Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, November 17, 2012

CHẢ SỢ GÌ? - Chùm thơ Nguyễn Thanh Xuân

Tác giả (trái) đang trò chuyện với một người bà con làng Hưng Nhơn.
Ảnh Nguyễn Như Khoa



                   Chả sợ gì?                                 

Con gái thời nay chả sợ gì
Sợ ngày tháng rộng vụt trôi đi
Sợ gương sáng loáng ai soi với
Sợ dáng hao gầy bạn ngắm chi
Sợ sẽ qua nhanh thân ngọc nữ
Sợ đâu còn nữa dáng vương phi
Sợ cho vơi chút lúc chiều xuống
Chỉ sợ già đâu chả sợ gì?


Tự họa
Chả mừng gì ?
                             

Cớ sao lên lão chả mừng gì?
Việc quá mừng ta nói trái đi!
Mừng cổ lai hy không vướng bận
Mừng thời đổi mới chẳng lo chi
Mừng ghi mưa móc duyên tình sử
Mừng thoát bão dông thói quý phi
Ngàn lẻ chuyện mừng chung vẫn một
Chỉ mừng già, thật chả mừng gì./.

  Nguyễn Thanh Xuân
nhuxuan29@gmail.com
READ MORE - CHẢ SỢ GÌ? - Chùm thơ Nguyễn Thanh Xuân

NHỚ VỀ NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20 / 11 - Nguyễn Hồng Trân


Hàng năm, cứ đến ngày Nhà giáo 20 tháng 11 là bạn bè chúng tôi thường rủ nhau đến thăm các thầy cô giáo cũ của mình. Mặc dù chúng tôi bây giờ đều là trạc tuổi cũng cao trên 70 cả rồi. Trước đây lớp học trò cũ chúng tôi cũng có người làm chức nọ, quyền kia, địa vị này, địa vị khác... nhưng ai cũng thấm thía rằng “chức vụ, địa vị là tạm thời mà tình người là vĩnh viễn”. Bởi vậy mà chúng tôi không bao giờ quên ơn các thầy cô giáo cũ của mình. Các thầy cũng rất quý mến chúng tôi như thuở nào đang còn ngồi trên ghế nhà trường.

Lần nào chúng tôi đến thăm các thầy cô nhân dịp ngày nhà giáo, thầy cô rất vui mừng và xúc động. Có lẽ thầy cô nào cũng nhớ tới cái thời trống trường vang lên sớm chiều sinh động; cái thời thầy trò, trường lớp, bạn bè gắn bó với nhau mật thiết! Quên làm sao được những nét mặt, dáng đi, tà áo của các bạn đồng nghiệp; Quên làm sao được những ánh mắt, nụ cười hồn nhiên của các em học sinh ngây thơ, ngoan ngoãn và tinh nghịch.. Tất cả những hình ảnh, tâm hồn và tình cảm của những ngày học đường xa xôi ấy lại quay về trong tâm trí của các thầy cô rất êm đềm, sâu đậm..

Ôi ! thật là dễ thương và trìu mến ! Có lẽ cả không gian và thời gian ấy bao trùm lên những kỷ niệm thân thương, quý giá nhất của cuộc đời của thầy cô khi làm nghề dạy học. Thầy cô thường dạy bảo các em: “ Tiên học lễ, hậu học văn” ; dạy cho học trò biết luân lý, lễ độ; biết nhiều điều hay, lẽ phải và giàu lòng nhân ái, v v...Thầy cô cũng thường nhắc nhở chúng tôi chớ đừng sống theo lối “Khi vui thì vỗ tay vào, đến khi hoạn nạn thì ào ào chạy ra”, hoặc “vắt chanh bỏ vỏ” hay “Đánh trống bỏ dùi”...

Ở nhà trường, chúng tôi được các thầy cô dạy bảo nhiều điều lắm. Các thầy cô không những giảng dạy chúng tôi về những kiến thức văn hóa, khoa học mà dạy cả cách làm người, cách đối nhân xử thế, cách sống với đồng nghiệp và cộng động trong xã hội.

Giờ đây có nhiều thầy cô giáo của chúng tôi từ thời học Trung học phổ thông cho đến Đại học nay không còn trên đời nữa; Cũng có nhiều thầy cô giáo đã già yếu đang sống trong cảnh tuổi hạc chuyển sang những trang cuối với quỹ thời gian của cuộc đời không còn bao năm nữa. Tuy vậy, các thầy cô vẫn yêu đời, vẫn không ngừng suy nghĩ, đúc rút kinh nghiệm qua thực tế cuộc sống, góp ý kiến xây dựng cho Nhà nước, cho ngành giáo dục và đóng góp hữu ích cho những hoạt động của xã hội. Mặt khác có không ít thầy cô tuy tuổi già sức yếu vẫn nhiệt tình tâm huyết với nghề nghiệp còn tham gia giảng dạy,nghiên cứu khoa học, hướng dẫn luận văn, nhằm góp phần nào cho sự nghiệp giáo dục đào tạo các thế hệ sau tiếp tục rèn luyện đạo đức nhân tâm để cống hiến thực sự cho xã hội, đất nước.  Một số thầy cô đã chịu khó viết sách, viết báo để đóng góp cho đời những gì đã tích luỹ được trong những năm tháng giảng dạy ở nhà trường nhằm làm phong phú thêm vấn đề đào tạo cho thế hệ trẻ.
Tôi còn nhớ rất rõ những thầy cô rất đáng kính của chúng tôi thời ở trường cấp II, cấp III phổ thông và cả Đại học ở Bình- Trị -Thiên, ở Nghệ Tĩnh, ở Hà Nội mà chúng tôi đã học qua trước đây như các thầy Thân Trọng Ninh, Đặng Bá Đệ, Trần Nhu, Hoàng Huyền, Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Công Tiến, Lê Trần Sửu, Trần Hữu Duy, Nguyễn Hoán, Nguyễn Hoàng Phương, cô Võ Thị Tri Túc, cô Ngọc Anh, cô Kim Anh, v.v… Các thầy cô luôn luôn vì học sinh thân yêu của mình mà đã vượt qua mọi khó khăn vất vả trong đời sống để tập trung trí tuệ, tâm huyết lo giảng dạy cho chúng tôi một cách tận tình, chu đáo. Nhờ vậy mà chúng tôi khi bước vào đời không bị hẫng hụt kiến thức lắm.

