Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, September 14, 2015

MEN MÙA THU - tản văn Trương Đình Phượng




        Trương Đình Phượng
MEN MÙA THU
Tản văn



Khi những chiếc lá trên hàng cây trước ngõ trở màu, những làn gió heo may rủ nhau về dạo bản nhạc dịu buồn trên những ngả đường phố nhỏ, tôi biết mùa thu đã quay về. Và những ký ức tuổi thơ tôi cũng theo mùa thu ghé về trong cõi lòng đa cảm.

Mùa thu, mùa của hương cốm, mùa của hương hoa sữa nồng nồng lan man trong màn đêm trầm lắng. Mùa của những lời yêu thương dìu dịu mà đậm đà sâu lắng của cha, của những nụ cười kém tươi vì chút lạnh giá chưa rõ hình hài trên đôi cánh môi của những đứa trẻ nhà nghèo. Năm tháng đi qua, tuổi thơ bỏ tôi ra đi không một lời tạm biệt. Chỉ còn lại những hoài niệm xanh như sắc cỏ bên bờ sông năm nào. Thời gian trôi, lạnh lùng, tàn nhẫn những âm thanh xô bồ chuỗi hành trình cuộc sống nhiều bụi bặm có lúc dường như đã khỏa vùi những lời dạy dỗ của cha. Nhưng những khi mùa thu trở lại khêu dậy những mảng buồn trong cõi lòng phố thị trái tim tôi cũng theo đó mà thức dậy những miền nhớ năm xưa.

Những đêm khuya, khi tất cả đã chìm vào giấc ngủ, tôi nằm bên nghe cha đọc thơ Nguyễn Bính, chất giọng cha tôi sao mà da diết lạ, nó như những sợi tơ len lỏi từng ngõ ngách tâm hồn thơ bé tôi. Đọc xong cha nói:

-Thơ Nguyễn Bính dạy con người ta không quên nguồn cội, dân tộc mình giàu truyền thống, mộc mạc dân dã con phải nhớ dù đi đâu về đâu sống trong môi trường nào mình cũng cố giữ lấy bản chất con người mình.

Hồi đó, với một đứa trẻ ăn chưa no nghĩ chưa tới tôi làm sao hiểu hết lời cha. Nhưng những bài thơ ấy đã ăn vào tâm khảm tôi. Lớn lên, dòng đời bao giông tố, tôi đã sống như một hòn đá cuội dù lăn qua bao bàn chân phũ phàng của người đời tôi vẫn kiên trì giữ cho mình không méo mó.

Bây giờ tôi cũng làm thơ, viết văn thế nhưng những gì tôi viết hình như chưa đủ tầm chạm tới địa hạt tâm tư cuộc sống. Tôi như gã khách lạ không nhà lang thang trên phố đời xuôi ngược nhão nhoẹt những khuôn mặt đa chiều. Đôi khi cố chụp hình nội tạng những khuôn mặt đời nhưng không thể.

Mùa thu, cho tôi về những đêm phố và tôi dìu nhau đi qua những cảm xúc cô đơn, không một cánh tay cầm, không bờ vai nương tựa. Mùa thu dẫn tôi về những khoảng lặng tuổi xanh. Để tôi tìm lại tôi trong mớ hàng hóa đời hỗn độn.

Những người bạn năm nào, cùng nhau trải qua những ngày hồn nhiên bình phàm giờ đã xa lắm rồi, như dòng nước chảy qua triền sông không một lần quay lại, chỉ còn tôi con đò rêu mốc hoen màu âm thầm neo trên bãi vắng nghe gió ru bài ca muôn thuở. Ba mươi năm chợ đời chếnh choáng, những ánh mắt tình nhân hiếm hoi soi rọi vào trái tim "cửa đóng then cài" để lại cho tôi những mầm đau không thể rũa tàn, âm ỉ trường sinh qua năm tháng. Có đôi lần tôi gặp lại, tay bế tay bồng, cười tươi đi bên chồng trong buổi chiều phố xá, chợt thấy lòng rung lên từng vi mạch xót xa. Thực ra giữa tôi và những người con gái ấy nào đã từng có mối giao cảm gì quan trọng, chỉ có tôi, những sợi tơ đàn đơn phương tự ngân lên trong màn đêm khoang hồn đa cảm. Vậy thôi mà bao năm ngỡ hồn mình đã chết theo giấc mơ tình ái tan vỡ.

Mùa thu, chở tôi trên chiếc thuyền mơ mộng ngây thơ mà tê buốt về với những đêm trung thu vằng vặc ánh trăng. Những ngọn đèn ông sao đủ sắc đủ màu mà những đứa trẻ nhà giàu hân hoan cầm đi đầy đường cười tíu ta tíu tít, tôi đứng bên mái hiên nghèo đôi mắt nghèn nghẹn lệ, ước một lần cầm trên tay chiếc đèn ông sao ấy. Cha tôi lặng lẽ đứng sau lưng, khẽ khẽ vuốt mái tóc tuổi thơ tôi cười:

-Sau này nhà mình giàu cha sẽ mua cho con thật nhiều đèn ông sao, được không?

