Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, July 27, 2011

NGUYỄN KHIÊM - LAO BẢO: TỪ RỪNG HOANG ĐẾN PHỐ NÚI



Theo con đường 9 từ thành phố Đông Hà đi lên phía Tây, vượt đèo Rào Quán, đỉnh Trường Sơn ở Khe Sanh là đến Lao Bảo. Nơi đây năm 1622 Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên lập Dinh trấn Ai Lao (sau này đổi thành Bảo Trấn Lao) để canh phòng cướp bóc nơi biên thuỳ. Thời điểm đó chỉ toàn là người thượng chiếm đa số, miền xuôi xem đây là một vùng thiêng nước độc, là vùng đất lam sơn chướng khí.

Nhà tù Lao Bảo nơi không giam nổi khát vọng tự do.


Chúng tôi về đây vào một sáng lãng bãng sương khói, từ con đường mang tên một chí sỷ cách mạng đất Quảng Trị - Lê Thế Tiết, bí thư tỉnh uỷ Quảng Trị, người từng bị giam cầm ở chính nhà Lao này, con đường giờ đây đã được đỗ nhựa thênh thang, những cột đèn vừa mới dựng lên phục vụ dân sinh đứng bên đường như kính cẩn chào đón khách. Từ đường quan đi qua một bãi cỏ xanh mượt là cổng nhà tù, bên phải cổng là bia tưởng niệm nhà cách mạng Hồ Bá Kiện, người con xứ Nghệ đã hi sinh khi tổ chức vượt ngục ở nhà tù Lao Bảo...

Năm 1908 thực dân Pháp chính thức mở đường 9, nâng cấp Bảo Trấn Lao thành nhà tù đế quốc, nơi lưu đày những người yêu nước trên quê hương Quảng Trị và và vùng Trung bộ. Nhà tù nằm bên dòng sông Sepôn, nữa dòng sông bên kia là nước Lào, các dãy nhà lao được nằm khuất dưới những tán cây vông đồng xanh ngắt, vẽ thơ mộng là thế và khắc nghiệt là thế!

Tờ Đông Pháp thời báo số 755 (11.8.1928) có bài về Hai ông Bửu Đình và Hồ Đắc Hiến ở Lao Bảo được dời vô Côn Nôn (Côn Đảo) của Phan Khôi trong đó ông cắt nghĩa hai chữ ‘bị' và ‘được', Hai ông Bửu Đình và Hồ Đắc Hiến ở Lao Bảo được dời vô Côn Nôn chứ không phải bị dời vô Côn Nôn. Bởi vì đày đi Lao Bảo là nơi gần hơn song không có ngày về, còn Côn Nôn là nơi xa hơn nhưng còn có ngày về.


Với khí hậu khắc nghiệt, nạn muỗi rừng, lũ quét cùng với chế độ nhà tù hà khắc như: tra tấn dã man, lao dịch nặng nề; ăn uống tồi tệ, đau ốm không có thuốc men đã hành hạ thể xác con người đến chết dần, chết mòn Tuy nhiên, bất chấp gông cùm, xiềng xích và sự tàn bạo của bọn cai ngục, biến nhà tù thành trường học cách mạng, tôi luyện ý, các thế hệ tù nhân ở đây đã liên tục đấu tranh, nhiều tấm gương hy sinh hết sức oanh liệt khiến kẻ thù khiếp sợ, buộc chúng phải lùi bước, nới lỏng chế độ tù đày.


Gần 40 năm tồn tại, nhà tù Lao Bảo đã giam cầm hàng ngàn chiến sĩ Cộng sản và yêu nước. Trong đó có nhiều đồng chí lãnh đạo cách mạng chủ chốt, tiêu biểu như: Nguyễn Chí Thanh, Lê Thế Tiết, Trần Hữu Dực, Lê Thế Hiếu, Hồ Bá Kiện, Tố Hữu, Lê Chưởng...

Nơi đây hiện nay đã được xếp hạng di tích Quốc gia theo Quyết định số 154/BVHTT, ngày 25/01/1991 và đã trở thành biểu tượng của ý chí quật cường, khát vọng tự do của người nhân dân. Mới đây, UBND tỉnh Quảng Trị quy hoạch dự án đầu tư tôn tạo di tích lịch sử nhà tù Lao Bảo có tổng kinh phí 20 tỷ đồng. Tương lai đây là một địa điểm du lịch tâm linh của khách thập phương khi đến Lao Bảo mua sắm.

