Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, September 11, 2013

TÌM HIỂU DANH XƯNG CHÚA TIÊN - Nguyễn Phúc Vĩnh Ba


Ảnh của Tôi

     




Ảnh tác giả Nguyễn Phúc Vĩnh Ba




TÌM HIỂU DANH XƯNG CHÚA TIÊN 

(Riêng tặng tất cả giáo viên và học sinh trường Nguyễn  Hoàng - Quảng Trị, xưa và nay)


H.1

Dân Việt ta luôn tự hào có được một giang sơn gấm vóc trải dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau. Để có một non nước tươi đẹp như vậy, hẳn không ai quên được công cuộc Nam tiến mở mang bờ cõi của dân tộc ta dưới thời các chúa Nguyễn Đàng Trong.

Khởi đầu nghiệp Chúa ở Đàng Trong là Chúa Nguyễn Hoàng. Ông vào trấn thủ Thuận Quảng, bắt đầu một thời kỳ lịch sử mới. Để mở rộng bờ cõi, năm 1611 ông đã thực hiện cuộc Nam tiến đầu tiên, tiến chiếm đất từ đèo Cù Mông (bắc Phú Yên) đến đèo Cả (bắc Khánh Hòa) của vương quốc Chăm Pa vốn đã suy yếu, lập thành phủ Phú Yên gồm hai huyện Đòng Xuân và Tuy Hòa, giao cho Văn Phong trấn giữ. Cho tới khi ông mất, giang sơn họ Nguyễn trải dài từ đèo Ngang (nam Hà Tĩnh) tới núi Đá Bia (Thạch Bi Sơn), gần đèo Cả, bây giờ là vùng cực nam Phú Yên.


Tương truyền trong lúc hấp hối, Nguyễn Hoàng dặn dò con trai là Phúc Nguyên: “Nếu Bắc tiến được thì tốt nhất, bằng không giữ vững đất Thuận Quảng và mở mang bờ cõi về phía nam.”
Bản dịch của Viện Sử học sách Đại Nam thực lục, Tập I, tr.28 ghi: “Chúa vỗ về quân dân, thu dụng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng, được dân chúng mến phục, bây giờ thường xưng (tụng) là Chúa Tiên. Nghiệp đế dựng lên, thực là xây nền từ đấy.”

Danh xưng Chúa Tiên trong sử sách ghi là thế, các sách báo ngày nay cũng viết thế. Tuy nhiên, vì không có chữ Hán kèm theo, việc hiểu nghĩa của danh xưng này gặp nhiều khó khăn, mỗi người một ý. Nói chung có 2 cách hiểu :

- Một số nhà nghiên cứu cho rẳng “Tiên” là trước, như trong các cụm từ “trước tiên, tổ tiên, tiên vương, tiên đế,...” Vậy Chúa Tiên là vị chúa đầu tiên, vị chúa khởi thủy của thời Đàng Trong. Nếu thế thì sách xưa phải đã viết là  先 主. Có điều cần lưu ý là các cụm từ tiên vương, tiên đế, tiên chúa lại có nghĩa thông dụng là vị vua, vị chúa đã qua đời. Xưng tụng vậy e là không tế nhị rồi.

- Theo một số người khác “Tiên” là ông Tiên, như trong các cụm từ “tiên phật, tiên cảnh, tiên ông,…” . Theo nghĩa này, chúa Tiên là vị chúa nhân hậu, bác ái, luôn cứu giúp kẻ khốn khó, cơ bần như các ông tiên, ông bụt trong các chuyện cổ tích truyền khẩu dân gian. Với nghĩa này, chúa Tiên phải viết là 仙主.

Cái điều cần làm là chúng ta cần các tư liệu cổ để khỏi phải suy diễn cảm tính rồi tranh luận một cách chủ quan. Tra cứu các sách xưa, người viết đã gặp 2 tư liệu sau :

1- Cụ Trần Trọng Kim trong sách Việt Nam Sử lược, NXB Trung tâm Học Liệu Sài Gòn, 1972, về sau NXB TP Hồ Chí Minh tái bản vào năm 2000, có vẽ sơ đồ Nguyễn thị thế phổ. Trong sơ đồ này cụ ghi rõ là Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng (Chúa Tiên) với chữ Hán là 仙 主. (H.1) Nếu để ý đến danh xưng của con chúa Nguyễn Hoàng, chúa Nguyễn Phúc Nguyên là Phật Chúa (H.2), thì ta thấy được sự thống nhất trong cách xưng tụng của các vị chúa này. Họ là những người luôn cứu giúp dân chúng như các vị tiên phật trong truyện thần thoại  

Dẫu vậy, người viết vẫn chưa yên tâm với tư liệu này. Sách vở in đi in lại biết đâu tam sao thất bổn. Cụ Trần Trọng Kim ghi chú là đã tham khảo Đại Nam thực lục tiền biên. Đây là một văn bản sử học chính thức và quan trọng của Nguyễn triều, độ chính xác có thể xem là tuyệt đối.