Tôi gục đầu vào cha thổn thức.Cha âm thầm trút tiếng thở dài. Tiếng thở dài đeo đẳng suốt tuổi đường trần tôi. Bây giờ hơn hai mươi năm đã qua, mái nhà xưa còn đây, mái ngói oằn thêm những thăng trầm cuộc sống, cái nghèo vẫn ám mùi trên từng kiếp sống mong manh. Như cuốn phim buồn chiếu lại, đêm trung thu những ánh đèn lòe loẹt sắc màu trên những cánh tay bao đứa trẻ nhà giàu, đứa cháu nhỏ đứng bên hiên đôi mắt đượm buồn, ngây thơ hỏi tôi:

-Cậu, ngày mai cậu cũng mua đèn Trung Thu cho con cậu nhé.

Gió thu thổi buốt lòng tôi hay những lời lẽ hồn nhiên của trẻ con vô tình cứa vào trái tim tôi? Tôi vuốt nhè nhẹ mái tóc đứa cháu nhỏ, nhìn vầng trăng, thở dài:

-Ừ mai cậu mua.

Lần đó, tôi cố dành dụm mua cho nó một chiếc đèn ông sao loại rẻ tiền nhất. Mùa xuân về trong ánh mắt cháu tôi. Và tôi chợt cảm thấy hình bóng tuổi thơ tôi năm nào phảng phất một nụ hồng tươi.

Khi những chiếc lá trên hàng cây trước ngõ trở màu. Tôi biết mùa thu lại về, và tôi lại cùng mùa thu dìu nhau đi qua những hoài niệm chưa bao giờ chết trong cõi lòng đa cảm.

TĐP



READ MORE - MEN MÙA THU - tản văn Trương Đình Phượng

LỜI BUỒN CUỐI - thơ Huy Cận Đông Hà



LỜI BUỒN CUỐI

Em là ai sao vô tình đến thế
không nhớ gì dù chỉ nữa nụ hôn
tình chưa qua sao em nỡ vội chôn
Em đâu biết cái gọi là nỗi nhớ

Ta vẫn biết cõi này em không nợ
nhưng vô thường vẫn có những yêu thương
Vòng luân hồi vẫn có nhũng tơ vương
như tiền kiếp hai ta vầng nguyệt nhật

Thôi em nhé cõi đời này rât thật
Xa em rồi nỗi nhớ cứ rơi nghiêng
Hồn liêu xiêu trong năm tháng chông chênh
Tim hụt hẫng bâng khuâng ngày xa vắng

Rồi có những đêm mưa buồn sâu lắng
Ta một mình đong đếm nhịp thời gian
Nghe gió ru khúc tình phụ thênh thang
Lời buồn cuối cho lửa lòng tắt lịm...


Huy Cận Đông Hà
READ MORE - LỜI BUỒN CUỐI - thơ Huy Cận Đông Hà

TÌNH SAY - thơ Vũ Trọng Tâm




TÌNH SAY 

Ta mời em cạn chén
Rượu tình uống không say
Ta mời em ngất ngây
Nụ môi thêm hồng phấn

Em mời ta men đắng
Một cuộc tình lãng quên
Cùng ta thức trắng đêm
Nghe nỗi buồn cúi mặt

Ta mời chung rượu nhạt
Chuyện xưa tuổi mười lăm
Em nụ cười xa xăm
Môi cười say men mới

Em cùng ta đánh đổi
Cuộc vui và nỗi buồn
Ta chôn sâu dĩ vãng
Vực thẳm hay thiên đường

Ta cùng em say khước
Đời hai nhánh sông trôi
Ta say men rượu đắng
Em say tình chơi vơi !

           Vũ Trọng Tâm

           (Gò Công )
READ MORE - TÌNH SAY - thơ Vũ Trọng Tâm

KHÓI MÂY - HƯƠNG TAM-KỲ - thơ Huy Uyên



KHÓI MÂY

Dập duềnh em và núi
sóng biển trôi trời chiều
em về chi quá vội
để bơ vơ mình tôi.

Hồ ngàn năm bỏ lại
tình hai ta khói mây
mộng tưởng người ai hái
đem trao người chiều nay.

Bến bờ xưa còn đó
chỉ còn em và tôi
tình xưa giờ quên ngõ
đem treo cuối chân trời .

Huy Uyên

       
HƯƠNG TAM-KỲ

Có phải anh đã mất rồi phía em
quạnh quẻ xưa quay trở lại
hai mươi năm chập chùng
treo hoài tiếng gọi .

Có phải em đã khác xưa
nơi trái tim đậu kín những mối tình
và mỗi giọt máu long lanh giọt lệ .

Có phải biển dâu đã quên lảng
những nụ hôn hái vội sớm mai
đau đáu giữ mặt trời
mang theo trong em nổi nhớ .

Đã bay đi mây trôi đâu đó
mưa vội về làm bạn nổi đau .

Tắt rồi lời ca đêm
khuya buồn gõ nhịp
thương ai mỏi bước chân tìm .

Về sao nổi nhớ
cầm tù trên môi hơi thở
xót xa hoài mùi hương-điệp-vàng
thoáng bóng liểu chiều rưng lạnh .

