Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, January 7, 2012

Lê Văn Trạch - VĂN HỌC DÂN GIAN QUẢNG TRỊ



VĂN HỌC DÂN GIAN QUẢNG TRỊ 
          Lê văn Trạch 


      Văn hoá nói chung, là biểu tượng của mọi lề  lối, phương thức sinh hoạt từ tiếng nói, tập tục, cách ứng xử, lễ hội, tín ngưỡng đến cách ăn mặc, lời ru, tiếng hát… gom lại; là cốt cách, sức sống… của một cộng đồng dân cư từ nhỏ  đến lớn. Chưa có một kết luận cụ thể  nào xác định thời điểm có mặt của người Việt tại vùng đất Quảng Trị, chỉ biết một  điều là đã được diễn tiến bởi nhiều  đợt di dân qua hàng bao thế kỷ. Cội nguồn của người Việt được hình thành trong vùng châu thổ các sông ở miền Bắc, tạo dựng một nền văn minh, văn hoá nông nghiệp. Những người di dân vào Nam vẫn mang theo truyền thống ấy. Quảng Trị là một dải  đất hẹp nhưng có nhiều hệ sinh thái, nhiều khu vực nông nghiệp khác nhau, không phải là một nơi dễ  dàng làm ăn sinh sống, hàng ngày người dân đối mặt với nhiều thứ khắc nghiệt. Do bản năng sinh tồn, họ chiến đấu và chiến thắng mọi gian nguy để tồn tại và phát triển. Góp phần vào việc giảm bớt sự căng thẳng để tạo nét hài hoà  trong sinh hoạt đời thường, họ nghĩ ra những thứ để thưởng ngoạn, vui chơi dân giả. Đó là những chuyện thần thoại, chuyện cười, những nhân vật có óc khôi hài, châm biếm, những câu ca, lời ru tiếng hát, điệu hò; tất cả do mang một nét  đặc thù Quảng Trị, một nền văn học dân gian. Trong phạm vi một bài viết ngắn chúng tôi chi giới thiệu những thể loại có tính cách đại chúng là Thơ  Ca Hò Vè với một số nội dung tiêu biểu mà  xin bỏ qua những mẫu chuyện, những con người đã tạo nên sắc thái vui tươi thú vị nhưng chỉ  hạn hẹp trong một địa phương nào đó.
      
Thơ  Ca Hò Vè là sản phẩm của nông dân, phản  ảnh bao trùm mọi sinh hoạt với một loại ngôn ngữ  bình dân mang tính đại chúng, cho thấy rõ nét cái chơn chất mộc mạc nhưng thắm đậm nhân tính của con người Quảng Trị. Tạm thời có thể sắp xếp theo các thể loại sau: 

I / Tục ngữ:
      A. Về  thời tiết và sản xuất
      Cò  ăn ruộng sâu thì nắng
      Cò  ăn ruộng cạn thì mưa 
      Công cấy thì  bỏ, công làm cỏ thì  ăn
      Chớp ngã  Cồn Tiên, mưa liền gặp trộ 
      Đập đất nhỏ, luống đánh to
      Xung quanh rắc  đậu, trồng ngô xen vào 
      Đói thì  ăn môn ăn khoai
      Đừng thấy ló lỗ giêng hai mà mừng 
      Trăng rằm  đã to lại tròn
      Khoai lang đất cát đã ngon lại bùi 
      Xứ  Cùa đất đỏ ba dan
      Ai ơi trồng mía làm giàn thả  tiêu 
      
      B. Về  đời sống xã hội 
      Liệu cơm mà  gắp mắm ra
      Liệu cựa liệu nhà  mà gả con vô 
      Khun ba năm không ai biết
      Dại một giờ  bạn hay 
      Đi buôn bữa lỗ bữa lời
      Ra câu giữa vời bữa có  bữa không 
      Ai ơi chớ lấy học trò
      Dài lưng tốn vải  ăn no lại nằm 
      Khoai lang cổ  bở cổ trân
      Làm rễ  họ Trần cực lắm ai ơi 
      Bỏ  công múc nước đường xa
      Có  trong thì múc, ngà ngà  thì thôi 
      Sui gia là  bà con tiên
      Ăn ở không hiền là bà con quỷ 

II / Câu đố:
      Hai người ở hai buồng
      Ngó  đi nhìn lại như tuồng cấm cung
      Đêm về sập cửa thả chông
      Ngày thì  vòi vọi đứng trông nhau hoài
                                                      (Hai con mắt) 
      Gặp nhau đây bất luận đêm ngày
      Lật ra xem thử  lỗ này ở đâu
      Đâm vô thì rút ra mau
      Đừng để trung nớ mà đau lòng nàng
      Rút ra máu chảy tràn lan
      Khi nớ  duyên thiếp, nợ chàng ngái xa
                                                     (Đạp gai) 
      Họ  hàng chỉ sống trên non
      Tìm cây hút nhụy nuôi con tháng ngày
      Không may lửa dậy khói bay
      Thảm thương ấu tử sống rày thác mai
                               (Tổ ong bị đốt) 
      Cây xanh mà  lá cũng xanh
      Dầm mưa dãi nắng theo anh võ vàng
      Một mai lửa  đỏ thành than
      Mây bay khói lượn truớc mặt chàng, chàng ơi
                                                (Cây thuốc lá) 

III/ Vè:
      Một thể loại truyền khẩu rất phổ thông, dễ nhớ, thường là mô  tả cảnh sinh hoạt ở nông thôn, một nhân vật đặc biệt, đôi khi nêu thói hư tật xấu với dụng ý giáo dục . 

      A. Vè  Ba Lòng:
      Thanh trời rạng thấy núi xây
      Rừng xanh suối bạc  đáo vầy tứ phương
      Trà  Trì, Văn Vận hai phường
      Đá Nầm, Chinh Thạch giao lương thuận hòa
      Tháng năm bắp  đã tới mùa
      Chè  thơm mít chuối bên Cùa gánh sang
      Bao nhiêu thao vải, lụa hàng
      Vật gì  phường chợ cũng băng ngàn trải lên
      Đò thì mắm nục, mắm nêm
      Đò thì cá khô, muối ruốc cũng mang lên tại phường
      Đò thì gạo, nếp, trứng, đường
      Đò thì vàng bạc, lược, gương, cau trầu
      Đò thì ghè, đục, ang, âu
      Tréc, om, trình thống, dĩa dầu, bình vôi
      Buôn chi thì  nỏ có lời
      Lưỡi cày, lưỡi cuốc, núc, nồi, đá, dao
      Buôn chi than, vải lụa thao
      Nhuộm màu xanh lục, rêu rao thêu thùa
      Bao nhiêu cũng nhờ  hột bắp mà thôi
      Rồi mùa ngó  lại, giơ cồi với mao 

      B. Vè  thằng nhác
   Lẳng lặng mà  nghe
   Kể  vè thằng nhác
  Gia đình khổ cực
Vợ  yếu con thơ
Chồng ai được nhờ
Chẳng nên trò trống
Nửa ngày thức dậy
Lục  đục soong nồi
Vắt  áo đi chơi
La cà hàng xóm
Vợ  nhờ cày ruộng
Tao bị đau chân
Vợ  nhờ quét sân
Đau lưng vẹo cổ
Vợ  nhờ bửa củi
Cái búa nó hư
Vợ  bảo đi bừa
Sợ  rằng trâu húc
Vợ  nhờ đi gặt
Tao gánh đau vai
Thở  ngắn than dài
Tội tình chị vợ
Ấy thế mà!
Nồi cơm vừa dở
Chưa kịp ai mời
Cúi cổ cúi tai
Một hồi chén sạch
Là  cái thằng nhác
Ăn dữ không làm
Hỡi xóm hỡi làng
Nghe vè thằng nhác 

 C. Vè con gái 
Nghe vẻ nghe ve
Nghe vè con gái
Tay chân mềm mại
Khác thể bông ba
Chờ  mẹ đi ra
Cắp tiền thu dấu
Muốn  ăn khoai nấu
Muốn  ăn khoai nướng
Muốn  ăn xôi chè
Ăn rồi ngồi xếp bè he
Cái lưng bơ bừng cái thúng
Ăn chùng ăn vụng
Cho sướng cái thân
Việc nỏ muốn mần
Dôông thì muốn lấy
Áo năm bảy cấy
Mược vào đi chợ
Béng ướt dụy tôm
Hai tay bóoc lá
Lộ  mồm hả ra 