Những thầy cô đầy nhiệt huyết với nghề nghiệp giáo dục đào tạo như vậy thật đáng quý, đáng tôn vinh và kính phục biết bao!
Trong dân gian Việt Nam ta còn có câu: “Không thầy đố mày làm nên”. Câu này thật có ý nghĩa sâu rộng đối với cả trò lẫn thầy. Đối với học trò thì phải tìm thầy mà học cho đàng hoàng về mọi mặt cả ý thức làm người và cả văn hoá, chuyên môn nghề nghiệp. Còn đối với người thầy thì làm sao cho xứng đáng với danh dự thầy giáo, nghĩa là không có thầy hướng dẫn chỉ bảo, giảng dạy chu đáo thì học trò khó mà học tốt được; khó mà phát triển trí tuệ và tâm đức con người. Nói một cách thiết thực là không có người thầy thì dù học sinh có tự học theo sách giáo khoa và tài liệu thì cũng không thể hiểu sâu bằng khi có thầy giảng dạy trực tiếp. Vì vậy vai trò của người thầy phải thể hiện rõ nét trong học đường cũng như ngoài xã hội. 

Ngày nay, nền giáo dục của chúng ta đang đổi mới và phát triển toàn diện đồng thời bảo đảm chất lượng đào tạo. Hàng ngũ nhà giáo ngày càng nhiều và trọng trách thật nặng nề và cao cả trong sự nghiệp giáo dục đào tạo cho thế hệ tương lai của đất nước. Chắc chắn rằng các thầy cô ai cũng mong muốn trở thành “những người kỹ sư của tâm hồn” như Viện sĩ giáo dục sư phạm Nga Macarencô đã từng nói. Nếu được như vậy thì thật là danh dự cho vị trí nghề nghiệp của các thầy cô.

Nhưng hiện nay, trên thực tế của xã hội nước ta, không phải thầy cô giáo nào cũng rèn luyện, nuôi dưỡng được niềm vinh dự và tự hào ấy. Có những “con sâu đã làm rầu nồi canh” trong ngành giáo dục. Và giờ đây, cũng không ít loại sâu đã làm đau đầu cái danh dự hàng ngũ đồng nghiệp của các thầy cô. Chúng tôi nghĩ rằng, trong xã hội ta không lẽ nào vì nền kinh tế thị trường mà đã làm méo mó nhân cách quý báu và có truyền thống trong sáng, cao đẹp của các nhà giáo Việt Nam được.

Đạo đức, tinh thần và tình cảm của các thầy cô giáo vẫn mãi mãi là những tấm gương để chúng tôi noi theo; là những chấm son in đậm trong trí óc và tâm hồn của bao thế hệ học trò. Thế hệ trẻ nối tiếp nhau lên đường phụng sự cho nhân dân, Tổ Quốc để xứng đáng với công ơn dạy bảo thành người của các thầy cô.

Nhân dịp kỷ niệm ngày Nhà giáo 20-tháng 11 năm nay, qua báo chí và đài phát thanh, chúng tôi xin gửi đến quý thầy cô đã về hưu và đương chức đang ở Huế nói riêng và khắp mọi miền của đất nước nói chung những tình cảm chân thành, thắm thiết, biết ơn và trân trọng nhất.

Nhân đây, chúng tôi xin nêu lại hai câu đối ngày xưa mà bạn bè học trò chúng tôi rất tâm đắc:

“Học thầy, quý thầy, nghĩa nặng ơn đầy luôn ghi nhớ.
Chơi bạn, thương bạn, tình sâu đức rộng mãi chẳng quên”.

Và cũng xin kính gửi tặng các thầy cô một bài thơ:

              QUÝ NGHIỆP LÁI ĐÒ NGANG
              Nguyễn Hồng Trân (Đại học Huế)
(Kính tặng các thầy cô nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11-2012)

Làm nghề dạy học thật là sang!
Kiến thức giàu hơn cả bạc vàng.
Hạnh phúc học trò luôn quý mến,
Niềm vui giáo chức thật vinh quang.
Đưa đò tận bến cho yên ổn,
Chở khách sang sông phải vững vàng.
Chịu khó chèo thuyền vượt sóng gió,
Bền lòng quý nghiệp lái đò ngang…

                                                         
                                
                                                                    
                                Phước Vĩnh, Huế ngày 12-11-2012
                                                          NHT
READ MORE - NHỚ VỀ NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20 / 11 - Nguyễn Hồng Trân

Friday, November 16, 2012

ÂM NHẠC CỦA YÊN LẶNG - Truyện ngắn của Eva-Lis Wuorio - Nguyễn Khắc Phước chuyển ngữ


Nguyên bản tiếng Anh: THE SINGING SILENCE
trong tập WORLD’S BEST CONTEMPORARY SHORT STORIES.
Nhà xuất bản Ace Books Inc., New York, 1965.