H2

2- May thay, tra cứu qua Google, người viết gặp đươc bản scan cuốn Đại Nam Thực lục tiền biên. Trong bản scan cuốn Đại Nam Thực lục tiền biên Q.1, tờ 6 do Nguyễn Triều Quốc Sử Quán biên soạn mà Viện Sử học đã dày công chuyển sang Việt ngữ, người viết đã chụp lại ảnh sau (H.3) :

 H.3

Đoạn văn trong ảnh này đầy đủ là “Thượng phủ tuần quân dân, thu dụng hào kiệt, khinh dao bạc phú, nhân tâm duyệt phục, thời xưng Tiên Chúa. Đế nghiệp chi hưng thực cơ ư thử. 上 撫 循 軍 民,收 用 豪 傑, 輕 徭 薄 赋, 人 心 悅 服,時 稱 僊 主. 帝 業 之 興 寔 基 於 此.”(Bản dịch của Viện Sử học ở trên). Trong đoạn này, từ “Tiên chúa” được khắc bản gỗ là  僊 主. Chữ 僊 nguyên là chữ 仙 (Hán Việt tự điển, Thiều Chửu, tr.37). Đại Nam thực lục của Quốc sử quán thì chắc chắn là chính xác rồi. Hơn nữa các bản khắc gỗ này hiện còn được lưu trữ.

Đến đây, chúng ta đủ cứ liệu để kết luận rằng Chúa Tiên (仙 主) hay Tiên Chúa là danh xưng dành cho Ngài Nguyễn Hoàng với ý nghĩa rằng Ngài nhân hậu từ ái, thông tuệ giỏi giang, lắm phép thần thông và đã cứu giúp dân chúng như các vị tiên trong thần thoại.

Nếu không có Chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào Nam, làm gì có nghiệp Chúa Đàng Trong và chúng ta làm sao có một giang sơn rộng lớn xinh đẹp như hôm nay. Xưng tụng như thế là một cách tri ân đối người cầm quyền có công lớn với dân tộc và Tổ Quốc. Thật chí lí thay!

                                                  Nguyễn Phúc Vĩnh Ba
                                                        (Tháng 9.2013)



READ MORE - TÌM HIỂU DANH XƯNG CHÚA TIÊN - Nguyễn Phúc Vĩnh Ba

HOÀNG HOA QUÁN - Lê Đăng Mành và thi hữu


Quý tặng chủ nhân Hoàng Hoa Quán: 
Họa sĩ Nguyễn Bá Văn        
Thị trấn Ngãi Giao, Huyện Châu Đức, Bà Rịa-Vũng Tàu



HOÀNG HOA QUÁN

Hãy về thăm lại Quán Hoàng Hoa
Oanh hót dẫn đường lữ khách xa
Ai hỡi tĩnh xem mây vẫy họa
Người ơi lặng ngắm nước ngâm ca
Giao văn tha thiết tình Chung Tử
Hòa Nhạc chứa chan nghĩa Bá Nha
Ong bướm dập dìu về hội ngộ
An nhiên một cõi – chúc Hoàng Hoa !

                                                  Lê Đăng Mành



BÀI HỌA:
CHÚC HOÀNG HOA QUÁN                              

Trăng vàng lồng cảnh quán hoàng hoa
Níu gót văn nhân muôn nẻo xa
Khí dịu trời quang đàn vẫy gọi
Hương nồng gió thoảng giọng chim ca
Vào đây ôn lại tình xưa nhé
Ghé đó nhớ về nghĩa cũ nha
Lắng đọng vần thơ hoà điệu nhạc
Cho đời tươi thắm mãi như hoa

                             Trần Ngộ 
                             LÂM ĐỒNG



BÀI HỌA: 
QUÁN HOÀNG HOA

Cảnh quan xinh đẹp lắm bông hoa
Phưởng phất thơm nồng hương vị xa
Lả lướt tay ngà nâng phím nhạc
Ung dung dáng ngọc vút lời ca
Phả hơi thuốc lá hồn thanh thản
Nhắm ngụm cà phê lòng nhởn nha
Giây phút êm đềm trôi chậm rãi
Chút tình lưu luyến quán Hoàng Hoa !


                   Nguyễn Thanh Bá
READ MORE - HOÀNG HOA QUÁN - Lê Đăng Mành và thi hữu

Châu Thạch đọc “HAI BỜ NHỚ” THƠ TRƯƠNG ĐIỆN HÒA và “THU SỚM” THƠ THỦY LÂM SINH: ĐƯỜNG THI HAY THƠ MỚI?


                       
Châu Thạch

               

HAI BỜ NHỚ - thơ Trương Điện Hòa
Gởi Vân

Trời hôm nay bỗng dưng lành lạnh
Chiều chậm dần, anh lại nhớ em
Bờ phía ấy còn nồng giấc điệp
Bờ bên đây sắp phủ màn đêm
Le the gió lẻn vào trong cửa
Tí tách mưa, hòa nhịp trước thềm
Anh muốn dang đôi tay Thánh giá
Níu đôi bờ nhích lại gần thêm
05.09.2013





THU SỚM - thơ Thủy Lâm Sinh

Gió  bỗng tuôn về lạnh cửa sau
Heo may sớm rộ ở trên cao
Xa xa núi biếc mây vần vũ
Mé  mé hồ gương lá xạc xào
Kiến cánh quanh vườn ùn đống đống
Chuồn bầu trước ngõ lượn lao xao
Hè  chưa tắt nắng thu về sớm (*)
Hối hả làm chi chậm đã nào!

