăng như truyền thuyết dân gian... Nhưng người Việt ta thường có câu: nói dối như cuội. Kẻ ghen tuông, phá rối cuộc hẹn này tôi ngờ rằng lẽ nào lại là chú Cuội hiền lành đến nỗi: để trâu ăn lúa gọi cha ồi ồi như bài hát đồng dao... “Trăng không đến” bên hồ như đã hẹn vì một lý do nào đó cũng có nghĩa là cuộc  đợi chờ không còn ý nghĩa. Vắng trăng làm sao ngắm được mây, gió nô đùa, nhìn thấy được mặt hồ xanh muôn thuở? Những tưởng có trăng sẽ giải tỏa được nỗi buồn cô đơn. Nhưng vắng trăng sao có thể làm thơ... thi nhân thất vọng, nỗi buồn nhân đôi. Người “hẹn cùng trăng” khẳng định thủ phạm chính là chú Cuội vì ghen tuông đã “phá rối cuộc đợi chờ!” khi dùng dấu chấm than ở cuối khổ thơ. Mạch thơ lại tiếp tục:
“Thơ vắng trăng/ Thơ chỉ thơ một nửa,/ Gió lùa mây/ Tứ thơ đâu còn nữa!”
Thật vậy, trăng là hình tượng chính tạo nên cảm hứng thơ. “Vắng trăng”, chỉ còn lại nhà thơ thì sao có thơ “hẹn cùng trăng” được nữa. Bởi vậy “Thơ vắng trăng/ Thơ chỉ thơ một nửa”. Câu thơ hay, đầy triết lý làm lay động lòng người. Trong tình yêu cũng vậy... mỗi người là một nửa của nhau, là miếng ghép của tạo hóa tạo nên một chỉnh thể. Khi vắng một nửa của mình cảm thấy trống trải, hẫng hụt... “nỗi buồn cô đơn” lại nhân thêm. Đã vậy, nếu “Gió lùa mây” đi mất thì không còn gì để thành thơ nữa. Nhà thơ thất vọng vì cuộc “hẹn cùng trăng” đã không thành. Tây Hồ đêm không trăng... nỗi buồn cô đơn của người thơ càng tăng lên gấp bội tưởng như không thể chịu đựng hơn được nữa. Nỗi lòng này ai tỏ cùng ai?  “Cuộc đợi chờ” tưởng như tan biến... thì:
“Có ai ngờ rẽ liễu trăng lên/Gương trăng non vằng vặc vẻ thần tiên!”
Câu thơ như tiếng reo mừng nhưng được dấu kín trong lòng. Dẫu muộn... nhưng trăng đã đến nơi hò hẹn. Qua  nhành liễu rủ ven hồ người thơ đã thấy “gương trăng non”- gương mặt thân quen xuất hiện, niềm vui bất ngờ đến ngất ngây... ngỡ như ánh sáng của trăng rằm “vằng vặc”, đẹp như “thần tiên”. Khi đợi chờ đến mỏi mắt ngóng trông“có ai ngờ” trăng non đã xuất hiện. Cuộc đợi chờ tưởng như vô vọng đã thành hiện thực đến ngỡ ngàng... không tin ở mắt mình là thực hay là mơ nữa. Phải chăng người thơ vì“trốn nỗi buồn” mong gặp trăng để trải lòng nên đến sớm hơn thời gian hò hẹn? Bởi vậy, khi trăng đến người thơ đầy xúc động, đôi mắt hình như đã nhòe lệ:
“Ánh điện nhòe, hồ xanh run rẩy.../ Mắt đưa tình liễu mềm như muốn gẫy,/ Tóc trăng vờn.../  mơn gió ngẩn ngơ...”
Nhìn “ánh điện nhòe” đi, “hồ xanh run rẩy...” thể hiện tâm trạng xúc động dâng trào của người thơ khi gương mặt“trăng non” xuất hiện. “Hồ xanh run rẩy...” hay trái tim người thơ run rẩy? Mỗi khi diễn tả nỗi buồn, người ta thường dùng hình ảnh: liễu rủ bên hồ ngẩn ngơ. Mềm như nhành liễu... ấy vậy mà khi “mắt đưa tình liễu mềm như muốn gẫy” ta cảm thấy tình yêu nồng nàn, mãnh liệt đến dường nào? Người ta thường nói đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn... khi vui, khi buồn đôi mắt đều nói lên tất cả! Nhưng ánh “mắt đưa tình” thì chỉ có ở người đang yêu. “Như muốn gẫy” nghĩa là chưa gẫy. Mắt đưa tình đến liễu mềm cũng muốn gẫy thì thật là đa tình, đa cảm! Đọc những câu thơ trên, nhắm mắt lại tập trung suy nghĩ và liên tưởng: có ai nhìn thấy mắt của trăng đâu thì sao có thể “mắt đưa tình” được? Cả suối tóc của trăng vờn mơn man... đến gió cũng phải “ngẩn ngơ”. Tôi ngờ rằng “trăng non” phải là một cô gái đẹp, có duyên thầm... Có thế mới làm cho người thơ bồn chồn, không thể bình tĩnh được khi phải chờ đợi đến vậy. Trăng đến muộn phải chăng để thử thách tình cảm và sự kiên nhẫn của người thơ? Nếu đúng vậy thì tôi thương chú Cuội bị trách oan. Không biết rằng Cuội ghen hay ai đó ghen mà để bao trách giận của người thơ trút lên chú Cuội? Người ta nói khi yêu đến một ngưỡng nào đó thì bắt đầu ghen, chẳng biết có đúng không. Trước  vẻ đẹp như “thần tiên”của “trăng non” không ghen mới là chuyện lạ? Bài thơ tình kết có hậu. Tất cả cũng bởi vì trăng đến muộn.
Câu kết của bài thơ để chúng ta phải suy ngẫm: “Tiếng chim lạc đàn buông chấm lửng... vào thơ”. Chim lạc đàn là con chim cô đơn! Tiếng kêu gọi bầy lạc lõng giữa đêm thanh từng tiếng, từng tiếng một như dấu chấm lửng... thật não nề. Phải chăng con chim cũng muốn có bạn tình, muốn có đôi như bao con chim khác theo quy luật của tạo hóa? Và, thơ với thiên chức phản ánh tâm tư, tình cảm, khát vọng của con người... không thể thờ ơ!
Bài thơ tình với nghệ thuật ẩn dụ đầy tâm trạng và lãng mạn; những hình ảnh đẹp, lựa chọn có chủ đích; kết cấu có thắt, có mở tạo tình huống kịch tính trong thơ; tác giả lại viết vào một đêm không trăng bên Tây Hồ lộng gió tạo cho bạn thơ từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác... và hiểu rằng đó chỉ là... TRĂNG MUỘN.
                                                 