Từ rừng hoang đến phố !

Năm 1975, Quảng Trị được giải phóng 3 năm, khói lửa bom đạn vẫn còn cháy ở đâu đó, người dân huyện Triệu Phong đã theo tiếng gọi của Đảng khai hoang lập ấp. Con đường 9 ngày nào hoang vu đã phủ những ngôi nhà tranh, những nương sắn được mọc lên để giúp dân cầm cự với những ngày đói kém, lương thực được Nhà nước cấp phát vài tháng để hỗ trợ canh tác cũng hết dần. Người dân miền xuôi cũng như người Thượng (dân tộc Pako, Vân Kiều) cũng vào rừng đào củ, kiếm lá về ăn. Trong những ngày khó khăn đó người Kinh và người Thượng đã thể hiện tình cảm như trong câu ca dao: ‘Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn'.

Tưởng những khó khăn ban đầu không thể vượt qua, nhưng với phẩm chất cần cù, chịu khó của những người con của ‘gió Lào cát trắng' đã đi qua lúc trận sốt rét, lũ quét và đói kém biến nơi đây thành một màu xanh của cà phê, hồ tiêu...

Như một phép màu được đánh đổi bằng mồ hôi, như một chút xúc cảm hay lời ‘tiên tri' của nhà thơ Ngô Kha gần 40 năm trước trong những ngày còn khói lửa:

« vì ta phải thấy

và nhất định thấy

ngày kia

một đô thị vàng trên đồi Lao Bảo

một thị trấn yêu kiều qua ngõ làng Vây »


Với vị trí đắc địa nằm trên tuyến đường 9, bên kia là cửa khẩu Đensavan của Lào, các nhà hoạch định kinh tế của Việt Nam đã nhận thấy cái tiềm năng trở thành ‘đô thị' vàng của Lao Bảo. Năm 1998 Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã ra Quyết định số 219/1998/QĐ-TTg ban hành Quy chế "Khu vực khuyến khích phát triển kinh tế và thương mại Lao Bảo". Tiếp đó, ngày 12/1/2005, Thủ tướng Chính phủ đã tiếp tục ra Quyết định số 11/2005/QĐ-TTg ban hành Quy chế Khu KT-TM đặc biệt Lao Bảo và Khu TM Lao Bảo được đổi tên thành Khu KT-TM đặc biệt Lao Bảo với những ưu đãi đặc biệt về cơ chế cũng như chính sách nhằm thu hút đầu tư mạnh mẽ hơn góp phần phát triển kinh tế, xã hội cho khu vực.

Giờ đây, ngoài việc phát triển những rẫy cà phê, tiêu, chuối Lao Bảo đã chuyển mình mang bộ áo mới của ngành dịch vụ và thương mại.

Chỉ tính riêng trong giai đoạn 2000-2007, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của Khu KT-TM đặc biệt Lao Bảo đạt 27,5%; tổng giá trị sản xuất trên địa bàn Khu KT-TM đặc biệt Lao Bảo năm 2007 đạt 1.003 tỷ đồng (tăng gấp 7 lần so với năm 1997); giá trị sản xuất CN-TTCN tăng bình quân 32,5%/năm; dịch vụ tăng bình quân 28,3%/năm; nông-lâm-thủy sản tăng bình quân 14,8%/năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành dịch vụ và CN-TTCN trong cơ cấu giá trị sản xuất; tỷ trọng thương mại-dịch vụ từ mức tăng ổn định là 46,5 % trong năm 1999-2005 đã tăng lên mức 56,7% năm 2007.

Trong tương lai Lao Bảo sẽ trở thành thành phố nằm trong hệ thống thành phố động lực cấp I theo Quyết định 24/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Tôi đứng giữa lòng phố xá của một thị trấn sầm uất nơi biên ải mà nhớ về những ngày tháng cách đây gần 20 năm, khi tôi đặt chân đến đất Lao Bảo. Từ rừng hoang đến phố là một thay đổi kỳ diệu, sự kỳ diệu đó là kết quả của mồ hôi và nước mắt của người dân Lao Bảo!

Thị trấn của ô tô và siêu thị

Có người đã từng gán cho Lao Bảo là một thương hiệu rất kiêu và rất ‘nóng': Lao Bảo thành phố của rượu. Điều đó cũng đúng, vì hàng năm Lao Bảo nhập về một lượng rượu rất lớn để tung đi các địa phương khác như lời của Phó Thủ tướng Vũ Khoan nói khi làm việc tại đây: Lao Bảo nhập rượu về làm gì mà nhiều thế, đưa về để tắm à? Tuy nhiên đó cũng là một cách phê phán nhẹ nhàng để dành riêng cho Lao Bảo. Còn Nhà thơ Phương Xích Lô thì:

Thị xã của em dùng toàn đồ ngoại.

