Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, March 12, 2013

HOÀNG HÔN TÍM – Phùng Nguyên




Cảm tác thơ đồng nghiệp H.T.Lập (USA )


Ngày xa em không nói lời giã biệt   
Cuộc đời ta từ đó lạnh cơn mưa   
Mà trong lòng vẫn rất nhiều tha thiết   
Và vô cùng rạng rỡ bóng hình xưa. 


Có ngờ đâu bỗng gặp em lần nữa   
Giữa phố phường rộn rã, nét đài trang 
Khiến yêu thương lại bùng lên ngọn lửa   
Cho đất trời xao xuyến lúc chiều sang.


Thôi thế đành lỡ mất chuyến đò ngang   
Thân cô lử trên dặm trường sỏi đá   
Chỉ vì em vốn là loài hoa lạ   
Còn hồn ta mãi miết bụi quan san. 


Ôi hôm nay hương ngát quãng đường trăng  
Qua lối cũ lòng miên man cảm xúc  
Dưới hàng me mộng tràn theo tiếng nhạc 
Em ở phương nào này hỡi dung nhan  


Tuổi  đôi mươi thuở ấy đã hao mòn  
Nhưng năm tháng luôn phủ đầy nhung nhớ  
Hàng cỏ cây cũng buồn theo nhịp thở  
Em vô tư chẳng thể biết nguồn cơn. 


Ta đã quen rồi với nỗi cô đơn  
Tim hoang dã suốt bao mùa lá  rụng  
Dù cách chia đến vạn ngàn mây sóng  
Thấy như gần màu mắt bước chân son. 


Một chuyện tình nguyên vẹn, tím hoàng hôn.  

                            Phùng Nguyên
                                       hoangphung09@yahoo.com.vn

READ MORE - HOÀNG HÔN TÍM – Phùng Nguyên

Monday, March 11, 2013

Tản mạn về THƠ ĐƯỜNG - Lê Hoàng



                                                                            
       Thơ bắt nguổn từ cuộc sống, tâm hồn của con người và sự làm việc hằng ngày."Thơ" có rất nhiều dạng thơ như: Song thất, lục bát, thất ngôn tứ cú, thất ngôn bát cú, thể văn biến ngẫu v.v. Ngoài ra ca trù cũng có thể gọi là biến thể của thơ mà ra. Rồi thỉnh thoảng vẫn có những câu tạp đối, nó cũng là hình thức  biến dạng từ thơ mà ra. Ngoài những dạng thơ như trên, có một loại thơ nổi tiếng và rất thịnh hành từ trước đến nay, mặc dù lớp trẻ lớn lên hầu như ít để ý đến hoặc không hề biết tới. Đó là thơ ĐƯỜNG.

  Tôi có "thằng" cháu nội 18 tuổi đang đi học. Nó sinh ra và lớn lên ở Mỹ, cũng biết đọc, viết chữ Việt "chút chút". Một hôm, nó thấy tôi đọc tập thơ "Hoa Vông Vang" của Đổ Tốn. Nó hỏi tôi: "Ông nội đọc gì vậy? Tôi trả lời: "Ông đang đọc thơ Đường.” Nó ngạc nhiên và không hiểu thơ Đường là gì? Nó còn hỏi rằng có phaỉ thơ đó "ngọt" lắm  không. Tôi cười không trả lời. Sau đó, tôi gọi nó  đến và giải thích: "Thơ Đường là một thể thơ xuất phát từ đời nhà Đường bên Trung Hoa. Sau này cháu có cơ hội học hỏi sẽ hiểu.”