Hai mươi năm
rồi ba mươi năm
điệp-vàng xưa vội mang chôn
đất trời bổng dưng cô-đơn quá đổi
thắp lên giữa đêm ngọn đèn
hắt hiu đổ hoài chiếc bóng .

Huy Uyên



READ MORE - KHÓI MÂY - HƯƠNG TAM-KỲ - thơ Huy Uyên

NẾU NGÀY XƯA - thơ Trương Thị Thanh Tâm



NẾU NGÀY XƯA

Em bây giờ nhớ anh buồn muốn khóc
Tại vì đâu tình đến với suy tư
Nếu ngày xưa đừng lưởng lự trao thư
Thì có lẽ tình ta đâu dang dỡ

Để bây giờ tiếng thơ buồn muôn thưở
Nếu ngày xưa anh đừng có ngại lời
Dám hẹn hò và mắt liếc hé môi
Lời thương nhớ cho nhau câu tình tứ

Nếu ngày xưa mình gần hơn thế nữa
Những hẹn hò nghe nhạc với cine
Dù có xa anh cũng biết quay về ..
Thì kỷ niệm ghi đầy trong nỗi nhớ

Nếu ngày xưa sẽ chia từng hơi thở
Những nụ hôn ta biết kiếm tìm nhau
Ánh mắt nhìn đừng e thẹn gởi trao
Vòng tay ấm buộc đời ta mãi mãi

Nếu ngày xưa tình yêu đừng vụng dại
Tay nắm tay e ấp nụ hôn dài
Em dấu đi chút bẻn lẻn thơ ngây
Thì bây giờ đâu còn là tiếc nhớ

Nếu ngày xưa anh cả gan hôn thử
Em ửng hồng đưa má để anh hôn
Nếu ngày xưa cúc áo cài để hở
Tuổi dậy thì hai đứa đã cho nhau

Cũng bởi ... tại vì ... nên đành phải thế
Và giờ đây tình còn lại nỗi đau!

        Trương Thị Thanh Tâm




READ MORE - NẾU NGÀY XƯA - thơ Trương Thị Thanh Tâm

ĐÊM HUẾ - SÔNG HOÀI - thơ Huy Uyên




        ĐÊM HUẾ

Là đêm đi bên sông
thoáng nghe giọng ca Huế buồn da diết
là hai bờ cách biệt
chia tay cho đến bây giờ.

Thả hồn theo những chuyến đò
hỏi nước xao buồn mấy thuở
chỉ màu mây thôi vắt ngang sóng vỗ
đũ cho người níu lại phút giây
ngờ bên thành thoáng tóc ai bay
che kín Huế sắc màu lụa tím.

Là những đêm thơ thẩn
nhớ đớn đau về một mối tình
người đi lâu rồi sao không quay lại.

(Em có biết là tôi hoài chờ đợi
một chút gì tuyệt vọng một chút mong
tội cho tôi và tội cả dòng sông
rêu đã phủ dưới chân người buổi trước).

Còn lại Huế với đêm mộ khúc
bước theo người từng đoạn sông trôi
trong vườn xưa hoa lá cũng buồn thôi
hát tiếng yêu người
và ngậm ngùi cùng Huế.

Huy Uyên

             SÔNG HOÀI

Em bạc lòng chi
chảy hoài dòng nước
mái rêu buồn ngậm mây
chiều bão rớt.

Sông Hoài
nổi nhớ ngũ quanh môi người
dập duềnh hơi thở.

Ơi những cột đèn hiu hắt
chìm sầu nghiêng nước trời mây
đã qua chiều đi không hết
đêm quanh chân ngày.

Phố nước
và biển đen
những ngọn cây cụt đầu đứng khóc
và thở dài .

Người ngồi một mình
không nói
bầy chim bay đi cùng bóng tối.

Những chiếc thuyền cũng một mình
khua chèo vội vàng
ngã ba đời sông đời nước
ngỡ ngàng mấy nhịp
lặng thinh
trôi đi, trôi đi .

Mưa, mưa chi hoài mãi
ai đó mắt hoen màu lệ
nhìn mưa!

Huy Uyên



READ MORE - ĐÊM HUẾ - SÔNG HOÀI - thơ Huy Uyên

LẦN ĐẦU ĐẾN QUẢNG TRỊ - Minh Tự


Bình  minh ở Mỹ Thủy, Quảng Trị. Ảnh: Mai Lĩnh


Minh Tự
LẦN ĐẦU ĐẾN QUẢNG TRỊ
Tản văn

          Phải đến năm thứ tư đại học, 22 tuổi, tôi mới đặt chân đến Quảng Trị. Đó là mùa đông 1990, khi mà thế kỷ 20 đã sắp sửa chấm dứt. Khi mà tôi đã đọc, đã nghe, đã hát, đã viết về hai chữ Quảng Trị đến cả ngàn lần. Khi mà tôi đã thân thiết với nhiều bạn bè Quảng Trị đến mức nhiều người cứ tưởng tôi là “dân Quảng Trị”. Dù cái miền đất đó chỉ cách Huế có một giờ đạp xe, và tuồng như không có khoảng cách nào trong lòng tôi.

