Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, December 27, 2015

MỘT THOÁNG TUỔI THƠ - Thơ Đoàn Thuận


          Tranh của Johann Baptist Hofner

MỘT THOÁNG TUỔI THƠ

Ta giấu điều nhớ quên vào góc khuất muộn phiền
lần bước đi tìm lời ru nôi thần tiên
ai huyễn hoặc người đời như nhân vật cổ tích
hát dạo bên sông, ngồi câu bóng mây bồng bềnh.

Ta vắt kiệt tuổi thơ khờ khạo kiếm sống
đánh đổi từng giọt mồ hôi nuôi nấng ước mơ
cạn khô nước mắt bao đêm thầm nhớ Mẹ
quay quắt qua ngày lủi thủi trên dặm đường xa.

Đôi khi co ro sân ga đêm, thẫn thờ bến đò muộn
dù chẳng có ai để chia tay, để mong chờ
đường ray sắt vào âm u, còi tàu nghe xa hút
tiếng gọi đò, từ muôn xưa, vang vọng mơ hồ.

Hơn một lần, ta đứng trước loài hoa trắng
đâu dám mơ hoa nở vì ta, ngày xuận thì
nhưng hồn nhiên hương lắng hồn thơ dại
trong nỗi hoài mong yêu thương, không hạn kỳ.

                                           ĐOÀN THUẬN


READ MORE - MỘT THOÁNG TUỔI THƠ - Thơ Đoàn Thuận

Saturday, December 26, 2015

Thơ Chu Vương Miện - DƯỚI CẦU NƯỚC CHẨY, NẠ DÒNG



Chu Vương Miện

DƯỚI CẦU NƯỚC CHẨY 

tôi sống chốn này không ai biết
tôi bệnh nhiều năm không ai hay
thở dài nghĩ ngợi về nỗi chết
một ngày nào đó xuôi hai tay
thôi thì đồng hương qua đồng khói
thôi thì đồng môn ái hữu miềng
bản tin email toàn quyên góp
1000 năm toàn mùa thu lá bay
giọt máu đào hơn ao nước lã
ao nước lã đậm hơn nước dưới cầu
đứng ngó bên này qua bên nớ
vô tình giòng nước chẩy hơi mau
đọc qua loa nhân tình thế thái
đọc ngược lại thế thái nhân tình
lời nói luôn luôn là bạc vụn
vàng ròng có lẽ miệng làm thinh
tình đời vôi thường là mầu trắng
tinh ròng là ngân nhủ trắng hơn
sách cụ Khổng Khâu toàn nhân nghĩa
mà sao nhân thế lại to mồm?
ba phía toàn là im tiếng gió
một phía chắc là gió nồm nam


NẠ DÒNG

bà già đi chợ cầu bông
vô duyên con ghế nạ dòng đứng chơi
chời ơi chời hỡi là chời
con trai đi lính chết toi dần dà
bọt trong bể khổ tháng ba
hè khô sắp tới toàn hoa móng rồng
bà già đi chợ vừa xong
quay về ruộng đã đòng đòng vươn cao
gió thu vừa thổi cái ào

                             CVM
READ MORE - Thơ Chu Vương Miện - DƯỚI CẦU NƯỚC CHẨY, NẠ DÒNG

Friday, December 25, 2015

TIẾNG CHUÔNG GIAO THỪA - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân

Lần đầu gởi cho VNQT:


Tác giả Lê Hứa Huyền Trân
Hội viên Hội VHNT tỉnh Bình Định


Lê Hứa Huyền Trân

TIẾNG CHUÔNG GIAO THỪA

(Tặng Cao Thúy Liễu)


           
Lần nào cũng thế, trên con phố Sài thành chẳng bao giờ thôi tấp nập người tôi chọn cho mình một góc cầu. Cái thuở mới đặt chân vào phố thị, khi tôi hãy còn lạc lõng, bơ vơ, tôi đã lần tìm được một cây cầu và ngồi bệt xuống đó mà thở dốc. Cứ như trong chốn chật hẹp, khi người và người chỉ cần cựa qua là chạm phải nhau và buông lời xin lỗi ấy chỉ có những cây cầu mới thật sự là nơi thoải mái. Tôi thích sự lạnh lẽo của Sài Gòn, lạnh lẽo từ lòng người cho đến đất trời, cỏ cây, lạnh lẽo từ những con sông hẹp cho đến những tiếng còi bóp inh ỏi và những con đường khi rộng thì rất rộng nhưng đã hẹp thì chỉ có thể lách người mới qua nổi. Sự hào nhoáng không cho phép nó có điều gì đó thật bình thường. Tôi thích đứng trên cây cầu vượt, chắn ngang đường phố, nhìn không gian choáng ngợp và những chiếc xe, chúng hãy từ phía xa đang chạy qua dưới chân tôi, cái cảm giác như đứng trên cả thế giới khiến tôi rùng mình khoan khoái.
           
Trên cây cầu đêm ấy tôi đã gặp Liễu. Em thả bước một cách bâng quơ, đứng cách tôi không xa. Thoạt tiên, tôi giật mình, và chỉ có tôi chú ý đến em trong ngày mưa phùn hôm ấy. Khi những con người đang nháo nhào tìm một điểm trốn chạy, những chiếc áo mưa đủ màu tung xòe chen lấn cùng với những dáng người lố nhố đứng đầy dưới mái hiên, thì chỉ có tôi và em, vẫn đứng bình chân như vại tại cây cầu, rồi em cười khanh khách. Nhưng không hiểu sao, cái dư vị đậm chút hơi điên của Liễu lại khiến tôi bật cười theo như ngộ ra điều gì đó. Em nhìn tôi:

- Ngày mai, tại cây cầu dài hơn nhé!