      Quan niệm về thơ của Nho Gia: "Tại Tâm vi chí. Phát ngôn vi thi. Thi ngôn chi”. Khổng Tử nói về Kinh Thi, đó là tập thơ cổ nhất được truyền lại. Thơ là cảm xúc chân thật, phát khởi từ lòng người (Lê Qúy Đôn).Tập thơ Ly Tao có một ảnh hưởng rất lớn trong làng thơ ở Trung Hoa và cả Việt Nam.
      Tại sao thơ ĐƯỜNG hưng thịnh ?
 Phải nói rằng xã hội đời Đường khá ổn định, tư tưởng cởi mở (theo lối quân chủ chuyên chế).Tam giáo đồng nguyên. Văn hóa phồn thịnh, hội họa, kiến trúc, điêu khắc, âm nhạc, thư pháp v.v. được giao lưu với khối A Rập, Ấn Độ.
     Cái cá thể, trong triết học nhân sinh Nho, Đạo, Phật được tôn trọng. Mỗi cộng đồng lẫn cá thể được tự do nói lên nỗi niềm tâm sự cá nhân hay tập thể của mình.
          -Thi là họa có lời.
          -Họa là thơ không lời.
          -Nhạc là chuyên chở ý của thơ và họa.
  Nguyên tắc cấu tạo thơ, ý, nhạc, họa v.v... là cấu tạo hình tượng thanh, biểu tượng của thơ, thi và ca.
     Tìm hiểu nguyên tắc câu tứ của thơ ĐƯỜNG  phải đi từ tâm thức truyền thống của người Trung Hoa. Họ cho rằng thơ là một "tôn giáo" (Lâm Ngữ Đường).
     Thơ đường cô đọng súc tích, giàu tính biểu tượng. Không chỉ do các thủ pháp nghệ thuật truyền thống tạo nên mà còn do một số nguyên tắc, biểu hiện, "thi luật" được coi trọng.
     Kinh Thi có thể nói là cội nguồn của thơ Trung Hoa. Thơ Trung Hoa đã có một quá trình chừng 2500 năm chưa hề dứt đoạn. Khỗng Tử đã dùng tập thơ này để dạy học trò. Khổng Tử nói: "Thơ có thể làm phấn khởi lòng người, giúp quan sát phong tục, hòa hợp với mọi người, có thể bày tỏ nỗi sầu oán, gần thì thờ cha, xa thì thờ vua, lại biết được nhiều tên chim muông, cây cỏ".
   {Thi khả dĩ hưng, khả dĩ quan, khả dĩ quần, khả dĩ oán, nhĩ chi sự phụ, viễn chi sự quân, đa thức ủ điểu, thú thảo mộc chi danh}
    Nhận xét này nhằm vào tập Kinh Thi, nhưng cũng khởi đầu cho một quan niệm truyền thống về thơ của người Trung Hoa.
    Ở đây, có sự tương hợp giữa yêu cầu sự rung cảm nghệ thuật của cảm hứng, đạo đức và của cả ý thức  về trách nhiệm xã hội.   
     Từ Kinh Thi (TCN) đến Đường Thi (SCN), thơ ca đã trải qua một quá trình hàng chục thế kỷ để định hình về mặt thi pháp. Đến đời Hán (TCN) và (SCN), triều đình đã có sáng kiến lập ra Nhạc Phủ để sưu tầm thơ, ca dao dân ca v.v. nên chúng ta có được thêm sự nối tiếp truyền thống Kinh Thi. Sang đời Ngụy (SCN), ba cha con Tào Tháo , Tào Thực, Tào Phi với những vần thơ cứng cỏi, giàu chí khí, đã tạo nên một thời văn học Kiến An.
      Đến đời Đường, thơ ca cổ điển Trung Hoa đã bước lên đỉnh vinh quang. Thời Đường là thời đại hoàng kim của thơ ca với hơn 50.000 ngàn bài thơ của 2.300 thi nhân, Thơ Đường là tập đại thơ của thơ ca cổ điển. Đời Đường chia ra nhiều thời kỳ :
     -Sơ Đường(618-713).Tuy chưa xuất hiện đông đảo nhà thơ nhưng thơ của Vương Bột, Lạc Tân Vương, Dương Quýnh v.v. vẫn là những nhà thơ nổi tiếng được đời người sau nâng niu ưa chuộng.
    -Thịnh Đường (713-766). Thời này đã xuất hiện nhiều thi nhân nổi tiếng, không chỉ giàu số lượng, mà còn sung mãn về chất lượng. Với Thi Tiên Lý Bạch, Thi thánh Đổ Phủ, Thi Phật Vương Duy... là những người đã bước lên đỉnh cao danh vọng về thi ca.
     Lý Bạch với 2 câu :
            "Hứng lên bút, vung rung ngũ nhạc,
            "Thơ thành át sóng biển khơi".
    Ngoài ba vị ấy còn có Vương Xương Linh, Cao Thích, Sầm Tham, Mạnh Hạo Nhiên v.v.
         Bước sang thời kỳ 60 năm của Trung Đường. Có một số nhà thơ xoay "thời cuộc" dưới ngọn cờ :"Vị quân, vị dân nhi trước" của Bạch Cư Dị, tiếp nối ý tứ của Đổ Phủ. Nhưng thực ra thơ của ông chỉ nói đến những điều trái ngược "Duy ca dân sinh bệnh" đã định sẵn của ông. Bài "Tỳ bà hành" rất quen thuộc với người Việt Nam, qua bản dịch đầy tâm huyết của Phan Huy Thực, là một ví dụ tiêu biểu. Ngoài Bạch Cư Dị, Trung Đường còn có : Vi Ứng Vật, Lý Đoan, Liễu Tông Nguyên, Lưu Vũ Tích ... cũng là những nhà thơ được người đời truyền tụng.
         Cuối Đường với 70 năm giai đoạn thơ  ca vãn Đường, bên cạnh những nhà thơ cảm thương uỷ mị như: Lý Thương Ẩn , Đổ Mục ... với hàng loạt nhà thơ: Bì Nhật Hưu, Nhiếp Di Trung, Đổ Tuân Hạc ... kiên trì xu hướng: Tân Nhạc Phủ.
      Sang Tống (960-1278), tuy thơ không bằng Đường nhưng cũng xuất hiện một biến thể mới của thơ đó là:TỪ. Đời Đường, Ngũ Đại các thi nhân có thói quen sáng tác lời thơ đưa cho kỹ nữ hát (Lý Bạch). Các bài thơ ấy phải viết theo quy định một nhạc phổ nhất định.Từ, là thơ viết theo một nhạc phổ quy định của làn điệu âm nhạc, người ta gọi là điển Từ khác với Tác. Đời Tống thịnh về Từ, nhưng ít thành tựu. Người ta không tìm thấy cái mông lung huyền ảo của thơ Đường trong thơ Tống, cũng không tìm thấy thơ về tình yêu trai gái sôi nổi trong thơ Tống. Nhưng thơ Tống có những thi nhân nổi tiếng cả về Từ và Thơ như: Tô Đông Pha, Lục Du. Tô Đông Pha là một vị quan nổi tiếng vì dân, mà cũng là một nhà thơ nối tiếp Bạch Cư Dị. Bài "Lệ chi thán" là một ví dụ. Còn  Lục Du thì đời quá lận đận, tuy nhiên ông vẫn sáng tác rất nhiều bài thơ hay, có một số lượng kỷ lục. Bài "Thi nhi" rất nổi tiếng.
       Nhà thơ Lý Bạch đôi lúc cảm thấy cô đơn da diết khi bị ruồng bỏ nhưng ông vẫn tin tưởng "Thiên sinh ngã tài tất hữu dụng". Tất cả những trạng thái tâm hồn đó có liên quan đến tư tưởng triết học truyền thống của người Trung Hoa.
      Thơ Đường, thơ của thời kỳ "Tam giáo đồng nguyên", thấm nhuần cả ba cảm hứng Nho, Đạo, Phật.
      Lý Bạch rõ ràng chịu ảnh hưởng của tư tưởng Đạo Gia .Vương Duy là đại diện cho của nhân tố Phật và Lão.
       Bạch Cư Dị, Đổ Phủ lấy mặt tích cực của tư tưởng Nho Gia làm nền tảng. Hàn Dũ cách tân cổ văn cũng lấy tư tưởng Nho Gia làm đầu.
     Thơ cổ Trung Hoa có ảnh hưởng sâu xa đối với thơ Việt nam. Những nhà nho Việt Nam cũng đã đem Kinh Thi ra để dạy học trò. Người ta vẫn ngâm "Ly Tao của Khuất Nguyên” (mồng 5 tháng 5 AL vẫn nhớ ngày),  Đào Tiềm thì đã đi vào tiềm thức của nhiều người yêu thơ.
     Bài "Hoàng Hạc Lâu" của Thôi Hiệu có hơn chục bản dịch khác nhau. Người Việt vẫn luôn luôn mê thơ Đường, dịch thơ Đường, mượn nó để gửi gắm buồn, vui của chính mình.
     Có điều lý thú là, thơ Đường đọc theo âm Hán Việt nó lại hay hơn, đúng luật hơn, có  âm vang hơn đọc theo  âm Hán. Bởi vậy, có thể nói đến một sự tái sinh của thơ Đường qua tâm huyết của các nhà thơ Việt Nam.
      Ngô Thời Nhiệm, một thời đã nói :"Nước Việt Nam ta lấy văn hiến để dựng nước, thi ca thai nghén từ đời Lý, thịnh vượng ở đời Trần, rầm rộ ở thời Hồng Đức triều Lê. Một bộ "Toàn Việt thi lục" về cổ thể thi không chịu nhường thi ca đời Đường, Tống, Nguyên, Minh. v.v. Thi ca Việt Nam vẫn nhả ngọc phun châu vậy
      Thật đúng là "Thi ca chi bang". Vượt qua bến bờ của Trình Hạo, Chu Huy, lên trên cả Khuất Nguyên, Tống Ngọc, đi vào cung thất Y Doãn, Chu Hán và ra khỏi con đường của Lý Bạch, Đổ Phủ.
         "Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán
         "Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường"
     Vì vậy, có thể tìm thấy thơ Đường trong phong trào thơ mới (1932-9945), trong thi nhân VN (của Hoài Thanh).
   