Đến gió thôi cũng xài tới ... gió Lào

Theo tôi, ngoài cái thương hiệu ấy Lao Bảo là thị trấn của ô tô và siêu thị!

Một người bạn từ Đà Nẵng ra đây ‘hứng gió Lào' đã trầm trồ ngạc nhiên về cái thị trấn ...chơi sang của mình, anh ta ngạc nhiên bởi những chiếc xe đắt tiền loại sang và càng ngạc nhiên hơn khi các xe này mang biển kiểm soát: 74 LB..., màu vàng hoặc biển số Lào mà người Việt lái....

Theo chính sách ưu đãi của khu này: Tất cả các doanh nghiệp đóng trên địa bàn được quyền mua 1 đến 2 chiếc ô tô miễn thuế tuỳ theo vốn đầu tư đăng ký của mình. Điều này có nghĩa các ‘đại gia' mua ô tô ở khu Lao Bảo sẽ được miễn thuế nhập khẩu, thuế VAT (2 loại thuế này cũng được trên 80%) và đăng ký biển kiểm soát 74 LB. Ngoài ra, chính sách ưu đãi ô tô của khu kinh tế cửa khẩu Đensavan (Lào) đã khiến cho xe ô tô ở Lào ...rẻ như bèo, người dân Lào nhà nhà có ô tô dù dân họ nghèo, nhà dột vách xiêu! Dân Lao Bảo đã biết nhờ người Lào đứng tên giấy tờ để mua xe ô tô mang biển kiểm soát Lào về đăng ký lưu hành tại khu Lao Bảo.


Ngoài Trung Tâm thương mại Lao Bảo, nơi tập trung gần 200 gian hàng của các hộ kinh doanh tiểu thương, khu Lao Bảo còn có thêm các Trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng miễn thuế...Với chính sách ưu đãi về thuế, Lao Bảo đã trở thành thiên đường mua sắm. Từ hàng ngoại cho đến hàng Việt chất lượng cao, từ hàng Tàu cho đến hàng Thái Lan, các nước trong khối EU. Tuy nhiên, hiệu ứng ‘siêu thị hoá, trung tâm thương mại hoá' ở Lao Bảo quá dàn trải trong khi chưa có chính sách thu hút khách sẽ làm cho khu này...thừa siêu thị, thiếu khách.


Nếu so sánh tỷ lệ ô tô, siêu thị trên người dân có lẻ khu Lao Bảo đứng đầu Quảng Trị và miền Trung!


Nguyễn Khiêm


Bài do tác giả gởi tặng.

READ MORE - NGUYỄN KHIÊM - LAO BẢO: TỪ RỪNG HOANG ĐẾN PHỐ NÚI

Tuesday, July 26, 2011

ĐÌNH THU - LỜI TẠ LỖI

Cúi đầu tạ lỗi quê hương

Bao năm cơm áo tha phương xứ người

Đêm nằm khóc giữa chơi vơi

Lòng thao thức nhớ trông vời vợi xa


Cúi đầu tạ lỗi mẹ cha

Con chưa báo đáp. Đã qua kiếp người

Khuya lần theo tiếng ru hời

Bước đi chập choạng biển trời mênh mông


Cúi đầu tạ lỗi cánh đồng

Nắng mưa gửi lại cuối giồng đất nâu

Thuở còn bắt cá, chăn trâu

Ngủ trên thảm cỏ xanh màu ước mơ


Cúi đầu tạ lỗi tuổi thơ

Mải mê rong ruổi nương nhờ người ta

Đường đời cũng đã từng qua

Ước mơ khát vọng cao xa quá chừng


Cúi đầu tạ lỗi người dưng

Tháng năm chăn gối chưa từng kêu than

Quảy muộn phiền giữa trần gian

Đem bán hết đổi lấy ngàn yêu thương


Cúi đầu tạ lỗi con đường

Một thời quen thuộc vấn vương lời thề

Níu nguyên một mảng trời quê

Lỡ mai sau lạc tìm về … cố hương !