Rồi em đi. Đó có thể là một lời hẹn, đó có thể chỉ là một lời nói bâng quơ. Nhưng ngày hôm sau có một chàng trai gần như đã lục tung cả đất trời để tìm cô bé nói ra câu nói ấy. Đến cầu Sài Gòn, tôi thấy Liễu đang ngồi, mái tóc em ướt sũng, có lẽ bởi cơn mưa vừa thoáng qua. Em ngồi bệt trên bục cầu, như bao người khác đang ngồi, đưa tay vẫy tôi, nụ cười tươi của em dường như đã che hết những vi tinh tú. Họa chăng, chúng đang ẩn hiện trong đôi mắt xa tít mù kia.

- Anh tìm được em rồi đấy, may thật!

- Sao lại may?

- Có ai đi tìm một người chỉ vì một lời nói bâng quơ thế chưa?

- Thế còn em? Có ai đợi một người vì một câu nói bâng quơ của mình chưa?

Liễu bật cười thật to. Tiếng cười của em trong veo xóa tan màn đêm yên tĩnh, làm những cặp tình nhân khác bất giác quay nhìn lại. Nó như xé toạc nhiều thứ, xé toạc cả trái tim bấy lâu được giấu trong hòm chìa khóa của tôi. Tất cả chỉ mới là một sự bắt đầu, sự bắt đầu thật nhẹ nhàng. Chưa bao giờ tôi nghĩ một mối quan hệ, dẫu chỉ là tình bạn thôi sẽ được bắt đầu bằng một lời nói và những hành động của những kẻ nông nổi và hơi điên. Nhưng định mệnh vốn là những điều khó nghĩ, giữa thế giới hàng tỉ người kia, những định mệnh riêng đã tìm thấy nhau, họ cho nhau nhiều thứ, có thể là tình yêu, là hạnh phúc, cũng có thể là sự mất mát và nỗi đau. Tôi mời em một cốc café bụi do một cô đi xe bán dạo chở ngang qua, trên đó bán đủ thứ dành cho những người tình tự có thể nhâm nhi trên cầu:

- Sao hôm đó em lại cười lên như thế?- Tôi hỏi.

Và dường như biết có ngày tôi sẽ hỏi ra câu đó, em chỉ cười:

- Những con người, họ trốn chạy những cơn mưa, thì ra người giống người, suốt cuộc đời này họ chỉ biết trốn chạy nhiều thứ.

Tôi cốc đầu Liễu:

-  Hơ, em ngốc à? Em đứng đó thế là dở hơi đấy!

-  Thế còn anh?

Tôi lúc lắc đầu:

-  Có lẽ bởi anh cũng dở hơi chăng?

Liễu lại bật cười sảng khoái. Tôi thấy em đưa tay lên không trung, gió làm tay em nghiêng nghiêng hay bởi em quá mỏng manh, màn đêm dần nuốt lấy em tôi lúc đó.
       
Kể từ ngày ấy tôi thành bạn tri âm của em, khi có chuyện gì em cũng kéo tôi đi cho bằng được. Tôi ít nói lại khô cứng, Liễu lại hay cười và rất hòa đồng,em dẫn tôi đi gặp những người bạn thân của em, kéo tôi vào những cuộc chơi, em dạy tôi kéo violon dù những ngón tay to xù của tôi chỉ chực làm dây đàn bật ra khỏi khung chứa. Nhưng như cái cách em nói : “Em yêu những chàng trai kéo violon”, và như cái cách tôi hiểu : “Em yêu tôi và muốn tôi tập violon”. Thực ra, trong một nơi chốn nào đó ở trong tim, tôi tự cho mình cái quyền nghĩ rằng em thuộc về tôi. Những giọt nước mắt ngả nghiêng, những lần cùng nhau dạo phố, những hôm nước mắt em rơi vì những điều gì đó mà tôi chưa rõ, tôi nghĩ rằng tất cả đã thuộc về tôi. Có đôi lần, đi dạo cùng tôi, em lại giơ bàn tay của mình ra, chộp lấy khoảng không trước mắt rồi bỗng ôm chầm lấy tôi, em như thở ra khói vì không khí lạnh trở nên cô đặc.

- Sài Gòn lạnh quá phải không em?

- Lạnh, như lòng người vậy!

Tôi bật cười, Liễu đã nghĩ giống hệt tôi. Tôi ngày ấy cứ như một chàng lãng tử điên cuồng phiêu du trong tình yêu, cứ ngoan cố cầm đàn hát khúc tịch tang mà chẳng để ý quá điên, quá ngông khiến dây đàn đứt rồi vẫn chẳng đoái hoài mảy may chú ý. Đôi lúc em cho tôi cảm giác ngồi cạnh tôi nhưng em nghĩ về đâu xa lắm. Cho đến một ngày tôi gặp Di. Khung cảnh ấy không lấy gì là đẹp, nhưng nó cũng giống lần đầu tôi gặp Liễu, cứ như tiếng sét bên tai và đổi thay vận mệnh một con người.

- Là em đấy ư? – chàng trai lạ mặt tiến lại gần chúng tôi – Em còn ở đây ư?

- “Còn ở đây?”, thế nào là “ còn ở đây?”. Liễu nhào tới ôm lấy chàng trai ấy….

        Hôm sau, tôi gặp Liễu tại quán café xa lạ, tôi chưa bao giờ thích những quán café, nó làm tôi thấy lạnh. Cứ như sắp có gì đó thật trọng đại sẽ xảy ra, tôi chỉ thích những cốc café nóng ở chân cầu, khi chiếc xe đạp nặng trĩu bước qua, và tôi – em ngồi đếm những vòng quay kia cho đến khi xa tít tắp mới thổi phù phù cốc cho bớt nóng rồi nhấm nháp. Lúc đó những vì sao sẽ nhường đêm cho chúng tôi và câu chuyện bắt đầu…

- Di là bạn trai em...