                                Hà nội, cuối thu 2015
                              Ts.Nguyễn Đình Nguộc

HẸN CÙNG TRĂNG

Trốn nỗi buồn cô đơn
Hẹn trăng đợi bên hồ
Hẹn mây, hẹn gió đến làm thơ,
Gió, mây đúng hẹn, trăng không đến
Chú Cuội ghen tuông
Phá rối cuộc đợi chờ!

Thơ vắng trăng
Thơ chỉ thơ một nửa,
Gió lùa mây
Tứ thơ đâu còn nữa!
Có ai ngờ rẽ liễu trăng lên
Gương trăng non vằng vặc vẻ thần tiên!
Ánh điện nhòe, hồ xanh run rẩy...
Mắt đưa tình liễu mềm như muốn gẫy,
Tóc trăng vờn...
                         mơn gió ngẩn ngơ...

Tiếng chim lạc đàn buông chấm lửng... vào thơ

                                    Trần Thanh Xuân
                 Tây Hồ, đêm không trăng 6/7/2013

READ MORE - TRĂNG MUỘN - Cảm nhận của Nguyễn Đình Nguộc về bài thơ “Hẹn cùng trăng”

Sunday, May 15, 2016

MƯỢN ĐÊM DÀI THAN THỞ - thơ Thủy Điền


Thủy Điền


Mượn Đêm Dài Than Thở

Trời đã chín giờ đêm
Trăng lên khỏi Mù u
Sao "Nầy" không đi ngủ ?
Ngồi tưởng tưởng, tơ tơ

Nhìn vầng trăng sáng, mờ
Tay chóng càm nghĩ ngợi
Đôi mắt cứ nhìn trời
Tay viết những vần thơ