          Tôi nhớ mãi buổi sáng mùa đông năm đó, mưa dầm dề, trời lạnh buốt. Tôi và Hùng đen (tên khai sinh Phạm Xuân Hùng, bút danh Từ Dạ Thảo) lên chuyến tàu chợ Huế - Đồng Hới lúc trời còn tối mờ mịt. (Xin cám ơn ngành đường sắt Việt Nam thời bao cấp, đã giúp cho hàng vạn sinh viên nghèo, nếu tính lãi mà đòi nợ vé tàu thì chúng tôi không trả nổi !). Không vé và không một miếng sắn khoai gì trong bụng, nhưng hai thằng vẫn say sưa trò chuyện cho đến khi tàu dừng ga Đông Hà. Tôi bước xuống sân ga và thấy một cảm xúc dâng trào: vậy là mình đã đặt chân lên đất Quảng Trị.
          Tôi đề nghị Hùng nên đi bộ, cứ lang thang như thế trên những con đường phố thị lấm lem bùn đất đỏ, để ngắm nhìn cái thị xã ngã ba đường vẫn chưa hết vẻ xác xơ dù chiến tranh đã lùi xa hơn 15 năm. Chúng tôi tiếp tục đón xe lên Tân Lâm. Chiếc xe đò chật ních người lao động, chạy hun hút giữa bốn bề gò đồi đất đỏ, hoa quì nở vàng rực hai bên đường. Và gió cứ thổi bạt ngàn từ ngọn đồi này qua đồi khác đến tận chân trời. Cảnh tượng đó khiến con người tôi cứ rung lên một cách đầy phấn khích. Sau đó, tôi đã trở lại và tiếp tục theo đường 9 lên Khe Sanh, Lao Bảo và lại đón nhận những ngọn gió ào ạt hào phóng trên những ngọn đồi chập chùng như vó ngựa nối nhau đến tận chân trời. Đường 9, có lẽ là không gian lãng mạn duy nhất của Quảng Trị, tạo ra cho con người ta một cảm giác bay lên cùng trời đất. Còn lại thì… buồn lắm.
          Chúng tôi bước xuống xe đò và một nỗi buồn vô hình ập đến. Có lẽ là nỗi buồn từ những mái nhà tranh vắng lặng và cô đơn (ở đây đất rộng và nhà rất thưa !). Có lẽ là nỗi buồn dậy lên từ đất đai vẫn còn đầy bom mìn rình rập. Có lẽ là từ những bụi môn mọc lúp xúp dưới những vườn hồ tiêu rậm rạp (hồi đó giá hạt tiêu còn thấp lắm). Cái nỗi buồn đeo đẳng đã theo tôi mãi đến sau này, trong những chuyến đi đến Vĩnh Linh, Gio Linh hay Triệu Phong, Hải Lăng. Quê tôi cũng nghèo và buồn nhưng ở đây còn nghèo và buồn hơn. Ngay lúc đó, cái lúc đặt chân lần đầu lên đất Quảng Trị, tôi đã hiểu vì sao cho đến lúc này tôi mới đến nơi này, cái vùng đất có thể nói là hàng xóm “tối lửa tắt đèn có nhau” của Huế tôi. Mặc dù lúc đó tôi đã lãng du khắp những vùng đất xa xôi Đà Lạt, Nha Trang, Qui Nhơn, Buôn Ma Thuộc… Tôi hiểu đó là cảm giác chạy trốn. Chạy trốn cái nghèo đói và buồn bã. Thú thật, đó cũng là cảm giác khi tôi xách ba lô rời ngôi làng của mình lên đường nam tiến ngay sau khi nhận tấm bằng tốt nghiệp đại học. Nó như thể là bản năng, bản năng chạy trốn. Xin lỗi Quảng Trị và bạn bè của tôi về sự từ chối này, nó cũng chỉ là bản năng của một con thú chạy trốn khỏi hoang mạc khô cằn và thiếu thức ăn mà thôi. Và hơn hết, xin cảm ơn vùng đất này đã dạy cho tôi biết rằng đừng bao giờ chạy trốn trước nỗi khổ đau của người khác !
          Ngay trong chuyến đi đó, trong đầu tôi đã thì thào những câu thơ mà mãi đến hai mươi năm sau (2010) tôi mới viết ra được:
“Tôi yêu Quảng Trị ngay từ lúc đó
Tôi ứa nước mắt khi chuyến tàu chợ đêm lầm lũi chạy qua trảng cát dài Hải Lăng
Tôi nhớ không nguôi một sớm mai đường 9 nở đầy hoa dã quì
Tôi quên sao được bữa rượu giang hồ dưới chân cầu Đông Hà nửa đêm lạnh buốt”…
    