Câu chuyện đã bắt đầu như thế đấy. Một chàng sinh viên nhạc viện và một cô nàng đầy những trĩu nặng của tâm tư. Chàng đi du học, còn nàng không thể cản ngăn, thế là ngày mưa trên chiếc cầu ấy nàng đã khóc. Cái gọi là trốn chạy mà em nói và cái nụ cười nông nổi của em chẳng phải là những con người dưới kia, hay có họa chăng em cười bởi em thấy mình trong đó, em trốn chạy. Còn góc cầu ngày hôm ấy em đã đợi tôi, cũng chẳng phải là đợi tôi, chỉ là đợi Di nhưng Di đã không tới, và một người đã tới làm người thay thế suốt 4 năm qua. Em tìm thấy hình bóng Di trong tôi, tìm thấy nụ cười, vòng tay ấm và cả sự chở che cho 4 năm em thiếu đi thân thương của đời mình. Ừ nhỉ, đã bao giờ em nói yêu tôi chưa? Đã bao giờ em nói thương tôi chưa? Café trong ly chợt trở nên rất đắng, đắng hơn cốc café mỗi đêm mà tôi và Liễu cùng uống…Em xin lỗi tôi, còn tôi đứng dậy. Bước đi.
       
Cũng vài năm trôi qua, trên đất Pháp, ừ, tôi đã đi du học, tôi cũng đứng một mình trên một chiếc cầu. Tuyết đang rơi, thay vì những cơn mưa thì tuyết đã rơi. Thi thoảng tôi vẫn nhận những bức thư em gửi cho tôi trách tôi đi mà không nói với em một tiếng nào, và lâu dần những bức thư đẫm lệ đã nhường chỗ cho một tình bạn thân, và tôi, nghe em kể về tình yêu của em như đọc một quyển kinh thánh đầy sự cao thượng. Họ yêu nhau, họ chia tay, họ giận dỗi và rồi tôi bặt tin em, dẫu tôi có viết bao nhiêu lá thư cũng không thấy trả lời.  Tôi khẽ ho vài tiếng, kéo chiếc áo bông to sụ chặt lại, tôi bó mình trong nó như che giấu cả sự cô đơn. Tuyết rơi dày thêm, người ta chạy đi trốn tuyết, còn tôi đứng nhìn họ mỉm cười. Đột nhiên có tiếng cười thật to phía cuối cầu, tôi nhìn sang:

- Anh nhìn kìa, họ trốn chạy đủ thứ.

Tôi mỉm cười:

- Thế còn em?

- Em tìm thấy rồi, giờ thì em muốn người đó đừng trốn chạy.

                                            LHHT






READ MORE - TIẾNG CHUÔNG GIAO THỪA - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân

MÙA YÊN BÌNH, TÌNH KHÚC 9 - thơ Phạm Phan Hòa




MÙA YÊN BÌNH

          * Tặng em TMNTB.

Đưa em đến đầu Đông
Người- thắp lên lửa hồng..
Em một đời trên sông!
Ấm êm vạn mùa Đông.
Có mùa Đông trong ta
Là mùa ấm áp nhất
Mùa mang bao yên bình
Ngày Chúa đã giáng sinh.
... Giữa đêm Đông lạnh lẻo
Người- yêu ta xuống trần
Mong muôn loài hạnh phúc.
Ta, mọi ngày ăn năn!
Amen.. a... Amen!.

Phạm Phan Hòa
Quảng Nam
25/12/2015


TÌNH KHÚC 9
                     * Tặng TMNTB.

  Tiếng đàn anh hân hoan giữa đời vút cao đường chim bay, trầm bổng lời ru, khoan nhặt mái chèo, hạnh phúc vui buồn... Du dương lắng đọng với giọng đàn rung ngân dìu dặt tha thiết yêu người- lan tỏa khắp trời quê hương. Cung trầm suy tư thầm thỉ hồi tưởng chùng tơ, quanh đây vọng lại khúc tình ca đưa ta trở về với năm tháng qua.

   Thúy ơi!

   Đàn đêm âm thứ rơi rớt buồn quảng buông lơi chầm chậm đã lặng lẽ cùng em băng qua lớp mù sương dày phủ để được theo về từng miền yêu thương ... Đan mười ngón tay thành chăn ủ ấm bao mảnh đời không chút mắn may!

   Đường sơn khê chìm khuất, vòng tay người buông lơi! Anh chưa đi hết một trời trót thương! Bên kia vách đá vọng từng bước chân anh nghe con tim nồng đang thở trên phím đàn hòa theo hơi ấm bên người tình chung.

  Sương nhuộm trắng lưng đèo, chim ngủ trên tầng cây- mọi ngày anh loanh quanh một đời thôi rong chơi. Thúy ơi! Em nhen nhuốm màu lửa lòng em luôn rưng rức hồng, tay trần đánh thức cơn mê vươn xa vỗ về hạnh phúc nhịp ru. Em mênh mông giữa trời thả gió bay xa mở lòng bàn tay nhỏ hẹp- bỏ mặc tháng năm đi qua tuổi người.

   Anh ru em tròn một thuở mộng mơ làm hoa nỡ khoe đường em qua... Chim ngủ vùi trên vai em- gió say đưa tiếng đàn.

   Hởi Thúy!

Phạm Phan Hòa
QN.

Viết xong 16/12/2015
READ MORE - MÙA YÊN BÌNH, TÌNH KHÚC 9 - thơ Phạm Phan Hòa

MỘT THOÁNG BÊN SÔNG, CHO NGÀY NOEL - thơ Trầm Mặc




Một Thoáng Bên Sông

                                      Trầm Mặc
                                      (NTB)
                   
Sông Hoài một dạo trở về
Sóng reo mừng đón đê mê lòng người
Vời trông theo nắng hồng tươi
Mắt ai thăm thẳm nét cười duyên xuân
Mai xa lòng mãi tưởng chừng
Mắt trong mắt phút ngập ngừng gặp nhau
Đẹp sao tình buổi ban đầu
Dòng sông kỷ niệm ngàn sau nhớ hoài
                                              
                                        Vỹ Dạ -Thành phố Huế                                          2015
                                                     
              