Chín giờ đêm rồi nhỏ
"Nầy"  bút nghiêng tạm xếp
Ngày mai "Nầy" viết tiếp
Cũng chẳng muộn đâu nào

Em muốn nhìn trời cao
Em muốn nhìn trăng, sao
Đêm hôm nay đẹp quá
Trăng đêm nay tuyệt vời

Người ơi! Hỡi người ơi!
Có hiểu "Tim" con gái ?
Đang thổn thức yêu ai
Mà không nói thành lời

Mượn vần thơ nhắn gởi
Mượn ý tưởng vầng trăng
Mượn đêm dài than thở
May, ai hiểu cho chăng ?


Thủy Điền
Ngày 05, tháng 5, năm 2016
Thuy-Dien-Thivanviet.Jimdo.com


READ MORE - MƯỢN ĐÊM DÀI THAN THỞ - thơ Thủy Điền

GIÃI BÀY CÙNG ĐÀ LẠT - thơ Đoàn Vũ



Đoàn Vũ



Đoàn Vũ
GIÃI BÀY CÙNG ĐÀ LẠT

…ngày trở về
chưa viết nổi một câu thơ!
ý - tứ 
ngụ
lưng chừng
ở vòng Eo Gió…(+)
cái vòng eo mới vừa chạm ngõ
dã quỳ ơi!
sao cứ trì níu lạ kỳ?

dã quỳ vàng
rón rén bước tôi đi
ngại chạm nhầm giấc mơ ai
trầm tích…
chuyện xưa
xa
tôi cùng em tinh nghịch
cháy bỏng nụ hôn đầu trên đỉnh LangBian.

ngày trở về
dằn vặt mấy mùa trăng
dã quỳ ơi!
vàng mỗi chiều thương
nhớ
có - không?
giữa
đất - trời
ta
và
em
còn nợ…
nên chăng
Eo Gió phải lòng vòng?…




(+): đèo Sông Pha Đà Lạt.


Email của tác giả: 
 vudoan0102@gmail.com



READ MORE - GIÃI BÀY CÙNG ĐÀ LẠT - thơ Đoàn Vũ

LỜI RU CHO MỘT CUỘC TÌNH - Thơ Vũ Trầm Tư




Lời Ru Cho Một Cuộc Tình

Anh ru em với lời ru của sóng
Biển hiền hòa và sóng vỗ lao xao
Như hơi thở vọng về miền cổ tích
Chăn gối mềm em thả mộng chiêm bao

Anh ru em lời thì thầm của gió
Tóc thơ bay giấu kín nét hồn nhiên
Vầng trăng khuyết nằm nghiêng như chiếc lá
Em vô tình để gió cợt môi duyên

Anh ru em nửa vòng tay e ngại
Cơn gió lùa ray rức mảnh áo xiêm
Trưa nắng hạ giấc mê vừa chợt tỉnh
Bến bờ yêu trăn trở mãi chưa quên

Anh ru em nụ hôn còn vụng dại
Ánh trăng non lấp ló dưới tàng cau
Một chút bâng khuâng trên bờ mi khép
Môi không son, má hiện nét xuân đào

Anh ru em sóng biển tràn nghiêng ngả
Gió giao mùa đánh thức đá trăm năm
Ngày tháng lạ niềm riêng còn xao động
Trăng vẫn treo đêm rớt giọt hương thầm


Vũ Trầm Tư
READ MORE - LỜI RU CHO MỘT CUỘC TÌNH - Thơ Vũ Trầm Tư

TÂM TÌNH XỨ HUẾ thơ Trương Thị Thanh Tâm



TÂM TÌNH XỨ HUẾ 
                
Anh giờ còn nhớ Huế không?
Nhớ trăng thành nội, nhớ dòng Hương Giang 
Sông dài đợi chuyến đò ngang 
Bên kia núi Ngự nắng vàng lao  xao 
*
Anh về mưa Huế rơi mau 
Để thương nhớ, để nỗi sầu vu vơ 
Anh còn nhớ nón bài thơ 
Tóc thề nét Huế,  ngẩn ngơ bóng chiều 
*
Anh về bến vắng đìu hiu 
Gío sông lành lạnh, phi lau trắng bờ 
Dịu dàng áo tím ngây thơ 
Sao ai để Huế đợi chờ vấn vương 
*
Trường Tiền gió sớm mù sương 
Nữ sinh Đồng Khánh trắng đường Huế ơi 
Tóc bay rộn rã  tiếng cười 
Nghe câu hò Huế, nhớ đôi má hồng 
*
Anh xa rồi biết bao sông 
Cách chia mấy núi, Kim Long bến chờ 
Có còn nhớ Huế và thơ 
Thần kinh chốn cũ, bao giờ anh qua?