IV/ Đồng dao
Bập bong bong tay mô  khôông tay mô có
Bập bò  bọ tay mô có tay mô  khôông
Chị  lấy dôông em ở quá
Chị  ăn cá em mút xương
Chị  đường em mật
Chị  vật em coi
Chị  voi em ngựa
Chị  bựa em bèn
Chị  kèn em trống
Chị  trống em mái
Chị  méo em tròn
Hai hòn về chị
Rầm rà rầm rì
Xây lúa Đồng Nai
Cơm gạo phần ngài
Tấm cám phần tui
Lờ  đệng cháy nhà
Bà  già chạy chựa
Cháy nửa bồ thóc
Lóc cóc chạy về
Ông Đề hỏi răng
Cu Nhăng cắn nhện 
Heo chi – Heo lang – Lang chi – Lang cẳng – Cẳng chi – Cẳng giò –  Giò chi – Giò móng – Móng chi – Móng heo 

V/ Câu đối
      Văn vận tuột quần Văn vận vận
      Bích La đau bụng Bích La la 
      Cam Lộ  buôn cam, Cam Lộ Lộ
      Bích giang không nón, Bích giang giang 
      Tân Trúc trồng tre, thở  hoi hóp
      Đông Hà xúc hến hát ngêu ngao 

VI/ Ca dao
      Ca dao chiếm phần lớn nhất trong văn học dân gian, biểu hiện tâm hồn giàu tình cảm, phóng khoáng của người nông dân, một thứ tình cảm bình dị chơn chất trong sáng như cuộc đời hiền hòa đôn hậu của họ, được thể hiện trong mọi tình huống, hoàn cảnh về gia đình, xã  hội, đặc biệt là về tình yêu đôi lứa, một đề tài muôn thuở 

A. Quan hệ gia đình

Biết răng chừ cá gáy hóa rồng
Để  đền công ơn Thầy Mẹ ẵm bồng ngày xưa 
Chị  em như chuối nhiều tàu
Tấm lành che tấm rách, đừng nói nhau nặng lời
Cây kia ăn quả ai trồng
Sông kia uống nước hỏi giòng từ  đâu
Cơ  đồ gầy dựng bấy lâu
Công lao tiên tổ lẽ đâu quên hoài
Mộ  phần gìn giữ hôm mai
Những ngày lễ tết chẳng sai lệ  thường 
Có  chồng rồi khác chi con ngựa có  dây cương
Lôi mô chạy nấy khổ trăm  đường ai ơi 
Còn cha gót đỏ như son
Một mai cha chết, gót con đen sì 
Mẹ  già ham việc tiếc công
Cầm duyên con lại thu đông mãn rồi
Mãn rồi cai đội hồi hương
Trai về làm ruộng, gái buôn nuôi chồng 
Ra đi bố mẹ ở nhà
Gối nghiêng ai sửa, chén trà  ai bưng 

B. Quan hệ  xã hội

Ai về Đông Hà, ai qua Cam Lộ
Ai về Gia Độ, ai đến Gio Linh
Ai về Triệu Phong, Quảng Trị  quê mình
Cho em nhắn gởi chút tình nhớ  thương 
Bạn về không có chi đưa
Môn khoai đang dại, mít dừa  đang non 
Cây cao bóng mát chẳng ngồi
Lại ngồi trửa nắng trách trời không dim 
Cây khô xuống nước cũng khô
Phận nghèo đi tới chỗ mô  cũng nghèo 
Con quan lấy đứa mần than
Nắng mưa phải chịu cơ hàn phải theo 

C . Quan hệ  lứa đôi 

Trăng lên tới đó rồi tề
Nói chi thì nói, em về kẻo khuya
Bướm vàng đậu đọt cau tơ
Kiếm cái nơi mô nương tựa
Chơ  răng cứ vất vơ rứa hoài 
Chàng ơi phụ thiếp làm chi
Thiếp là cơm nguội những khi đói lòng 
Đi mô cho thiếp đi cùng
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp theo 
Cam chua, quýt ngọt… bồng the
Thấy em nho nhỏ, anh ve anh để dành 
Xa anh có bấy nhiêu ngày
Tình em như mảnh trăng gầy nửa  đêm 
Hai ta mót củi một cồn
Bứt tranh một chỗ, tiếng đồn thật xa 
Em đương vút nếp hong xôi
Nghe anh lấy vợ, thúng trôi nếp chìm 
Ai hay nông nổi mần ri
Ngày xưa ở rứa, vội chi trao lời 
Anh đã có vợ thời thôi
Không phải mắm nêm chuối chát mà  muốn moi cho nhiều 
Anh về đừng có ngó  lui
Để em ngó dọi ngùi ngùi thêm thương 
Anh đưa em lên đến ngã  tư sòng
Em trở Về Cam Lộ, anh trở  lại Triệu Phong với ai chừ 
Được nên chồng nên vợ thì hay
Rủi thời đói khổ có  ăn mày cũng phu thê 

      VI. Hò:
      
     Hò là thể loại dân ca phong phú, đa dạng, có tính quần chúng và  mang nét đặc thù Quảng Trị Đó là một hình thức sinh hoạt sôi nổi, được diễn ra trong công việc đồng áng, lễ hội hay là một cách giải trí trong buổi nông nhạn Có nhiều điệu hò  và cách hò tùy theo không gian thời gian, lao động nặng nhọc khác nhaụ Quét vôi thì hò hụi, giã gạo thì hò khoan, hò hô, chèo đò thì hò mái nhì, nếu đò mắc cạn thì  hò mái đảy, hò rủ rơm, hò đánh bài thai, bài chòi, hò kéo gỗ, hò ru và hò  đối đáp… Ở đây chúng tôi xin giới thiệu mấy  điệu hò tiêu biểu: 
      
      A. Hò  ru:
      Tất cả chúng ta đều lớn lên từ 4 tao nôi và lời ru của Mẹ. Làn điệu ngọt ngào êm dịu như đã thấm vào máu thịt xương tủy và cũng lớn lên theo giòng đời . Qua năm tháng nổi trôi, lời ru luôn luôn là sự gợi nhắc tình cảm, nghe mãi nhưng nghe lại vẫn không khỏi bồi hồi: 
Khi con thức Mẹ cho con bú
Khi con lú Mẹ lại ru hời
Nuôi con cực lắm con ơi
Chỉ  mong cho con lưng dài vai rộng
Để lấp biển vá trời như ai ! 
Mẹ  thương con ngồi Cầu Ái Tử
Vợ  trông chồng đứng núi Vọng Phu
Mai đây bóng xế trăng lu
Con ve kêu mùa hạ
Biết mấy thu đợi chờ 
Em nghe anh đau đầu chưa khá
Em đây băng đồng chỉ sá  bẻ nạm lá qua xông
Ước làm sao cho nên đạo vợ chồng
Đổ mồ hôi ra em chặm
Lại ngọn gió lồng em che 
Ru hời ru hỡi là ru
Bên cạn thời chống bên su thời chèo 
Xây thành đắp lũy trên non
Cắm hoa dưỡng nước nuôi con tháng ngày
Một mai lửa dậy khói bay
Con ơi ! Mẹ không biết sống rày thác mai 
Ơn cha ba năm báo bổ
Nghĩa mẹ chín tháng cưu mang 
Bên  ướt Mẹ nằm bên ráo con lăn
Lấy chi trả nghĩa sinh thành
Lên non tạc đá xây lăng phụng thờ 

      B. Hò  đối đáp:
      Là một thể loại văn nghệ tự túc độc đáo dược phổ biến rộng rãi trong mỗi làng quê Quảng Trị trong thập niên 30, 40. Những lúc nông vụ đã tạm ổn, vào những đêm trăng, đâu đâu cũng nghe tiếng hò rộn ràng sôi nổi tạo nên một không khí tưng bừng vui vẻ. Có thể chia làm hai loại: Hò ân tình và  Hò đâm bắt. 