       Cho Ngày Noel
                                     
Noel về nơi ấy lạnh lắm không?
Cho em gởi chút nắng vàng sưởi ấm
Đêm réveillon, lạnh căm tê buốt
Chờ đợi Giáng sinh mình đi nghe anh..
Nay Noel lại về trong ơn Chúa
Vắng anh rồi? em chẳng hiểu vì sao?
Bài Thánh ca buồn làm em chợt nhớ
Viết dòng thơ mà sao cứ lạc vần
"Cho mãi ngàn sau", anh ơi! Còn nhớ...
Rồi có một ngày mắt ướt dưới mưa?
Thôi giữ khúc "mưa chiều "da diết ấy
Kỷ niệm buồn xin anh nhờ đừng quên....
                                         
 Vỹ Dạ Thành Phố Huế, 2015
Trầm Mặc
(NTB)


READ MORE - MỘT THOÁNG BÊN SÔNG, CHO NGÀY NOEL - thơ Trầm Mặc

QUA PHỐ CŨ - Thơ Hoàng Yên Lynh


    
                     Tác giả Hoàng Yên Lynh


                    
QUA PHỐ CŨ

Một người qua phố cũ
Đi hoài theo lối xưa
Hàng cây nghiêng bóng rũ
Buồn như lần  tiễn đưa.

Có một người trở lại
Tìm về dấu chân quen
Có một người xa mãi
Nơi phương trời lãng quên.

Có cuộc tình đã chết
Người bỏ người ra đi
Cơn mê dài thấm mệt
Ngậm ngùi cũng chia ly.

Một người qua phố cũ
Tóc chiều đã như mây
Chạnh lòng thân viễn xứ
Chuyện tình xưa gió bay.


      Hoàng Yên Lynh
      Saigon, 12.2015


READ MORE - QUA PHỐ CŨ - Thơ Hoàng Yên Lynh

Thursday, December 24, 2015

MÙA XUÂN - Thơ Hồng Tâm


      
                  Tác giả Hồng Tâm



   MÙA XUÂN
(Tặng mùa cưới)

Anh có thấy mùa xuân
Chim bay về làm tổ
Lá xanh non mơn mởn
Bầu trời xanh thẳm xanh
Có thấy xuân không anh ?
Đôi trẻ cười hạnh phúc
Niềm vui trong ánh mắt
Trao nhau lời yêu thương
Mùa xuân giữa đời thường
Là chia nhau khổ cực
Lắng tai nghe tiếng lòng
Hoà chung dòng nước mắt
Yêu nhau giữ hạnh phúc
Là ta thấy mùa xuân
Đừng biến thành địa ngục
Để nổi niềm rưng rưng

            HỒNG TÂM 
           (TÂY NINH)

READ MORE - MÙA XUÂN - Thơ Hồng Tâm

TỰ TỬ - Hoàng Long Hải

                         
                               Tác giả Hoàng Long Hải


                            
                        TỰ TỬ

“Một mình ta ngồi khóc, tuổi thơ bay…”
(“Thu hát cho người” –Vũ đức Sao Biển)

Năm mười lăm tuổi, đang học lớp đệ lục (lớp 7 bây giờ) thì tôi gặp chuyện buồn. Suốt gần nửa niên học sau, tôi ham chơi, đi hát và diễn kịch với bạn bè, bỏ không thi “Đệ Nhị Lục Cá Nguyệt”, coi như ở lại lớp hoặc phải thi lên lớp. Tôi quyết định không thi, không ở lại, năm sau sẽ bỏ băng lớp đệ ngũ (lớp 8), học đệ tứ (lớp 9) và thi Trung Học Đệ Nhất Cấp (cấp 2). Như vậy, tôi sẽ không những không bị ở lại lớp mà còn rút gọn được một năm Trung Học. Không phải tôi ngon lành chi, chẳng qua vì thương mẹ, học dốt, ở lại lớp, mẹ buồn lắm! Đơn giản chỉ có vậy
Tuy nhiên, trước khi bỏ nhà trốn đi để thực hiện ý định của mình, tôi biết rằng cuộc đời tôi sẽ qua một khúc ngoặt: Không còn sống gần mẹ và các em nữa, bắt đầu sống xa gia đình.
Để chuẩn bị cho việc học băng, suốt mùa hè năm đó, buổi sáng, tôi nhờ mấy người bạn học trước tôi một lớp giảng lại cho tôi về phương trình bậc nhứt, cách giải hệ thống phương trình, tam giác đồng dạng, v.v... là những phần quan trọng trong chương trình toán lớp đệ ngũ, còn tất cả các môn khác, tôi tự mượn sách về học. Buổi chiều, tôi nghỉ, không học gì hết, treo võng nằm đọc sách - đọc tiểu thuyết thì đúng hơn - ở đầu vườn nhà tôi. Nhà tôi ở ngoại ô, vườn không rộng, nhưng có nhiều cây sầu đông, có đủ bóng mát cho tôi nằm ngoài vườn chơi suốt buổi chiều. 
Tôi thích những cây sầu đông nầy, một là vì cái tên của nó nghe “gần gủi” với văn chương và nhứt là về mùa xuân, hoa sầu đông màu tím, nhỏ, không đẹp nhưng hương thơm ngào ngạt khắp vườn, và mùa hè đủ bóng mát cho tôi núp nắng, tránh ngọn gió Lào từ rặng Trường Sơn thổi về. Đầu vườn nhà tôi là một con đường hẽm đi lui xóm sau, không biết ai đặt tên cho nó là Xóm Heo, có lẽ vì người trong xóm chuyên làm thịt heo và bán ở chợ.