          
Trương Thị Thanh Tâm
Mỹ Tho



READ MORE - TÂM TÌNH XỨ HUẾ thơ Trương Thị Thanh Tâm

GIỌT NƯỚC MẮT... - Thơ Hiệp Kim Áo Tím






GIỌT NƯỚC MẮT...

Ba mươi năm lẻ làm thầy
Đem bao con chữ cho bầy trẻ thơ
Vui nhìn lũ trẻ lơ ngơ
Thầy mong chúng nó từng giờ lớn khôn

Cuộc đời sóng gió vui buồn
Đói no thầy cũng luôn luôn giữ mình
Tận tình răn dạy học sinh
Kính cha , quý mẹ ,thâm tình khắc ghi

Thời gian thấm thoắt trôi đi
Bôn ba khắp chốn chỉ vì nuôi thân
Thương cho kiếp sống thanh bần
Gia tài lưu giữ chỉ ngần ấy THƠ

Tâm tình gửi chút mộng mơ
Bạn bè trao tặng mong chờ tri âm
Một thân đơn lẽ âm thầm
Ốm đau bệnh tật người thân không còn

Nào ngờ còn có chúng con
Học trò năm cũ giờ khôn lớn rồi
Chân tình xúc động bồi hồi
Thương trò tình nặng thầy rơi lệ này

Gieo nhân gặp quả hôm nay
Công thầy trồng cả rừng cây ngọt lành
Công cha, nghĩa mẹ, sinh thành
Ơn thầy con trẻ sao đành lòng quên...

                       Hiệp Kim Áo Tím
                       Đà Lạt 15/ 5/2016

READ MORE - GIỌT NƯỚC MẮT... - Thơ Hiệp Kim Áo Tím

Saturday, May 14, 2016

ĐÔI MẮT VẦNG TRĂNG KHUYẾT - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân


Tác giả Lê Hứa HuyềnTrân


 ĐÔI MẮT VẦNG TRĂNG KHUYẾT

Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân


Dì tôi không có chồng. Là không có chứ không phải không lấy. Cũng bởi dì quá bận rộn với cuộc sống mà để thời thanh xuân trôi qua quá nhanh để rồi khi chợt nhận ra thì tóc dì đã điểm bạc, cái tuổi băm đã tới, đôi lúc ngồi tiêc nuối đưa tay với lấy thời gian nhưng thời gian cũng trôi qua kẻ tay mà bay đi mất. Dì cũng đẹp nhất nhì làng, cũng nhiều anh ngấp nghé nhưng cả chính dì cũng không hiểu tại sao dì không tìm được chàng nào dì ưng để mảnh tình vắt vai, cũng giống như thả một hạt cát ngoài đại dương rồi bắt người ta đi tìm lại. Dì yêu thương khó là vậy.
Nhà ngoại chỉ có dì và mẹ nên dì thương mẹ lắm, tôi lại là đứa cháu duy nhất nên dì càng yêu thương cưng chiều tôi gập bội, cái gì dì cũng dành phần cho tôi. Dì xem tôi như con vậy nên nhiều lúc tôi cũng gọi dì là mẹ chứ không còn gọi là dì như tôi vẫn hay gọi, những lúc ấy dì lại hấp háy cười, đôi mắt long lanh như những giọt sương. Dì tôi có đôi mắt khiến tôi không bao giờ quên. Có thể đó không phải là đôi mắt đẹp, cũng có thể đó không phải là đôi mắt buồn như lắm nàng thơ của các bậc thi nhân nhưng đó là đôi mắt tôi ấn tượng nhất. Đôi mắt nhỏ nhỏ luôn nheo nheo như đang cố gắng nhìn một cái gì đó thật chăm chú, và khi phát hiện thứ gì mà mình luôn yêu thương, trân trọng thì đôi mắt ấy sẽ có hình của vầng trăng khuyết. Cái vầng trăng ấy là gương mặt cười, nó chỉ xuất hiện khi dì muốn cổ vũ ai dó hay muốn nói với ai đó rằng dì đang ổn hoặc cố gắng lên, nói chung đó là đôi mắt của sự động viên, và cũng dường như đó là thứ duy nhất trên gương mặt của dì làm tôi nhói lòng mỗi khi nhìn thấy, bởi vì nó quá mạnh mẽ, hay nó chỉ đang tỏ ra là mình mạnh mẽ còn tất cả những thứ còn lại đều phảng phất tơ buồn.
Tôi thương dì lắm, thương bằng tình thương của một người con đối với một người mẹ, vì mẹ tôi cứ đi làm xa mãi, chỉ có mỗi dì luôn bên cạnh, thậm chí cả một thời gian rất dài chúng bạn ngây ngô cứ bảo dì là mẹ của tôi, và tôi cũng không chối bởi trong thâm tâm tôi, dì cũng như là người mẹ thứ hai của tôi vậy.
Dì có phận buồn, dường như từ bé dì đã quá quen với việc cầu toàn trong mọi thứ, ông bà ngoại khó nên gửi dì qua cho mấy chú bác trong họ nuôi. Từ bé dì đã phải luôn quá quen với công việc chịu đựng mọi thứ một mình bởi lẽ tính dì hay ngại, không thích nhờ vả, phần vì phận ở nhờ nên không dám đòi hỏi thiệt hơn trong bất kì điều gì, đôi lúc tôi nghe kể về dì trông dì giống một người ở hơn là một người thân, mà có lẽ bởi dì cứ nhận tất cả về phần mình nên dường như mọi thứ vất vả đều đổ lên vai dì. Có lẽ bởi dì sợ dì sẽ bị chối bỏ, sẽ bị bỏ rơi, nên dì dần dần trở thành hoàn hảo trong mọi thứ, tôi đã lớn lên trong sự chăm sóc của bàn tay hoàn hảo đó. Gọi dì là mẹ nhưng dì cũng chẳng hơn tôi bao nhiêu, đôi lúc dì trẻ con lắm, thế nhưng có lẽ quá vất vả mà dì luống hơn tôi rất nhiều, và có lẽ bởi thế dì làm tròn cả phận của một người chị trong tôi. Đến bây giờ mỗi khi nhớ lại, tôi vẫn hay nhớ tới bát bánh đa dì bán đầu làng, lúc nào tôi đi học về cũng ngang qua ghé húp xì xụp, dì lúc nào cũng bỏ phần tôi thật nhiều riêu để rồi mấy đứa bạn ganh thì tôi lại tự hào nói “mẹ hai của tao