      1) Hò ân tình:
      Loại này đơn giản dễ  hò, có thể lấy từ câu đố, một cốt chuyện đã có sẵn, chỉ cần nhập vai là  hò được hoặc đôi bên đối đáp về  những chuyện trời trăng mây nước vô thưởng vô  phạt Địa điểm hò thường được chọn ở  những nhà rộng rãi thoáng mát để có được  đông đảo khán giả tham dự. Thường thì các cô  gái đã đợi sẵn còn các chàng còn vòng vòng ngoài ngõ hay trước sân:
Ai đứng ngoài đường cho muỗi cắn ho kêu
Vô  đây phân giải đôi điều cho vui 
Các chàng chỉ đợi có thế mạnh dạn bước vào:
Chào lê chào lựu chào đào
Ai xa chào trước ai gần chào sau
Chào bên nam mất lòng bên nữ
Chào người quân tử sợ  dạ thuyền quyên
Cho anh chào chung một tiếng kẻo chào riêng khó  chào 
Ai có chồng thì khuyên chồng đừng sợ
Ai có vợ thì xin vợ  đừng ghen
Ra đây ta hò hát cho quen
Rạng ngày ai về nhà nấy…
Khá  thể ngọn đèn hai tim 

Đó là màn dạo đầu, cuộc hò sẽ tiếp tục:
 Nữ:       Đố anh chi sắc hơn dao
              Chi  sâu hơn biển, chi cao hơn trời 
Nam:     Con mắt em sắc hơn dao
              Lòng sâu hơn biển, trán cao hơn trời 
 Nữ:       Bánh cả mâm răng kêu bánh ít
              Trầu cả chợ răng gọi trầu không
              Ai mà đối đặng làm chồng nữ  nhi
 Nam:    Chuối không đi tây răng kêu chuối sứ
             Cây không đi học răng kêu cây thông
             Anh đã đối đặng em theo chồng về  mau
  Nữ:    Nghe anh thuộc sách Kinh Thi
             Hỏi anh con cá nằm dưới cỏ gọi là con cá chi rứa anh hè                                                                                                                                                                                               Nam:       Anh đây thuộc sách Kinh Thi
              Con cá nằm dưới cỏ anh nghĩ  là con cá tràu    
Nữ:       Em như bông sen trong hồ
              Các anh như bèo như bọt nhìn chi được cơ đồ nơi em
Nam:    Nước lên cho sóng cuộn theo
              Cho sen chìm xuống bèo trèo lên trên 
Nữ:      Em đây như con rồng vàng
            Chín tầng mây phủ nằm ngang giữa trời 
Nam:   Anh đây có phép thần thông
            Vén mây cỡi gió bắt con rồng coi chơi 
 Nữ:    Em đây như chiếc chuông vàng
           Treo trong thành nội có hàng ngàn quân canh 
Nam:   Quân canh dù mấy chục ngàn
            Dùi chiêng anh mang sẵn, anh nện chuông vàng đứt đôi 
            Kiến bò cột sắt sao mòn
            Con vò vò xây tổ sao tròn mà  xây
            Kiến bò cột sắt thành đàn
            Con vò vò xây tổ khám vàng cũng xây 
            Thương thay các cậu chự bò
            Cái lưng môốc thếc thếc
            Bộ  giò đen thùi thui
            Em về dở sách ra dò
            Cha em lúc trước cũng chự bò  như anh 
            Trai không vợ như chợ  không đình
            Mưa dông một trộ ghé mình vào  đâu 
            Trai chưa vợ lo phò vua vệ  quốc
            Chợ  không đình tại thợ mộc suy vi
            Sao không lo phận thiếp lại  đi hỏi chàng 

       2) Hò đâm bắt: 
      Thường là đối đáp giữa trai và gái, loại này đòi hỏi một khả năng thiên phú: Thông minh, nhanh nhẹn, tháo vát. Đối thủ  luôn luôn tạo bất ngờ, không có thì giờ  suy nghĩ, chọn lựa. Người ra chiêu có lợi thế  hơn (thường là nữ) đi những đường quyền móc họng, phạm thượng. Ngôn ngữ ở đây thuộc loại dân gian dung tục, các danh hò thường không né tránh bất cứ một từ ngữ nào miễn đạt được hết ý và đưa đối phương vào thế hiểm hóc (Nhân đây cũng xin mở một dấu ngoặc về  loại văn chương này vì gần đây trên văn  đàn hải ngoại, nhà lý luận phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc có đưa ra bản thảo về  ngôn từ dung tục trong văn học dân gian miền Nạm  đại khái như: Vân Tiên ngồi núp bụi môn. Chờ khi trăng lặn… Nguyệt Nga…) bởi thế trong phần lược kê dưới đây nếu có một vài từ đại loại như thế, kính mong các bậc trưởng thượng thông cảm:
      
Trong đêm hò tại vùng Long Quang Linh Yên, một siêu hò đã đánh đòn phủ  đầu các nam nhi: 
Anh ra chi mỗi tháng mỗi ra
Cực lòng em lắm mẹ cha hỏi hoài
      
Mới nghe tưởng là một lời trách móc trữ tình, thực ra chị này đem “việc riêng” của mình ra để so sánh xưng tụng thật là hết ý . Một số ngượng nghịu bỏ về. Có người đáp lại nhưng sống sượng, thiếu hấp dẫn:
Anh ra ba em cũng ra
Anh còn sống, ông cụ thác xuống ngã  ba mất rồi 
Một hôm khác tại Gia Đẳng:
Tiếng đồn em học hết sách quốc ngữ, hết chữ  Kinh Thi
Con bò cái đi trước, con bò  đực đi sau, nó cười chi rứa eng hè
Anh học hết sách quốc ngữ, hết chữ  Kinh Thi, con bò cái đi trước, con bò  đực đi sau nói cười nó  cọ, nó đo-u sao thiếp không biết lại  đi hỏi chàng 

Vùng Đá Nầm, Đá Nổi ở Ba Lòng cũng một thời nhộn nhịp: những lúc nông nhàn trai tráng miệt đồng lên khai thác lâm sản và những đêm hò lại diễn ra:
Liệu bề đát được thì  đan
Chớ  đừng đan rồi để  đó mà thế gian chê  cười 

Cô  gái có vẻ kênh kiệu, coi thường chàng trai, nhưng chàng ta bình tĩnh tung đòn phản công rất ngoạn mục:
Anh đây đan cũng giỏi, đát cũng tài
Lận thì đè côi đè xuống, còn nức thì  xỏ ngoài xỏ vô 

Đến hiệp hai thì nam danh hò bối rối:
Ra đường lại gặp anh Ba
Anh ở “trung nớ” anh ra răng chừ  ? !!! 
      
Chàng ta xin khất, đi tìm bà  cô: là một danh hò đã gác kiếm, sau khi hối lộ  một xấp thuốc Tầm Bỏi, bà đã chỉ cho câu  đáp, mặc dầu không sâu sắc lắm nhưng cũng đỡ mất mặt:
Anh ở trung nớ mới ra bựa qua
Cùng ra có cậu bên nhà kết nghĩa thầy trò
Anh nhanh chân anh tới trước còn cậu lò  dò theo sau !!! 
      
Có những cô gái thật là lì lợm lém lỉnh đôi khi làm các chàng trai yếu bóng vía phải ngọng nghịu chùn chân:
Anh làm thợ mộc khéo đã ra chi khéo
Đóng bức đố xéo đã ra chi tài
Răng không giơ cái lại chàng ra chắn mộng để thòi lòi mộng ra 

Tuy thế vẫn có những nam nhi thông minh lanh lợi, đáp lại vô cùng thỏa đáng:
Anh đã  đưa cái lại chàng ra chắn mộng
Mà  thầy mẹ bên nhà khoát khoát khoan khoan
Để khi đi về móc áo, lỡ chừng treo khăn 

Cũng đã có cô gái bạo mồm bạo miệng tung chưởng vào đối phương:
Em mua cho anh cái dù tám cóng
Dưới có mốc đồng
Răng anh không đội
Để  đầu không rứa hè 

Nhưng đối thủ của nàng không phải tay vừa, đã bình tĩnh phản công:
Cái dù tám cóng dưới có  cái móc đồng
Em đem về cho cha em đội cho nội em che
Phận anh là rễ đội nón tre quen rồi 

Đôi khi lời đối đáp thật hóm hỉnh, thông minh: 
Tiếng đồn em lấy chồng già
Đêm nằm em thấy ớt cà ra răng
Tre già còn dẻo hơn măng
Ớt cà tra có hột, chớ hơn thằng ớt tơ 
      

Văn nghệ dân gian như  đã nói là một chất liệu ngôn ngữ hòa tan trong tâm thức của mọi người, nó như mạch ngầm  ẩn dấu đâu đó tưởng chừng quên nhưng chỉ  một giây lắng đọng khắc khoải, sẽ bừng dậy những nỗi nhớ niềm thương da diết. Đó là một kho tàng vô tận tiềm ẩn trong mỗi người Quảng Trị, không thể có một công trình tìm kiếm hoàn chỉnh .Trong phần lược ghi với một ít nội dung tượng trưng, hy vọng tạo được một khoảnh khắc thanh thản khi nhớ về quê hương. 
                                  Lê Văn Trạch
                                                            Email: letrach@yahoo.com 

READ MORE - Lê Văn Trạch - VĂN HỌC DÂN GIAN QUẢNG TRỊ

Friday, January 6, 2012

HƯƠNG MỚI - Thơ TRƯƠNG NGUYỄN



Gom rác cũ đốt tìm hương mới
Khói mênh mang hoà quyện màu mây
Nơi sâu thẳm rộn ràng ngày tới
Phảng phất thơm nhìn cỗ vật sẵn bày
Bó trầm nhang thắp dâng ngày tết
Đón Ông-Bà ngày hội vào Xuân
Nhà quây quần ôn tồn đêm trừ tịch
Chia sẻ nhau bao năm tháng thanh bần
Đêm trở giấc giao thừa rộn rã
Cây bâng khuâng bung những nụ hoa
Hồn bớt chợt rùng mình thật lạ
Ngập tràn niềm phấn khích thăng hoa
Mở toang cửa thấy nụ cười tươi rói
Đám trẻ thơ khoe áo mới xinh xinh
Mai trĩu cành phô hương phơi phới
Lặng nhìn Xuân lòng rộn thơ tình .