*
      *       *
          Ngay buổi chiều hôm đó, tôi và Hùng đen được mạ nấu cho một nồi canh môn với cá tràu nêm ruốt và lá lốt, ngon tuyệt đỉnh. Đối với cái bụng lép kẹp suốt gần 24 giờ nếu tính luôn cả đêm hôm trước, cộng thêm cái lạnh buốt và màn mưa rả rich bên ngoài trời nhá nhem tối, thì cơm nguội cũng thành cao lương huống chi là nồi canh môn nóng hổi với mùi lá lốt thơm ngào ngạt. Đó là một trong những bữa ăn ngon nhất của đời tôi, mà sau này khi điểm danh lại, nó không phải là món cao lương mỹ vị nào cả. Hai thằng ăn hết một nồi cơm và một nồi canh môn to đủ cho một gia đình tám người. Nhưng có vẻ như vẫn còn thiếu một cái gì đó, vậy là ông cụ liền mang ra một chai rượu cười tủm tỉm rất hiểu ý… Đêm đầu tiên với Quảng Trị, tôi nằm nghe mưa rơi và nghĩ miên man đủ điều.
          Sáng hôm sau, Hùng đưa tôi đi thăm cầu Đầu Mầu, đồi Phu Lơ, những cái tên mà cứ nhắc đến là nghe tiếng bom đạn gầm rú. Chúng tôi đi lên những ngọn đồi trồng bạt ngàn tiêu của nông trường Tân Lâm. Tiêu ở đây chi chit trái. Mỗi trụ tiêu hình tam giác xanh tươi, tạo hình như một cây tùng thường gọi tên là tùng bút. Cảnh quan nơi này khiến tôi liên tưởng đến những khu trù mật trên Tây Nguyên, nó khác hẳn với những làng quê Quảng Trị ở Hải Lăng, Triệu Phong, chang chang cồn cát.  Đất đỏ bazan này còn có thể trồng cà phê, cao su hoặc những thứ cây công nghiệp khác. Sao đất màu mỡ và bạt ngàn thế này mà lại nghèo đói ? Hai mươi năm sau trở lại Tân Lâm, cuộc sống vẫn không thay đổi mấy, tôi thật sự không trả lời được câu hỏi năm nào đó. Chịu thôi, không trả lời được…
                                                          *
                                                     *         *                    
          Sau khi ăn hết hai nồi canh môn, một nồi cháo môn và một nồi cá mương kho dưa môn, chúng tôi đón chiếc xe chở đá trên đường 9 về ga Đông Hà để trở lại cư xá đại học Tổng hợp Huế, không quên vác theo một trái mít to làm quà cho lũ bạn. Chuyến tàu chợ Đồng Hới – Huế chạy lầm lũi giữa bóng đêm. Tôi và Hùng ngồi trên bậc cửa cuối cùng của toa chở hàng (để trốn vé). Im lặng giữa bốn bề bóng tối và tiếng tàu chạy rì rầm giữa trảng cát Hải Lăng. Bên cạnh đường tàu là con đường quốc lộ nơi một thời được gọi tên là “đại lộ kinh hoàng”. Thỉnh thoảng một ngôi nhà hiện ra bên đường tàu với ánh đèn dầu leo lét và những bóng người dân quê. Một không gian buồn da diết đến quặn lòng. Ngay lúc đó, tôi chợt hỏi, có phải đây là “địa chỉ buồn” của vùng đất nước mấy trăm năm chiến tranh và chia cắt ? Và tôi tìm thấy câu trả lời trong những câu chuyện tiếu lâm cùng tính cách hài hước, lúc nào cũng hài hước, của những người bạn Quảng Trị.

Huế, ngày cuối đông 2012
Minh Tự



          
READ MORE - LẦN ĐẦU ĐẾN QUẢNG TRỊ - Minh Tự

Sunday, September 13, 2015

CHIỀU NHỚ - Thơ Cao Hoàng Trầm


       Tác giả Cao Hoàng Trầm



CHIỀU NHỚ


Thoảng Chiều
Tôi đến La Gi
Mái tóc huyền mơ
Gọi gì trong ta
Người thiếu nữ
Kiêu sa mà đằm thắm
Vẻ đẹp dịu dàng
Thẳm sâu tâm hồn.
Thoảng Chiều  
Tôi đến La Gi
Phố buồn xa vắng
Cát mềm chân đi
Bờ liễu rủ xa
Vương tà áo trắng
Đường xuân
Chưa lộ ánh rằm bờ mi.
Thoảng Chiều
Tôi đến La Gi
Thu vàng hoa cúc
Hương lay thầm thì
Sao còn tiếng ve
Đượm càng phượng vĩ?
Đôi mắt bồ câu
Ngời sáng mùa thi.
Thoáng Chiều
Tôi đến La Gi
Gọi bao mùa nhớ
Động gì trong ta
Người em thiếu nữ
Duyên thắm mặn mà
Để bao mùa nhớ
Thiết tha bao điều./.                                             
Ngày 08 tháng 03…..
CAO HOÀNG TRẦM        
READ MORE - CHIỀU NHỚ - Thơ Cao Hoàng Trầm

Ở ĐẦU NỖI NHỚ - Thơ Hoàng Yên Lynh





Ở ĐẦU NỖI NHỚ
                  

Chiều ở nơi đây
Khói rừng quyện mây trắng bay
Nao lòng lắm nhớ khói quê xưa
Nhớ tiếng ai hò cánh võng đong đưa.

Chiều ở nơi đây
Tiếng chim rừng gọi nhau tìm tổ
Nhớ mắt ai cười e ấp đầu ngỏ
Em nơi nào  bên trời thương nhớ.