        Xưa nay "Tao nhân mặc khách". Nếu quý vị đọc "Văn Đàn bữu giám" hay "Giai thoại làng nho" của Việt Nam thì qúy vị sẽ tìm thấy  không thiếu gì những bài thơ tuyệt vời và âm hưởng tràn đầy thú vị. Thơ đi vào lòng người, tùy tâm, tùy tính, tùy cảnh, ảnh hưởng cả không gian lẫn thời gian để cảm nhận bài thơ thấm thúy vào tâm khảm.
            Thơ không bao giờ thiếu, tâm không bao giờ thừa. Tâm đầy thì thơ thánh thót, âm điệu bao la và thoát ra khỏi cái dung tục của cuộc đời đầy  ô trọc.
                                                        
LÊ  HOÀNG


READ MORE - Tản mạn về THƠ ĐƯỜNG - Lê Hoàng

XUÂN NGUYỆN CẦU - Nguyễn Thanh Bá

Thế Lộc và Nguyễn Thanh Bá


Mùa xuân tươi tắn nở muôn hoa
Tô thắm thôn trang, đẹp cửa nhà
Ríu rít chim chuyền hàng liễu biếc
Nhởn nhơ trẻ nhảy gốc thông già
Âm vang trầm bổng lời kinh nguyện
Đồng vọng du dương bài thánh ca
Cầu Chúa ban nhiều ơn phước lộc
Cho toàn nhân thế sống an hoà!

            Nguyễn Thanh Bá
READ MORE - XUÂN NGUYỆN CẦU - Nguyễn Thanh Bá

ANH EM QUẢNG TRỊ GẶP NHAU TẠI SÀI GÒN - Đinh Thanh Hải


Anh em Quảng Trị tại quán Rất Huế, Sài Gòn


Đang ngồi dự đám cưới thì điện thoại reo lên, bên kia là của nhà văn Nguyễn Đặng Mừng, anh báo là có anh Nguyễn Đức Tùng đang ngồi ở Rất Huế, em thu xếp ghé Rất Huế để anh em gặp nhau tý nhé ... Tôi nói sẽ cố gắng ghé, vì đang ngồi ở tiệc cưới.

Tôi được biết anh qua nhà văn Nguyễn Đặng Mừng, anh là một vị bác sĩ ở Canada - anh không những là một bác sĩ giỏi bên cạnh đó anh còn là một nhà văn, nhà phê bình văn học ... trước tết anh Mừng có tặng tôi cuốn sách "Thơ Đến Từ Đâu" được nhà xuất bản Lao Động in ấn. Cuốn sách đã  được sự đón nhận và phản hồi rất nhiều qua những bài viết của nhiều tác giả văn học, thơ ca trong  và ngoài nước. Tôi đã tặng lại cho ba tôi đọc, cuốn sách đã được chuyền tay ba tôi để đọc, giờ đây ở Khe Sanh, mỗi lần bạn bè của ba tôi gặp nhau họ đều nói về cuốn sách của anh Nguyễn Đức Tùng "Thơ Đến Từ Đâu" ... Cuốn sách hơi sờn cũ vì đã chuyền qua rất nhiều đôi bàn tay mê đọc sách. Hôm nay tôi có kể cho anh Nguyễn Đức Tùng điều này, anh rất xúc động và cảm ơn mọi người đã yêu quý cuốn sách của mình.