Trương Nguyễn
trươngnguyen49@yahoo.com.vn
 

READ MORE - HƯƠNG MỚI - Thơ TRƯƠNG NGUYỄN

Thursday, January 5, 2012

LÊ ĐĂNG MÀNH giới thiệu nhà thơ TRẦN TƯ NGOAN


Nhà thơ TRẦN TƯ NGOAN sinh năm 1949 và lớn lên đi học ở HUẾ nhưng trong thơ anh là nỗi quay quắt thương nhớ bóng dáng quê nhà VĂN QUỸ, là mảnh đất lưu giữ tro cốt của Tổ Tiên mình. Mùa Vu Lan năm Tân Mão 2011, anh có dịp về thăm quê và bất chợt ghi trong sổ của tôi :

 

Về đây nghe nắng mưa đời
Sắn khoai mà cũng nực cười thế gian
Cọng rơm không bán sắc vàng
Còn đòi mua lại âm vang phố phường
Ai quỳ dưới bóng quê hương
Nghe mình thành giọt lệ buồn nhân sinh .


và:

Mùa đông phủ trắng lên miền thôn dã
Có hay đâu đời cũng trắng chung màu
Cầm túm muối chờm nỗi lòng nhức mỏi
Nghe quê nghèo cầu tháng chạp qua mau

         
(Trích Mùa đông quê tôi thuở ấy)

 Anh cũng là người từng đoat giải nhất của tuyển tâp thơ văn Tuổi Ngọc do NXB Trẻ TP HCM tổ chức (từ 1/10/2005 đên 30/5/2008) góp mặt 155 nhà thơ trên cả nước với 515 bài thơ tứ tuyệt.

Xin trích giới thiêu môt vài tác phẩm Tứ Tuyệt đoạt giải và những bài nhà thơ Trần Tư Ngoan viết khi về Quê :

RƯỢU ĐẮNG
Chiều nghiêng bình rượu giang hồ
Rót tràn lên khoảng hư vô ngả vàng
Ngày tàn cơn sốt chưa tan
Rượu nồng chợt đắng trong ngàn cơn mơ.



CHIỀU TÀN !
Chiều thờ lơ ngả mình trên lưng nắng
Nghe thời gian chảy lạnh dưới bàn chân
Ta vội vã giẫm bừa lên lá rụng
Gởi theo chiều một hơi thở bâng khuâng

               
(Trần Tư Ngoan,  Bà Rịa,Vũng Tàu)



TRƯỚC CỔNG TRƯỜNG XƯA !
                 Quý tặng Lê Đăng Mành

Mấy mươi năm trôi
        Trôi vèo trong nắng
Màu thời gian
        Ôi bạc bẽo không ngờ !
Ta quay về hồn còn giữ vần thơ
Đem gieo xuống trái tim từ dạo ấy
Con đường nhựa xám xưa
                    Giờ vẫn vậy
Nhưng ngôi trường
                   Già cỗi đứng chênh vênh
Nghe đổi thay cười nhạo kẻ chung tình
Con mắt mở bốn phương nhòa với lệ
Hình ảnh mới nô đùa trong tay HUẾ
Còn tôi riêng thấy cũ bóng mình đây
Lạc lõng nắm sợi dây treo ngày tháng
Xót xa cùng chiếc lá úa vờn bay
Biết tìm đâu chút hương thời niên thiếu
Cơn bão đời cuốn mất giữa hư không
Đâu vầng trăng một thuở đẹp vô cùng
Cơn gió thổi bờ sông Hương héo hắt
Ơ lạ chưa giữa không gian lặng ngất
Từ bên trong tiếng trống vọng ngang đầu
Như gọi ai trên lối mòn dâu bể
Ngữa tay trần hứng lấy giọt buồn đau
Áo trắng nhảy
              Nhảy lên thềm khoa bảng
Chim sáo non
              Cắn ngọn cỏ đơm hoa
Xin được thở
             Làn hương theo vọng trống
Rót vào hồn
            Như những giọt mưa sa ..!

                      Huế hè 2011
                   Trần Tư Ngoan

 XIN TRÂN TRỌNG GIỚI THIÊU VỚI THI HỮU QUẢNG TRỊ!


Lê Đăng Mành
ledangmanh@gmail.com

READ MORE - LÊ ĐĂNG MÀNH giới thiệu nhà thơ TRẦN TƯ NGOAN

Wednesday, January 4, 2012

VÕ VĂN HOA - ĐÊM QUA DƯỚI CỘI MAI GIÀ



                 * Tặng nhà thư pháp Lê Đăng Mành




Đêm qua dưới cội mai già

Lộc non mới nhú như là mắt giêng !

Ta về thăm Lãm Nguyệt Hiên

Vầng trăng từ độ chung chiêng nẻo đời

Ta về thăm một sân chơi

Ao Tâm đã nở súng ơi! Dậy trời...

                   
Đầu năm 2012
                    VÕ VĂN HOA 
vovanhoahl@yahoo.com 
READ MORE - VÕ VĂN HOA - ĐÊM QUA DƯỚI CỘI MAI GIÀ

Châu Thạch - “Sao chưa gặp lại Nguyễn Hoàng”của Nguyễn Khắc Phước: Một bản nhạc, một bài thơ, một dòng lệ




Nếu là cựu học sinh của bất kỳ một ngôi trường nào khi nghe bài hát nầy cũng đã thấy buồn. Nhưng nếu là cựu học sinh của ngôi trường Nguyễn Hoàng, một ngôi trường xưa của cổ thành Quảng Trị  nay đã mất tên trường thì dễ dàng rơi lệ. Nếu bạn từng học Nguyễn Hoàng, nay nghe bài ca nầy mà bạn rơi lệ được thì đó là điều tốt cho bạn, vì nỗi buồn sẽ trôi theo dòng nước mắt, còn nếu bạn không rơi lệ được, thì lệ ấy còn ở trong lòng bạn như một cơn gió lạnh, như một dòng sông băng sẽ làm bạn đau lòng hơn nữa. Chắc chắn không mấy ai mà không thấy cảm xúc ngay từ khổ đầu của bài hát khi lời ca được cất lên mang hình ảnh một cựu sinh quay về  cô đơn nơi trường cũ:

Mênh mang nắng đổ hè trưa
Bâng khuâng đứng nhìn ngẩn ngơ
Tôi tìm trường xưa bên thành cổ vắng
Trường xưa đó nay đâu rồi
Tà áo trắng xưa đâu rồi
Và thầy cô xưa nay về đâu?

Đã có nhiều văn thơ rất cảm động viết về người học trò quay lại thăm trường, thấy lại chiếc bàn mình ngồi, gặp lại ông giáo già hay bất kỳ một ngóc ngách kỷ niệm nào còn lưu lại bao năm. Nhưng có lẽ không có trường hợp nào đau đớn giống như một cựu sinh Nguyễn Hoàng quay lại thăm trường cũ của mình, vì: “ Trường xưa đó nay đâu rồi, tà áo trắng xưa đâu rồi, và thầy cô xưa nay về đâu?”. Không còn gì cả! Trường mà không còn thì tà áo trắng, thầy cô xưa làm sao còn được!