Buổi chiều, khi mặt trời sắp lặn sau dãy Trường Sơn là mấy bà, mấy chị đi bán thịt heo cũng như bán hàng ở chợ về. Họ đi theo con đường dọc bờ sông, vừa đi vừa nói chuyện, thanh thản, vui tươi, như không biết tới chiến tranh đang diễn ra ác liệt hằng ngày bên ngoài thành phố. Trong số những người bán hàng ấy, có chị Tâm. 
Chị Tâm 19 tuổi, nhà chỉ có hai cha con. Chị mồ côi mẹ khi còn nhỏ lắm. Chị ở với cha. Cha chị cũng không tục huyền. Cha chị làm nghề hạ thịt nhưng có lẽ vì thương con, không muốn con vất vả vì nghề bán thịt nên ông sắm cho chị một cửa hàng bán vải ngay chợ.
Chị Tâm đẹp, đẹp lắm! Ai cũng nói vậy.
Mẹ tôi cũng khen chị ấy đẹp. Có lần mẹ tôi cười nói: “Ai có con trai rước con Tâm về làm dâu, ngó cũng sướng mắt!” Chị lại có cửa hàng vải, tay chân lúc nào cũng sạch sẽ, trắng muốt mà lại sẵn vải nên ăn mặc lúc nào cũng đẹp, hợp thời trang. Chị lại để tóc như kiểu học trò Huế. Mái tóc đen dài, suôn, buông sau lưng. Ngang tới thắt lưng thì cắt bằng ngang. Đó là “mốt” mới của mấy cô thời ấy, không để tóc buông dài thành một cái đuôi xuống phía dưới thắt lưng như ngày trước. Cũng như các cô học trò hồi ấy, tôi chẳng thấy chị kẹp tóc bao giờ. Không những đẹp ở khuôn mặt, thân hình của chị cũng đẹp: Cao, ngực nở, eo nhỏ. Áo của chị có chít mấy đường “panh” ở trước và sau nên ôm sát eo. Mẹ tôi cũng bình phẩm: “Ai lấy con đó thì sướng.” Rồi mẹ tôi “chứng minh” lời nói bằng câu ca dao: “Những người thắt đáy lưng ong, Vừa khéo chiều chồng vừa khéo nuôi con.”

Buổi chiều, tôi nằm võng, phía trong một hàng rào chè tàu thưa, bên ngoài là con đường hẽm. Khi đoàn người đi bán ở chợ sắp về ngang qua phía ngoài hàng rào, tôi giả bộ nhắm mắt ngủ.
Khi vào hẽm, con đường chật, chị Tâm thường đi sau cùng. Một lần chị dừng lại phía ngoài hàng rào, nói vọng vào:
- “Nắng rứa mà cũng ngủ được!”
Tôi không trả lời, mở mắt ra, nhìn chị cười. Thấy vậy, chị ấy vừa bỏ đi, vừa nói:
- “Rứa mà tưởng ngủ chớ.”
Chiều hôm sau, tôi cũng chơi trò ú tim như vậy. Lần nầy thì chị Tâm nhìn tôi cười, nói:
- “Phỉnh người ta!”
Chuyện đùa ấy xảy ra nhiều lần. Hình như chị cũng thích cái tính nghịch của tôi như thế. Thành ra, những lần sau, chị bỏ đoàn người đi trước thật xa, dừng lại bên ngoài hàng rào, nhìn tôi nói:
- “Bộ người ta không biết giả bộ ngủ răng mà còn nhắm mắt.”
Tôi ngồi dậy trên võng, cười, lúng túng không biết nói gì.
Bây giờ cây sầu đông không còn hoa, hương thơm đã hết, nhưng tôi ngửi thấy có mùi thơm ngát. Có lẽ chị Tâm xức nước hoa.
Tôi nói:
- “Thơm ghê!”
Chị ấy biết tôi nghĩ gì, nói:
- “Nước hoa đó! Mắc tiền lắm.” Rồi chị bỏ đi.
Ngày hôm sau, đi bán hàng về, chị đi một mình phía sau. Chị dừng lại phía ngoài hàng rào. Tôi cũng không còn chơi trò nhắm mắt giả bộ ngủ nữa, ngồi dậy trên võng nhìn chị đi qua. Chị dừng lại, đưa cho tôi một cái gói nhỏ, bọc giấy báo, nói:
- “Nước hoa đó.”
Tôi hốt hoảng:
- “Em không biết xài cái nầy. Lấy làm chi?”
Chị Tâm nói:
- “Không xài thì cất đi để mà chơi. Bỏ vào trong tủ áo quần cho thơm. Không phải tui mua, người ta cho, xài không hết.”
Từ đó, không còn chơi trò ú tim nữa, tôi không vui. Tôi ưa những cái gì tinh nghịch.

Tuy vậy, mỗi chiều, khi mặt trời đỏ chói, như một miếng sắt to trong lò thợ rèn, nghiêng dần dần để lặn ở phía sau những ngọn núi Trường Sơn hình răng cưa trùng điệp thì tôi lại bâng khuâng chờ đợi. Tôi chờ đợi ai? Chờ chị Tâm. Tôi không nghĩ như thế. Tôi không có ý chờ chị Tâm.
Nhìn ra phía bờ sông Thạch Hãn, tôi thấy nhiều bóng người khi khoan thai, khi vội vã từ hướng phố chợ đi về phía Sãi hay về phía xóm tôi hoặc xóm Chùa. Ai ai cũng lặng lẽ và đều bước ra về sau một ngày buôn bán. Trong số người ấy, tôi cũng không biết tôi chờ ai.
Và khi thấy chị Tâm bước thấp bước cao đi vào con đường hẽm, - vì chị mang guốc cao mà con đường hẽm thì gồ ghề, - tôi muốn nằm yên trên võng, nhắm mắt lại và chơi cái trò ú tim như đã xảy ra trước kia.
Quả thật trò chơi ấy không còn có thể diễn ra được nữa. Mưu mẹo của tôi đã bị người ta biết, và nếu như tôi có muốn diễn lại trò chơi ấy thì nó cũng lạt lẽo chẳng ra gì.
Vả lại, mùa hè cũng sắp hết, tôi lại càng băn khoăn thêm về ý định của tôi, trốn mẹ, thực hiện một chuyến đi xa, mà Huế, nơi tôi sắp tới, tôi chưa biết rõ nơi ăn chốn ở và trường ốc sẽ như thế nào. Hơn thế nữa, năm tới học băng một năm, phải cố gắng làm thế nào thi đậu để mẹ vui, tôi cũng khỏi mất mặt với bạn bè. Đó là điều lo lắng đè nặng lên lòng tôi.