Gặp anh trong một đêm tình cờ mà rất vui, anh đã tặng cho chúng tôi cuốn Thơ Đến Từ Đâu và Đối Thoại Văn Chương, cùng cuốn báo Nghệ Thuật Mới - phụ trương của báo người Hà Nội, Hội liên hiệp VHNT Hà Nội ... cuốn báo dành hai trang để nói về anh Nguyễn Đức Tùng. Trong đó có bài của anh Thơ Mới cần những phẩm chất gì? Anh có viết "Để trả lời, cần phải hỏi câu này trước đã: sự cần thiết của thơ mới? Nó sinh ra để làm gì? Nhìn quanh có ai cần nó đâu? Bạn hỏi là vì: hình như thiên hạ thời nay vẫn có thể yêu nhau bằng thơ Nguyễn Tất Nhiên, nhớ nhau bằng lục bát Phạm Thiên Thư. - Có chết ai đâu? - Không ai chết cả, trừ những người đã biết đến thơ mới, lỡ yêu nó và không có nó không xong. Tôi cho rằng nhiệm vụ quan trọng nhất của thơ mới đường thời - hay là thơ cách tân, thơ đương đại, hiện đại, tân hình thức, hậu hiện đại, các tên gọi ấy tùy lúc thay đổi, có khi nghĩa tương tự nhau, có khi rất khác nhau - nhiệm vụ quan trọng là nó tạo ra một nhu cầu mới. Nhu cầu mới là nhu cầu trước đó hoàn toàn không có, cho đến khi được tạo ra bởi một người hay một nhóm người, nó trở thành một nhu cầu hiển nhiên vì sao trước đó họ không hề nghĩ tới, vốn cũng tự nhiên như ăn uống hay khí trời hay quyền bầu cử tự do. Vào những năm 1930, thơ của Thế Lữ đã xuất hiện như thể trước cái bóng hùng vĩ của thơ cổ điển, thơ Đường. Tôi là người mê phim 007. Xưa nay tôi vẫn tin rằng trong số các diễn viên đóng James Bond chỉ có Pierce Brosnan, kể tiếp Sean Connery, là đống hay hơn cả với vẻ mặt lãnh đạm, phong độ lịch lãm của chàng. Không ai thay thế được. Cho đến khi gặp Daniel Graig dữ dội, quyết liệt, mà vẫn hào hoa phong nhã, trong casino Royale, và Skyfall tiếp theo, thì tôi hiểu rằng tôi có một thần tượng mới. Nói cách khác tôi có một nhu cầu mới, nhu cầu ấy do diễn viên Craig tạo ra ... Như vậy, công việc hàng đầu của thơ hiện nay là tạo ra như cầu mới. Để làm được điều ấy nó cần một số phẩm chất. Trước hết nó phải có ý tưởng mới, suy nghĩ mới. Ai cũng biết thơ là tiếng nói của tâm hồn, là âm thanh bật lên từ các xúc cảm từ sâu xa, trong những hoàn cảnh đặc biệt hay từ xung đột nội tâm ...




 
Tôi được tặng sách và báo.



.

Những dòng chữ ký anh Nguyễn Đức Tùng tặng tôi.

Trong một lần, tôi được đọc một cái notes của nhà báo Lê Đức Dục với tựa đề: “...đất nước dài như khói một nhành hương...” Trong bài anh Lê Đức Dục có nói: “Hôm ni đọc được bài viết của thầy Nguyễn Văn Dũng về một người Quảng Trị ở Canada, anh Nguyễn Đức Tùng, thấy bài thơ “Thư gửi quê nhà” của anh Tùng có câu thơ đọc “nổi ôốc” : “...đất nước dài như khói một nhành hương...”, chỉ là dân Quảng Trị mới nghĩ ra câu thơ nớ, nhìn cái khói hương bay như chữ S mới chộ cả một trời  điêu linh của quê dà trong nớ." 



Nguyễn Đức Tùng cùng Lê Đức Dục.



Hôm nay mặc dù rất bận rộn với công việc, nhưng anh Lê Đức Dục nghe tin anh Nguyễn Đức Tùng đang ngồi ở quán Rất Huế, anh chạy vội ra gặp mặt anh Nguyễn Đức Tùng cùng anh em Quảng Trị tại Sài Gòn ... Anh Lê Đức Dục nói: Trong đời mỗi nhà thơ chỉ cần làm một bài thơ thôi, nhà văn cũng chỉ cần một tác phẩm, nhưng riêng anh Nguyễn Đức Tùng, tôi nghĩ một câu thơ thôi cũng đã đủ để đời, và nó có thể khắc lên tấm bia mộ ... đó là câu: "đất nước dài như khói một nhành hương"


Một đêm vui với người quê xa xứ, nhưng vẫn đau đáu lòng mình về quê hương đất nước.
Sài Gòn đêm 03/03/2013
Đinh Thanh Hải

dinhthanhhaisg@gmail.com


Xin chép tặng mọi người bài thơ của Nguyễn Đức Tùng:


Thư gửi quê nhà

Em có nhớ về thăm Thạch Hãn
Chiều qua đò chắc có mưa thưa
Gió sẽ thổi từ bên tả ngạn
Như lòng anh thổi mãi một tình xưa


Em có nhớ về thăm chợ Sãi
Qua chùa Tỉnh Hội nón nghiêng che
Đi ăn bánh ướt chiều mưa nhỏ
Để thấy môi ai đỏ lối về


Chiếc tráp ngày xưa chị để đâu
Những thư tình cũ có phai màu
Ngọc lan ép giữa hai bài hát
Chắc vẫn còn thơm trong đêm thâu