Đoạn hai của bài ca có âm thanh như nhịp chảy của dòng sông, vang lên một âm điệu vui nhưng cũng tìm ẩn một nỗi buồn mênh mang như nỗi buồn khi đứng trước dòng nước lặng lờ, nơi tiếp giáp của sông và biển:

Quên sao những giọt mồ hôi
Quên sao những ngày sục sôi
Có người rời xa nẽo đường muôn lối
Đàn em bé vẫn yêu đời
Thầy cô vẫn cất cao lời
Từ dòng sông em ra biển đời.

Biển đời của học sinh Nguyễn Hoàng Quảng Trị không phải là đại dương bình lặng. Mỗi cựu sinh Nguyễn Hoàng đều phải cởi trên sóng to gió lớn của một thời ly loạn và không biết bao nhiêu người đã chìm đi trong cơn ba đào ấy. Những người vào được bờ cũng phải mang một linh hồn bạc thếch phong sương.

Bước qua phần ba và bốn của bài ca là tiếng kêu thương buồn não nuột, tiếng kêu gọi đàn của bầy chim tan tác:

Nguyễn Hoàng ơi!
Bao năm lưu lạc đường xa
Mang theo giấc mộng tuổi hoa
Mang theo lời dặn của thầy cô

Nguyễn Hoàng ơi!
Bao nhiêu kỷ niệm ngày xưa
Bao nhiêu bè bạn trang lứa
Sao chưa về đây với trường

Đây là tiếng kêu mà các tập san “ Chân dung  kỷ niệm Nguyễn Hoàng”, “ Hương quê Nhà” và nhiều tập san trong ngoài nước của cựu học sinh Nguyễn Hoàng khắp nơi đã cố gắng bơi ngược dòng sông ký ức để mời nhau trở về đoàn tụ cùng nhau.

Thật ra thì biết bao người đã vượt ngàn dặm xa xôi để quay về với mảnh đất trường xưa, nhưng, chưa có ai trở về
với niềm vui trọn vẹn, vì: “ Trường theo khói hương lên trời” như một câu trong đoạn cuối bài ca. Trường đâu còn nữa, trường mất cả tên rồi:
Mong sao đếm ngược thời gian
Cho viên phấn còn dở dang
Kể về trường xưa bên thành cổ vắng

Trường theo khói hương lên trời
Trường gieo nắng cho xanh đời
Trường vẫn còn đây trong tim mọi người.

Lời hát ở vế chót thâm thúy và như một bản bi hùng ca, nó mang âm hưởng của nỗi lòng cựu sinh Nguyễn Hoàng Quảng Trị, muốn quay về để viên phấn kể lại trường xưa. “Mong sao đếm ngược thời gian, cho viên phấn còn dở dang, kể về trường xưa bên thành cổ vắng”: Trí tưởng tượng tuyệt vời và ca từ đầy tính chất thơ, đầy hương vị.

Với tôi “ Sao chưa gặp lại Nguyễn Hoàng” không những là một bài ca mà còn là một bài thơ bi hùng và là một dòng lệ thương nhớ trường xưa chứa đầy cảm xúc ./.
                                                                    
 Châu Thạch

truongvantran@hotmail.com

READ MORE - Châu Thạch - “Sao chưa gặp lại Nguyễn Hoàng”của Nguyễn Khắc Phước: Một bản nhạc, một bài thơ, một dòng lệ

ĐINH THỊ HIỆP - SÙNG NHƠN, MIỀN QUÊ XA



Tôi đã có một vài chuyến đi về thăm lại Sùng Nhơn, Đức Linh.

Trong mấy lần về đây, hầu như có gần đủ các anh chị của anh, còn tôi là người thay thế cho anh trong gia đình bên nội. Không có anh nhưng những kỉ niệm về anh, về cuộc sống đầy gian khổ trong mấy năm trời ở vùng đất nghèo khó này cứ theo nhau hiện về. Mọi người thay nhau kể chuyện ngày nào còn theo đội sản xuất ra đồng lao động. Công sức làm ruộng, cấy lúa, nhặt cỏ … được tính công và cuối vụ được trả bằng vài thúng lúa. Chẳng qua một thời để nhớ, để tưởng niệm quá khứ và tự hào vì mình còn đứng vững trong thời kì bao cấp ấy.
    
Tôi không hiểu sao vào lứa tuổi thanh niên, tôi có đủ sức khỏe và nghị lực đến như thế! Năm 1978, tôi đã cùng đoàn người lên khai phá khu rừng Bắc Ruộng, để cho hôm nay, đây trở thành một khu đông dân cư. Mùa hè năm sau, từ trường sư phạm Phú Long, tôi cùng anh lên xe về Bắc Ruộng. Hồi này, xe cộ hiếm hoi, việc đi lại rất khó khăn, chờ đợi mua được vé phải mất nhiều thời gian. Chiếc xe chạy bằng than ì à ì ạch trên chặng đường đất đỏ lầy lội, ngồi cạnh thùng than mà thấy người nóng hầm hập, mồ hôi đổ giọt, có nhiều lúc chúng tôi phải xuống xe, tài xế nóng lòng ngồi trên cabin rồ máy, còn đàn ông, thanh niên phụ nhau đẩy chiếc xe qua chỗ bị sụp lầy. Đây là núi Tà Pao, chỉ còn một quãng nữa là đến Bắc Ruộng. Bến xe là bãi đất trống, vắng ngắt như tờ, quanh đâu đó chỉ một vài ngôi nhà tôn mái lá kè lụp sụp. Chúng tôi mang xắc lên vai, chẳng có gì ngoài vài món quà đơn sơ đem về thăm gia đình; chuẩn bị tinh thần lội bộ, nghe chừng gần 30 cây số tính từ đây về đến Sùng Nhơn. Vừa đi tôi vừa quan sát hai bên đường. Xung quanh vẫn còn lắm trảng rừng, nhà cửa thưa thớt, đường lộ thật vắng vẻ, ít xe cộ và người qua lại. Trên đường đi, thỉnh thoảng, chúng tôi gặp một số dân địa phương, tiếng nói như người dân tộc rất khó nghe; tôi hỏi và được biết đó là người dân gốc ở đảo Phú Quý, Phan Thiết, vào đây sinh sống. Trời chiều đã xế bóng, mồ hôi nhễ nhại, bước chân chúng tôi vẫn bền bỉ trên con đường dài băng qua xã Nghị Đức, Mé-Pu…Vừa đi vừa trò chuyện nên cũng quên đi sự mệt mỏi, lâu lắm  mới dừng lại, ngồi xuống ven đường xoa bóp cho đôi bàn chân bớt tê cứng. Đi mãi cho đến khi trời vừa sập tối chúng tôi mới về đến nhà. 





Tôi đã từng nghe anh kể vào thời gian đầu mới lên xứ này, anh vào rừng chặt tre về bán ở chợ Vỏ Su. Khi bơi qua sông La Ngà, anh ôm mấy cây tre, dựa vào sức nước để vượt qua bên kia bờ. Số tiền bán tre, anh đem về đong gạo nuôi gia đình. Anh còn đưa cho tôi xem mấy vết sẹo còn in rõ ở trên trán và cánh tay, vì một hôm bị tai nạn,  do không có kinh nghiệm khi đi rừng. Mùa hè năm sau, anh và người chị cả làm đơn đi học sư phạm, gọi là để thoát ly, để thay đổi cuộc đời, thoát khỏi cảnh khổ. Thời gian đầu và mãi về sau này, anh hay bị chứng đau nửa đầu, cũng có thể cơn bệnh ngặt nghèo đã ngấm vào người? Cuộc đời anh thật ngắn ngủi, chưa đủ để làm hết những dự định đang còn dang dở…Anh để lại cho tôi tiếp nối trên con đường anh đã chọn.
Sùng Nhơn là miền quê mới của người dân Quảng Trị. Đây là một vùng quê nghèo, nằm cuối cùng của tỉnh Bình Thuận và gần giáp với tỉnh Lâm Đồng. Phía tây là những dãy núi cao xa tít chân trời. Dân ở đây có thể đi tắt theo con đường từ Sùng Nhơn ra đến Định Quán, Phương Lâm, rồi từ đó lên Bảo Lộc, Lâm Đồng. Người ta bảo “Đất lành chim đậu”, điều đó cũng đúng, vì những năm 1977, 1978 là năm thiếu đói, con người phải biết dựa vào đất để mà sống; cảm ơn trời đất đã cho con người có cái để ăn qua những năm tháng cơ cực sau chiến tranh. Dân tứ xứ về đây định cư theo chính sách di dân, khẩn hoang – kinh tế mới. Giờ đây, hai bên đường, thay thế những trảng rừng là xóm làng, nhà cửa khá khang trang, xa kia là những đồng lúa xanh rì xen kẻ nhiều nương bắp trái vụ. Vì đây là một vùng đất trũng nằm gần núi nên đầu mùa hè thường xảy ra những trận mưa dông kèm theo một vài cơn sét đánh chết người. Nhà nước đã cho xây những cột thu lôi nằm chơ vơ giữa đồng ruộng. Ngày trước, học sinh đi học trường cấp 3 ở Vỏ Su, hôm nay ngay tại xã Mé-Pu đã có một trường Trung học phổ thông, làm cho các em đỡ vất vả, khỏi phải đi học xa nhà. Đường sá đã được làm mới, tuy nhiên vẫn còn những đoạn đường còn quá hẹp, gồ ghề lắm ổ voi, ổ gà.
Quanh năm, có một số người dân sống bằng nghề câu cá trên đồng hoặc cất vó ven sông. Một dịp về ngang Vỏ Su, chúng tôi ghé vào một quán ven đường để thưởng thức món cháo cá lóc. Mùa mưa, nước lủ tràn về trên sông La Ngà, nước tràn lênh láng vào các ruộng đồng. Dòng sông ở đây hẹp và sâu, nhìn thấy dòng nước đỏ lừ lừ chảy ùng ục cứ tưởng tượng bao nhiêu nước trên rừng theo nhau tuôn về xuôi. Có khi tôi nghe người ta kháo nhau đâu đó trên sông La Ngà có cá sấu, không biết thực hư như thế nào. Từ Sùng Nhơn đi qua Vỏ Su có khi người ta phải đi đò rất là nguy hiểm, nhất là vào mùa nước dữ, dòng nước xoáy hung tợn có thể làm cho chiếc đò lật úp, chìm nghỉm.