Vài dòng về tác giả:

       Nữ văn sĩ Eva-Lis Wuorio (1918-1988) sinh ở Viipuri, một thành phố cổ bên bờ biển Phần Lan, gần biên giới với Nga. Bà theo gia đình di cư sang Canada và được học hành ở đó. Bà sống ở Toronto bằng nghề làm báo, viết văn. Sau đó, bà chuyển đến sinh sống tại một hòn đảo thuộc quần đảo Channel, Anh quốc.
       Vài tựa sách của bà: Encape If You Can, To Fight in Silence, Venture at Midsummer, The Woman with Portuguese Basket, The Island of Fish in The Trees, The Land of Right Up and Down …
                                                ***






Lão Vicente ở đảo Formentera có lẻ là người hạnh phúc nhất mà tôi từng biết. Và có lẻ cũng là người nghèo nhất nữa.     
        Thân hình lão đen sạm, nhăn nheo, lom khom, gầy như bộ xương cách trí và không bộ đồ nào lão mặc mà còn nguyên, chưa vá. Lão sống ở Cala Pujol dưới một mái chái che chắn bằng đá, gỗ và cây trôi dạt, đồ đạc chỉ có một cái lò nướng bằng sắt rỉ dùng làm bếp và hai cái bát mẻ bằng sắt lượm từ rác phế thải của ngư dân. Nhưng lão lại sở hữu một bộ đồ lặn tuyệt hảo, một đôi chân nhái và một cái mặt nạ lặn. Và, như đã nói, tôi tin không có ai hạnh phúc hơn lão.
        Trong vòng vài năm trước, tôi đã đến Formentera mấy lần, nhưng lần này, hình ảnh lão Vincente  tình cờ đập vào mắt tôi khi lão cùng đám ngư dân kéo thuyền của họ vào dưới những cái lán bằng tre và cây ở cuối bãi cát, nơi tiếp giáp với bãi đá. Rốt cục, hóa ra, lão không phải là một ngư dân. Lão không có thì giờ để đánh cá.
        Nhờ tôi biết được một ít tiếng Ibicenco, thổ ngữ của lão, một thứ tiếng hoàn toàn khác với tiếng Tây Ban Nha của người Ca-ta-lan (Castilian), nên ngay lần đầu gặp lão, tôi biết lão đang hỏi một ngư dân để mượn một chiếc thuyền nhỏ, hỏi thẳng thắn, không hề van xin.  Tôi không hiểu tại sao lão là một ngư dân mà lại không có thuyền, tuy vậy, tôi gợi ý cho lão mượn cái thuyền nhỏ mà tôi thuê mỗi lần đến Formentera nhưng ít khi dùng đến. Lão cám ơn tôi một cách lịch sự khiến tôi có ấn tượng tốt về lão.

                                                           ***
        Tôi theo dỏi lão bỏ đồ lặn, chân nhái, mặt nạ, bình nước, một gói nhỏ thức ăn vào thuyền. Chẳng có cần câu hay súng săn cá dưới nước cho đủ bộ. Tôi không biết lão định bắt cái gì và bằng cách nào. Tôi nhìn người đàn ông nhỏ bé bơi thuyền ra, hướng về phía đường chân trời, quả quyết.
        Tôi theo dỏi cho đến khi lão chỉ còn là cái chấm nhỏ trên đường chân trời, rồi quên lão. Ở Cala Pujol, dễ quên lắm. Nước biển màu lam ngọc trong đến tận đáy. Bãi cát chưa có ai dẩm chân, bờ biển hình vòng cung trắng bạc –năm tôi nói, nó vẫn như vậy – và nắng thì trời ban thường ngày. Thanh bình như thế, ai mà không quên.