Chiều ở nơi đây
Không lính thú sao làm người lưu lạc
Có phải trăng xế bên đồi  tóc bạc
Cứ hỏi lòng tìm mãi quê hương.

Chiều ở nơi đây
Sơn nữ mang gùi qua suối
Nhớ cánh đồng quê ươm vàng lúa mới
Nhớ dòng sông tắm mát thuở vào đời.

Chiều ở nơi đây
Khúc dân ca ngọt ngào lay động
Mơ một ngày rực thắm vạn sắc hoa
Nồng ấm quê hương bừng sức sống.


                     HOÀNG YÊN LINH


READ MORE - Ở ĐẦU NỖI NHỚ - Thơ Hoàng Yên Lynh

Friday, September 11, 2015

TÌM HIỂU VỀ NGŨ HÀNH TƯƠNG KHẮC - Đặng Xuân Xuyến


Hiển thị s TU VI KG.jpg


TÌM HIỂU VỀ NGŨ HÀNH TƯƠNG KHẮC
- Trích trong TỬ VI KIẾN GIẢI của Đặng Xuân Xuyến -

Nói đến Ngũ hành tương khắc là nói đến sự xung khắc giữa các hành với nhau, hay gọi đúng tên bản chất của sự tương khắc là hành này khống chế và làm cho hành kia bị suy yếu, hủy diệt.
Nếu Ngũ hành tương sinh được hiểu là sự nuôi dưỡng, bồi đắp của hành này cho hành kia phát triển và lớn mạnh, được coi như là tốt giữa 2 hành đó, thì Ngũ hành tương khắc lại được coi là xấu giữa 2 hành. Ví dụ: Kim khắc Mộc, có nghĩa Kim khống chế, làm cho Mộc bị suy yếu, hủy diệt;  Thủy khắc Hỏa, Thổ khắc Thủy ... cũng tương tự như vậy.
Vậy Ngũ hành tương khắc có nghĩa như thế nào? Hiểu đơn giản, có quy luật tương khắc vì:
1. Mộc khắc Thổ: Cây cối cắm rễ vào đất, hút chất màu mỡ của đất, làm khô nẻ đất đá nên mới nói Mộc khắc Thổ.
2. Thổ khắc Thủy: Đất hút cạn nước, hoặc ngăn chặn dòng chảy của nước nên nói Thổ khắc Thủy.
3. Thủy khắc Hỏa: Nước dập tắt lửa hoặc làm suy yếu cường độ của lửa nên mới nói Thủy khắc Hỏa.
4. Hỏa khắc Kim: Lửa nóng làm cho kim loại biến dạng, suy yếu, hoặc tan chảy nên mới nói Hỏa khắc Kim.
5. Kim khắc Mộc: Kim loại làm đổ cây cối, chế tác cây cối thành vật dụng nên mới nói Kim khắc Mộc.
Quan hệ tương khắc của Ngũ hành được mô tả theo sơ đồ sau:
 (Hình minh họa đính kèm tập tin)
Không giống như Ngũ hành tương sinh, cơ bản như là tốt cho cả 2 hành vì không có sự khắc, đặc biệt tốt cho hành được sinh (tình trạng sinh nhập) và tốt ít, hoặc không xấu cho hành bị sinh (tình trạng sinh xuất). Trong mối quan hệ tương khắc của Ngũ hành thì dù khắc xuất hay khắc nhập đều xấu, sự xấu ít hay xấu nhiều, phụ thuộc vào hành đó ở trong tình trạng khắc xuất hay bị khắc nhập.
Khắc xuất hiểu nôm na là mình khống chế được người khác, làm cho người đó bị suy yếu, hủy diệt. Còn khắc nhập là mình là người yếu thế, bị người khác khống chế, làm cho mình bị suy sụp, hủy diệt. Dù ở tình trạng khắc xuất thì sự hao tổn, suy kiệt vẫn sảy ra. Ví dụ, muốn dập tắt được lửa buộc phải tiêu hao lượng nước nhất định, muốn ngăn được nước buộc phải có lượng đất đủ để đắp đập, ngăn bờ, thấm hút... Như vậy, dù ở tình trạng khắc xuất hay khắc nhập thì sự suy yếu cho bản thân vẫn sảy ra, đặc biệt là xấu nhất khi ở tình trạng khắc nhập, vì đó là tình trạng bị đối phương làm cho suy yếu, rất dễ dẫn đến bị huỷ diệt.
Vì Ngũ hành được biến sinh từ 2 khí Âm - Dương nên khi tìm hiểu về Ngũ hành tương khắc, nguyên tắc chú ý đến tính Âm (-), Dương (+) của Ngũ hành không thể bỏ qua.
Chúng ta đều biết, hai hành có cùng Âm (-) hoặc cùng Dương (+) thì sẽ không sinh cũng như không khắc vì hai hành này có tính đối kháng, sẽ đẩy nhau ra xa, mỗi hành lại ở một vị trí nên không thể có chuyện sinh, khắc.
Ví vụ: Dương Thổ không sinh Dương Mộc
Âm Kim không khắc Âm Mộc
Mối tương quan sinh - khắc của Ngũ hành được hiểu như vậy nên trong khoa Tử vi mới có sự lưu ý đặc biệt:
4 cung Thìn - Tuất - Sửu - Mùi đều thuộc Thổ và chia ra 2 cặp cùng khí Dương (+) là Thìn - Tuất và cùng khí Âm (-) là Sửu - Mùi. Nên sẽ không có sự đối kháng giữa Thìn và Tuất, Sửu và Mùi như các cặp còn lại như: Tý - Ngọ, Mão - Dậu, Tỵ - Hợi, Dần - Thân.
Tại sao vậy? Vì Thìn - Tuất đều là Dương Thổ, Sửu - Mùi đều là Âm Thổ nên không có sự đối kháng. Nhưng các cặp còn lại Tý (Dương Thủy) - Ngọ (Dương Hỏa), Mão (Âm Mộc) - Dậu (Âm Kim), Tỵ (Âm Hỏa) - Hợi (Âm Thủy) và Dần (Dương Mộc) - Thân (Dương Kim). Tuy các cặp này đều cùng thể chất khí (cùng Âm hoặc cùng Dương) nhưng đặc tính của hành lại khắc nhau nên mới có sự đối kháng (Thủy >< Hỏa, Kim >< Mộc) như vậy.
Trong mối quan hệ vợ chồng, nếu tuổi vợ và chồng ở thế tương khắc thì trường hợp tuổi chồng khắc tuổi vợ còn khả dĩ chấp nhận phần nào, nhưng nếu tuổi vợ lại khắc tuổi chồng (ví dụ tuổi vợ là Bính Thìn khắc tuổi chồng là Bính Ngọ) thì quả thật trường hợp này đúng là “nghi bại nghi vong” - Người vợ sẽ đem lại những bất hạnh, đắng cay cho người chồng. Đây là điều tối kỵ trong việc kết duyên đôi lứa theo thuyết Âm Dương Ngũ hành.