Aug. 26, 2013

(*) Thu Mỹ bắt đầu Sept. 22



Thảo luận: Châu Thạch

Ngày nay phong trào làm thơ Đường rộ lên và thơ Đường sáng tác ra nhiều như nấm. Thật ra đó là môn tiêu khiển lý thú và bổ ích cho người cao tuổi lẩn người còn thanh niên nếu yêu mến nó. Tuy thế người làm thơ Đường dễ bị khuyết điểm là thường hay bổn cũ soạn lại, nghĩa là từ ngữ, ý thơ, âm điệu y chang người trước. Cho nên ngày nay đọc bài thơ Đường nào cũng từa tựa như bài thơ đường nào, riết thì đâm ra ngán ngẩm. Cũng không trách người sáng tác, vì thơ Đường được gọi là thơ bác học lại gò bó trong luật lệ gắt gao nên muốn làm cho thơ mới, khác, lạ không phải là dễ chi. Nhiều tác giả chơi thơ Đường điêu luyện như xiếc: cắt chữ, cắt câu, bỏ đầu, bổ đuôi, láy vận, đảo vận thật là tình tế nhưng vẫn không thoát ra cái vòng luẩn quẩn là dùng từ, dùng chữ, dùng ý, dùng hình ảnh, dùng âm thanh, dùng ngữ điệu đều đã cũ mèn rồi. Nói như thế không phải người viết nầy dám chê bai một ai, vì mỗi người có một phong cách thơ, và nếu bộc lộ được cái tinh túy của phong cách  thơ mình thì dầu mới hay cũ cũng rất là hay và đáng cho nể phục. Ở đây Châu Thạch chỉ cốt yếu dùng đôi lời phi lộ để đi vào giới thiệu những bài thơ có một phong cách Đường thi rất mới, như bài thơ “Hai bờ Nhớ” của Trương điện Hòa và “Thu Sớm” của Thủy lâm Sinh.

Đọc bài thơ Trương điện Hòa nếu không để ý ta cứ tưởng như một bài thơ mới hoàn toàn:

Trời hôm nay bỗng dưng lành lạnh
Chiều chậm dần, anh lại nhớ em
Bờ phía ấy còn nồng giấc điệp
Bờ bên đây sắp phủ màn đêm
Le the gió lẻn vào trong cửa
Tí tách mưa, hòa nhịp trước thềm
Anh muốn dang đôi tay Thánh giá
Níu đôi bờ nhích lại gần thêm

Bài thơ  nói đến cái nhớ của hai người  ở hai bên bờ biển, không dùng lấy một từ Hán Việt, không dùng cả một điển tích nào, cũng không dùng đến các từ ngữ gợi hình, gợi cảm, ẩn dụ hay siêu hình mà vẫn đưa người đọc hòa mình trong nỗi nhớ nhung mông lung rộng lớn. Chữ trong bài thơ ai cũng hiểu được, lời trong bài thơ như nói chuyện cùng nhau, âm thanh trong bài giao hưởng và phong cách trong bài thơ nhẹ nhàng trong trẻo, thanh bai chẳng khác chi một bài thơ mới. Tác giả dùng chữ “đôi tay Thánh Giá” mới hoàn toàn, nó là một từ nói lên được nhiều ý nghĩa vừa yêu thương, vừa rộng lớn, vừa bao trùm muôn vật.

Với bài thơ của Thủy lâm Sinh, thu về sớm với những hình ảnh quen thuộc, quen thuộc với con người nhưng không quen thuộc với  Đường thi:

Gió bỗng tuôn về lạnh cửa sau
Heo may sớm rộ ở trên cao
Xa xa núi biếc mây vần vũ
Mé mé hồ gương lá xạc xào
Kiến cánh quanh vườn ùn đống đống
Chuồn bầu trước ngõ lượn lao xao
Hè chưa tắt nắng thu về sớm (*)
Hối hả  làm chi chậm đã nào!

Không quen thuộc với Đường thi vì  nó cũng không có từ Hán Việt, cũng không có  điển tích, cũng lời thơ bình dị , từ ngữ đơn sơ mà biểu lộ được hết hình ảnh mùa thu đến sớm. Nhất là hình ảnh “ Kiến cánh quanh vườn”, “ Chuồn chuồn trước ngõ” làm bài Đường thi có âm hưởng như một bài thơ lục bát, khiến cho phong cảnh trở nên quen thuộc vô cùng dầu tác giả cho biết đây là mùa thu ở Mỹ, từ đó ta suy luận được tâm hồn tác giả quyến luyến với quê nhà đến biết là bao. Hai câu kết trong bài thơ vô cùng nhỏ nhẻ và vô cùng dễ thương như một lời mời nán lại thân tình mà thắm thiết
vô biên.

 Đọc hai bài thơ trên ta nghe được tiếng thơ êm ái phả nhẹ vào lòng nỗi nhớ nhung cũng như hình dung được phong cảnh buổi giao mùa vừa xôn xao vừa đẹp mắt. Hai bài thơ sáng tác trong quy luật Đường thi hoàn hảo với niêm luật đầy đủ, chặt chẻ bố cục và các câu đối vừa chỉnh lại vừa hay, nhưng tiếng thơ lại mang đầy âm thanh,  đầy màu sắc và bước đi của thơ, nghĩa là sự chuyển câu hài hòa, bay bổng. Sự song song của những câu thơ ở vế trạng, luận không làm cho ta thấy tác giả cố tình bỏ công kết cấu nhau cho đối xứng từ và ý, mà nó đã nẩy sinh trong hồn thơ rồi phát tiết ra ngoài một cách tự nhiên mà rất chỉnh. Đây hoàn toàn là hai bài thơ mới tiêu biểu làm theo thể Đường thi. Tôi nghĩ trên các trang Đường thi ngay nay, nếu có nhiều những bài thơ như thế thì các thể thơ khác như thơ mới, thơ tự do, thơ hiện đại, thơ hậu hiện đại phải chào thua ./.

                                         Châu Thạch



READ MORE - Châu Thạch đọc “HAI BỜ NHỚ” THƠ TRƯƠNG ĐIỆN HÒA và “THU SỚM” THƠ THỦY LÂM SINH: ĐƯỜNG THI HAY THƠ MỚI?