Đầu mùa hè năm 2009, tôi đi công tác ở Nam Chính, Vỏ Su. Tôi có ý định buổi tối hôm đó về thăm anh họ tôi ở Sùng Nhơn. Chúng tôi không đi về đường Bắc Ruộng mà đi theo đường Lạc Tánh - Huy Khiêm- Vỏ Su. Ghé Lạc Tánh, ngồi nghỉ ở một quán nước bên đường, thật ngạc nhiên khi nhìn thấy những chú chuột đồng nghe nói là béo ngậy đang được chưng bày như món đặc sản, món ruột của dân nhậu. Tôi đợi đứa cháu chồng(nhà ngay thị trấn Lạc Tánh này), gặp nhau tại quán, cùng uống nước chuyện trò. Mới đầu mùa mưa mà dân ở đây trồng bắp đã thu hoạch, từng thúng bắp chín bày bán dọc đường. Tôi hỏi đứa cháu về món chuột đồng kia. Cháu tôi cười cười trả lời: “Ai biết đó là chuột đồng hay chuột nhà, làm sao mà phân biệt được?”.

Tôi không biết Huy Khiêm ở đoạn nào trên chặng đường mà tôi đã đi qua? Tôi đã quên mất, không nhớ rõ nơi mà ngày trước vào năm 1976, 1977 sau giải phóng , ba tôi đã gần hai năm sống tại trại cải tạo Huy Khiêm này. Một vài lần tôi tìm lên thăm nuôi ba tôi. Được phép của cán bộ trại giam, tôi vào thăm ba. Ông vẫn nụ cười hiền lành, hỏi thăm về gia đình, nhận quà thăm của nhà mà rưng rưng nước mắt. Tôi hỏi ba làm những công việc gì, có nặng nhọc lắm không? Ba tôi kể rằng ông được giao cho việc bốc hạt đậu phụng, thứ nông sản do chính tay các anh em lao động, làm ra. Giờ đây ông còn được giao việc chăn giữ mấy con bò của trại. Ông hay dắt chúng ra gần hàng rào cho ăn cỏ. Có khi vài người dân cảm thương khi nhìn thấy liền dúi vào tay ông ít tiền. Ông không biết dùng để làm gì, để dành lại khi tôi lên thăm ông gởi về cho mẹ tôi. Khi vào rừng, có vài buồng chuối sắp chín, ông tìm cách bẻ xuống, đem dú vào bụi cây đến khi chín hẳn đem về cho anh em ăn dần. Ngày mồng bốn Tết năm 1976, tôi lên thăm ba tôi. Có sự trùng hợp ngẩu nhiên hay linh tính báo điều không lành, mà ba tôi đưa cho tôi gói đồ gởi về nhà, trong đó có một chiếc khăn trắng, tôi vô tư lấy khăn cột lên tóc mình. Ai ngờ đó cũng là ngày ông nội tôi ở Huế sắp từ giã cõi đời khi bên cạnh không có người con trai trưởng, mà người con ấy chính là ba tôi, đang còn ở trong trại. Tôi cứ suy nghĩ mãi về điều này, con người chắc chắn có một mối linh cảm, ràng buột với nhau, nhất là những người thân thích ruột thịt. Ba tôi khi biết tin ông nội mất chắc đau khổ, dằn vặt vô cùng! Rồi cuối cùng ba tôi cũng rời trại, trở về với gia đình, tuy nhiên sức khỏe của ông về sau không được tốt lắm.Trại Huy Khiêm đã gắn với bao kỉ niệm vui buồn của những người như ba tôi đã từng một thời làm việc cho chế độ cũ, còn sau này qua bao nhiêu năm tháng cố gắng phấn đấu cải tạo để trở về đời thường, sống hòa nhập với xã hội; nhưng giờ thì đa số những người ấy đã già nua hay có thể không còn sống trên cõi đời này nữa.

Như ý định, tôi ghé về Sùng Nhơn. Ngang ngã ba, tôi đã nhác thấy anh tôi đứng chờ. Tôi chia tay người bạn ở đó, hẹn sáng hôm sau gặp nhau tại chợ để về Vỏ Su. Người bạn tôi cũng tiện dịp về thăm nhà em trai ở Đa Kai, cách chừng vài cây số.  Đa Kai là vùng đất mới khai hoang sau này, là nơi đang khai thác nguồn tài nguyên nước khoáng. Tôi ở lại một đêm với gia đình người anh họ, con cậu tôi. Khoảng ba giờ sáng, khi trời còn tối đen như mực, anh tôi đã đi ra bờ sông. Ngày nào cũng như thế, anh ra sông gỡ số cá mắc lưới mà chiều hôm trước anh giăng câu. Hôm nay, anh bắt và bán cá được mười mấy nghìn, còn mớ ốc bươu anh lượm ở ruộng được lưng giỏ, đem về băm nhỏ làm thức ăn nuôi bầy vịt. Anh còn than vãn năm nay nạn chuột đồng phá làm mất mùa lúa lấy đâu ra tiền lo cho con ăn học. Chăn nuôi, trồng trọt, làm ruộng, bắt cá đã biến anh trở thành một nông dân thực sự.Thấy người anh gầy gò, đen đủi vì dầm mưa dải nắng, tôi rất mủi lòng. Anh là con trai cả của cậu tôi; gia đình cậu tôi ngày trước ở Quảng Trị thuộc vào hạng công chức, có một cơ ngơi tương đối khá. Chiến tranh đã cướp mất tất cả. Giờ đây hầu hết các con của cậu tôi đều lam lũ, sống bằng các nghề lao động là chính.

Người dân về đây lập nghiệp về sau có sự phân hóa rõ giàu nghèo. Người làm ruộng, người làm thợ ở lò gạch, người làm nghề bốc hạt sen, hạt điều thuê, kẻ buôn bán, người giàu cho vay lấy lãi… dần dà tạo nên những tầng lớp trong cái xã hội thu nhỏ ở vùng quê ấy. Có một số gia đình có ý chí muốn vượt lên cái nghèo khó bằng cách bươn trãi cho con học đại học, cao đẳng, làm công nhân các nhà máy, có số em trở thành thầy giáo ngay tại địa phương. Tôi hỏi chị họ tôi bốc hạt sen một ngày được bao nhiêu tiền công? Chị tôi bảo chỉ hai, ba chục nghìn là mừng rồi, đủ để sống tiện tặn qua ngày. Vậy thì khi bệnh lấy đâu ra tiền chữa bệnh? Ơn trời, mong cho khỏe mạnh. Chị tôi cười.