Anh có nhớ về thăm gác trọ
Hỏi thăm bè bạn những phương nào
Hỏi chí lớn tà dương cháy đỏ
Mộng tường vi mấy đoá rụng ngang đầu


Gõ nhịp mà ca dạ lý hương
Mười năm rồi lại mười năm trường
Những cánh cửa đêm nay vẫn thức
Đất nước dài như khói một nhành hương


Hoa trong hội theo ngày xanh biền biệt
Tình thiên thu còn một bến giang đầu
Em có nhớ mặc áo vàng như nguyệt
Đêm qua đò trăng hỏi tuổi thơ đâu

Nguyễn Đức Tùng

bachnguyen@shaw.ca




READ MORE - ANH EM QUẢNG TRỊ GẶP NHAU TẠI SÀI GÒN - Đinh Thanh Hải

VÙNG TRỜI DÃ NGOẠI - VỀ LÀNG - thơ Lê Văn Hạt


Tác giả Lê Văn Hạt (phải) và các nhà thơ Quảng Trị


VÙNG TRỜI DÃ NGOẠI
  
Ba dòng chảy của vùng quê đằm thắm
Quyện vào nhau nơi Cồn chợ mộng mơ
Ngồi nơi đây có đất trời thơ mộng
Tại mấy ngã lòng anh muốn ngỏ riêng em
Sông Ô Lâu nước trôi chảy êm đềm
Con đò nhỏ xuôi chèo bên bờ vắng
Dòng Ô Giang sóng lăn tăn thèm ngắm
Lặng lẽ dưới cầu gieo sóng vỗ liên miên
Riêng Cồn thiêng nơi gặp em tình tứ
Đón Thác Ma dòng chảy tận đầu nguồn
Ôm tích sự của bao đời sông nước
Buổi chiều vàng gió Lào ôm lữ thứ
Quyện mùi hương cố quận nhẹ nhàng vương
Tàng cây xanh không che hết ánh vàng
Tô thắm điểm giao bôi đầy hoan hĩ
Nhớ lạ thường vùng dã ngoại thân thương!

                                 LVH
                                 22/7/2012

Tác giả Lê Văn Hạt (trái) và nhà thơ Hoàng Tấn Trung


VỀ LÀNG

(Tặng các bạn CHS Nguyễn Hoàng nhân chuyến về làng chúc thọ thầy Lê Chí Phóng 25/6/2012)

Chúc thọ mừng thầy tuổi lão làng
Câu Nhi mạch sống đủ cao sang
Cồn thiêng Bút thánh lưu tình sử
Tam hiệp nước trong chảy dịu dàng
Bạn hữu mời theo vui hội mới
Thơ ca tuôn chảy tả thôn làng
Gió Lào thoang thoảng qua Cồn chợ
Dấu ấn chiều quê cứ nặng mang

Dấu ấn chiều quê vẫn nặng mang
Khi xưa quanh quẩn chốn đình làng
Ô Lâu nghe tiếng mà không tới
Văn vật bồi thêm cũng ngỡ ngàng
Thư pháp Hoàng Trung gieo điển cú
Văn Hoa thi sĩ họa lời vàng
Thác Ma hùng cứ tô thêm nét
Cảnh vật giờ như chốn địa đàng

                               Sài Gòn, 30/6/2012
                               Lê Văn Hạt

Anh Lê Văn Hạt, quê Nại Cữu, xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, nguyên là Kỹ sư Canh nông, hiện ở tại TP HCM.
READ MORE - VÙNG TRỜI DÃ NGOẠI - VỀ LÀNG - thơ Lê Văn Hạt

HỒI ỨC - thơ Nguyễn Xuân Hòa


 Anh Nguyễn Xuân Hòa sinh ngày 02 tháng 9 năm 1957, quê quán xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị,  nguyên là B trưởng B.2/K3, hiện là Tổng Giám đốc Công ty CPĐT Cao su SGS - Lào. Anh là người đam mê thể thao, văn chương. Nhân kỷ niệm 35 năm ngày thành lập trường, xin giới thiệu với các bạn một bài Thơ của anh về Trường Kinh tế !




HỒI ỨC

Ba lăm năm ngoảnh lại
Ơi thành phố Hoa hồng!
Ba lăm năm xa mãi
Trong mắt mỏi mòn trông …


Nhớ những ngày xưa ấy
Gian khổ sau chiến tranh
Kinh tế phải “kê tính”
Thầy trò – tình em anh !


Bây giờ người mỗi phương
Vẫn không quên xứ Cộn
Những bữa thường cơm độn
Thao thiết đến bao ngày…


Thầy xưa tóc đã bạc
Trò nay ngoại ngũ tuần
Trường xưa giờ đổi khác
Đông giá giờ sang xuân !


Ba lăm năm trở lại
Đây thành phố Hoa hồng
Trong ta vẫn còn mãi
Những chiều bên bến sông!