MỘT LẦN GHÉ ĐẢO TRƯỜNG SA - thơ Phan Minh Châu





MỘT LẦN GHÉ ĐẢO TRƯỜNG SA

Trên mỗi con tàu xé gió ra khơi
Tôi mới hiểu thế nào là Tổ Quốc
Bóng người lính quê hương ngày đêm ôm đất nước
Thương Trường Sa như chính trái tim mình
Tàu dập dình nuôi khát vọng bình minh
Cờ Tổ quốc sáng ngời trên biễn dử
Ngôi sao mai đồng hành trên mũ
Chúng tôi đi ….Tổ quốc chỉ đường
Họ đến đây từ mọi phía yêu thương
Vui sướng, ngọt bùi chung tình lính đảo
Bóng Tiên Nữ ngày đêm lo chống bão
Giông tố mưa sa nên tóc ngã đôi màu
Bốn bề là khoảng trống mênh mông
Trường Sa lớn choàng vai Trường Sa nhỏ
Đảo An Bang hay là thành phố trẻ
Đêm xập xình lễ hội hát ca
Đảo chập chờn như một đứa con xa
Theo cột mốc cứ mỗi ngày rung chuyễn.
Hởi Đá Tây,Phan Vinh,Tiên Nữ
Có chạnh lòng khi bão xé An Bang
Những năm dài biễn đảo sạm hoàng hôn
Bởi bão dữ xé phần thân Tổ quốc
Chúng tôi đi mang theo từng nhúm đất
Từng giọt phù sa của mẹ đến cho người
Thoang thoáng giọng cười ngạo nghễ đầy vơi
Của người lính ngày đêm canhTổ Quốc
Câu khẩu hiệu ( CÒN NGƯỜI LÀ CÒN ĐẤT )
Mong một ngày xương thịt gửi quê hương
Tạm biệt An Bang
Qua Quế Đường theo cột mốc yêu thương
Đảo xanh ngắt một màu xanh của lính
Bóng Hãi Âu đêm ngày chao cánh
Gieo tình yêu thánh thiện xuống cho đời
Chúng tôi về đảo có mồ côi?
Khi biễn đảo một ngày xa Tổ Quốc?
Anh nằm xuống ngôi sao hôm vừa mất
Ngôi sao mai khao khát đợi lên đường.

                

TỔ QUỐC CẦN ĐÃ CÓ CHÚNG CON 

Có phải giờ này con đang ngồi trong lớp
Đang tập đánh vần hai chữ VIỆT NAM
Tổ Quốc mình một dải đất yêu thương
Nằm thao thức bao đêm chờ Bão dữ
Cơn Bão nghìn năm đã đi vào trang sử
Trang sử hào hùng còn sáng Bạch Đằng Giang
Hưng Đạo Vương đã chặn Bão nghìn năm
Bằng cọc nhọn từ rừng tre nước Việt
Và hai bà Trưng đã giữ tròn khí tiết
Để Hát Giang mãi mãi sáng lời thề
Trăm trứng Rồng bay lượn khắp trời quê
Cha ông ta ngày xưa
Vẫn hiện về trong con qua những bài lịch sử
Và biển, đảo của ta.
Đã ghi rỏ trong những bài Địa Lý
Bốn nghìn năm Ấn Chỉ vẫn chưa phai .
Dân tộc chúng ta
Một dân tộc thủy chung và hồn hậu
Lấy nghĩa nhân làm thước để răn mình
Bốn bể năm châu thắm tình bè bạn
Trọng lời thề sau trước vẫn đinh ninh.
Nhưng Bão tố nghìn năm xưa đã bắt đầu trỗi dậy
Sóng dập dồn trên biển đảo quê hương
Hoàng Sa,Trường Sa cồn đất nhỏ yêu thương
Đang thao thức từng đêm dài chống Bão.
Các anh con
Rời sắc áo học trò để thành người lính đảo
Ngày canh trời đêm chốt biễn xa xôi
Nghe sóng gầm nhớ mẹ thuở ru nôi
Mai khôn lớn con làm nên Phù Đổng.
Đất nước ta
Bốn nghìn năm biển dài và đất rộng.
Mỗi bờ tre mỗi thành quách kiêu hùng
Bão phương Bắc có làm nên biển sóng
Vẫn sáng ngời hai tiếng Việt Nam


Phan Minh Châu
READ MORE - MỘT LẦN GHÉ ĐẢO TRƯỜNG SA - thơ Phan Minh Châu

HƠI THU - thơ Thế Lộc




Thu đến tôi ngồi xếp lá
Đếm hoài mà vẫn cô đơn
Mất nhau mấy mùa sương giá
Cắn hoài nỗi nhớ... nhớ hơn

Mong manh đôi tà áo trắng
Cứa cào hình bóng trong tim
Mất em nữa đời mưa nắng
Cuối trời thu lá vàng thêm

Bóng mây qua chiều thu lạc
Bơ vơ chiếc bóng rũ mềm
Người về đầu non xao xác
Nghe thu vàng rớt bên thềm. 

06.09.2013
READ MORE - HƠI THU - thơ Thế Lộc

TÂY SƠN KHỞI NGHĨA - thơ Lê Ngọc Phái


Tượng đài Vua Quang Trung ở Quy Nhơn


Tham nhũng, kiêu binh lấn bệ rồng
Tây Sơn khởi nghĩa diệt thù chung
Kết trời Nam – Bắc xây triều mới
Đuổi giặc Xiêm - Thanh đến ngõ cùng
Dẹp loạn quyền thần ba đế chế
Lập nền pháp trị một hoàng cung
Muôn dân thoát khỏi thời chinh chiến
Đại Việt lừng danh giống Lạc Hồng.