Đ.T

READ MORE - ĐÌNH THU - LỜI TẠ LỖI

HÀ ĐÌNH NGUYÊN - MIỀN KÝ ỨC CỦA TÔN THẤT BẰNG


Sinh năm 1963 tại Quảng Trị. Lớn lên và sinh sống tại Đà Nẵng. Mang 36 bức tranh sơn dầu và một cây đàn ghi-ta vào TP.HCM trong những ngày đầu năm 2011, Tôn Thất Bằng muốn kể lại cho những người yêu tranh ở phía Nam nghe những hoài niệm luôn ám ảnh tâm trí anh, về một thời ấu thơ ở vùng quê Quảng Trị…

Khi nhìn ngắm những con ngựa gỗ trong tranh của Tôn Thất Bằng, cảm xúc của người xem như lạc vào trạng thái chông chênh, bấp bênh của một vùng ký ức: Ở đó có những đứa bé với mái tóc hình bó lúa, váy áo dệt bằng lá hoặc bằng cọng cỏ, cổ đeo bùa hộ mệnh… chúng cưỡi ngựa gỗ rong chơi trên những mái nhà với nhiều tư thế cũng chênh vênh, phiêu bồng trong trạng thái mất trọng lực. Tranh của Tôn Thất Bằng là như thế, nó vượt thoát ra ngoài những khuôn thức, quy luật và cả sự logic. Chỉ với hai gam màu chủ đạo: màu vàng làm nền và màu đỏ để trang trí họa tiết. Trong tranh của Tôn Thất Bằng thường xuất hiện những nhân vật mà anh nói đó là mẹ, vợ và những người con của mình. Đặc biệt trên mình người nữ luôn mang ký hiệu của một bào thai sống (anh đã đăng ký để độc quyền sử dụng ký hiệu này).

Tốt nghiệp khoa Sáng tác trường CĐ Nghệ thuật Huế nhưng do chơi thân với bạn bè toàn là dân mỹ thuật nên Tôn Thất Bằng trở thành họa sĩ. Tự học vẽ nhưng sau gần 20 năm cầm cọ Tôn Thất Bằng đã tạo cho mình một phong cách riêng, không lẫn với ai. Có lẽ nó gần gũi với dòng tranh dân gian nhưng được nâng lên một tầm khác bởi màu sắc trong tranh của anh thật tươi tắn, nó luôn bừng lên một cách hồn hậu, dễ thương còn nét vẽ thoạt trông thì có vẻ hồn nhiên nhưng thực ra lại hết sức kỳ công.

Hà Đình Nguyên

Nguồn: Báo Quảng Trị



Slide show của Ng. Khắc Phước

READ MORE - HÀ ĐÌNH NGUYÊN - MIỀN KÝ ỨC CỦA TÔN THẤT BẰNG

Sunday, July 24, 2011

ĐÌNH THU - CHÙM LỤC BÁT




Tác giả Đình Thu tên thật là Trần Đình Thu, sinh ngày 14/10/1964 tại Thị xã Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị.
Hiện đang công tác tại Bến Tre.
Hội viên HVHNT Nguyễn Đình Chiểu Bến Tre.

Tác phẩm đã in
- Miền thương nhớ (in năm 1998)
- Nỗi đau tiềm thức (in năm 2000)
- Thơ tình Đình Thu (in năm 2007)



Liên hệ tác giả
Điện thoại: 0918. 407 .222
Email: dinhthubank@yahoo.com.vn




BẤT CHỢT LỜI RU

“…à… ơ… hơ… Rồi mùa toóc rạ rơm khô
Bạn về quê bạn biết nơi mô mà tìm…”
(Ca dao)

Không gian trưa ngủ im lìm
Tiếng ai ru xé con tim mỏi mòn
Ngày xưa mẹ hát ru con
Trong miền tiềm thức vẫn còn mênh mang
Giá như đi ngược thời gian
Về nằm trên võng nghe ngàn lời ru
Ầu ơ… ngọn gió mùa thu
Ngân lên trong tiếng chim gù xa đưa
Cầu tre lắt lẻo trong mưa
Con đi xa mãi vẫn chưa trở về
Khói lam chiều trải ven đê
Dòng sông chở nặng lời thề phôi pha
Nỗi niềm riêng ở trong ta
Mỗi lần nghe lại nhớ nhà khôn nguôi.