               10.3.2013
         NGUYỄN XUÂN HÒA
READ MORE - HỒI ỨC - thơ Nguyễn Xuân Hòa

Saturday, March 9, 2013

CHỮ TÂM TRONG PHẬP GIÁO - Lê Hoàng



    
         Học Phật Pháp mình cần phải có cái TÂM chân thật, nhất cử nhất động, nhất ngôn nhất hạnh đều phải chân thật. Kẻ thế tục thường hay một nửa chân, một nửa giả. Nói năng lúc thì có chút thiệt thà; lúc thì đầy giả dối. Người tu đạo lúc nào cũng phải nói thiệt, làm chuyện thiệt; không được nói láo. Mỗi một ý niệm, phải bỏ đi điều lỗi lầm, trừ cái tập khí trong vô lượng kiếp và rán cải đổi nó đi. Cái tội lỗi mình đã làm trong vô lượng kiếp phải sám hối cho hết sạch. Tại sao có kẻ học Phật lâu năm như vậy mà không có một chút linh ứng nào cả ? Bởi vì mình còn bao che cái lỗi lầm của mình, không chịu đem tâm chân thật ra mà tu hành. Cho nên thời gian trôi qua uổng phí mà mình không khai được trí huệ chân chính, không được định lực chân chính. Thời gian trôi qua oan uổng mà mình đạo nghiệp chẳng được thành tựu, đó là điều thật đáng tiếc thay.
      Tu hành sống trong chùa người tu hành cần phải tiết kiệm tất cả những thứ vật chất. Người ta nói rằng: "Ái tích thường trụ vật, như hộ nhân trung châu". Có nghĩa là: Mình quý cái vật thường trụ giống như thử là mình bảo vệ con ngươi trong mắt mình vậy. Đồ vật của chùa như : Gạo, muối, tương, chao v.v... mình đều phải qúy nó, không được lãng phí bừa bãi. Cho đến những cái mà mình dùng, ngọn cỏ, cành cây v.v... đều là qúy cả. Nếu ở cái chỗ nầy mà không cẩn thận chẳng biết tiếc cái phước của mình thì mình làm tiêu hao công đức biết bao. Cho nên cái điều mình tu không bằng cái tội nghiệp mình tạo; cái điều mình đắc không bằng cái điều mình khuyết. Thêm một điều nữa là nhất cử nhất động, nhất ngôn, nhất hạnh mình cần phải không được tổn hại đến người khác. Khi nói thì phải dùng lời lẻ đức độ, không được nói ỹ ngữ, lời thêu dệt, lời dối trá, lời ác ôn, hay lời hai đẵng. Cái miệng là cái mình cần chú ý đặc biệt; thân thì không được sát sinh, không được trộm cắp, không được tà dâm, ý thì không được phạm tham, sân, si. Đừng nên coi trọng tấm thân thịt da trần ai nầy lắm, mỗi tâm, mỗi niệm đừng để bản thân thịt da quá thụ hưởng, quá khoái lạc, đó là điều điên đảo. Nên nghĩ làm sao để xuất ly sáu cảnh giới (Địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, A Tu la, người và trời) luân hồi nầy, làm sao cải biến sửa đổi tập khí của mình, làm sao mà cái tình ái của mình hết đi, không còn nữa thì lúc đó mình mới toại tâm mãn nguyện thành tựu cái đạo quả Bồ ĐỀ được.
       Ngày trước, do tu vô lượng, vô biên công đức, nên Phật mới thành PHẬT được. Chúng ta tại sao chưa thành Phật? Là vì chúng ta chưa tu vô lượng vô biên công đức. Công đức của mình so với ngài qúa chừng sai lệch. Con người chúng ta trong cõi đời này, từ sáng đến tối mình đều tạo thân nghiệp, tạo khẩu nghiệp, tạo ý nghiệp. Hãy xét thử, chúng ta cứ tưởng: Người này không tốt, người kia đối với mình không đẹp, tưởng người nọ đối với mình như vậy, như kia v.v... trong đầu óc bao giờ cũng quanh quẩn những tạp niệm nhức đầu. Có một ngày không nói chuyện thị phi thì giống như một ngày họ mất lẻ sống vậy. Một ngày không nói láo, giống như họ không có cơm ăn, aó mặc, họ cảm thấy rất khó chịu. Cái đeo mặt nạ giả để đi lừa người khác, kỳ thật ở đời này mình lừa được ai! Chẳng những mình không lừa được người khác, mà chính mình tự lừa dối mình. Cho nên chỉ có người ngu si mới đi lừa người khác thôi. Người không thực lòng, không có nhân đức thì lòng dạ đen tối, không giữ quy luật chẳng làm được chuyện quang minh chính đại. Do đó trong sự sinh hoạt hằng ngày giống như kẻ say rượu "Túy sinh, mộng tử", sinh ra trong say đắm, chết trong mộng mị vậy.
       Quan niệm của đạo Phật lấy chữ TÂM để giảng pháp. Cho nên, trong kinh Hoa Nghiêm có dạy rằng:"Phật thị hiện bách, thiên ức chũng âm thanh. Vị chúng sanh, diển thuyết diệu pháp". Có nghĩa: "Phật thị hiện trăm ngàn ức để diển pháp mầu cho chúng sinh "