Lê Ngọc Phái
                            

Họ Trịnh và Nguyễn hùng cứ ở Nam và Bắc. Vua Lê chẳng còn quyền hành gì nữa. Về sau, ở ngoài Bắc thì có kiêu binh làm loạn, ở trong Nam thì có Trương Phúc Loan chuyên quyền làm nhiều điều gian ác. Năm 1771, ba anh em Tây Sơn dấy binh chống chúa Nguyễn, kêu gọi đánh đổ quyền thần Trương Phúc Loan. Tây Sơn đến đâu, dân theo đến đó và cuối cùng Thống nhất đất nước.

                            
READ MORE - TÂY SƠN KHỞI NGHĨA - thơ Lê Ngọc Phái

Monday, September 9, 2013

VỀ QUẢNG TRỊ, EM ƠI! - thơ Châu Thạch




Về Quảng Trị, em ơi về Quảng Trị!
Hãy về thăm đất thánh ở trong lòng
Để gom nắng hè vẫn ở đó chờ mong
Để gom lạnh đông vẫn đợi ngày quay lại.


Và mùa xuân, và mùa thu còn mãi
Trong lòng ta ký ức một thời thơ
Hiện nguyên hình trong mỗi một cơn mơ
Bao kỷ niệm bên cổ thành rêu mốc.


Về Quảng trị, để ôn đời khó nhọc!
Những chùm nho bão thổi rụng muôn phương
Những mãnh đời viết lại đến trăm chương
Những thân phận trôi dài trong khói lửa.


Về để thấy trường xưa ngày hai buổi…
Giờ thay tên xa lạ đến vô cùng
Để môn sinh và nghĩa thục trùng phùng
Còn ngơ ngác không ôm choàng nhau khóc.


Về Quảng Trị để nghe lời trách móc
Trách người đi, đi mãi vẫn chưa về
Trách người về  chưa trọn bước thăm quê
Thì đã phải ra đi miền xa thẳm.


Về Quảng trị, em ơi về mà ngắm
Cái hiện nay còn dấu tích qua rồi
Cái qua rồi âu yếm đặt lên ngôi
Và chan chứa trong nụ cười rơi lệ.

Châu Thạch


READ MORE - VỀ QUẢNG TRỊ, EM ƠI! - thơ Châu Thạch

CÚC DẠI - thơ Trương Nguyễn



Buổi sáng đi trên đường
Ngắm loài hoa cúc dại
Tuổi thơ bừng sống dậy
Tươi non màu lá xanh

Những trái cúc hiền lành
Lung linh hừng chín đỏ
Thuở thiếu thời rực lửa
Mộng ước vắt ngang trời

Ngày ta còn đôi mươi
Em ngọt thơm mùi cúc
Xoáy lòng nhau rạo rực
Như cơn lốc địa cầu

Thời gian vút qua mau
Tóc sương pha màu nhớ
Mỗi bông hoa rụng vỡ

Tả tơi một linh hồn.

TRƯƠNG NGUYỄN
READ MORE - CÚC DẠI - thơ Trương Nguyễn

TÌNH THU B'LAO - Hoàng Yên Linh




Một chút nắng vương bên chiều sương núi
Có phải mùa thu gõ cửa lá rừng
Có ánh trăng vàng nghiêng vàng khe suối
Thu đã về hay ... Thu vẫn mông lung.

Mây xám lưng trời bên chiều bảng lãng
Khói tỏa đùn quanh bếp lửa vách sàn
Chầm chậm thu ơi núi rừng xanh thẳm
Để khúc tình ca vang vọng bên đồi.

Giọt nắng vàng hanh gọi mùa thu tới
Sơn nữ mắt cười dệt cẩm chờ ai
Chàng trai K' Ho bước chân không mỏi
Rộn rã cồng chiêng thu lại đến rồi ...

Cứ thế mùa thu nhẹ nhàng tìm đến
Vằng vặc trăng đầy soi bóng lứa đôi
Tiếng thu thì thầm bâng khuâng xao xuyến
Chao cánh chim nghiêng . thu chạm đất trời.