NHỚ LÀNG

Gởi về Mộc Đức thân yêu
Làng xưa trong khói lam chiều nhớ thương
(Đ.T)

Tết về lại nhớ làng xưa
Quê hương ơi thuở ta vừa ra đi
Mười năm xa cách còn gì
Ngày từ biệt đến kinh kỳ xa xôi
Khát thèm cháy cả bờ môi
Lời ru của mẹ trong nôi thuở nào
Trở mình nghe tiếng lao xao
Tưởng mùa hạ gọi mưa rào tháng năm
Tết này không được về thăm
Ngày thương nhớ cũ xa xăm mơ hồ
Quyết đi xây dựng cơ đồ
Sá gì đâu chuyện hững hờ nắng mưa
Chợt nghe một tiếng gà trưa
Quặn lòng nỗi nhớ làng xưa vô ngần
Khói chiều sau túp lều tranh
Mẹ xem “gạch” đếm mấy lần đợi con.


HƯƠNG ĐỒNG NỘI

Nắng hình như cũng mơ màng
Khi em từ biệt sang ngang theo chồng
Tôi tìm góc phố mùa đông
Để chôn kín một nỗi lòng khát khao
Đồng quê khúc hát ngày nào
Xa xăm sợi khói vương vào mắt xanh
Em đi cỏ níu bàn chân
Chút hương đồng nội tím dần ven đê
Hoàng hôn thấp thoáng lối về
Gió lùa lên mái tóc thề dấu yêu
Giá như còn có một điều
Ta cầu mơ ước thật nhiều cho em.


GIAO TÌNH

Hình như tháng Chạp lưng chừng
Để cơn mưa muộn ngập ngừng rơi nghiêng
Mai vàng chớm nụ ngoài hiên
Dòng thời gian cũ theo miền xa xăm
Chờ em đã mấy mùa trăng
Mấy mùa thương nhớ âm thầm trôi qua
Ảnh hình chiếc áo bà ba
Trong tiềm thức cũ gọi ta bao lần
Chiều nay tháng Chạp dừng chân
Ta cùng em với mùa xuân giao tình.


LỤC BÁT THÁNG TƯ

Tháng tư
Mưa vội
Em về
Lá rơi ngõ vắng
Đam mê chảy tràn
Tôi đi
Tìm hạt
Nắng vàng
Lũ ve lạc giọng
Cung đàn tháng năm
Mưa từ nguồn cội xa xăm
Mưa trong nỗi nhớ ngàn năm mưa về
Tháng tư
Làm ướt
Tóc thề
Em nghiêng vành nón
Chiều quê ngỡ ngàng.



Đình Thu


READ MORE - ĐÌNH THU - CHÙM LỤC BÁT

Friday, July 22, 2011

Phạm Xuân Dũng - MỖI NGƯỜI DÂN VIỆT NAM - MỘT CỌC NHỌN BẠCH ĐẰNG

Biển Đông của chúng ta thấm đầy mồ hôi và cả máu ...

Của người Việt nam qua muôn nỗi đoạn trường

Dân biển chỉ muốn yên ổn làm ăn kiếm con tôm con cá

Lương thiện đến tận cùng lấy sóng gió làm cơm.


Nhưng nào được yên thân dẫu nhọc nhằn khuya sớm

Lũ Tàu kia trên biển cứ hung hăng

Chúng muốn biến biển ta thành ao nhà của chúng

Đã vội quên sao những cọc nhọn Bạch đằng?


Ta yêu chuộng hòa bình và căm ghét trò gây hấn

Muốn yên thân mà chẳng được yên thân

Giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh

Sóng biển kia dìm xác giặc bao lần.


Giấc mộng thiên triều ngàn đời không đổi sắc

Ai tin chi chuyện kẻ cướp la làng

Cướp biển, cướp rừng, cướp từng tấc đất

Chuyện cũ rồi chuyện mới đã ngàn năm.


Đêm ta ngủ hồn thức cùng biên cương Tổ quốc

Mơ thấy Chi lăng, nhớ đến Bạch đằng...

Và thấy xôn xao đất rừng Bản Giốc

Thấy biển Đông nổi sóng chỗ ta nằm.


Nghe Trường sa, Hoàng sa nóng dần trong huyết quản

Thịt xương đồng bào dựng biết mấy hải đăng

Nếu tàu lạ còn hung hăng cướp biển

Mỗi người dân Việt Nam- một cọc nhọn Bach đằng!


P.X.D

Nguồn: Blog của Trần Bình - TiengDanTaLu.vnweblogs.com

Hình từ trang NongDan24g.com

READ MORE - Phạm Xuân Dũng - MỖI NGƯỜI DÂN VIỆT NAM - MỘT CỌC NHỌN BẠCH ĐẰNG