                                               ***

        Một hôm, gió thổi mạnh từ hướng Châu Phi, không khí biển thì oi bức và chẳng ngư dân nào ra biển. Họ ngồi trong quán nhỏ có mái bằng tre bên bờ biển, uống rượu đỏ và tán chuyện.
        “Vincent về chưa?”
        “Chưa.”
        “Lão ta loco, este homebre, hơi khùng.”
        “Chẳng khùng tí nào đâu. Lão có ý định tốt đấy.”
        “Mày nghĩ vậy hả? Mày cũng loco luôn.”
        “Tao hả? Không đời nào. Tao hiểu mục đích của lão, hiểu rất rõ.
        “Có phải Vicente mà các anh đang nói là cái lão có bộ đồ lặn không?”, tôi hỏi.
        Cả bọn họ đều đồng thanh “À ha”.
        Tôi kêu thêm một chai rượu xứ đảo, thứ rượu chỉ có dân ở đây uống. Không ai muốn chơi trội bằng cách kêu thứ ngon hơn.
        Thế là ngồi ở đó, với ngọn gió thổi từ Phi Châu khuấy động biển cho đến khi dậy bùn dưới sâu và tung bọt trắng lên trên, tôi được nghe câu chuyện kể về Vicente.
        Sáu mươi năm trước đây, lão là một chảng trai đầy tham vọng. Vicente bỏ đảo mà đi.  Nhưng 60 trước, chẳng có nhiều việc dành cho người Tây Ban Nha ở nước mình. Thế nên Vicente lên làm việc trên những tàu biển của người nước ngoài, được một thời gian thì trở lại. Chàng trai đi khắp nước và làm đủ thứ việc, rồi dừng chân ở một nơi mà nhiều người giỏi dang hơn cũng đã dừng chân, đó là cầu tàu của cảng Barcelona, để làm một phu khuân vác – một mozo.
        Lão đã từng mộng mơ nhưng mơ mộng đôi khi làm người ta thất bại. Thế nên lão đành khuân vác hành lý của người khác: người Tây Ban Nha giàu có, khách tham quan, khách du lịch nước ngoài. Mãi cho đến cách đây mười năm, lão vẫn đứng ở cái cầu tàu đó, đội cái mũ có số, chỉ vào ngực mình và la lớn, “Tôi hả? Tôi đây! Số bảy mươi ba đây!”
        Một hôm, một người Mỹ giàu có đến bằng thuyền của một tàu từ Palma trông thấy cánh tay vẫy cuống cuồng của lão và gật đầu ra hiệu. Vicente theo những phu khuân vác khác đi thành hàng theo tấm ván để lên chiếc thuyền màu trắng. Khi lão đến, người Mỹ giàu có nói, “Sáu cái va li này và cái kia. Mang nó phải cẩn thận. Đồ cổ đấy.”
        Vicente nhận ra cái bình bằng đất, thứ vò hai quai thuộc nền văn mình cổ đại Phê-ni-xi (Phoenicia), một mẫu vật khá lớn, đẹp và hiếm, dùng để đựng loại hàng như rượu hoặc ngủ cốc để chuyển đi bằng đường thủy. Ngày xưa, ngư dân thỉnh thoảng bắt được chúng vào lưới mình. Họ thường ném chúng xuống biển. Nhưng nay thì họ không ném nữa kể từ khi các senores từ thành phố xuống mua cho bảo tàng của họ.
        Vicente nâng mấy cái vali lên vai, tay nhấc cái bình bị biển nạm, màu phớt hồng, bước lên tấm ván. Mọi người chen nhau để ra khỏi thuyền, lên bờ, lão ta la, bọn họ cũng la. Lão đến cầu tàu, và một người phu khác, vì vướng vào dây neo tàu, té ập vào lão khiến lão đánh rơi cái vò hai quai.
        Hai ngàn năm bỗng chốc rớt cái bụp tan tành. Thế là xong!
        Mười năm trước vẫn còn tìm thấy loại vò hai quai của người Phê-ni-xi, người Hy-lạp, hoặc người La-mã trong những vịnh cạn ở vùng đảo Ibiza, nhưng nay thì hầu như chỉ còn những vật không mấy giá trị từ thời cận đại, rất hiếm thấy những cổ vật có giá trị cao. Người Mỹ đó đã trả 500 đô-la để mua cái bình Phê-ni-xi đó, đã thuê những nhà chuyên môn xác nhận là đồ cổ thật. Đương nhiên là ông ta tức giận.
        Nhưng ông ta cũng là một người sáng suốt để biết rằng một người phu khuân vác như Vicente làm suốt đời cũng không sao kiếm đủ 500 đô-la nên ông ta đành chấp nhận rủi ro và sẵn sàng quên sự mất mát.
        Nhưng Vicente không chịu vậy. Lão biết cái giá trị mà người ta gán cho những cái bình, cái lọ cũ vô dụng đó như thế nào; lão đã thấy vẻ thất vọng  trên mặt của người Mỹ. Vicente là một người trọng danh dự nên lão muốn đền bù.
        Lão theo người Mỹ đến khách sạn, nài nỉ xin cho được tên và địa chỉ và hứa sẽ đền lại cho ông ta. Trên mãnh giấy không được lành lặn xé từ một cuốn nhật ký, ông ta ngoáy mấy từ: Abraham Lincoln Smith, 72 Hudson Avenue, Milwauki, Wisconsin, U.S.A và tờ giấy trở thành vật quý giá của lão. Đó là cột mốc tối hậu trong cuộc tìm kiếm lâu dài của lão.
        Tôi tin là trong giấc mơ lão Vicente đã thấy mình rốt cục đến được Milwaukee, Wisconsin, U.S.A, tay mang cái vò hai quai Phê-ni-xi cổ, được chào đón và khen ngợi.
        Vicente biết rằng lão chẳng bao giờ có tiền để mua cái vò hai quai đó, nhưng mắc mớ gì không đi kiếm cho mình một cái. Hồi nhỏ, lão đã trông thấy nhiều người tìm được. Tại sao lão lại không?
        Lão chẳng có gia đình, và cũng chẳng mất thì giờ để từ bỏ cuộc sống ở Barcelona đông đúc, nhộn nhịp bên bờ biển ấy, nơi lão đã khuân vác va-li cho người ta để kiếm tiền uống rượu và cái phòng ở không có lấy một cửa sổ.
        Khi lão đã bán hết chút đồ đạc, lão mua vé đi Ibiza và xa hơn một chút. Từ phía đuôi thuyền, lão quay nhìn lại thành phố khuất dần sau biển nước, và lão chợt nhận ra rằng những năm tháng lão ở đó chẳng khác gì tự giam mình vào nhà tù. Lão chẳng bao giờ ngước mặt khỏi đường phố chật hẹp để nhìn bầu trời rộng bao la.