Đamri  8.2013

HOÀNG YÊN LYNH
READ MORE - TÌNH THU B'LAO - Hoàng Yên Linh

NGÀY VỀ - Thơ: Mai Hoài Thu - Nhạc: Vĩnh Điện - Ca sĩ: Ngọc Quy

Mai Hoài Thu





READ MORE - NGÀY VỀ - Thơ: Mai Hoài Thu - Nhạc: Vĩnh Điện - Ca sĩ: Ngọc Quy

MÙA HOA Ô MÔI, RUNG ĐỘNG THUỞ ĐẦU ĐỜI - Tản văn Nguyễn An Bình





Theo cánh tay chỉ của Hà tôi ngạc nhiên đến bàng hoàng khi lần đầu tiên nhìn thấy màu hoa hồng tím  rực rỡ  nở rộ trên cây ô môi ở đầu vàm sông mà Hà nói đó là nhà ngoại của Hà. Cả một cây toàn hoa là hoa, đứng ở xa nó như một cây nấm hồng khổng lồ giữa một màu xanh của dừa, cam và những cây ăn trái khác. Ngày nhỏ tôi chỉ biết ô môi qua những khúc trái ô môi được người bán hàng trong xóm bày trên sạp hàng xen kẻ lủ khủ với bánh kẹo cốc ổi hay trong những cái mẹt của những người bán hàng rong trước cổng trường. Trái ô môi giống như cây gậy đen dài, thô cứng cong cong. Người bán mua về chặt thành từng khúc chừng một gang tay, chỉ cần một đồng bạc là học trò nhỏ chúng tôi sẽ là chủ nhân của những khúc ô môi đó. Muốn ăn phải róc vỏ cứng hai bên đường gân của quả rồi dùng tay ép hai bên đường gân qua lại cho nó xệu xạo đi rồi mới lấy từng múi ô môi tròn tròn đen lánh nhựa bỏ vào miệng nhai một cách ngon lành, nếu người nào mới ăn ô môi lần đầu tiên sẽ không cảm nhận được cái ngon của nó  vì mùi vị ngòn ngọt nhưng hơi hăng hắc, cay nồng còn đối với tuổi thơ chúng tôi đó là món quà dân dã mà học trò chúng tôi rất ưa thích. Tôi không ngờ quả ô môi xấu xí, đen đúa như thế mà hoa của nó lại đẹp, quyến rũ vô cùng.

Tôi và Hà học chung với nhau ở trường trung học tư thục TV nằm trên đường Phan Đình Phùng. Thuở ấy học sinh thi rớt vào đệ thất (lớp 6 bây giờ) trường công lập học sinh phải ra trường tư học. Hiệu trưởng trường TV nơi tôi và Hà học là một vị linh mục công giáo đâu ở tận Sài Gòn, năm khi mười họa mới thấy ông có mặt ở trường, người điều hành trực tiếp là ông giám học S, lùn tịt, đầu hói chạy chiếc xe 67 sơn màu đỏ, mỗi lần ông nầy lên xuống chiếc honda đó là học sinh chúng tôi quay mặt nhìn nhau cười vì như đang trông thấy một hình ảnh ngộ nghỉnh quá giống như ông đang đánh vật với chiếc xe gắn máy đó vậy. Lớp đệ nhị A1 tôi năm ấy rất đông học sinh gần 60 mạng chứ ít sao, mà thành phần cũng rất hỗn tạp. Để tránh việc mất tập trung trong giờ học tôi chọn dãy bàn đầu gần bảng vì thế tôi và Hà ngồi chung bàn với nhau. Hà không phải người thành phố mà nhà ở tận vàm Thới An Ô Môn, vì ở huyện không có trường cấp 3 nên Hà được cha mẹ cho xuống  nhà bà ngoại ở thành phố học. Nhà ngoại Hà cách thành phố gần 4 cây số qua cầu Đầu Sấu nên mỗi ngày Hà phải đón xe lam đến trường. Ngày bình thường thì không nói làm gì, cực nhất là những ngày mưa dầm và những ngày đổi tiết học bù vào buổi chiều. Vì là trường tư nên số giáo viên cơ hữu rất ít, đội ngũ giáo viên thường là giáo viên công lập được mời dạy thêm và có đôi ba ông sĩ quan có bằng cấp xin dạy thêm giờ nên mỗi lần họ bận công tác là chúng tôi bị bắt học bù vào buổi chiều, vì nhà xa nên buổi trưa Hà phải ở lại trường đợi học xong mấy tiết buổi chiều rồi mới đón xe lam về. Hà lớn hơn tôi hai tuổi, có mái tóc rất đẹp, dài mịn xõa chấm vai, bọn con trai trong lớp tôi nhiều đứa mê mái tóc đó đặt tên là tóc hoàng kim vì nó không đen nhánh mà ửng một màu vàng rất đẹp. Hà giỏi toán còn tôi lại giỏi văn do đó chúng tôi thường trao đổi, giúp đở nhau trong học tập rất ăn ý. Mỗi lần học buổi chiều thường Hà thường rũ tôi ở lại trường cho vui. Mỗi lần như thế Hà rất chu đáo, đem cơm theo sẵn để tôi cùng ăn chung. Sau khi ăn xong chúng tôi tìm một góc yên tỉnh để ôn bài vì năm nay là năm chúng tôi thi tú tài một nên bài vở rất nhiều, có người học chung lại có dịp trao đổi với nhau nên chúng tôi học, hiểu bài rất nhanh. Hà thường nói với tôi về ước mơ tương lai của cô sau nầy sẽ thi vào trường sư phạm trở thành cô giáo dạy học cho mấy đứa nhỏ ở quê nhà vì chiến tranh mà nhiều đứa thất học rất tội nghiệp. Ước mơ của Hà thật bình thường giản dị như bao cô gái vùng quê khác.

Một ngày tháng tư gần cuối năm học, đột nhiên Hà rủ tôi về nhà bà ngoại chơi, tôi cũng háo hức muốn biết nhà ngoại của Hà như thế nào nên đồng ý ngay. Thế là sau buổi học ngày thứ bảy tôi lấy xe đạp chở Hà về nhà. Qua khỏi cầu Đầu Sấu chúng tôi xuống xe dẫn bộ đi dọc theo con sông, qua mấy cây cầu dừa được một khoảng khá xa, Hà chỉ cho tôi thấy nhà ngoại nằm dưới bóng cây ô môi rực hoa hồng tím ấy.