           Hiển thị TV 02.jpg

Nghiên cứu về sự tương khắc của Ngũ hành, thì nguyên tắc căn cứ vào Ngũ hành của nạp âm thủ tựơng nhất quyết phải được chú trọng. Đây là yếu tố quan trọng để lý giải tại sao tương sinh mà lại không tương sinh, tương khắc mà thực chất lại không tương khắc.
Chẳng hạn, tuổi Bính Ngọ và Bính Thìn
Xét về đặc tính của Ngũ hành thì tuổi Bính Ngọ có bản mệnh là Thủy, còn tuổi Bính Thìn có bản mệnh là Thổ, sẽ xung khắc vì: Thổ làm cho Thủy (Thổ khắc Thủy) bị hao kiệt, suy yếu, thậm chí bị hủy diệt. Xét đến âm dương của ngũ hành thì Bính Thìn là dương Thổ, Bính Ngọ là dương Thủy, thì hai tuổi này cũng sẽ không có sự tương khắc mà chỉ đối kháng nhau, đẩy nhau ra xa và không thể có sự hủy diệt nhau vì đều là Dương (+), nhưng nếu xét về bản chất lý tính (nạp âm Ngũ hành) thì Sa Trung Thổ (đất bồi bờ biển, còn gọi đất trong cát) không thể làm hại được Thiên Hà Thủy (nước sông trên trời, còn gọi nước trời mưa) vì các loại Thổ (đất) không thể hút được nước trên trời, ngược lại còn bị nước sông trời (nếu nhiều) sẽ
 làm cho tan rã, hư hại.
Như vậy, tuổi Bính Thìn và Bính Ngọ về cơ bản không có sự xung khắc gay gắt, không dẫn đến cảnh “hủy diệt” lẫn nhau, nhưng vì đều là khí dương (+) nên sẽ không hợp nhau, không làm tốt cho nhau mà luôn đẩy nhau ra xa, cản trở nhau trong mọi công việc.
Lưu ý: Đây là xét về Âm Dương Ngũ hành thì là vậy nhưng không thể cứ là nữ Mệnh Bính Thìn (Thổ) và nam Mệnh Bính Ngọ (Thủy) sẽ đều như vậy. Sự gia giảm về hệ quả của sự kết hợp vợ chồng phần lớn phụ thuộc vào lá số của mỗi người trong mỗi cặp vợ chồng, vì thế mới có sự khác biệt khi so sánh hạnh phúc giữa các cặp vợ chồng có bản Mệnh giống nhau. Tuy nhiên, tất cả các cặp vợ chồng trong trường hợp này đều gặp trục trặc, không ít thì nhiều trong cuộc sống lứa đôi, chứ không thể thuận hòa như những cặp vợ chồng các tuổi khác được.
Hay như tuổi Nhâm Tuất, Quý Hợi có bản mệnh là Đại Hải Thủy (nước biển rộng mênh mông), đặt cạnh Thiên Thượng Hỏa (nạp âm thủ tượng của tuổi Mậu Ngọ, Kỷ Mùi) thì lại tốt bởi Đại Hải Thủy dung nạp tất cả nước sông ngòi đổ xuống nên rất cần có Thiên Thượng Hỏa chiếu xuống làm thành cách thủy bổ dương quang. Như vậy, trong trường hợp này tưởng như khắc mà lại không xung khắc.
Luận bàn về Ngũ hành tương khắc, cổ nhân có 3 cách như sau:
Cách 1: Lấy đặc tính Ngũ hành và Âm Dương Ngũ hành làm căn bản.
Cách 2: Lấy lý tính của Ngũ hành làm căn bản (nạp âm Ngũ hành).
Cách 3: Kết hợp cả 2 cách trên.
Theo kinh nghiệm, chúng tôi chọn cách 3 làm cơ sở cho việc luận giải. Thực tế, sự tương sinh - tương khắc - tương hòa của Ngũ hành không đơn giản. Để lý giải được mối quan hệ tương sinh - tương khắc - tương hòa nào đó, nếu chỉ lấy đặc tính của Ngũ hành và Âm - Dương Ngũ hành làm căn bản sẽ dễ dẫn đến kết luận phiếm diện. Nếu chỉ lấy lý tính của Ngũ hành làm căn bản sẽ có nhiều trường hợp người đoán giải đành chịu bó tay. Vì vậy, khi xét về Âm Dương Ngũ hành bạn đọc nên lưu ý nguyên tắc:
- Lấy đặc tính của Ngũ hành làm căn bản.
- Lấy Âm Dương Ngũ hành làm căn bản.
- Lấy lý tính của nạp âm Ngũ hành làm căn bản.
Cần lưu ý, khi luận giải về tương sinh - tương khắc - tương hòa hoặc quy luật chế hóa của Ngũ hành, người đoán giải phải phải linh hoạt, không được tuân thủ một cách máy móc, tùy theo từng trường hợp, mà có sự linh hoạt, không vì quá coi trọng một yếu tố nào mà đưa ra lời kết luận phiến diện, dẫn đến lời luận giải thiếu chính xác, thậm chí còn bế tắc.