Về chuyện chị Tâm, có lẽ chỉ là một sự nghịch ngợm do cá tính của tôi. Ngoài việc thấy chị ấy đẹp, đẹp lắm như tôi biết và mọi người đều nói, và mỗi khi nhìn chị, tôi nghĩ như tôi ngắm một bông hoa đẹp vậy. Chắc chắn sẽ có một người nào đó, hái bông hoa ấy về cắm trong nhà, cho riêng mình người đó mà thôi. Bông hoa sẽ tàn như mọi cánh hoa tường vi trong sân nhà tôi. Những bông hoa tường vi, hồi đầu mùa xuân, mỗi sáng, Nguyễn Tri Châu, người bạn học của tôi hái vài cái gắn vào túi áo anh ta cũng như túi áo tôi trước khi chúng tôi đi đến trường. Chưa tới trường thì cánh hoa đã gục xuống, tội nghiệp, và hai chúng tôi liệng hoa xuống sân cỏ trước khi vào lớp.
Ít lâu sau, nhà chị Tâm đem biếu mẹ tôi cau trầu và một hộp bánh. Mẹ tôi nói: “Con Tâm có chồng đi hỏi.” Tôi hỏi mẹ: “Ai vậy mạ?” Mẹ tôi nói: “Thằng Trác làm ở Sở Công An.”
Anh Trác cũng là người đẹp trai. Hai người ấy lấy nhau là xứng đôi vừa lứa. Bố anh là thầy thuốc Bắc, bị Việt Minh giết hồi đầu chiến tranh vì trước kia ông có tham gia Việt Nam Quốc Dân Đảng. Nhờ gia đình khá giả, anh Trác có đi học, đâu bằng “primaire” hồi trước 1945.
Sau khi bố bị giết, anh đi làm mật thám cho Tây, như anh nói, cũng vì “thù nhà nợ nước”. Theo người ta hiểu, muốn trả thù cho cha, anh phải “theo Tây”, những kẻ thời Pháp thuộc, bố anh từng chống lại họ. Cuộc đời có nhiều điều thật éo le! Cha chống Tây mà con theo Tây, như chuyện người con trai cụ Hoàng Diệu, được kể trong truyện “Ông Năm Chuột” của Phan Khôi vậy!
Bây giờ, làm đám hỏi rồi, anh Trác và chị Tâm có thể công khai đi với nhau ngoài đường. Chiều nào cũng vậy, chị Tâm đi bán vải ở chợ về, anh Trác đạp xe tò tò đi theo. Chị không chịu để cho anh Trác chở chị bằng xe đạp. Chị sợ té hay mắc cở? Trên đường về, hai người vừa đi vừa nói chuyện, thật vui vẻ. Tôi cũng không còn treo võng nằm ngoài vườn nữa.
Đám hỏi được hơn nửa tháng thì anh Trác tử trận. Anh chỉ huy một toán Công An phục kích Việt Minh tại trục giao liên ở truông Ái Tử, trên con đường đi từ làng Trung Kiên lên Trấm, sau gọi là xã Phong An.
Bến đò Trấm là bến đò đầu đường để đi thuyền lên chiến khu Ba Lòng, vì từ Trấm đi lên, đường núi gập ghềnh nên người ta đi thuyền vào ban đêm để tránh máy bay Tây oanh tạc.
Xác anh Trác được để ở nhà xác bệnh viện Tây. Quan tài được phủ lên một lá cờ Tam Tài (1) và chôn ở nghĩa địa trước nhà thờ Thạch Hãn, mặc dù anh không phải là người có đạo. Anh được những “ân huệ” đó là vì anh đã hy sinh cho nước Đại Pháp! (2)
Chị Tâm mặc áo tang may bằng vải to là thứ vải dệt ở địa phương. Loại vải nầy khổ hẹp, chưa tới hai gang tay, dệt rất thưa, người ta phải “hồ”. Chị mặc áo trở sống ra ngoài, tức là đường nối hai vạt dọc theo sống lưng trước và sau, mí vải phải trở ra ngoài, không bị đường may che khuất, giữa lưng có một miếng vải to gần bằng cuốn tập học sinh. Hai bên miếng vải bị xé thành hai cái tua. Chị bịt khăn chế (khăng tang) cũng bằng vải to. Chị phải mặc áo tang suốt mấy ngày như vậy cho đến khi cúng “mở cửa mả” xong chị mới thay bằng một bộ quần áo đen nhưng may rộng, không thắt eo như những cái áo dài chị mặc trước kia.
Một hôm tôi hỏi mẹ:
- “Con thấy chị Tâm mặc áo tang và bịt khăn. Con tưởng cưới rồi mới mặc vậy chớ.”
- “Ba miếng trầu, dâu nhà người.” Đi hỏi rồi là coi như đã có chồng.” Mẹ tôi nói. Mẹ tôi lại nói tiếp “Ai ngờ con đó có số sát phu.”
Đám ma xong, tôi không thấy chị Tâm đi bán hàng trở lại. Thỉnh thoảng mới thấy chị đi qua con đường hẽm bên vườn nhà tôi. Mặt chị rất buồn và cũng không nhìn vào vườn nhà tôi nữa. Nhiều buổi chiều, chị ra ngồi nơi bờ sông Thạch Hãn, chỗ bến tòa Khâm Sứ cũ, nay là dinh Tỉnh Trưởng. Ông tỉnh trưởng thời Tây nầy cũng được, không cấm dân lui tới khúc bến sông nầy như mấy ông tỉnh trưởng thời Cộng Hòa sau nầy.
Chỗ bến sông nầy cũng là chỗ bọn trẻ chúng tôi thường nằm chơi vào những ngày hè. Thảm cỏ dày và xanh ngắt là tấm nệm êm để ngã lưng xuống đó. Một hàng dương liễu được trồng dọc theo bờ sông, nhất là mấy cây trước tòa Khâm Sứ cũ, đã già tuổi, tỏa ra một bóng im lớn. Nằm ngữa lưng ở đó, nhìn từng đám mây trôi từ rặng Trường Sơn ra biển Đông hay ngược lại, có khi tôi thắc mắc, không biết mây trôi đi đâu mà đi mãi vậy.
Hàng dương liễu bên bờ sông Thạch Hãn bao giờ cũng reo vi vu một điệu trầm buồn bất tận, ngọn dương liễu chỉ chỏ vẩn vơ lên bầu trời cao mà tôi không biết chỉ cái gì trên vòm trời xanh ấy.
Mùa hè, gió Lào thổi từ Trường Sơn xuống. Gió càng mạnh thì tiếng dương liễu reo vi vu càng lớn, nghe rất vui tai; nhưng gió Lào là ngọn gió khô, không đem theo chút mát mẻ nào. Mùa đông, hàng cây dương liễu lại cũng reo vi vu vì gió Bấc thổi. Gió Bấc là gió mùa Đông Bắc, mang theo hơi lạnh từ Tây Bá Lợi Á xuống nên dương liễu reo càng to thì trời càng lạnh, nghe buồn ghê gớm...