Hôm ấy tôi được ngoại Hà đãi cho một bửa cơm canh chua cá lóc bông súng và cá rô kho tộ thật ngon, tôi cũng góp sức bằng cách lội xuống ao ngắt những cọng bông súng to ụ để nấu canh. Ăn cơm xong tôi và Hà ra ngoài bờ sông dưới gốc cây ô môi để ngắm cảnh, nói chuyện học hành với nhau. Thấy tôi chăm chú nhìn lên cây ô môi đang mùa trổ bông, Hà giải thích cho tôi biết cây ô môi mỗi năm chỉ trổ hoa một lần vào khoảng cuối xuân, đặc biệt trước khi bắt đầu kết nụ, cây ô môi rụng hết lá rồi mới bắt đầu trổ bông, bông trổ trên những cành dài mấy sải tay nhìn giống như hoa đào. Bông ô môi hồng thắm, chỉ lớn bằng gấp đôi hoa khế nhưng khi trổ dày đặc, oằn trĩu cả thân cành. Chỉ cần qua một đêm, những cành cây khẳng khiu xấu xí của ô môi như bỗng thức dậy với những chùm bông hồng tím rực rỡ đến lạ kỳ. Hà nói hoa ô môi đẹp lắm, nó được nhiều người ví như hoa đào phương Nam, nó đẹp quyến rũ một cách lạ lùng, nhất là những ngày nắng vàng tươi, những chùm hoa ô môi khoe sắc lung linh trong gió, óng mượt như tơ. Mùa hoa ô môi có thể kéo dài cả tháng, những cánh hoa khi nở xong lần lượt lìa cành, nhuộm đỏ cả sân vườn, dòng kênh. Ô Môi bắt đầu kết trái mãi đến tận mùa hè năm sau mới có thể thu hoạch được.

Hà cúi xuống đất nhặt một cánh hoa ô môi đưa cho tôi nói:

Bình cài lên tóc của Hà đi.

Hà thường xưng hô bằng tên với tôi như vậy. Tôi cầm lấy cánh hoa cài nhẹ lên mái tóc của Hà, cô hỏi tôi:

Bình thấy Hà thế nào?

Tôi hơi bối rối:

Chị đẹp lắm, trong lớp nhiều anh thích chị lắm chị biết không?

Đột nhiên Hà cầm lấy tay tôi, run rẩy:

Còn Bình có thích Hà không?

Mặt tôi đỏ lên, lần đầu tiên được người con gái cầm tay, lại hỏi mình có thích cô ấy hay không, một sự rung động nhẹ nhàng len vào lòng mình một cảm giác êm dịu khó tả, tôi nói nhỏ:

Sao chị hỏi như vậy? không thích sao mình làm bạn với nhau bấy lâu nay?

Hà nhìn tôi hơi buồn, rồi buông tay tôi ra, nhìn ra bờ sông. Vài cánh hoa ô môi rơi rụng xuống dòng sông trôi dật dờ trên mặt nước, nói bâng quơ:

Sợ sau nầy Bình không còn thích Hà nữa.

Tôi lặng im không nói cũng nhìn ra bờ sông, không phải tôi không biết Hà có nhiều tình cảm đối với tôi, nhưng từ lâu tôi đã vạch một hướng đi riêng cho mình. Ánh sáng của thành phố Sài Gòn lúc bấy giờ đang hấp dẫn đối với tôi, tôi như con thiêu thân muốn bay về đó bằng bất cứ giá nào. Tôi phải lên đó học tập và thực hiện những ước mơ hoài bảo của mình. Tôi không thể ở lại vùng quê nhỏ bé cùng Hà thực hiện ước mơ bình thường giản dị của cô  nhưng tôi không dám nói dự định của mình sợ làm Hà buồn, thôi đành vậy cứ để thời gian qua đi. Mọi việc sẽ được giải quyết thôi mà.
    

Sau mùa thi tú tài năm ấy, có kết quả xong Hạ nộp đơn thi vào trường sư phạm Vĩnh Long để thực hiện mơ ước làm giáo viên mà mình ấp ủ từ bấy lâu nay, còn tôi thì lên Sài Gòn tiếp tục học để thực hiện  những ước mơ xa vời viễn vông của mình. Lúc ấy ở miền Tây muốn làm giáo viên dạy tiểu học, thí sinh đều phải qua Vĩnh Long để thi vào trường sư phạm. Vì nhà xa nên Hà xin vào ở nội trú trong trường luôn, vài tuần hay một hai tháng Hà mới về Cần Thơ thăm ngoại hay về Ô Môn thăm gia đình, tôi và Hà gần như không còn có dịp gặp nhau, chúng tôi chỉ còn thăm hỏi nhau qua thư từ, những lời hỏi thăm, động viên nhau trong học tập, đôi lần Hà hỏi bâng quơ tôi có bạn gái chưa tôi chỉ trả lời ởm ờ rằng chuyện đó còn xa xôi quá tôi chưa nghĩ tới, rồi tôi cũng hỏi Hà câu đại để như thế nhưng trong thư trả lời sau đó Hà không nhắc tới, lời trong thư có vẻ hơi buồn. Rồi thư từ giữa chúng tôi mỗi ngày cũng một thưa dần, thưa dần.