      Nên chúng ta cần giác ngộ và nghĩ rằng tất cả các âm thanh trên thế giới tất cả đều là tiếng thuyết pháp của Phật. Cho nên nói rằng: "Khe thanh vô quảng trường thiệt,sơn sắc vô phi thanh tịnh thân" Có nghĩa âm thanh  của con suối, con lạch đều là tiếng từ nơi  lưởi rộng dài của đức Phật. Màu sắc của núi không có màu nào chẵng là màu của thanh tịnh pháp thân. Tiếng suối reo, tiếng nước chảy cũng giống như là lời Phật nói diệu Pháp, cái màu sắc xanh của núi cũng là màu của pháp thân khiến kẻ trông thấy sinh lòng hoan hỷ. Nếu hiểu được cái triết lý này thì trên đời, tất cả mọi thứ đều đang nói Pháp cho mình nghe. Người thiện thì nói Pháp thiện, người ác thì nói cái Pháp ác. Con ngựa thì nói Pháp làm ngựa, con trâu thì nói Pháp làm trâu. Nhân duyên nào mà chúng phải làm như vậy. Bởi vì con ngựa hồi xưa, lúc sống nó không hiếu thảo với cha mẹ, cũng không cung kính với các bậc thầy của nó v.v. nên giờ nó phải sinh ra loài súc vật. Nói tóm lại, trì ngũ giới, hành thập thiện thì  mình sinh ra làm người, làm trời. Khi có tham sân, si thì mình đọa ba nẽo ác: Địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Cho nên, mọi thứ đều là nhân quả tuần hoàn báo ứng cả. Đó là đạo lý tuần hoàn thiết thực vô cùng.
            "Thanh thanh bích trúc tổng thị pháp thân"
            "Uất uất hoàng hoa vô phi bát nhã"
      Tạm dịch: Xanh xanh trúc biếc đều lộ pháp thân,
                       Lấp lánh cúc vàng không chẵng bát nhã.
      Cho nên, mình phải hiểu thấu đáo chữ Tâm, quan sát cụ thể. Hể hiểu thì có thể buông mọi thứ. Chưa hiểu thì mãi chấp trước.
       Trong chữ TÂM của Phập giáo có thể vượt ra khỏi số mạng!
       Câu chuyện kể rằng: "Khi xưa có một vị họ Viên hiệu Liễu Phàm tên Học Hải, là một danh nho đời nhà Minh, lúc nhỏ chàng hay đọc sách, nhưng phụ thân muốn chàng học nghề thuốc để tế thế cứu người, cho nên chàng liền cải đổi học ngành Y. Về sau, một ngày nọ, chàng gặp một vị tướng số râu dài, nói với chàng rằng "Ngài có mạng làm quan, ngài nên đọc sách để làm quan lớn, vào ngày đó... tháng đó ... thì ngài sẻ đậu tú tài, năm đó ... tháng đó ... thì ngài sẽ làm quan huyện ... bổng lộc đến với ngài rất nhiều. Và cứ thế ngài sẽ được thăng cấp cao ... cho đến năm ngài 54 tuổi ngày 14 tháng 8, đêm nằm ngài sẽ mệnh chung. Suốt đời ngài không có con cái nào cả.
       Do vậy, nên Viên Học Hãi mới đổi môn học, thì qủa đúng như vậy, đúng như lời toán số của vị tướng số. Bởi vì vận mệnh đã an bài cho nên chàng chỉ chờ đợi sự an bài mà không còn nghĩ gì khác nữa. Suốt ngày chỉ du sơn ngoạn thủy mà thôi. Một bữa nọ chàng tới núi Thê Hà, tại đó có một vị thiền sư tên là Vân Cốc. Khi chàng tới bái kiến vị thiền sư này, thiền sư Vân Cốc liền đưa cho chàng một bồ đoàn. Hai người ngồi đối diện như vậy suốt ba ngày đêm, thiền sư cảm thấy rất kỳ lạ hỏi rằng :"Ngài từ đâu đến? Có thể ngồi ba ngày ba đêm bất động chẳng có vọng tưởng, hẳn rằng ngài là một vị kỳ nhân có tu đạo ?" Họ Viên đáp: "Bởi vì, tất cả mọi sự đều do vận mệnh an bài, nên tôi chẵng tham, chẳng cầu, chẳng có vọng tưởng gì cả."
      Vị thiền sư nghe và trả lời: "Tôi tưởng ngài là một bậc phi thường, nhưng hóa ra ngài cũng chỉ là kẻ phàm phu tục  tữ." Họ Viên nghe thế, mới hỏi lại thiền sư : "Sao thiền sư cho tôi chỉ là kẻ phàm phu tục tữ?"
      -"Nếu không phàm phu tục tữ, thì tại sao bị cái vận mênh kia trói buộc ?"
      Họ Viên liền hỏi : "Thưa thiền sư vận mệnh trốn thoát được chăng ?"
      Thiền sư đáp :"Ngài là kẻ thư sinh chuyên đọc sách thánh hiền ngài không biết trong kinh Dịch có câu nói rất rõ ... "Thú kiết kỵ hung .".."nghĩa là tới chỗ tốt, tránh chỗ xấu." Nếu mà số mạng không trốn được thì làm sao nói vậy được? Thú kiết: có nghĩa là đạt tới điều kiết tường, tỵ hung. Có nghĩa là trốn khỏi điều hung dữ. Họ Viên nghe thấy tĩnh ngộ. Lập tức đổi tên mình thành Liễu Phàm (Không còn kẻ phàm phu nữa) luôn làm việc thiện, tích phước tích đức, khiến cho điều vị tướng số nói không còn linh nữa. Viên Liễu Phàm sống đến hơn 85 tuổi, có 3 đứa con.
       Bởi vậy, vận mệnh không phải là nhất định, tốt, xấu, kiết hung cũng không phải nhất định. Cho nên cổ nhân nói rằng "Quân tử tạo mệnh". Người có đạo đức, chính nhân quân tử thì có thể cải tạo được vận mệnh của mình, siêu xuất khỏi cái số mệnh.