                                                                     Đặng Xuân Xuyến

READ MORE - TÌM HIỂU VỀ NGŨ HÀNH TƯƠNG KHẮC - Đặng Xuân Xuyến

TÌM NHAU - thơ Trầm Mặc


Sông Hội An. Ảnh Nguyễn KP


TÌM NHAU                       

                        Trầm Mặc


Một sớm mai hồng sương    
Nơi phố cổ yêu thương
Sông Hoài dào dạt sóng
Gió lộng vút ngàn phương

Người ơi tìm về đây
Mây đan xen tầng mây
Lá dạo phiên khúc nhạc
Ai phối gam màu này ?  
  
....Vẫn còn đó gốc cây
Trưa bóng đổ hao gầy
Tìm nhau sao chẳng thấy...
Mà nghèn nghẹn cay cay...

Dừng lại bên chiếc cầu
Triền sông tím nhạt màu
Mắt xa xăm vời vợi...
Người bây giờ nơi đâu?

Chiều tà ánh dần phai
Hoàng hôn phủ dặm dài
Mình em còn đứng mãi..
Lịm tắt ... tiếng thở dài...

Lạnh giá thấm bờ vai
Còn chút tuổi heo may
Thiên thu tình gọi nhớ...
Tìm ai ... ơi!  tìm hoài...
                       NTB - Vỹ Dạ Huế

                               T9/2015
READ MORE - TÌM NHAU - thơ Trầm Mặc

XA LONG-KHÁNH - thơ Huy Uyên




XA LONG-KHÁNH

Tình trao em Bảo-quang,Xuân-lộc
qua vườn sầu riêng em lại sầu chung
ngày chia tay ngã-ba-ông-Đồn em khóc
vây quanh anh cây lá xót xa lòng. 

Ngồi "cà-phê-Thật" chiều trôi trên sông
em treo tim ai đứng nhìn cuối dốc
ở quán "Thúy-Kiều" má em hồng không
về Long-Khánh trên cầu ai thả tóc.

Ngờ gió qua thành xưa chở nhớ
vườn của ai hoa đỏ rụng hiên người
gắn nụ hôn trên môi từ buổi đó
chợ chiều em hỏi về chi đây.

Em đưa tôi xuôi Bà-Rịa,Vũng-Tàu
Xa Long-Khánh, xa người tôi quá nhớ
Kim-Sơn mùa này vườn đầy trái sa-pô
ngã ba Tân-phong tiễn người đi bóng lẻ.

Tôi yêu em bằng trái tim của Chúa
đóng đinh tôi trên thập-tự mù lòa
vây quanh tôi  tràn lời phủ-dụ
dấu hiên người đắng lệ trời thu.

Long-Khánh mùa thu chín lá vàng
mênh mông đất,mây,trời yên-lặng
chạy theo em sầu mãi vây quanh
tình đất đỏ chôn sầu bao kỷ-niệm .

Trần gian xưa  tôi và em mê thiếp
cầm trong tay nỗi nhớ vô cùng
Long-Khánh chiều đi ai đang khóc
thu dỗ lòng về xa xót hơi sương.

Em rưng sầu trong hai mắt có đuôi
dấu kín  tình chi mà không nói
vườn nhà ai em mãi đứng chờ
xa nhau sân người hiu buồn từ buổi 
(tàu qua ga sao không dừng lại) ...

Huy Uyên


READ MORE - XA LONG-KHÁNH - thơ Huy Uyên