Gần cuối mùa hè năm đó, sau khi chồng chết, nhiều buổi chiều chị Tâm ra ngồi nơi bãi cỏ trước tòa Khâm Sứ bên bờ sông Thạch Hãn. Rồi một hôm chị nhảy xuống sông tự vẫn, chỗ ấy nước sâu và xanh đen...
... ... ... ... ...

Thật ra, chỗ chị Tâm tự vẫn nước không sâu lắm, chưa tới ba thước, tuy bến Sứ là chỗ sâu nhứt bên phía nầy sông Thạch Hãn.
Khi chị Tâm phóng ùm uống nước, không biết vì nước lạnh hay vì ngợp khi phóng mình từ cao xuống, có lẽ chị Tâm tỉnh người ra. Khi người chị chìm xuống, đạp trúng nhằm đáy sông chỉ toàn là cát, chị chọi mạnh một cái làm người chị trồi lên khỏi mặt nước. Trong cơn hốt hoảng và do bản năng sinh tồn vùng dậy, chị la to: “Cứu với”. Rồi chị lại chìm xuống một lần nữa, chị lại đạp chân cho người trồi lên. Một lần nữa, chị lại la to: “Cứu với”.
Thầy đội Trãn, đi lính Tây, đóng ở Tam Tòa gần dinh Khâm Sứ, buổi chiều đang xách súng đi bắn chim dọc theo bờ sông, gần bến Khâm Sứ, nghe tiếng la cầu cứu, bèn quăng súng, nhảy xuống sông vớt chị Tâm lên.
Chị còn tỉnh, chưa uống nước nhiều; và vì việc xảy ra bất thần nên Hà Bá cũng chưa kịp đón chị Tâm. Chị sống lại. Thầy đội Trãn ôm chị Tâm leo lên bờ sông, đặt chị nằm trên cỏ, cho đầu hướng ra phía sông thấp xuống để làm hô hấp nhân tạo cho nước trong bụng dễ trào ra. Khi người ta bu đến đông để xem thì chị Tâm đã tỉnh. Thấy áo quần ướt sũng, dán vào người nên chị mắc cở, tính ngồi dậy. Thầy đội Trãn ấn chị nằm xuống và kêu lính lái chiếc xe Dodge trong trại lính tới.
Xong, thầy bồng chị bỏ lên xe chở đi nhà thương. Có lẽ vì mắc cở, chị Tâm nhắm mắt lại, làm như không biết gì.
Vậy là người ta bàn tán xôn xao về chuyện chị Tâm tự tử. Ai cũng cười vì đã tự tử còn la cầu cứu. Mẹ tôi cũng cười, bà nói: “Mua gói thuốc chuột uống cho xong. Nhảy xuống sông làm chi để ai cũng biết la “cứu với”. “Ôốc dôộc” thiệt.”
Mấy ngày sau, khi chị Tâm được bệnh viện cho về nhà rồi; chị ở riệt trong nhà không dám đi đâu vì mắc cở. Mấy đứa con nít rắn mắt ở Xóm Heo, núp phía ngoài nhà chị, la to ngọng nghịu “chứu dới” rồi bỏ chạy trốn để chọc quê chị. Ba chị Tâm phải la rầy chúng mới xong. Chị Tâm sợ người lớn đã đành, chị sợ luôn cả mấy đứa con nít.
Sau vụ cứu chị Tâm, mỗi ngày thầy đội Trãn đều xuống thăm chị. Ông ấy nói: “Để an ủi chị ấy, sợ chị tự tử một lần nữa thì hết cứu.” Có phải thầy đội nghĩ rằng chị Tâm, với kinh nghiệm một lần tự tử đã qua, chắc lần nầy hết cứu được.
Thầy đội Trãn cũng chưa vợ, thầy đến an ủi chị Tâm hay có ý gì khác, ai biết được! Có điều, không biết thầy an ủi hay như thế nào mà chỉ gần một tháng sau, khi thầy đổi đi Huế, thì chị Tâm cuốn gói đi theo.
Chị ấy đi rồi, mọi người mới hay cớ sự. Người ta lại bàn tán. Mẹ tôi bảo: “Ai ngờ con nhỏ ấy bạc phước. Chồng con đàng hoàng thì tử trận, lại phải “chồng đường vợ sá” cặp nhau.”
Tôi không nghĩ như mẹ tôi. Tại sao lại phải có số “hồng nhan đa truân”. Quan niệm ấy xưa lắm rồi. Với bọn trẻ bây giờ, dù có được thầy cô giảng về cô Kiều của Nguyễn Du có số “má hồng mệnh bạc” thì cũng chỉ để hay vậy chớ không mấy đứa chúng tôi tin Thượng Đế an bài một số phận kỳ cục như vậy.
& 
Gần mười năm sau, khi tôi đã đi dạy học ở Huế. Một hôm, chủ nhựt, tôi đến Garage Nghẹt gần trường Nguyễn Tri Phương để sửa xe. Trong khi tôi đang đứng chờ trước vệ đường thì có một chiếc xe Land Rover mang biển số xe chính phủ có hai người, một đàn ông và một đàn bà tới dừng lại trước Garage. Người đàn ông đi vào trong có chuyện gì đó, còn người đàn bà vẫn ngồi yên trên xe.
Tôi nhận ra đó là chị Tâm.
Bây giờ chị đã già trước tuổi, tóc tai bù xù, da dẻ rám nắng nhưng cái nét đẹp khi còn trẻ vẫn còn vướng vất đôi chút. Nhờ vậy mà tôi nhận biết người đàn bà đó là ai.
Ít phút sau, người đàn ông ra xe. Tôi cũng nhận ra người ấy là thầy đội Trãn năm nào. Có lẽ thầy đội Trãn giải ngủ về lái xe cho một cơ quan nào đó. Hai người có lẽ đã có một đàn con, và phải làm lụng vất vã để nuôi đàn con nhỏ.
Tôi bỗng sực nhớ tới chai nước hoa chị Tâm đã cho tôi. Ngày rời nhà, tôi có mang theo, để trong va-li. Nhưng cuộc đời của một người học trò nghèo xa nhà, nhiều lần thay đổi chỗ ở, lắm khi “cơm hàng cháo chợ”, tôi đã bỏ quên chai nước hoa của chị Tâm cho ở nhà nào đó mà tôi không nhớ. Chai nước hoa lưu lạc ở một nơi nào, mà nhan sắc chị Tâm, một người đẹp nổi tiếng ngày trước thì bây giờ cũng đã phai tàn.
Tôi vẫn không tin ở cái số đào hoa, nhưng có một điều rõ ràng. Không như bên Âu Mỹ đất nước thanh bình, người dân giàu có sung sướng, sắc đẹp được chăm sóc gìn giữ lâu bền.
Còn ở ta thì chiến tranh triền miên, ai ai cũng phải chịu cái số kiếp phong trần cả.
Đàn bà con gái ai cũng muốn mình đẹp, gìn giữ sắc đẹp cho được lâu bền, nhưng hoàn cảnh nước ta thật đau đớn cho phận đàn bà.
Đất nước, dân tộc càng nghèo, chiến tranh càng triền miên thì kiếp phong trần của người dân thêm nặng nợ, không riêng gì cho đàn bà con gái. Đất nước nầy như là một vườn hoa, nhưng hoa già, hoa héo nhiều hơn những đoa hoa tươi.
Đó mới chính là cái định luật trớ trêu và cay đắng của các dân tộc nhược tiểu trên thế giới ngày nay!