                                                               Lê  Hoàng
lehoang32@ymail.com
Nguyên quán: Mai Đàn, Hải Lâm, Hải Lăng, Quảng Trị
READ MORE - CHỮ TÂM TRONG PHẬP GIÁO - Lê Hoàng

TỰ TÌNH - Thơ xướng họa của Trần Ngộ, Lê Chí Phóng, Hồ Trọng Trí

Sông Ô Lâu

TỰ TÌNH

Qua chuyến đò ngang buổi sáng nào 
Thầy trò dan díu nắm tay nhau
Vi vu gió thổi thuyền chênh mạn
Bàng bạc mây trời sóng nước xao
Lên thác hay ơn người đứng mũi
Xuống ghềnh nhớ nghĩa kẻ cầm sào
Lấy ai kể nỗi niềm tâm sự
Bến cũ sông xưa mãi dạt dào.

Trần Ngộ 
Bảo Lộc, Lâm Đồng


Bài họa 1:
TÌNH QUÊ

Tình quê lai láng biết nhường nào
Nghĩa nặng tình sâu vương vấn nhau
Tay bắt mặt mừng vui hội ngộ
Gió ru thuyền sóng vỗ lao xao
Tìm đường mở nước nhờ đưa lối
Đứng mũi qua sông nhớ chịu sào
Cơ hội trăm năm còn phía trước
Trời cho sức lực mãi dồi dào

Lê Chí Phóng (nhà thơ Thanh Phong)
Hải Tân, Hải Lăng, Quảng Trị


Bài họa 2:
THẦY XƯA

Nhớ mãi trường xưa một thuở nào
Thầy trò gần gũi mến thương nhau
Trãi bao năm tháng lòng lưu luyến
Đến tận bây giờ dạ xuyến xao
Thế sự nỗi chìm cùng gió bão
Kiến văn thăng tiến mấy tầm sào
Ân sư nghĩa đệ hằng ghi tạc
Tình cảm thầy xưa vẫn dạt dào

HỒ TRỌNG TRÍ
Kim Long, BRVT
READ MORE - TỰ TÌNH - Thơ xướng họa của Trần Ngộ, Lê Chí Phóng, Hồ Trọng Trí

TƯỢNG ĐÁ - thơ xướng họa của Đặng Quang Long và Ngọc Tình




TƯỢNG ĐÁ
 
Khen ai tạc đá thổi nên hồn
Mỗi nét căng đầy một vẻ son
Đảo nhỏ đôi gò khoe vách núi
Hoa tươi một đóa nép chân cồn
Tay ngà khéo léo khoe vòng nõn
Vẻ ngọc ơ hờ lộ dáng thon
Mặc khách khi qua tình lộng gió
Xôn xao chốn ấy rõ tin đồn.
 
Đặng Quang Long


Bài họa:
NGẮM TƯỢNG

Ngắm tượng người xưa tỏa nét hồn
Môi cười như khẽ thắm màu son
Đôi bồng tròn trịa tràn hoa nắng
Mắt biếc ngẩn ngơ ngập sóng cồn
Đá quý thiên nhiên hòa gió lộng
Ngọc ngà trần tục để mình thon
Nghệ nhân khéo tạc trao du khách
Chiêm ngưỡng no nê, chẳng mắc đồn.

TN 6-3-2013
Ngọc Tình
 
READ MORE - TƯỢNG ĐÁ - thơ xướng họa của Đặng Quang Long và Ngọc Tình

Bình Địa Mộc - MƯU SINH

Bình Địa Mộc (phải) và Ban Mai



hôm qua đi chợ Vườn Lài
cô hàng rau thối dư hai ngàn đồng
về nhà tính toán lòng vòng
tưởng được khuyến mãi nên lòng hoan ca

hôm kia đám cưới bạn xa
gởi phong bì với bó hoa chúc mừng
cô bưu điện lại ngập ngừng
thiếu hai trăm mắt tự dưng xoe tròn

hôm kìa xóm một xe con
của quan trên ghé thăm nom mẹ hiền
đồng thời cho mỗi người riêng
năm chục ngàn để thay phiên trông giùm

hôm nay đến lượt tôi buồn
lương chưa nhận hết sạch luôn tiền dành
gọi điện vay tạm trăm ngàn
bạn cười vang bảo ế hàng từ lâu

đêm về vốc cạn giấc sâu
bụt hiện ra chỉ tiền đầu giường đây
giật mình đụng tấm thân gầy
em trơ xương bởi tháng ngày mưu sinh

kéo chăn đắp vội vợ xinh
vô tình chạm chỗ đã từng lãng quên
thằn lằn tặc lưỡi bờ phên
bỗng quay đầu cắn nát lềnh bềnh khuya ...

Sài Gòn, cuối tháng 2.2013
Bình Địa Mộc
READ MORE - Bình Địa Mộc - MƯU SINH

LẠC LÕNG - Thơ xướng họa của Trần Thị Quỳnh Hoa, Vân Trinh, Trần Ngộ



LẠC LÕNG

Chơi vơi, lạc lõng ngã ba đường
Phải trái đâu người dạ xót thương
Ngóng hỏi trời xanh trời lẳng lặng
Cuối dò suối bạc suối du dương
Chờ mây dẫn lối, da hong nắng
Đợi bạn đưa đò tóc nhuốm sương
Lẩn thẩn quanh mình cây, cỏ, đá
Nào ai hiểu được khối sầu vương.

                              TT. QUỲNH HOA
                              
Họa 1:

EM CÒN LẠC LÕNG ĐẾN BAO GIỜ?
(Họa vận “Lạc Lõng” của Quỳnh Hoa

Lạc lõng bóng ai mấy ngả đường
Tình đời có gởi chút niềm thương
Trời xanh, trời cứ xanh, không nắng
Sông lạnh, sông càng lạnh tiếng dương
Mây nhạt nhòa rồi quên bến cũ
Thuyền lang thang mãi khuất cầu sương
Hỏi cây hỏi cỏ ... bao giờ nhỉ?
Sao cứ hoài vương vấn, vấn vương?!
                              
                                Tháng 01-2013
                                 VÂN TRINH

Họa 2:

ĐỒNG TÂM

Mật đắng mà yêu vẫn ngọt đường
Tâm hòa ý hợp đã thân thương
Thuyền kia thuận gió mòn đông hải
Mái nọ xuôi buồm tát đại dương
Giao ước trăm năm dù dãi nắng
Thề nguyền trọn kiếp dẫu dầm sương
Đồng cam cọng khổ tròn ân nghĩa
Đạo trọng phu thê thị khả vương

TRẦN NGỘ 
Lâm Đồng
READ MORE - LẠC LÕNG - Thơ xướng họa của Trần Thị Quỳnh Hoa, Vân Trinh, Trần Ngộ