        Thêm một lần trong đời, kể từ hồi còn bé, lão lại được nghe âm nhạc của biển khơi.

        Khi đã trở về với đảo, lão bắt đầu thực hiện việc đã định. Lão tìm hiểu nơi nào người ta đã phát hiện những chiếc vò hai quai, và lão, cũng như nhiều người trước lão, nhận ra rằng những đồ cổ quý giá ở gần bờ đã được tìm kiếm và lấy sạch.
        Sandik, một thanh niên ở Santa Eulalia del Rio, con của một lão thợ mộc, đã trở thành một thợ lặn biển nổi tiếng. Anh ta đã tìm thấy một khẩu đại bác dưới đáy biển. Muốn tìm Sandik để nhờ khuyên bảo, lão đi xe buýt đến chỗ của anh ta, và Sandik cho lời khuyên ngắn gọn. Kiếm mặt nạ, chân nhái và ra xa ngoài biển. Trên đường ra, nhiều chỗ cạn sâu chưa biết được, chỗ thì cạn vừa ngập đầu người, chỗ thì sâu bằng hai, ba chiều cao của người, và trong hang sâu dưới đáy biển, kho tàng có thể vẫn còn nằm đó.
        Hồi đó, Vicente, cũng như nhiều người sinh ra ở đảo, chưa bao giờ học bơi. Theo lời khuyên của Sandik, lão dùng hết món tiền còn lại để mua một bộ đồ lặn thật tốt, cặp chân nhái và một mặt nạ. Rồi lão đi thuyền nhỏ đưa thư Manolito trở về đảo Formentera. Ở đó, cắm trại trên bãi, xin ăn qua bữa, quả quyết đeo đuổi một mục đích duy nhất, lão bắt đầu tự học bơi.
        Lúc đó lão đã trên 60. Lão là một cụ già vì thời gian chẳng chừa một ai. Tuy vậy, cái sự thôi thúc muốn học và đi về phía chân trời thì vẫn còn trẻ trung.
         Lão học bơi và học lặn với đồ lặn của lão ở vùng nước cạn gần Cala Pujol. Dần dần, lão mạo hiểm bơi ra xa hơn, rồi xa hơn nữa, tới nơi nước chuyển sang màu tím, bắt đầu vùng biển sâu. Sau những lần lặn đầu tiên là thời kỳ lão nói nhiều nhất bởi lão không thể giữ trong bụng cái vẻ đẹp ngoạn mục kỳ lạ của biển sâu. Những khu vườn đầy loài sao biển, những loài cá đa sắc, mắt to, dịu dàng bơi theo lão, những tia sáng mờ đục chiếu nghiêng vào những hang đá bí hiểm. Lão kể những gì lão thấy cho đám ngư dân chuyên lao động trên thuyền nghe và họ tỏ vẻ hết sức ngạc nhiên và thán phục. Lão thề rằng chưa bao giờ lão thấy tự do như khi lão ở dưới biển sâu.
        “Nhưng dưới đó bác đâu thở được?”
        “Nhưng người ta có thể thở bằng mắt và bằng lỗ chân lông.”
        Chưa bao giờ lão nghe loại âm nhạc như thế.
        “Nhưng dưới biển chỉ là cõi yên lặng.”
        “Nhưng là cõi yên lặng có âm nhạc. Tựa như nghiều nhạc cụ cùng gởi âm thanh trong trẻo nhất lên bầu trời.”


        Tiếng Tây Ban Nha có đặc điểm riêng. Anh thợ cày cũng thường nói như là ngâm thơ. Ngôn ngữ tự nó sắp đặt như vậy.


        Ngày tiếp ngày, tuần tiếp tuần, tháng tiếp tháng, cứ thế mà nhiều năm rồi, vì danh dự mà cố tìm cho được cái vò hai quai để  thay cái đã bị vở, lão Vicente trở nên hạnh phúc hơn. Mỗi ngày là một niền hân hoan mới, một khám phá mới. Đã qua rồi cái thời bị ràng buộc bởi thời gian. Thế nào cũng có cái gì đó để thỏa mản nhu cầu, một con cá để nướng, một ly rượu, một miếng bánh mì, một hộp diêm. Đối với ngư dân ở đó, cuộc tìm kiếm của Vicente đã trở thành một phần của cuộc sống trên bờ hoặc trên biển của họ. Họ thường đối đãi với lão rộng rãi, không suy tính và bao giờ cũng sẵn sàng.

                                               ***
        Họ kể cho tôi nghe về lão Vicente cái hôm gió thổi từ Châu Phi khuấy động biển từ đáy và làm dậy lên những ngọn sóng cao vội vã xô nhau, và tôi, cũng như họ, hướng mắt vào đường chân trời mong tìm một chiếc thuyền nhỏ. Tôi quay sang Cha Pedro, người chăm sóc phần hồn của giáo dân ở thị xã San Fernando, vừa tham gia với chúng tôi.
        “Cha nghĩ thế nào, thưa Cha?” tôi hỏi. “Liệu lão Vicente có tìm được cái vò hai quai không?”
        Vị linh mục hơi mập này đan hai tay vào nhau. Hai mắt ông cũng hướng về chân trời nhưng dường như chẳng có gì lo lắng. Gió từ Châu Phi bắt đầu lay cái mái bằng tre trên đầu chúng tôi.
        “Này nhé”, ông nói. “Vincent lâu nay tìm kiếm. Không phải là tìm ra cái gì, như anh biết đấy, mà chính việc tìm kiếm mới là quan trọng. Chỉ việc tìm kiếm thôi chớ không phải cái gì khác.”