đấy”, những lúc ấy dì cười thật tươi vuốt vuốt mái tóc tôi, còn tôi thì mãi nhặt những hạt lạc còn sót lại trên cái mâm dì cắt bánh. Tôi không thể quên những lúc dì đang gặt lúc dưới cánh đồng, tấm mạng che gần hết mặt, chỉ chừa có đôi mắt xanh trong biêng biếc, đôi mắt ấy có hình vầng trăng khuyết mỗi khi tôi tung tăng chân sáo đi ngang qua gọi to “dì ơi” và dì ngẩng lên cười khiến cái mạng phập phồng. Tôi ít khi thấy dì khóc. Chỉ có một lần ông mất dì đã nấc không nên lời, rồi uât nghẹn khóc trên vai mẹ, dì nấc rồi đôi mắt rướm lệ đỏ hoe, nhưng khi thấy tôi dì lại cười ngay để giọt nước mắt bị đôi mắt vầng trăng ép lại rơi xuống dưới môi rồi dì nuốt lấy. Kể từ đấy tôi mới biết dì cũng yếu đuối. Dần lớn lên, tôi học trường làng, cách xa nhà hàng cây số, dì lại lặn lội chở tôi đi học mỗi ngày, cái ngày bỡ ngỡ bước vào cổng trường, còn sợ, tôi quay lại thấy dì vẫn đứng đó nơi công trường, cái quai nón che mất làm tôi không biết dì có cười không, chỉ thấy đôi mắt sáng trong đang ngả hình trăng, đôi mắt ấy làm tôi biết dù tôi có đi đến phương trời nào cũng có dì bên cạnh. Rồi khi dì quay đi, tôi chạy vội theo, dáng di lầm lũi làm tôi thấy thương vô cùng. Những buôi tối về lúc nào tôi cũng thấy bát chè sen dì phần cho tôi, đêm khuya khi tôi ngồi học dì lại chong đèn trứng ở sát bên mà vá áo. Tôi cứ hay trách dì bật điện lên cho sáng sủa chứ mắt mũi kèm nhèm rồi thì dì chỉ cười “để cho mày có cái tiền mà học, dì mày chẳng chóng thì chầy cũng xong cái áo”, tôi lại rưng rưng quay vội đi chẳng nói. Tôi lên phổ thông thì mẹ theo ba đi xuất khẩu lao động, nhà chỉ còn 2 dì cháu, dì ăn ít hơn nữa, hay bệnh hay ho, nhưng mỗi lần tôi hỏi thăm thì dì lại cứ gạt đi rồi mang đôi mắt vầng trăng ấy quắc lên trông rất dữ. Nhiều đêm tôi chong đèn ngồi học trong màn thấy dì ho rất dội nhưng chỉ cần tôi nhìn thì luôn thấy đôi mắt ấy nhìn tôi quá đỗi dìu dàng. Cứ mỗi lần nhìn sang cho tới khi tôi tắt đèn tôi đều biết có người dõi theo xem tôi đã ngủ chưa, tự nhiên tôi bớt cô đơn hẳn.
Rồi tôi lên phố, đại học đưa tôi đến những nơi xa, ngày đưa tôi ra bến trông dì như thêm tuổi, tôi biết dì buồn, kéo theo những tràng ho là lời dặn dò đù thứ cứ như tôi còn bé lắm, lên xe rồi tay dì còn vẫy, tôi nhìn đôi mắt của dì, ánh mắt cười nào biết đâu lần cuối tôi được thấy, tôi ra đi với những lời hứa hẹn sẽ quay về… Rồi cuộc sống hào nhoáng nơi phố thị cuốn lấy tôi, chưa cái tết nào trong suốt 2 năm đầu đại học tôi về thăm, dẫu dì không ngớt gửi thư thương nhớ.. Những lần đầu tôi cũng viết lại, năng lắm, rồi việc học, và cuộc sống bận rộn vây quanh tôi nên dần thư cũng thưa đi, tôi lại học xa, biếng về,
Và, dì mất đột ngột ở tuổi 50, vì bệnh phổi, hậu quả của dầm nước làm việc đêm ngày. Khi nhận được thư mẹ, tôi bàng hoàng, không tin, vội bắt xe về ngay bỏ cả tiết học. Dì nằm đó, lặng yên không nói… Những lúc ăn cơm, những lúc dì cháu chạy trên cánh đồng thả diều, những lúc dì bấm chân vào bùn lội qua những nơi nước sâu chở tôi di học, những lúc dì vá áo bên bàn học và cả lúc dì vẫy tay tiễn tôi đi… Tôi lại nhìn gương mặt dì lần cuối, gọi “mẹ ơi” nhưng dì không dậy nữa. Đôi mắt kia đã khép lại rồi. Đôi mắt ấy không còn nhìn tôi cười như muốn nói “mạnh mẽ lên con” nữa….