Lần cuối tôi nhận được thư của Hà, cô báo tin là đã ra trường gần một năm, xin về quê nhà ở Ô Môn để dạy, cô cũng cho hay bà ngoại cô, người mà cô thương yêu rất mực đã mất tròn một năm rồi, ngôi nhà cũ với khu vườn nhỏ không người trông coi đã được sang cho người quen và quan trọng hơn hết là Hà báo tin sắp lập gia đình với một giáo viên cùng trường, anh là người ở xa nhưng vì thương Hà nên đồng ý đổi về quê Hà cùng dạy chung, nếu tôi thời gian đó có rảnh về quê Hà dự đám cưới cho vui và trong thư Hà cũng mong muốn tôi sẽ tìm được người mà mình yêu thương, tôi trả lời lại với Hà rằng tôi rất vui khi cô tìm được một nửa của mình, hạnh phúc bên người chồng yêu thương cô hứa sẽ cố sắp xếp việc học hành để về dự nhưng trong thâm tâm tôi lại do dự không muốn về. Một cảm giác buồn buồn như đánh mất một thứ gì đó thật sự lúc bấy giờ tôi nghĩ mãi vẫn không ra, trong tâm trí tôi lại hiện ra hình ảnh cây ô môi bên bờ sông Đầu Sấu nhà ngoại của Hà, cái cây ô môi mọc ve ra ngoài mé sông đến cuối xuân là bắt đầu rụng hết lá để bắt đầu cho một mùa hoa mới với những chùm hoa hồng phớt rực rỡ đứng mãi đằng xa vẫn có thể trông thấy màu hoa tươi tắn đến nao lòng của nó, những cánh hoa ô môi chỉ sau một đêm nở bung hết mình một cách mạnh mẽ nhưng cũng rất thầm lặng, lặng lẽ nở rồi từng cánh cũng lặng lẽ rơi trôi theo dòng nước ra sông cái và không biết sẽ trôi về đâu không ai biết nữa. Dưới gốc cây ô môi ngày ấy có một người con gái có mái tóc hoàng kim dịu mềm hỏi một thằng con trai vừa lớn râu mới lún phún lông tơ xem có thích cô ấy không và thằng con trai ấy trái tim bắt đầu biết xao xuyến, rung động nhưng đã tự kiềm chế vì không muốn dừng lại ở một ước mơ bình dị của cô gái đã lặng lẽ rời xa . Sau nầy lớn lên trải qua nhiều thăng trầm trong cuộc sống tôi, những đắng cay đổ vỡ trong tình cảm tôi mới hiểu được cái cảm giác buồn buồn khi được Hà báo tin sắp lập gia đình, đó là sự mất mác một thứ tình yêu hồn nhiên ngây thơ của tuổi học trò, sự rung động đầu đời đã qua đi và nếu ta không biết giữ lấy nó sẽ không bao giờ trở lại lần thứ hai trong cuộc đời mình nữa.  

Bỗng nhiên tôi lại nhớ bài ca vọng cổ của sọan giả Viễn Châu về hoa ô môi nghe buồn tha thiết:

“…Ô môi rụng cánh ngoài sân
Mấy mùa hoa nở mấy năm đợi chờ
Ô môi rụng cánh tơi bời
Chuông tắt lâu rồi, tôi còn đứng đợi ai?”


Nguyễn An Bình
READ MORE - MÙA HOA Ô MÔI, RUNG ĐỘNG THUỞ ĐẦU ĐỜI - Tản văn Nguyễn An Bình

NỖI NIỀM - NGHE XUÂN - thơ Mai Thanh





NỖI NIỀM

Hàng cau liêu xiêu
Mây trôi bảng lảng
Tưởng như ai rũ tóc bên hè
Rổn rảng tiếng gà lên ổ
Đêm về chiếc bóng soi nghiêng
Rã rời tiếng vạc kêu đêm
Phờ phạc tiếng chim gáy sáng
Lại một ngày lẻ bạn
Nữa rồi xa tít mù khơi
Ơi! Người xưa-thuở ấy đâu rồi?
Nặng nỗi trông chờ
Trĩu lòng mong ngóng
Nghe niềm riêng gọi mộng
Ngậm ngùi đưa bước phiêu diêu
Nhìn con bồ câu lẻ bạn đìu hiu:
Chợt thấy lòng nông nỗi
U hoài cõi vắng cô liêu...
Sầu đêm chưa qua
Lại não nề chiều
Buồn vui giăng mắc bao điều khen-chê
Nỗi niềm biết ở, hay đi
Ngò sen còn có chút gì tơ vương?
Cõi Người càng ngẫm, càng thương
Ai đi, bỏ lại vấn vương nơi này
Vui chi chơi chốn bi-hài
Nỗi đau khép lại, nhạt phai kệ người!
Đau duyên cũng bởi tại Trời
Đau tình cũng bởi kiếp Đời đa đoan!
Tìm tình ngơ ngẩn sông Ngân
Tìm yêu gặp chốn tần ngần sông Tương
Đêm về lãng đãng trời sương
Nhìn hoa Mai nở mà thương...thương lòng.




NGHE XUÂN

Anh đưa em về nghe Xuân quê anh
Nghe sông Mã ngân điệu hò một thuở
Nam Ngạn rền tiếng bom rơi, đạn nổ
Nay giăng giăng bề bộn công trình

Anh đưa em về đất cũ Lam Kinh
Nghe tiếng gươm khua một thời dấy nghĩa
Gặp lại hồn xưa Cần Vương dũng khí
Nghe vọng đâu đây tiếng súng Ba Đình

Anh đưa em về Tây Đô quê anh
Nghe các vua Hồ luận bàn quốc sách
Nghe tiếng cá thần quẫy suối Xuân róc rách
Nghe tiếng chiêng Mường bản nhỏ chênh vênh  

Em thả tóc mềm buông trên vai anh
Nghe giọng hát Xường nở bừng Mai trắng
Nghe con nai trong rừng Xuân gọi bạn
Nghe mạch rượu cần chảy đến thâu đêm

Nghe thì thầm trong tiếng gọi con tim
Nghe thao thức trong lời yêu trìu mến
Hơi thở nồng nàn, nghe hồn xao xuyến
Nghe đôi môi trao gửi ấm mềm…


Giữa Xuân Đời, anh ngây ngất Xuân Em!

Mai Thanh



READ MORE - NỖI NIỀM - NGHE XUÂN - thơ Mai Thanh