                                              ***


        Vào một ngày năm ngoái, biển đột ngột dâng cao, nổi sóng dữ dội vì gió, chiếc thuyền nhỏ mà lão Vicent mượn đã bị đánh dạt vào bờ.
        Không ai tìm thấy lão Vicente.
        Biển động dữ dội nhiều ngày trước đó.
        Thế nhưng bọc kín trong đám rong biển và được cột chặt vào đáy thuyền là chiếc bình hai quai của người Phê-ni-xi đã được vớt lên sau hàng thế kỷ nằm sâu dưới biển.
        Cha Pedro và những ngư dân là bạn của Vicente nhờ tôi, vì tôi biết tiếng Anh, viết thư gửi cho ông Abraham Lincoln ở Milwaukee, Wisconsin, U.S.A. Tôi đã viết và đã gởi đến địa chỉ đó mấy lần và lần cuối gửi cho ngài thị trưởng.
        Chẳng ai nhận được hồi đáp của ông ta.
        Bực mình vì lão già ngu ngốc đã làm vở đồ kỷ niệm của mình, người Mỹ kia đã phịa ra cái tên để tống cổ lão, tôi đoán vậy. Tuy nhiên, người Mỹ ấy có thể từng sống ở Milwaukee. Cũng chẳng ai biết nữa. /.


EVA-LIS WUORIO
NGUYỄN KHẮC PHƯỚC chuyển ngữ     

READ MORE - ÂM NHẠC CỦA YÊN LẶNG - Truyện ngắn của Eva-Lis Wuorio - Nguyễn Khắc Phước chuyển ngữ

HOÀNG SA NỘ KHÍ PHÚ - Kha Tiệm Ly

Tác giả KHA TIỆM LY



Ngựa cũ quen đường,
Đĩ già lậm nết. 
Việc phế hưng mỗi thuở khác nhau,
Mộng bá chủ bao đời y hệt!

Ta thấy ngươi,

Từ Đông Chu bị họa Thất Hùng,
Đến Hậu Hán phải xiềng Tam Quốc.
Đất Trường An thây chất chập chùng,
Bờ Vô Định xương phơi chất ngất!

Đã biết,

Hễ gieo chinh chiến là kín đất đau thương,
Nếu động can qua thì mịt trời tang tóc.

Vậy mà sao,

Chẳng lo điều yên nước no dân,
Lại quen thói xua quân chiếm đất?

Như nước ta,

Một dải non sông, nam bắc chung giềng,
Trăm triệu anh em, trước sau như nhất.
Hoàng Liên, Tam Đảo, Hồng Hà, Cửu Long , muôn đời là máu là xương,
Phú Quốc, Côn Sơn, Trường Sa, Hoàng Sa, vạn kiếp  là da là thịt.
Máu xương ta, ai lại dám tách rời?
Thịt da ta, ngươi dám đòi chia cắt?
Bốn nghìn năm, liền tổ quốc phồn vinh,
Ba miền đất, khối giang sơn gấm vóc.

Người trăm triệu nhưng vốn một lòng,
Tim một trái dẫu nhiều sắc tộc!
Nữ nhi chẳng thiếu bậc anh hùng,
Thiếu niên cũng thừa người kiệt xuất.

Mười năm phục quốc, gươm Lê Lợi thép vẫn sáng ngời,
Ba lượt phá Nguyên, sông Bạch Đằng cọc còn nhọn hoắt.
Liên hồi giục, trống Ngọc Hồi hực bước tiến quân.
Luôn miệng thét, điện Diên Hồng, vang lời sát thát.
Ải Chi Lăng, Liễu Thăng chết còn lạc phách kinh hồn,
Sông Nhị Hà, Sĩ Nghị chạy còn đứng tim vỡ mật.
Rầm rộ vó câu Thường Kiệt, Khâm Châu ngàn dặm, không còn bóng quỉ bóng ma,(1)
Âm ầm tiếng sét Đống Đa, Quảng Đông toàn tỉnh chẳng tiếng con gà con vịt. (1)

Hùng khí dù dậy trời Nam,
Nghĩa nhân lại tràn đất Bắc:

Thương ngươi binh bại, tàn quân về, ngươi còn được cấp xe ngựa rình rang (2)
Trọng kẻ trung can, hổ tướng chết, ai vẫn cho thắp khói hương chăm chút?(3)
Mạc Cửu đem quân lánh nạn, chúa ta vẫn mở dạ đón người,
Hoa kiều mượn đất ở nhờ, dân ta vẫn chia cơm xẻ thóc.

Phúc cùng hưởng khi mưa thuận gió hòa,
Họa cùng chia lúc sóng vùi gió dập.
Giúp các ngươi như kẻ một nhà,
Thương các ngươi như người chung bọc!