                                                         Những ngày lạnh
                                                           hoànglonghải

--------------------

(1) Cờ Tam Tài (xanh trắng đỏ), là cờ nước Pháp, gọi theo cách khi Tây còn đô hộ dân ta.
(2) Đại Pháp: Tiếng gọi “tôn kính” nước Pháp trước 1945 khi Pháp còn đô hộ Việt Nam!

READ MORE - TỰ TỬ - Hoàng Long Hải

GIÁNG SINH - Thơ Hứa Minh Tánh


com-img




GIÁNG SINH

Tàn đông trời đất giao mùa
Sương đêm từng giọt đong đưa lá cành
Đại ngàn tràn ngập chồi xanh
Muôn hoa tươi thắm đọng thành sắc xuân
Đèn hoa sáng ngập cõi trần
Đại Dương tiếng sóng bần thần vọng xa
Ngọt môi người khúc tình ca
Hồi chuông thánh lạnh mượt mà chơi vơi
Sóng đời lặng một dòng trôi
Đêm nay Thiên Chúa xuống đời giáng sinh.

                                     Hứa Minh Tánh

READ MORE - GIÁNG SINH - Thơ Hứa Minh Tánh

SAO LÒNG CÒN VẲNG TIẾNG CHUÔNG MƠ? - Thơ Nguyễn An Bình




SAO LÒNG CÒN VẲNG TIẾNG CHUÔNG MƠ?

Anh mong em là con chiên ngoan
Khuya nằm mơ thấy quà Nô-ên
Được cùng anh ngồi xe tuần lộc
Bay giữa ngàn sao thắp sáng đêm.

Em đừng tin kẻ nói trắng đen
Giàu sang tiền của để bon chen
Hãy giữ lòng trinh như thánh nữ
Yêu anh khờ dại thử một phen.

Mắt em xin được mắt bồ câu
Nhìn đời trong vắt chẳng mưa mau
Để tình anh thắm như lá nõn
Rực rỡ môi hôn đậm sắc màu.

Đừng học ai lời nói chua ngoa
Lừa thầy dối bạn gã Giu-Đa*
Để biết yêu anh tên ngoại đạo
Ánh mắt đôi khi rất gian tà.

Chúa vẫn muôn đời trên thập ác
Bàn tay máu vẫn rỉ vết đinh
Tình anh thành vết thương bụt rách
Đợi đến giờ thiêng để phục sinh.

Em như quên mất lời rao giảng
Bên góc giáo đường anh ngẩn ngơ
Đă tắt từ lâu lời kinh nguyện
Sao lòng còn vẳng tiếng chuông mơ?

                         Nguyễn An Bình
                    Giáng sinh, 24/12/2015

*Giu-Đa: tên một tông đồ phản Chúa

READ MORE - SAO LÒNG CÒN VẲNG TIẾNG CHUÔNG MƠ? - Thơ Nguyễn An Bình