Đất đai xứ này màu mỡ, người ta trồng một năm mấy vụ lúa. Hầu như nhà nào cũng có vài trụ tiêu trồng trong khu vườn. Dây tiêu xanh um leo lên trụ bằng thân cây gỗ, dần dà gỗ rừng khan hiếm họ thay thế bằng mấy trụ gạch. Khí hậu có vẻ khắc nghiệt hơn, ban ngày trời nóng như đổ lửa, về đêm lại rất lạnh, không có những cơn gió mát mẻ, dễ chịu  như mấy vùng ven biển. Người dân Quảng Trị mình không chịu an phận, một số lại đi tìm vùng đất hứa: đó là Xuân Sơn, Ngãi Giao, Bình Giã…của tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu; là Trị An, nơi phát triển nhà máy thủy điện của tỉnh Đồng Nai, ngày xưa còn lừng lẫy chiến khu D; đi đâu cũng thấy dân xứ mình lưu lạc đến ở và tìm mọi cách để sinh sống. Phải nói rằng gia đình cậu tôi rời chốn này về Xuân sơn làm ăn thì cuộc sống có phần tốt đẹp hơn là ở Sùng Nhơn. Còn lại chỉ hai người con của cậu; tôi thật ái ngại khi nhìn thấy cuộc sống của các anh chị: vì tôi có cảm giác như đây là tận cùng của sự khốn khổ!

*Khi kết thúc bài viết này là vào đầu mùa hè tháng 6 năm 2010-vợ chồng người con trai cả của anh họ tôi, cả hai đều là giáo viên trường trung học cơ sở, hiện đang dạy ngay tại quê nhà Sùng Nhơn. Chiều này, sau một chuyến đi thăm bà nội ở Xuân Sơn, ghé về thăm tôi. Anh tôi có cả thảy 7 người con (dân số hèn gì tăng vọt là phải!), trong đó còn có một con gái đang học đại học xã hội-nhân văn, khoa báo chí, hy vọng sau này cậu cháu xin cho về làm tại Phan Thiết; một con gái sau hai năm bền chí mới học xong bổ túc, có bằng trung cấp, đang xin làm việc ở khu công nghiệp Biên Hòa; một con gái khác cũng làm công nhân tại đó; một con gái đã có gia đình, ở gần nhà, ngoài ra còn có hai đứa con đang học trung học phổ thông. Anh tôi vẫn có niềm tự hào khi nói với tôi về truyền thống hiếu học của gia đình, khiến bà con hàng xóm cũng phải nể phục. Âu cũng là một phần kết có hậu phải không? Tôi tin chắc là như thế! 

ĐTH 
      


READ MORE - ĐINH THỊ HIỆP - SÙNG NHƠN, MIỀN QUÊ XA

Tuesday, January 3, 2012

NGUYỄN QUÝ – KHÚC THỜI GIAN



Đã bao đời đìu hiu với ruộng đồng lam lũ,với những con nước xuống lên theo thói lệ trăng rằm. Ba tôi vẫn ở đó, bên mảnh làng bé nhỏ và xanh xao. Chỉ có điều mỗi lần tôi trở về thăm nhà vào dịp tết, trên mái tóc ba tôi đã có những đổi thay.

Cái năm đầu tiên tôi xa nhà ấy, tôi trở về và trên mái tóc ba tôi vẫn còn màu xanh đen dạt dào sức sống. Mọi thứ dường như rất bình thường. Rồi dần qua, dần qua cho đến hôm nay. Tôi lại trở về và trên mái tóc ba tôi đã chuyển sang một gam màu khác, màu muối tiêu, lốm đốm trắng đen đan xen những lởm chởm chông gai bụi bặm cuộc đời. Màu tóc ấy đã ghi dấu ấn của những năm tháng sương sa đói khổ mà ba tôi đã cố vật vã với sự khô cằn và khắc nghiệt của thời tiết khí hậu thổ nhưỡng của quê hương.

Những năm tháng triền miên ăn cơm độn với muối hột, khoai sắn qua loa chống chọi với đói rét tã tơi của thời khắc bao cấp bần cùng. Những ngày gió mưa lặn lội đi đào mương trấm, cũng như thui thủi với cuốc cày những luống đất cứng đầu kém cỏi phì nhiêu.

Những buổi đông hàn, ba tôi lặn lội mưa gió băng qua những lau lách, hố bom lạnh lùng câu cá, không ngại đỉa đóm rác rưởi ngứa ngáy để kiếm từng con cá cải thiện bữa ăn gia đình.Những đêm nước lên ,ba tôi thức khuya dậy sớm đơm đặt, soi bắt những con cua, con tôm, cón bóng, con thệ. Rồi những mùa hạn đi qua khô cháy cả cánh đồng quê hương, ba tôi lại lăn lộn với công cuộc tát nước, đào ao chống cháy lúa mạ, hoa màu. Mùa gặt đến, thân hình bé nhỏ của ba lại vật lộn với những gánh lúa nặng trĩu đôi vai, những đêm trắng giấc đạp lúa.

Rồi thời khắc nghiệt cũng qua đi, điện đài kéo về giăng mắc khắp đầu làng ngõ xóm. Máy bơm , máy gặt , máy tuốt được trang bị đầy đủ phục vụ cho công cuộc hiện đại hóa nông thôn. Ba tôi bớt khổ, nhưng không hết những nỗi ưu tư hằn sâu những lằn ranh, in sâu mép trán. Con cái đông đúc, cái ăn cái học vẫn còn chưa tới và tương lai cũng đang mờ mịt chân trời. Mái tóc ba tôi cứ thế già nua song song với những thớ da đen sạm, nhăn nhúm khắc khoải số phận một đời nông dân cơ cực.

Tôi trở về đón mùa xuân năm mới. Hoa cúc, hoa mai nở thơm lừng mùa xuân, những đứa trẻ tung tăng hoan hỉ bước vào tương lai với niềm vui hớn hở. Ba tôi cũng vui lắm với mùa xuân, nhưng trên hình nụ cười, những nếp nhăn trên trán cũng không quên hát khúc thời gian. /.

NQ


READ MORE - NGUYỄN QUÝ – KHÚC THỜI GIAN

Monday, January 2, 2012

ĐÌNH THU - VỀ CAM HIẾU

                                    
Tặng bạn: Hoàng Xuân Việt


Giấu vạt nắng sau lưng mùa gặt
Chiều về Vĩnh Đại khói đồng bay
Có lẽ mùa xuân còn xa ngái
Gốc rạ hồn nhiên giấc ngủ say

Đã có người cùng ta hò hẹn
Mê mải kiếm tìm những cuộc chơi
Hình như tiếng của ngày năm trước
Vọng lại hồn nhiên thấy bạn cười

Không nhắc nữa ! thời xa xưa ấy
Có một mùa say chẳng nhớ nhà
“Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiễu”
Bạn đã cùng ta rong ruổi xa

Rồi ngày mai nữa khi gặp lại
Trong cuộc đoàn viên giữa thị thành
Cùng nhau dốc cạn bầu tâm sự
Hẹn về Cam Hiếu đón mùa xuân.

Đình Thu




READ MORE - ĐÌNH THU - VỀ CAM HIẾU

TRƯƠNG NGUYỄN - VỀ CHỐN CŨ

 Cựu nữ sinh Nguyễn Hoàng

Họa thơ “Bài cho Trường Cũ”của Lê Đình Lộng Chương
                             

Xa khuất nhiều năm về chốn cũ
Trường xưa nay đã khác đi nhiều
Lang thang đây đó thân du tử
Người ấy giờ phai những nét yêu

Bốn mươi năm lẻ ta đi biệt
Đất khách bôn ba kiếp sống hờ
Áo trắng ngày xưa phai nhạt hết
Nay về tìm lại thuở nguyên sơ

Ngồi uống café bên góc phố
Im nghe đất đá lạnh buồn tênh
Xương thịt anh em vào sách vở
Giã từ cái kiếp sống lênh đênh

Còn gì để nhớ và mơ ước
Đợi mãi người yêu trước cổng trường
Nhớ thương ngày cũ theo dòng nước
Len lén nhìn theo cuối góc đường

Buồn bã ngó sang bên bến vắng
Lạnh hồn mà ngỡ bóng ai xưa
Có lẽ giấc mơ thời áo trắng
Nỗi đau thầm lặng xót xa vừa

Bóng xế một mình nâng cốc rượu
Qua rồi va đập những buồn vui
Cây mai rũ lá đầy trong chậu
Nghe mặn bờ môi những ngậm ngùi.
                                                TRƯƠNG NGUYỄN