Thế mà nay,

Ngươi lại lấy oán trả ơn,
Ngươi lại lấy thù báo đức!
Ăn đàng sóng, nói đàng gió, y như đĩ thúi già mồm.
Lộn bề ngược, tráo bề xuôi, khác nào điếm già bịp bạc.

Kéo neo tuần hạm, ào ào đổ bộ Hoàng Sa,
Quay súng thần công, ầm ỉ tấn công Đá Bắc.
Chẳng chấp hải qui,
Chẳng theo công ước.
Quen nết xưa xấc láo, giở giọng hung tàn,
Lậm thói cũ nghênh ngang, chơi trò bạo ngược.

Nói cho ngươi biết; dân tộc ta:

Từng đánh bọn ngươi chỉ với ngọn giáo dài,
Từng đuổi bọn ngươi chỉ bằng thanh kiếm bạc.
Từng đánh Tây bằng ngọn tầm vông,
Từng đuổi Nhật với thanh mác vót!

Vì khát độc lập mà thường uống nước lạch, nước đìa,
Vì đói tự do mà quen ăn muối mè, cơm vắt.
Sá chi tóc gội sa trường,
Đâu quản thây phơi trận mạc.

Hãy liệu bảo nhau,

Nhìn thây Gò Đống mà liệu  thắng liệu thua,
Thấy cọc Bạch Đằng mà nghĩ sau nghĩ trước!
Đừng để Biển Đông như Đằng Giang máu nhuộm đỏ lòm,
Đừng để Hoàng Sa là Đống Đa xương phơi trắng xác!

Nếu ngươi dựa vào hỏa tiển, phi cơ,
Thì ta cũng có tuần dương, đại bác.
So vũ khí, thì kẻ nhược người cường,
Đọ trái tim, coi ai gang ai sắt?

Thư hãy xem tường,
Hoàng Sa hạ bút.

KHA TIỆM LY
khatiemly@gmail.com

 (1) Sử ghi: Khi Lý Thường Kiệt  xua quân qua Khâm Châu, Liêm Châu, cũng như khi quân Thanh bại trận Đống Đa chạy về, thì dân Tàu vùng biên giới kinh hoàng chạy  theo. “Từ Nam Quan về bắc hàng trăm dặm vắng tanh, không thấy bóng con gà, con vịt”.

(2) Sự kiện Lê Lợi cấp ngựa và lương thực cho tù binh quân Minh về nước.

READ MORE - HOÀNG SA NỘ KHÍ PHÚ - Kha Tiệm Ly

Thursday, November 15, 2012

TRUY TÌM NGHĨA GỐC TỪ "CÀNG" TRONG ĐỊA DANH "CÀNG HƯNG NHƠN" - Nguyễn Thanh Xuân

Nhân đọc bài viết từ trang mạng xã hội Violet: <nguyentuyet.violet.vn/entry/showprintid 1611915> (*)

Bình minh ở làng Hưng Nhơn - Ảnh Nguyễn Như Khoa



   Từ CÀNG là thuần nôm (chữ Hán không có) có hai đồng âm:
   + Càng con cua, càng xe bò… là danh từ
   + Càng học càng biết …là trợ từ
    Từ Càng (Hưng Nhơn…) không có trong nghĩa gốc liệu ta truy tìm tranh luận lấy gì làm căn cứ rồi ai làm trọng tài?
    Do từ Càng khác lạ, nhưng nó ở vị trí này, ta xem nó như  là một đơn vị hành chánh dưới xã: thôn, xóm, phường, ấp, càng…
    Ta thử xem: đến bây giờ những tên gọi làng xã phường thôn ấp xóm…còn lung tung, huống gì thời tiền sử.
    Thử một ví dụ cụ thể: XÃ HẢI HÒA
Trước 1945 xã và làng là đồng cấp (chữ Hán gọi là Xã, dịch ra tiếng Việt gọi là Làng).
   Ở xã (làng) Hưng Nhơn không có thôn mà dưới làng là xóm. Ra đồng ruộng có Càng, lên rừng có Phường.
   Ở xã (làng) An Thơ thì lại đa dạng hơn: Ở làng có phường, có thôn có xóm, ra đồng ruộng có càng An thơ, càng Mỹ Chánh, càng Hội Điền, lên rừng có phường An Thơ tuy ở làng đã có phường.
    Ở Phú kinh cũng na ná vậy.
    Bây giờ, chế độ quản lý hành chánh mới: Xã (gồm nhiều xã cũ), xã cũ gọi là thôn, xóm. Bỏ từ Làng.
   Trở lại nói chữ Càng. Với tôi không nên bàn, nó đã quen gọi, bây giờ cứ thế mà gọi, cũng có thể thành lâp xóm. Như Hưng Nhơn hiện có ba xóm nay thêm một xóm. Thôn Hưng Nhơn có bốn xóm. Tên xóm thì trưng cầu dân ý. Mai đây tình hình thay đổi có thể lên thôn cũng nên. Càng Văn Trị nguyên là Càng của Văn Quỹ nay là thôn Văn Trị đồng cấp thôn Văn Quỹ.
  