Tác giả : Lê Hứa Huyền Trân.
Hội viên Hội VHNT Tỉnh Bình Định.
Mọi thư từ phúc đáp xin chuyển về địa chỉ : Lê Hứa Huyền Trân, Hội VHNT Tỉnh Bình Định, 103 Phan Bội Châu, thành phố Quy Nhơn, Tỉnh Bình Định.
Email cá nhân : phongtruongtu201@gmail.com



READ MORE - ĐÔI MẮT VẦNG TRĂNG KHUYẾT - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân

TA NGƯỜI - thơ Chu Vương Miện



Tác giả Chu Vương Miện


TA NGƯỜI
Chu Vương Miện

ở hai đầu trái đất
người ở xứ Nam Á Indochina
ta ở xứ Hoa Kỳ bắc Châu Mỹ La Tinh
dù cách ngăn bởi một Thái Bình Dương
nhưng người với ta vấn chung một khối tình
không phải là tình nam nữ lăng nhăng
mà là tình quê hương dân tộc
ngươi say mê trọn đời cái nghề ca xướng hát
còn ta lụy vào cái nghiệp mần thơ
chả kể lôi thôi chi cho mất thì giờ
tình chỉ vậy cứ coi là vậy vậy
tình đồng khói đồng hương chỉ như thế đấy
tình đồng môn đồng khoai như thế này đây
ôi sòng đời toàn là mùa thu lá bay
của nữ sĩ Quỳnh Diều bên Đài Bắc
hoặc gửi gió cho mây ngàn bay
có lắm lúc nghĩ rằng nghe người hát
mà tưởng như chiêu một điếu thuốc lào say
hờn lâng lâng như đi trên con tàu suốt
mấy mươi năm cũng tàn canh chiến cuộc
đất lênh đênh mà người cũng phất phơ
quê hương nghèo thêm từ đó tới giờ
dân tứ tán mỗi người mỗi nẻo
mới hay tin người sống bằng nghề hát dạo
nay phòng trà mơi tụ điểm cầm hơi
kim kiếm điêu linh hoa lá tơi bời
tài cũng khổ và không tài cũng khổ
chuyện chúng mình khởi thủy là lở dở
toàn đầu voi đuôi chuột chả ra chi 
nhắc lại ngày xưa cũng chả ích gì 
ở cũng vậy mà đi cũng vậy 
lũ chúng ta sinh ra cột vào đời bị gậy
giai đoạn nào cũng chỉ thế mà thôi 
phía trước phía sau kẻ khóc người cười
thôi thì đủ thứ hầm bà làng xắn cấu
người thoát khỏi lưới ung thư
(đúng là có tiền có hậu)
ta chả còn gì ngoài thân xác tầm phơ
chuyện trăm năm ôi cái chuyện câu giờ
nghe lẩm cẩm bá xàm bá láp
chuyện loanh quanh vốn là sòng bạc
một con đường đi duy nhất chả có quay về
toàn chuyện ruồi cơm chợ nhà thuê
toàn quán thu phong toàn sầu cổ độ
ôi đổ thừa cho trời đổ thừa tại số
đức Phật đã dậy rằng “sinh lão bệnh tử"
chuyện gặp nhau đã quá xế mất rồi 
chuyện bây giờ sao lại giống củ khoai
củ mang luộc củ thì mang nướng
kiếp này dây đời chia ra nhiều chặng
người một phương ta trụ một phương
bây giờ đây dở đóm dở đèn
thì mong kiếp sau châu về Hợp Phố

CVM

READ MORE - TA NGƯỜI - thơ Chu Vương Miện

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA PHẬT TỔ ! - Thơ Trương Đình Đăng



       Tác giả Trương Đình Đăng



NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA PHẬT TỔ !

Con đã nghe các TÌ KHEO lên tiếng nguyện cầu
Thay muôn tiếng ĐỜI mong cứu khổ
Bởi trần gian đang quằn quại thương đau
Ngày ĐẢN SINH con dâng hương đảnh lễ
Trước đài sen Người hiển hiện từ tâm
Và quanh con muôn hồn trào huyết lệ
Thảm hoạ do lòng tham lạm hiểm thâm.
Con như thấy một lần trong quá khứ
Có trái tim vì Phật sự - lửa bừng
Hoá triều dâng nhấn chìm loài quỷ sứ
Thành QUẢNG ĐỨC danh BỒ TÁT vinh xưng.


NAM MÔ BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM
Ngàn tay ngàn mắt- xin Người cứu độ
Vũng Áng chúng gieo mầm nguy độc tố
Biển chết tràn lan, người chết âm thầm !

Kính dâng Từ Phụ lòng mình
Đường qua bĩ ngạn đăng trình từ đây
Khói trầm nghi ngút hương bay
Nguyện lòng cất bước hướng tay chỉ đường !

                    Trương Đình Đăng
                Mùa Đản Sinh PL 2560

READ MORE - NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA PHẬT TỔ ! - Thơ Trương Đình Đăng