READ MORE - TRƯƠNG NGUYỄN - VỀ CHỐN CŨ

CẦM HOÀNG - TRỞ VỀ QUẢNG TRỊ

            Học sinh Phước Môn ngày xưa



                   Trở về quê cũ trường xưa
           Giòng sông Thạch Hãn nắng mưa bụi mờ,
           Trần Hưng Đạo đường xưa em bước
            Lời hẹn hò nhớ mãi Gia Long
            Lối về ngập nắng Quang Trung
            Hồn nhiên tay nắm Đình Phùng mình qua.
            Đi vào trước cửa Terexa
            Thánh Tâm hờn dỗi, lân la Bồ Đề.
            Tuổi thơ ý đẹp tình quê,
            Nồng nàn hương lúa đường về bổng xa,
            Chiến tranh tang tóc đi qua,
            Bao nhiêu kỷ niệm quyện hòa hồn tôi.
            Lặng  nhìn Thạch Hãn chiều buông,
            Hạnh Hoa còn đó, đầu thôn vẫn chờ.
            Cội cây  già đứng bơ vơ
            Nhạt nhòa bóng cũ, người xưa mãi tìm.
            Nhìn giòng nước bạc im lìm,
            Nao nao nhớ lại nỗi niềm tuổi thơ.
            Bên bờ cỏ lá chơ vơ
            Đôi nhân tình cũ bây giờ nơi đâu?
            Lầu chuông khấn nguyện cho nhau,
            Bao lời hò hẹn tình thơ lỡ làng.
            Đò xưa tách bến sang ngang,
            Thoáng bay tà áo, lệ tràn ướt mi.
            Nắng chiều đổ bóng người đi,
            Còn vương vương nhớ chút gì trong tôi.
            Dáng xưa nay đã phai rồi,
            Tình xưa tôi vẫn nhớ hoài.... nụ hôn./.

                                        CH


 Cựu học sinh Phước Môn
Ảnh từ trang: My.Opera.Com/TriBuu
READ MORE - CẦM HOÀNG - TRỞ VỀ QUẢNG TRỊ

Sunday, January 1, 2012

MÙI NGÒ RÍ - Cáp Xuân Tú



Tết trong tôi với những năm tháng tuổi thơ, thiếu thốn, nghèo khó còn đậm in những kỷ niệm khó phai. Những năm sống trong thời hậu chiến, của kinh tế bao cấp mọi vật dụng dành cho Tết rất hiếm hoi. Hợp tác xã mua bán của phường phân phối mỗi gia đình 1 lít dầu hỏa, một chai rượu chanh Hà Nội, nửa cân kẹo Hải Hà, 2 gói trà Kim Anh. Khấm khá hon là phong pháo tép Hải Hưng hoặc Hà Sơn Bình. Riêng mỗi một gia đình thì nhu cầu lớn lắm, chủ yếu tập trung vào cái ăn. Thưở ấy trông Tết để được ăn sướng, có thịt, có mỡ...

Trong nhà tôi, sau Rằm tháng Chạp, mẹ đã bắt đầu chuẩn bị mọi thứ. Nào là miến, gạo nếp, đậu xanh, trứng gà, đường cát, mỳ chính... những thứ hàng thiết yếu này thời bao cấp khó khăn lắm hơn nữa nhà không có nhiều tiền để mua  một lúc. Nhưng cái chuẩn bị của mẹ làm cho cái Tết đang về xôn xao rồi.

Những phong pháo nổ đì đẹt ấy đã thúc giục mùa Xuân đến sớm, đón Tết về trong náo nức. Hai Mươi  Ba Tết, đưa ông Táo về trời, nhiều nhà làm lễ Tất niên, tất nhiên là đốt pháo. Lũ trẻ chúng tôi nghe tiếng pháo là chạy nhào tới để nhặt những viên pháo rụng, pháo xì đốt chơi. Có thằng chụp lấy quả pháo tống nổ chậm làm cho nó toác cả tay. Trò chơi pháo vẫn không làm cho lũ trẻ sợ sệt. Lác đác từ hôm đó cho đến đêm giao thừa, pháo liên tục nổ ran, chúng tôi dọn dẹp nhà cửa, hay giúp mẹ đánh trứng đổ bánh thuẫn không yên lòng chút nào. Những năm sau xuất hiện lọai pháo Nam Ô nổ như súng đại bác, tiểu liên, nên chúng tôi cũng phân biệt được nhà nào đốt pháo gì. Đêm Ba Mươi, pháo nổ rền hơn, phút giao thừa thực sự làm cho trời đất như sống dậy trong giá rét, tôi cảm thấy như mùa Xuân bừng tỉnh sau cơn ngủ đông. Sáng Mồng Một, lại vang tiếng pháo cúng đầu năm, sang Mồng Ba lại vang tiếng pháo cúng đưa tiển ông bà... cho đến Rằm Tháng Giêng vẫn có nhà đốt pháo cúng đầu năm hay mở hàng. Tiếng pháo cho ta cảm giác như cái Tết kéo dài hơn.

Đó là chuyện pháo, chuyện mứt bánh ngày Tết cũng đáng chú ý. Nhà nào cũng mua một vài cân hạt dưa. Nhà nào cũng có gói bánh chưng , bánh tét. Nhà nào cũng có làm bánh thuẫn. Nhà nào cũng tự rim mứt gừng, mứt dừa. Ngày Hai Bảy, Hai Tám Tết được nghỉ học ngồi ở nhà quạt than làm mứt, hay dùng đũa đánh trứng cho dậy quả là một kỳ công. Đánh trứng phải liên tục, mạnh, đều tay thì trứng mới dậy, bánh mới đẹp.

Lũ trẻ chúng tôi lại rủ nhau quét tước nhà cửa, vườn tược và con đường đất trước nhà. Nhà nào cũng sạch tưng. Đêm Ba Mươi trước khi Giao Thừa, chúng tôi phải tắm sạch sẽ không để bẩn 2 năm. Gian bếp chật hẹp làm mùi thơm bánh chưng, bánh tét ngào ngạt không thoát đi được.

Và cái mâm cỗ Tất Niên mẹ làm nhiều món: thịt gà bóp, gà rô-ti, miến xào lòng gà, la-gu, đậu cô-ve với cà rốt, su hào xào thịt heo... Gần như các món mẹ rắc tiêu và bỏ thêm mấy cọng ngò rí, thơm ơi là thơm. Chúng tôi nhìn khi cha bày mâm cổ đã rỏ dãi rồi... thèm lắm, cái này chờ mấy tháng nay. Tôi nghĩ một mình mình ăn hết cả mâm cỗ.

Cha thắp hương trên bàn thờ, bếp và cổng. Cha quay lại khấn vái lầm rầm. Cha bảo tôi rót rượu cúng vào ly, phải rót đúng 3 tuần đúng với 3 lần khấn vái của cha. Tôi đứng cạnh, mùi thức ăn xông lên mũi, đặt biệt cái mùi ngò rí quyện với hương vị hạt tiêu, chao ôi là thèm. Tôi nuốt nước bọt.

Cúng xong, cả nhà quây quần bên mâm cơm cuối năm. Chúng tôi được ăn uống thỏa thích. Mẹ nói cả năm kham khổ rồi, Tết cho ăn một bữa cho sướng. Vẫn mùi thơm thơm của ngò, bây giờ tôi được nếm thêm vị cay thanh thanh nhè nhẹ của ngò rí, quyện với vị cay hăng hăng của tiêu. Tôi cố ăn nhiều thứ trên bàn cỗ. Tôi lại hay nghĩ về những ngày sau Tết, lại vất vả. Mẹ hay than: "Giêng Hai cắn máu tay không chảy". Cái đói cái thiếu sẽ đến.

Cuộc sống hôm nay khá đủ. Cái Tết không làm háo hức như thưở ấy. Nhưng trong cái se lạnh của đêm Ba Mươi, cái mùi ngò rí ấy làm thức dậy trong tôi bao kỷ niệm về thời khốn khó. Tôi nhớ về cái Tết xưa, nhớ tiếng pháo rộn ràng đánh thức đất trời. Nhớ ánh lửa bập bùng nồi bán tét reo réo sôi. Lũ trẻ thơ chúng tôi khoe nhau áo quần mới. Tiếng loa phát thanh vang lên những khúc nhạc xuân: "Em ơi, mùa xuân đến rồi đó, giang rộng vòng tay đón cuộc đời..." hoặc là "lúa ơi thơm ngát cho em hát cùng người....đôi lứa tình yêu, mùa xuân...". Tất cả đã thành kỷ niệm.

Cáp Xuân Tú
Trường THPT Đông Hà
capxuantu@gmail.com
READ MORE - MÙI NGÒ RÍ - Cáp Xuân Tú