   Có một đoạn trong bài viết nói trên là tác giả nghe người cao tuổi làng Hưng Nhơn rằng Càng là nơi cho dân đến lưu trú (ngụ cư) ra đó để bảo vệ và phải làm một số việc theo yêu cầu của chức sắc, từ đó luận ra là bà Giàng Bưng Đá là dân ngụ cư. Bạn ơi! Không phải đâu. Người kể (xin lỗi, ai đó người già) có thể nhớ lẫn lộn, tôi nhắc bạn chú ý rằng người đến lưu trú ở Hưng Nhơn duy nhất là người Họ Võ cách đây dưới 200 năm mà Bà Bưng Đá chia đất giữa các làng cách đây 500 năm. Bà Bưng Đá theo tôi là thế hệ I khai canh ra Làng, sao nghĩ là người ngụ cư!?
   Còn đoạn nói rằng: vùng đất này thật lạ là xã nào cũng có Càng như Mỹ Chánh cách trên 10 km cũng có Càng dưới này. Hóa ra, bạn chưa hiểu lắm về vùng đất này. Mỹ Chánh nguyên là một thôn của An Thơ, bà con trong thôn ra ở ngoài đó (Càng) cho thuận tiện canh tác, khi lên khai phá vùng đất mới, quá trình tụ cư lớn lên nhanh chóng, họ thành lập làng Mỹ Chánh (tách hẳn với làng An Thơ), chỗ Càng cũ họ vẫn giữ kể cả ruộng canh tác. Vậy đó nên chẳng có gì là lạ cả.
    Do địa thế vùng dân cư và ruộng canh tác của các xã bờ bắc Ô Lâu vừa trũng vừa xa, việc đi lại canh tác, bảo quản  khó khăn, cần có chỗ ở tạm, sau dần lên năm bảy nhà thế là cần có tên gọi chỗ ở là Càng. Có người cho rằng nó như càng cua bảo vệ nơi hẻo lánh. Bảo vệ gì với lực lượng mỏng tang èo ọt, liệu có chống nổi rắn rết nói chi đến chống  người ngoài xâm phạm. Gọi Càng chưa đủ để biết một địa chỉ mà phải kèm theo một địa danh khác như Hưng Nhơn, An Thơ chẳng hạn, cho nên mới có tên kép là Càng Hưng Nhơn; Càng An Thơ… Vô phép tôi lạm bàn ta có thể bỏ từ Càng mà thay vào xóm A Hưng Nhơn; xóm B An Thơ v.v…
  Vùng trũng không có đất trồng khoai sắn, lên rừng khai phá và gọi là Phường. Làng nào cũng có phường. Kể ra gọi  phường là không đúng. Phường là đơn vị dưới Quận ở Thành phố. Quen rồi cũng rồi (có nơi gọi phường săn bắn; phường khai hoang), nhưng ở làng làm nghề ruộng mà gọi Phường thay là phải.

Nguyễn Thanh Xuân
             Email: nhuxuan29@gmail.com

...................................
(*) BBT đã cố gắng tìm địa chỉ liên kết này để phục vụ bạn đọc nhưng rất tiếc chưa tìm được.
Các bạn hãy thử tìm Ở ĐÂY


  
READ MORE - TRUY TÌM NGHĨA GỐC TỪ "CÀNG" TRONG ĐỊA DANH "CÀNG HƯNG NHƠN" - Nguyễn Thanh Xuân

NHỚ MỘT NGƯỜI THÔI - thơ Vĩnh Thuyên



(tặng Kha Tiệm Ly)

Nhớ em  muốn chết cho rồi !
Uống say nằm ngủ,
thức ngồi nhớ em

Xin gởi gió nụ hôn lên tóc
Vì má môi là của người rồi
Gió từ chối đông về bấc lạnh
Chờ hạ sang lâu lắm gió ơi !

Mấy mươi  năm một lần lầm lỡ
Lỡ một lần nghìn xót ngàn xa
Đêm trở giấc vòng quanh phố chợ
Chợ vắng người phố chẳng ai qua

Nhớ em nhớ đủ trăm bề
Bỏ đi trăm thứ muốn về thăm em.


VĨNH THUYÊN
duongvinhthuyen@gmail.com
READ MORE - NHỚ MỘT NGƯỜI THÔI - thơ Vĩnh Thuyên

HẠNH HOA THÔN - thơ Huy Uyên

Nhà thờ Trí Bưu



Hai mắt em có đuôi lá răm
sáng nay về đâu mà coi đìu hiu lắm
về Hạnh Hoa thôn với giáo đường đầy nắng
hay về Trí Bưu chuyến chợ phiên buồn.

Ai theo em để  kịp cùng đường
nơi có triền đồi và bầy nghé ọ
bên sông em gái làng hồng đôi má
và những hàng tre sớm mai hơi sương

Hạnh Hoa thôn nắng reo mùa vụ
thoáng môi ai hơi ấm ắp giọng cười
hay em đi rồi bỏ lại mình tôi
bước thơ thẩn mà lòng căng bão tố.

Chiều chuông nhà thờ chầm chậm đổ
giọng của ai êm dịu tiếng kinh cầu
Hạnh Hoa thôn hai ngã về đâu
ngày ấy hai ta chia đôi bóng nhỏ.

Bao nhiêu năm rồi lệ người mắt đỏ
đọng bóng chiều chờ ai quay về
bỏ tình ở lại để cả đời tiếc nhớ
Hạnh Hoa thôn mãi tiếng gọi làng quê.




Quảng-Trị tháng 11-2012
Huy Uyên
lesinh.lesinh@yahoo.com
READ MORE - HẠNH HOA THÔN - thơ Huy Uyên